Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong môn Ngữ văn trung học phổ thông qua dạy học dự án, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, tháng 4/2016 3.. Phát triển năng lực sáng tạo cho học s
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM
-
NGUYỄN THỊ THANH NGA
PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂU
Trang 2Công trình được hoàn thành tại : Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS.TS Trần Thị Hiền Lương
2 PGS.TS Nguyễn Thị Hạnh
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Viện họp tại Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 101 Trần Hưng Đạo, Hà Nội Vào hồi giờ ngày tháng năm
Có thể tìm hiều luận án tại:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Viện Khoa học giáo dục Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC
GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.Tưởng tượng và một số kĩ thuật phát triển năng lực tưởng tượng sáng tạo ở học sinh tiểu học, Tạp chí Giáo dục, số 371, kì 1 (12/2015)
2 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong môn Ngữ văn trung học phổ thông qua dạy học dự án, Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt, tháng 4/2016
3 Một số vấn đề về sách giáo khoa và vài nét về sách giáo khoa văn học của Nhà xuất bản MC Dougal Littell (Mĩ), Tạp chí Khoa học giáo dục, Số 6/2018
4 Cấu trúc năng lực sáng tạo của học sinh trong đọc hiểu văn bản văn học, Tạp chí Khoa học giáo dục, Số 13/2019
5 Đánh giá năng lực sáng tạo của học sinh trung học cơ sở trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học, Tạp chí giáo dục, số 464 (Kì 2 – 10/2019)
6 Phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trung học cơ sở trong đọc hiểu văn bản văn học thông qua tổ chức các hoạt động hồi ứng trải nghiệm, Tạp chí Khoa học giáo dục Việt Nam, số 26, tháng 2/2020
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1.Bối cảnh xã hội trong nước và thế giới đặt ra yêu cầu và thách thức về một nền giáo dục sáng tạo Giáo dục từ chỗ hướng nội dung, coi trọng tri thức chuyển sang hướng năng lực trong đó có tập trung hình thành và phát triển NLST ở người học
1.2 Đáp ứng yêu cầu của thực tiễn về đổi mới giáo dục Việt Nam, Chương trình GDPT 2018 ra đời, đánh dấu sự thay đổi lớn trong mục tiêu giáo dục Theo đó, giáo dục từ mục tiêu hướng nội dung, trang bị kiến thức chuyển sang hướng phát triển phẩm chất và năng lực cho người học trong
đó có NL giải quyết vấn đề và sáng tạo Cùng với các môn học khác, môn Ngữ văn có nhiệm vụ góp phần giúp HS phát triển NL đặc thù và một số NL chuyên môn đã được xác định trong CT GDPT 2018 trong đó
có NLST
1.3 NL sáng tạo trong mỗi môn học cần được cụ thể hóa theo đặc trưng riêng, và trong mỗi phân môn cũng tương tự như thế Với môn Ngữ văn không chỉ yêu cầu sáng tạo trong đọc hiểu mà còn trong cả viết và nói- nghe Rèn luyện NL sáng tạo trong đọc hiểu VBVH là quan trọng và có nhiều cơ hộiphát triển Vì VBVH chiếm một tỉ trọng khá lớn trong chương trình Ngữ văn Mặt khác, VBVH với những đặc trưng riêng là cơ hội lớn cho sự sáng tạo trong tiếp nhận Vì thế rất cần nghiên cứu cách dạy đọc hiểu hướng tới phát triển NL sáng tạo nhằm đáp ứng yêu cầu mới
1.4 Thực trạng dạy và học trong trường phổ thông đã và đang bộc lộ nhiều bất cập Chương trình, sách giáo khoa hướng nội dung, nặng kiến thức hàn lâm, coi trọng lí thuyết ít thực hành, vận dụng Trong những năm gần đây cách dạy học trong nhà trường dù đã có những đổi mới song HS
cơ bản vẫn tiếp thu thụ động, một chiều Giáo dục chưa thực sự khai thác được sự tích cực, chủ động, sáng tạo của người học Do vậy như đã nói để
có những người học sáng tạo cần một nền giáo dục sáng tạo và một sự đổi
Trang 5mới đồng bộ tất cả các khâu của quá trình dạy học từ nội dung, phương pháp, kiểm tra đánh giá đến hình thức tổ chức dạy học Cũng như nhiều môn học khác, dạy học đọc hiểu VBVH trong nhà trường cũng không nằm ngoài thực tế đó
1.5.Những nghiên cứu về NLST đã bắt đầu được quan tâm ở nhiều môn học như Vật lí, Hóa học, Toán học – những môn khoa học nơi sự sáng tạo của học sinh có thể nhận thấy và đo lường được dễ dàng Với môn Ngữ văn, đây đó đã có một số nghiên cứu song thực sự chưa có một công trình khoa học công phu về vấn đề này nhất là trong lĩnh vực đọc hiểu.Những yêu cầu đặt ra của CT GDPT mới và bối cảnh nghiên cứu dạy
học Ngữ văn hiện nay cho thấy đề tài “Phát triển năng lực sáng tạo cho
học sinh trung học cơ sở trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học” là một
nghiên cứu cần thiết và có ý nghĩa, góp phần phát triển NL cho người học
Mednick (1962, 1964) và Malz Mann (1960) Hand book of Creativity của
Robert J Sternberg là một công trình tổng hợp khá đầy đủ những vấn đề nghiên cứu về sáng tạo – một báo cáo về quá trình phát triển những nghiên cứu sáng tạo suốt 50 năm qua tính từ năm 1950 với sự xuất hiện của
Trang 6Guilford từ bình diện tâm lí học Các tác giả đã cho rằng sáng tạo có ý nghĩa quan trọng đối với xã hội và những nghiên cứu về sáng tạo đã đang đối mặt với ít nhất 6 hướng tiếp cận
Vấn đề phát triển năng lực người học, đặc biệt là năng lực sáng tạo trong dạy học được đề cập trong chương trình của nhiều quốc gia như chương trình của Anh, Mĩ, Australia
Nhiều nhà nghiên cứu cũng đã bày tỏ sự quan tâm đến việc phát triển NLST cho học sinh bằng một số công trình Đó là Penick với “Phát triển khả năng sáng tạo trong lớp học”; Reid và King với “Nghiên cứu về khả năng sáng tạo của học sinh”; Torrance với “Những khám phá về tư duy sáng tạo ở đầu tuổi học”; Yamamoto Kaoru “Vai trò của tư duy sáng tạo
và trí thông minh trong thành tích học tập”
* Ở trong nước
Ở trong nước có thể kể đến nghiên cứu của các tác giả Huỳnh Văn Sơn, Trần Thị Bích Liễu về năng lực sáng tạo Ngoài ra trong những năm gần đây, một số luận án đã đi sâu phát triển NLST trong một số môn học cụ thể như Hóa học, Toán học Các tác giả đã nỗ lực tìm kiếm những biểu hiện của NLST ở HS, đưa ra những định nghĩa, những biện pháp khác nhau để phát triển NLST trong môn học như tác giả Nguyễn Thị Hồng Gấm (2011), Trần Thị Huệ (2011), Đinh Thị Hồng Minh (2013), Hoàng Thị Thúy Hương (2015), Phạm Thị Bích Đào (2015), Đặng Thị Thu Huệ (2019)
Dưới góc độ giáo dục học, nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến việc rèn luyện, phát triển tư duy sáng tạo của HS ở các môn học Có thể kể đến nghiên cứu của một số tác giả như Phạm Văn Hoàn; Hoàng Chúng; Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Văn Lê, Châu An; Nguyễn Cảnh Toàn; Nguyễn Trọng Hoàn; Dương Thị Mai Hương); Trần Thị Hiền Lương…
Có thể khẳng định đã có một số nghiên cứu về dạy học phát triển NLST của HS ở cả hai bình diện tâm lí học và giáo dục học Các nghiên cứu chủ
Trang 7yếu tập trung ở các môn khoa học tự nhiên, chưa có nghiên cứu bài bản, hệ thống về phát triển NLST của HS trong đọc hiểu VBVH
2.2 Những nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn và dạy học đọc hiểu VBVH
2.2.1 Những nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn
Những nghiên cứu về sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn được thể hiện ở cả hai phương diện tạo lập văn bản và tiếp nhận văn bản Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về viết sáng tạo Juliet Enland trong bài viết
“Writing Wrongs” (2009) đã xem xét định nghĩa về viết sáng tạo và khuynh hướng dạy viết sáng tạo ngày càng tăng lên trong tất cả các bậc học những năm gần đây Ngoài ra còn có nghiên cứu của Deirdre Fagan (2010), Tompkins (1982) Nghiên cứu về viết sáng tạo cũng đã được đề cập ở Việt Nam Tác giả Trần Thị Hiền Lương trên cơ sở phân tích các quan niệm về viết sáng tạo, dạy viết sáng tạo và thực trạng dạy học viết sáng tạo ở trường phổ thông Việt Nam, tác giả đã đưa ra một số đề xuất về dạy học kĩ năng viết sáng tạo cho HS Về sáng tạo trong tiếp nhận, có thể
kể đến nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Thanh Hùng, Trần Đình Sử, Hoàng Hòa Bình, Hoàng Thị Mai, Nguyễn Trọng Hoàn Các tác giả đã tập trung vào hoạt động, cơ chế đọc sáng tạo VBVH
Ngoài ra, có thể kể đến một số nghiên cứu đi sâu vào phát triển tư
duy sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn như: Rèn luyện tư duy sáng tạo
trong dạy học tác phẩm văn chương (Nguyễn Trọng Hoàn); Rèn luyện tư duy sáng tạo cho học sinh qua các giờ làm văn ở nhà trường trung học phổ thông (Dương Thị Mai Hương) Về năng lực sáng tạo trong môn Ngữ
văn, có nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Hồng Vân (2017) trong bài
báo khoa học Xác định cấu trúc và đường phát triển một số năng lực trong
môn ngữ văn ở trường phổ thông
Trang 8Như vậy, đã có một số nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo trong dạy học môn Ngữ văn ở cả lĩnh vực tạo lập và tiếp nhận văn bản Nhìn chung, các nghiên cứu tập trung nhiều hơn ở viết sáng tạo, đề xuất các biện pháp phát triển khả năng viết sáng tạo cho HS Về tiếp nhận sáng tạo, các tác giả đi sâu lí giải hoạt động đọc sáng tạo ở học sinh Từ những nghiên cứu trên có thể khẳng định chưa thực sự có một công trình nghiên cứu công phu, hệ thống về năng lực sáng tạo của HS trong dạy học môn Ngữ văn nói chung và môn Ngữ văn THCS nói riêng
2.2.2 Những nghiên cứu về sáng tạo, năng lực sáng tạo trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
*Ở nước ngoài
Vấn đề sáng tạo trong dạy học đọc hiểu VBVH đã được đề cập trong một số nghiên cứu Theo đó, người đọc không chỉ là người tiếp nhận văn bản mà đi xa hơn là người đồng sáng tạo với tác giả, đối thoại với tác giả Trên quan niệm đó, các nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp, cách thức tác động giúp HS sáng tạo hơn trong đọc.Về sáng tạo trong đọc, có thể kể đến nghiên cứu của Phylliss J.Adams trong báo cáo được trình bày tại Hiệp hội đọc quốc tế tại Boston năm 1968 Một số nhà nghiên cứu như Smith (2004), Langer (1993), Rosenblatt (1978), Ruddel (1984) đã nhấn mạnh đến một đặc điểm quan trọng của đọc văn bản văn học: đọc văn là một quá trình tương tác giữa người đọc với nhau, người đọc với văn bản, với môi trường tạo nghĩa văn bản và chính bản thân người đọc Sự tương tác đó giúp HS kiến tạo nghĩa văn bản, rút ra những bài học cuộc sống có ích cho bản thân và tạo cơ hội cho HS mở ra những chân trời của tưởng tượng sáng tạo
Trang 9triển năng lực đọc, kĩ năng đọc của người học Bàn về sự sáng tạo của người học trong đọc hiểu văn, các tác giả Trần Đình Sử, Nguyễn Thanh Hùng, Nguyễn Trọng Hoàn đã sớm nhận ra yêu cầu về khả năng tạo nghĩa trong đọc Các tác giả khẳng định đọc văn mục đích là phải hiểu được cái nghĩa chung cốt lõi của văn bản Trên cơ sở đó, mỗi người đọc lại có cái ý riêng của mình từ những trải nghiệm của cá nhân để có thể tạo thêm những nét nghĩa mới cho văn bản Điều đáng chú ý trong các công trình nghiên cứu về đọc hiểu trong những năm gần đây chính là các tác giả quan tâm tới
vấn đề các chiến thuật đọc hiểu, biện pháp hướng dẫn đọc hiểu giúp HS
trở thành những người đọc độc lập, sáng tạo Đó là nghiên cứu của tác giả Phạm Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Thanh Hương
Như vậy, đã có một số những nghiên cứu về dạy học đọc hiểu theo hướng sáng tạo Nhìn chung, các tác giả chủ yếu đi sâu vào đọc sáng tạo, tiếp nhận sáng tạo trong dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường và chưa có một công trình nào trực tiếp bàn về phát triển NLST trong đọc hiểu VBVH Vì vậy, có thể khẳng định dạy đọc hiểu như thế nào để góp phần phát triển NLST cho người học vẫn là những câu hỏi cần phải giải quyết
3 Mục đích nghiên cứu
Luận án hướng tới việc xây dựng cơ sở khoa học và đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
4 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Một số biện pháp phát triển NLST cho học sinh THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định cơ sở lí luận của việc phát triển năng lực sáng tạo cho HS THCS trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học
Trang 10- Khảo sát thực trạng của việc dạy học môn Ngữ văn tại một số trường THCS
- Đề xuất các biện pháp phát triển năng lực sáng tạo cho học sinh trong dạy học đọc hiểu văn bản văn học môn Ngữ văn THCS
- Thực nghiệm sư phạm để kiểm tra tính khả thi của giả thuyết khoa
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận án phối hợp sử dụng các phương pháp sau:
6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6.2.1 Phương pháp quan sát
6.2.2 Phương pháp điều tra giáo dục
6.2.3 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
6.2.4 Phương pháp phân tích dữ liệu
7 Giả thuyết khoa học
Một trong những hạn chế của dạy học đọc hiểu VBVH hiện nay là chưa chú trọng đúng mức tới việc phát triển NLST của người học Trong bối cảnh ấy, nếu thực hiện theo một số biện pháp sư phạm như luận án đề xuất thì việc dạy học đọc hiểu VBVH sẽ góp phần phát triển NLST cho
HS THCS có hiệu quả hơn
8 Đóng góp của luận án
-Về lí luận: Luận án hệ thống hóa các thành tựu nghiên cứu về phát
triển NLST, trình bày quan niệm về NLST, xác định biểu hiện NLST của
HS THCS trong đọc hiểu VBVH để đưa ra những tác động phù hợp Kết
Trang 11quảnghiên cứu của luận án góp phần bổ sung cho những nghiên cứu lí luận
về NLST, NLST cho HS ở nhà trường phổ thông nói chung, NLST trong đọc hiểu môn Ngữ văn THCS nói riêng
- Về thực tiễn: Luận án đã đề xuất các biện pháp nhằm phát triển
NLST cho HS THCS trong dạy học đọc hiểu VBVH Những biện pháp này sẽ đảm bảo rằng dạy học đọc hiểu VBVH góp phần phát triển NLST của người học Mặt khác những biện pháp được luận án đề xuất hi vọng sẽ
có ý nghĩa quan trọng đối với việc dạy và học môn Ngữ văn theo chương trình giáo dục phổ thông 2018
9 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận án có cấu trúc gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở khoa học của việc phát triển NLST cho HS THCS trong dạy học đọc hiểu VBVH
Chương 2: Một số biện pháp phát triển NLST cho HS THCS trong dạy học đọc hiểu VBVH
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC SÁNG TẠO CHO HỌC SINH THCS TRONG DẠY HỌC ĐỌC HIỂUVĂN BẢN VĂN HỌC
1.1 Năng lực và năng lực sáng tạo
1.1.1 Năng lực và cấu trúc năng lực
Trên thế giới đã có rất nhiều những nghiên cứu về năng lực theo những cách tiếp cận khác nhau Nhìn chung có một số hướng tiếp cận sau Theo Mulder, Weigel & Collins có thể phân loại các hướng nghiên cứu về năng lực theo ba quan điểm tiếp cận chính: quan điểm tiếp cận hành vi, quan điểm tiếp cận chung, quan điểm tiếp cận nhận thức Cũng có thể phân loại cách tiếp cận năng lực theo hai hướng: tiếp cận theo hướng tâm lí học
và giáo dục học
Trang 12Trong phạm vi luận án, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận năng lực của
CT Giáo dục phổ thông tổng thể (2018) làm cơ sở để đề xuất quan niệm về NLST, phân giải cấu trúc năng lực sáng tạo trong đọc hiểu VBVH Theo
đó, chương trình giáo dục phổ thông (2018) khẳng định: “NL là thuộc tính
cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng
và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể” Quan niệm này thống nhất với những nhìn nhận
về năng lực của các tác giả, các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế ở việc xác định 3 vấn đề sau: 1/năng lực là thuộc tính của cá nhân; 2/năng lực có được nhờ sự huy động, tổng hòa của các yếu tố kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác để giải quyết hiệu quả một loại hoạt động nhất định; 3/năng lực được thể hiện qua hoạt động trong điều kiện, bối cảnh cụ thể
Về phân giải cấu trúc NL, chúng tôi nhận thấy có một số quan niệm của các tác giả Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Văn Cường, nhóm nghiên cứu Lương Việt Thái, Hoàng Hòa Bình, Nguyễn Thị Lan Phương Cách tiếp cận cấu trúc NL theo quan điểm tiếp cận hành vi, hướng tới các biểu hiện đầu ra của năng lực là định hướng để luận án xác lập các biểu hiện của NLST trong đọc hiểu VBVH
1.1.2 Sáng tạo
Sáng tạo và NLST là những vấn đề được quan tâm trong thời điểm hiện nay ở nền giáo dục của nhiều nước trên thế giới Quốc gia nào sở hữu nhiều cá nhân sáng tạo quốc gia đó có sức mạnh Điều đó lí giải tại sao NLST là một trong những năng lực cốt lõi trong mục tiêu giáo dục của nhiều quốc gia như Singapo, Phần Lan, Úc, Pháp Nhìn nhận sáng tạo như một thuộc tính tâm lí, Pippig (1988), Torrance (1962)khẳng định tính sáng tạo là khả năng con người tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo trước đó
Trang 13chưa từng có, phù hợp với vấn đề đặt ra Mednick (1962, 1964) và Malz Mann (1960) cũng đã có đóng góp to lớn cho tâm lý học liên tưởng về tính sáng tạo
Trên cơ sở tìm hiểu quan điểm của các tác giả, từ góc độ của luận án,
chúng tôi cho rằng: Sáng tạo là một hoạt động của tư duy nhằm làm ra cái
mới, là cái trước đó chưa có đối với cá nhân và xã hội Và đó phải là cái mới thực sự có ý nghĩa
1.1.3 Năng lực sáng tạo
1.1.3.1 Năng lực sáng tạo và biểu hiện của người có năng lực sáng tạo
Những nghiên cứu về NLST ở các lĩnh vực khác nhau xuất hiện khá nhiều trong những năm gần đây Các tác giả đã cố gắng làm rõ và đưa ra những định nghĩa về NLST Tuy cách diễn đạt có phần khác nhau nhưng các quan niệm đã có những điểm chung trong nỗ lực định nghĩa về NLST với các từ chìa khóa như: khả năng làm ra cái mới; sự riêng biệt, độc đáo; tạo ra ý tưởng, giải pháp, hiệu quả, hữu ích…Trên cơ sở quan niệm về
năng lực và những nghiên cứu về NLST, chúng tôi cho rằng: Năng lực
sáng tạo là thuộc tính của cá nhân, dựa trên sự huy động kiến thức, kĩ năng và những yếu tố khác như hứng thú, niềm tin, ý chí để làm ra cái mới gồm ý tưởng mới, giải pháp mới, sản phẩm mới ở những mức độ khác nhau trong những tình huống học tập và cuộc sống theo một cách riêng biệt, mới mẻ và có hiệu quả
Có những quan điểm khác nhau về đặc điểm, biểu hiện của người có NLST song dễ nhận thấy điểm gặp gỡ ở các quan niệm đó Người sáng tạo
là những người vượt lên những suy nghĩ thông thường, có ý tưởng mới lạ độc đáo, có trí tưởng tượng phong phú, sáng tạo Hẳn đó cũng là người dám theo đuổi ý tưởng, bất chấp những trở ngại, rủi ro thậm chí bỏ ngoài tai những đánh giá thông thường, dũng cảm bảo vệ cho quan điểm của mình trước những suy nghĩ thậm chí trái chiều của dư luận Để hoàn thiện, chi tiết hóa được những ý tưởng mới mẻ thậm chí biến nó thành sản phẩm