TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘIKHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO * * * * * KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Nghiên cứu xây dựng chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
* * * * *
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Nghiên cứu xây dựng chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển huyện
Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2017 - 2020
Sinh viên thực hiện:
Chuyên ngành đào tạo: Quản lí Biển
Lớp:
Niên khóa: 2013-2017
Giáo viên hướng dẫn:
HÀ NỘI, 2017
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG HÀ NỘI
KHOA KHOA HỌC BIỂN VÀ HẢI ĐẢO
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
Trang 3Hà Nội 2017
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Hồng Lân đã tận tình hướng dẫn trong suốt quá trình viết luận văn đồng thời tạo mọi
điều kiện để em có được kết quả tốt nhất
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Khoa học Biển và Hải ĐảoTrường Đại học Tài nguyên và Môi trường Hà Nội đã tận tình truyền đạt kiến thứctrong những năm em học tập Với vốn kiến thức được tiếp thu trong quá trình họckhông chỉ là nền tảng cho nghiên cứu mà còn là hành trang quí báu để em bước vào đờimột cách cững chắc và tự tin
Em xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh Đạo, các phòng ban của huyện Nghĩa Hưngtỉnh Nam Định đã tạo điều kiện thuận lợi cho em được tìm hiểu thực tiễn trong suốtquá trình thực tập tại đơn vị
Cuối cùng em kính chúc quý thầy, cô, anh, chị luôn dồi dào sức khỏe và thànhcông trong sự nghiệp
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
MỤC LỤC 4
Danh mục viết tắt 6
PHẦN 1 : TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 6 1 Đặt vấn đề 6
1.2 Mục tiêu của đề tài 9
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 10
1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu 10
PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 11
2.1 Nội dung nghiên cứu 11
2.1.1 Cách tiếp cận đề tài 11
2.1.2 Nội dung nghiên cứu 11
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 12
2.2.1 Trên thế giới 12
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước 13
2.2.3.Tổng quan về quản lý tổng hợp không gian ven biển ở tỉnh Nam Định 15
PHẦN 3 : ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 20
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 20
Trang 53.1.2 Các nguồn tài nguyên 23
3.1.3 Thực trạng môi trường 27
3.1.4 Ứng phó với biến đổi khí hậu 30
3.1.6 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế 34
3.1.7 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng 38
3.2 Phương pháp nghiên cứu 43
3.2.1 Phương pháp điều tra, khảo sát thực địa 44
3.2.2 Phương pháp phỏng vấn 44
3.2.3 Phương pháp nghiên cứu mô tả 45
PHẦN 4: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 46
4.1 Hiện trạng hệ động thực vật thuộc không gian ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 46
4.2 Hiện trạng công tác truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 50
4.2.1 Hiện trạng tiếp nhận thông tin thường xuyên về công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển của người dân 50
4.2.2 Mức độ hiểu biết liên quan đến các vấn đề môi trường của người dân .53 4.3 Nhận thức của người dân về công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển 56
4.4 Nhu cầu đào tạo, truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển 60
4.5 Đề xuất một số giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định 61
Trang 6PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64 TÀI LIỆU THẢM KHẢO 66
Trang 7Danh mục viết tắt
BHTN Bảo hiểm thất nghiệp Bảo hiểm thất nghiệp
CBCNV Cán bộ công nhân viên Cán bộ công nhân viên
CNTT Công nghệ thông tin Công nghệ thông tin
KGB Không gian ven biển Không gian ven biển
Trang 8PHẦN 1 : TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1 Đặt vấn đề
Việt Nam là quốc gia lớn ven bờ Biển Đông với chỉ số biển cao gấp 6 lần chỉ sốbiển trung bình toàn cầu, việc đặt biển vào vị trí quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế đất nước như tinh thần Nghị quyết 09/2006/NQ-TW về Chiến lược biển ViệtNam đến năm 2020 hoàn toàn là một hướng đi đúng, một cách nhìn xa, trông rộng
Các chiến lược gia cho rằng, biển là di sản của nhân loại, là nơi dự trữ cuối cùngcủa loài người nói chung và của dân tộc ta nói riêng về lương thực, thực phẩm vànguyên nhiên liệu Trong bối cảnh thế giới tiến mạnh ra biển ở thế kỷ 21 với các chiếnlược biển (và đại dương) quốc gia đầy tham vọng, đặc biệt đối với các “cường quốcbiển” như Mỹ, Anh, Canada, Trung Quốc, thì việc nhận diện một “Việt Nam biển”
và vị trí của nó đối với chiến lược phát triển đất nước không phải là quá sớm Bởi lẽbiển ẩn chứa nhiều tiềm năng không thể nhìn thấu bằng mắt, tài nguyên biển thuộcdạng tài nguyên chia sẻ và “dùng chung”, biển luôn khắc nghiệt với con người và hoạtđộng trên biển thường chịu nhiều rủi ro cao
Lịch sử phát triển thế giới gắn với đại dương và biển, và gần đây là một thế giớichuyển đổi nhấn mạnh đến toàn cầu hóa, kinh tế tri thức và kinh tế xanh (greeneconomy) Nước ta đang tiến hành công cuộc phát triển kinh tế biển trong một giaiđoạn phát triển mới của nền kinh tế thế giới với các đặc trưng cơ bản: khan hiếmnguyên nhiên liệu, thảm họa của biến đổi khí hậu và biến đổi đại dương, an sinh xã hội
bị đe doạ, cạnh tranh thị trường, tranh chấp lãnh thổ và xung đột quốc gia trên biểnthường xuyên và gay gắt hơn bao giờ hết Trong một thế giới chuyển đổi như vậy đòihỏi cộng đồng quốc tế và các quốc gia biển, quốc đảo phải thay đổi tư duy phát triển vàđổi mới công nghệ để giải quyết những thách thức thời đại nói trên
Đối với một nước đang phát triển như Việt Nam càng phải cân nhắc đến tínhbền vững trong các chính sách, chiến lược và kế hoạch dài hạn phát triển kinh tế biển
Trang 9mà về nguyên tắc chính là phát triển một nền kinh tế xanh lam (blue economy): dựavào hệ sinh thái, ít chất thải, ít cac-bon, thân thiện với môi trường, thích ứng với biếnđổi khí hậu, công nghệ sạch hơn, an toàn thực phẩm và sản phẩm biển có sức cạnhtranh cao, Để đạt được mục tiêu của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 và tạodựng được một nền kinh tế xanh lam trong khi trình độ khai thác biển của nước ta vẫnđang ở tình trạng lạc hậu so với khu vực, Việt Nam phải xây dựng được một nền côngnghệ biển hiện đại; phát triển được một nền kinh tế biển hiệu quả, bền vững, có khảnăng hội nhập quốc tế; có một phương thức quản lý tổng hợp biển theo không gian vàbảo đảm được an ninh chủ quyền vùng biển Trong đó, phương thức quản lý tổng hợpbiển theo không gian và công cụ quy hoạch không gian ven biển đang còn là nhữngvấn đề mới mẻ đối với không chỉ các nhà khoa học và quy hoạch, mà còn đối với nhàquản lý và hoạch định chính sách của Việt Nam.
Ở Việt Nam, vấn đề quản lý tổng hợp không gian ven biển được quan tâm cùngvới phân vùng chức năng các khu bảo tồn biển và quản lý vùng tổng hợp Phân vùngchức năng được coi là công cụ đầu tiên của chu kỳ quản lý tổng hợp không gian venbiển được rút kinh nghiệm từ quy hoạch sử dụng đất rồi áp dụng vào phân vùng chứcnăng của Khu bảo tồn biển từ năm 2000, điển hình là Khu Bảo Tồn Biển Hòn Mun(tỉnh Khánh Hòa) Quản lý tổng hợp biển theo không gian đòi hỏi xác lập một cơ chếphối hợp liên ngành trong quản lý biển và giải quyết đồng bộ các quan hệ phát triểnkhác nhau, trong đó quan hệ giữa các mảng không gian cho phát triển kinh tế biển và tổchức không gian ven biển hợp lý cho phát triển kinh tế biển bền vững là một trongnhững nhiệm vụ quan trọng, cần đi trước một bước Công cụ cơ bản giúp tổ chức hợp
lý không gian ven biển cho phát triển bền vững là quy hoạch không gian ven biển
Huyện Nghĩa Hưng thuộc tỉnh Nam Định nằm trải dài theo trục Bắc Nam, bềngang hẹp (chỗ rộng nhất 11km, chỗ hẹp nhất chưa đến 1km) Địa hình bằng phẳng,
ba mặt Bắc, Tây, Đông được bao bọc bởi ba con sông (sông Đào, sông Ninh Cơ, sôngĐáy), mỗi năm tiến ra biển 50-100m đất Dọc sông Ninh Cơ có các ruộng muối Tuyến
đê biển dài tít tắp nói lên sức bền bỉ của con người nơi đây trong công cuộc chinh phục
Trang 10thiên nhiên "bắt sóng dữ phải cúi đầu, bắt biển sâu thành đồng ruộng" Trong đê san sátnhững hồ chứa, ao, đầm nuôi trồng thuỷ sản, phía ngoài đê là khoảng 3500 ha bãi ngậptriều Huyện có 12km chiều dài bờ biển và 2 đảo cát nhỏ cách bờ biển 5km Rừngphòng hộ ven biển Nghĩa Hưng thuộc Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng.Nghĩa Hưng thuận lợi phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng Trong những năm gầnđây, nhiều nghề thủ công truyền thống được phục hồi như dệt chiếu cói ở Liêu Hải(Nghĩa Trung), Tân Liêu (Nghĩa Sơn); khâu nón lá ở Nghĩa Châu; làm miến ở NghĩaLâm
Ở các huyện có không gian ven biển nói chung và huyện Nghĩa Hưng tỉnh NamĐịnh nói riêng, việc quản lý, khai thác sử dụng tài nguyên ven biển và đáy biển hiệnvẫn còn nhiều bất cập, nảy sinh nhiều xung đột, bao gồm cả xung đột giữa các dạngkhai thác sử dụng và xung đột giữa các đơn vị quản lý chuyên ngành Để giải quyết cácmâu thuẩn giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, xung đột lợi ích giữa cácngành, các thành phần kinh tế, các nhóm lợi ích khác nhau trong sử dụng các dạng tàinguyên cần được giải quyết đồng bộ, thống nhất từ các cơ quan Trung ương xuống cácđịa phương, cộng đồng dân cư ven biển Một trong những nguyên nhân đó là do nhậnthức của người dân về việc quản lý tổng hợp không gian ven biển còn rất hạn chế, hầuhết người dân không hiểu được vai trò và tầm quan trọng của việc quản lý tổng hợpkhông gian ven biển Điều này cũng một phần do chưa có nhiều các chương trìnhtuyên truyền, phổ biến kiến thức về bảo vệ biển, bảo vệ không gian ven biển cho người
dân Từ những vấn đề đặt ra nói trên em đã chọn đề tài " Nghiên cứu xây dựng chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định giai đoạn 2017 - 2020” làm
đề tài cho luận văn tốt nghiệp
1.2 Mục tiêu của đề tài
Trang 11- Mục tiêu chung: Xây dựng chương trình truyền thông nâng cao nhận thứccộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưngtỉnh Nam Định.
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
1 Xác định được thực trạng công tác tuyên truyền về quản lý tổng hợp khônggian ven biển ở huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Cơ quan, đơn vị chịu trách nhiệm xây dựng và tuyên truyền của huyện NghĩaHưng tỉnh Nam Định đang hoạt động như thế nào ?
- Các chương trình tuyên truyền về quản lý tổng hợp không gian ven biển đã vàđang được triển khai như thế nào?
2 Xác định ý thức của cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển tạihuyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Người dân và các tổ chức trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định nhậnthức như thế nào về quản lý tổng hợp không gian ven biển ?
- Các chương trình truyền thông của địa phương có tác động thế nào đến nhậnthức của cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển?
1.4 Phạm vi, đối tượng nghiên cứu
Trang 12- Phạm vi nghiên cứu:
+ Phạm vị nội dung : Phân tích, đánh giá, đề xuất các chương trình truyềnthông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian venbiển của huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
+ Phạm vi không gian: đề tài chọn vùng ven biển huyện Nghĩa Hưng tỉnhNam Định để nghiên cứu và xây dựng giải pháp về vấn đề truyền thông quản
lý tổng hợp không gian ven biển
+ Phạm vi thời gian : Nghiên cứu tiến hành lấy số liệu và phân tích số liệu từnăm 2014 – 2016
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài: công tác tuyên truyền về quản lý tổng hợp
không gian ven biển
Trang 13PHẦN 2 : NỘI DUNG NGHIÊN CỨU VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH
NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Nội dung nghiên cứu
2.1.1 Cách tiếp cận đề tài
Đề tài được thực hiện trên cơ sở pháp lí các quy định pháp luật về quy hoạchkhông gian ven biển cũng cần làm rõ nội hàm của quy hoạch không gian ven biển; đặcbiệt cần khẳng định, làm rõ quy hoạch không gian ven biển không phải là việc thay thếquy hoạch của các ngành khai thác, sử dụng biển theo Công ước Luật biển 1982 vàLuật Biển Việt Nam (2012)
Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, đề tài đã tập trung vào các quan điểntiếp cận sau đây
+ Quan điểm xã hội dân sinh: đặt cộng đồng và người dân vùng nghiên cứu của
đề tài là vùng biển huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
+ Quan điểm thực tiễn: bám sát thực tiễn các công trình nghiên cứu trong nước
và quốc tế có liên quan đến quản lý tổng hợp không gian ven biển và các chương trìnhtuyên truyền nâng cao ý thức người dân về bảo vệ không gian ven biển Bằng quanđiểm thực tiễn để phát hiện những vấn đề đối với quả lý, xây dựng và triển khai cácchương trình tuyên truyền về không gian ven biển, những khó khăn, hạn chế trongcông tác tuyên truyền để nâng cao ý thức cộng đồng
2.1.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu quản lý tổng hợp không gian ven biển
- Tổng hợp, phân tích kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về quản lý tổng
hợp không gian ven biển
- Phân tích, đánh giá khung pháp lý và các giải pháp có liên quan đến công tácquản lý tổng hợp không gian ven biển tại Việt Nam
Trang 14- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyệnNghĩa Hưng tỉnh Nam Định.
Nội dung 2: Xác định thực trạng công tác tuyên truyền về quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Nghiên cứu đánh giá công tác xây dựng các chương trình truyền thông vềquản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các chương trình tuyên truyền và truyền thông tớicộng đồng và người dân tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố như chính sách, pháp luật của nhà nước,tập tục địa phương tới công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức về quản lý tổng hợpkhông gian ven biển của cộng đồng dâ cư huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
Nội dung 3: Đề xuất chương trình truyền thông nâng cao nhận thức cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định giai đoạn
2017 - 2020:
- Đề xuất cơ chế, chính sách quản lý chương trình truyền thông nâng cao nhậnthức về quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Địnhtại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao tính hiệu quả trong công tác tuyên truyềncho cộng đồng về quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnhNam Định
- Xây dựng chương trình truyền thông nâng cao nhận thức của người dân vềquản lý tổng hợp không gian ven biển
2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài
2.2.1 Trên thế giới
Trang 15Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như đưa ra những quy định đểlàm căn cứ triển khai thực hiện quản lý tổng hợp không gian ven biển.
- Theo UNESCO: “Quy hoạch không gian biển là một quá trình phân tích và phân bổcác phần của không gian biển ba chiều cho các mục đích sử dụng cụ thể, để đạt đượccác mục tiêu sinh thái, kinh tế và xã hội thường được xác định thông qua tiến trìnhchính trị; kết quả của quá trình quản lý tổng hợp không gian ven biển thường là một kếhoạch tổng thể toàn diện cho một vùng biển quản lý tổng hợp không gian ven biển làmột phần của quản lí sử dụng biển.” [4]
- Công ước luật biển 1982: Đưa ra quyền và trách nhiệm chung đối với đại dương, quyđịnh: tất cả các quốc gia phải có nghĩa vụ bảo vệ về bảo tồn môi trường biển, kể cả các
hệ sinh thái quý hiếm và dễ bị phá hủy cũng như nơi sinh cư của các loài Nghĩa vụ này
áp dụng đối với tất cả các dạng và nguồn ô nhiễm, kể cả rác thải biển và ngư cụ đánhbắt bị thất lạc
2.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Hiên nay, ở Việt Nam có 15 bộ ngành liên quan đến quản lý nhà nước về biển,vùng bờ biển và hải đảo theo ngành Vì vậy, năm 2008, chính phủ Việt Nam đã thànhlập ra Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường(MONRE) với chức năng quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, vùng bờbiển và hải đảo ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề quản lý tổng hợp không gian ven biển được quan tâm cùngvới phân vùng chức năng các khu bảo tồn biển và quản lí tổng hợp vùng bờ Phân vùngchức năng được coi là công cụ đầu tiên của chu kì quản lý tổng hợp không gian venbiển được rút kinh nghiệm từ quy hoạch sử dụng đất, áp dụng cho việc phân bổ cácnguồn tài nguyên biển và không gian biển cho các mục đích sử dụng khác nhau có tínhđến tình trạng của các hệ sinh thái, phù hợp với tầm nhìn chung, các giá trị kinh tế -văn hóa - xã hội và các mục tiêu phát triển bền vững Thực chất phân vùng chức năngbiển là sự phân chia không gian thành những “đơn vị không gian” nhỏ hơn theo những
Trang 16tiêu chí nhất định để có định hướng và cách thức khai thác, sử dụng tài nguyên biểnhợp lí, hiệu quả và bền vững [1] Đây là hoạt động đã có nhiều đóng góp cho hệ thốngbảo tồn biển, có tác dụng tốt trong xây dựng SPDL biển đảo Mối liên kết giữa cáckhu bảo tồn và các doanh nghiệp du lịch gắn bó lâu đời Du lịch luôn là tiêu chí xemxét và thiết lập quản lí các khu bảo tồn biển Mỗi doanh nghiệp du lịch được giaonhững dự án đầu tư có sử dụng không gian biển nhất định cũng cần phải được tiếp tụcphân thành những đơn vị không gian nhỏ hơn để tiện sử dụng cho việc khai thác SPDLbiển đảo.
Quản lí tổng hợp vùng bờ đã được ứng dụng nhiều cho phát triển SPDL biển đảo có
“chức năng sản xuất” nhằm kết hợp các yếu tố đầu vào như lao động, tài nguyên thiênnhiên của dải ven biển, vốn và thời gian để tạo ra các SPDL mong đợi (như: bãi biểncho khách du lịch nghỉ dưỡng; chất lượng nước đảm bảo cho khu vực tắm biển, thểthao; bảo tồn biển cho các hoạt động tham quan, lặn biển; bảo tồn nguồn lợi thủy sảnvùng bờ cho hoạt động du lịch câu cá giải trí; bảo tồn rừng ngập mặn giảm tổn thấtbiến đổi khí hậu và chống ô nhiễm môi trường)
SPDL biển đảo chủ yếu dựa vào các yếu tố về tự nhiên, cảnh quan, điều kiện lịch sử văn hóa, kinh tế-xã hội gắn với không gian biển để thu hút du khách đến tham quan,nghỉ dưỡng, trải nghiệm Khi các yếu tố này được phát hiện, quy hoạch phát triển,khai thác và sử dụng cho mục đích du lịch thì chúng sẽ trở thành SPDL hấp dẫn [5].Ứng dụng quản lý tổng hợp không gian ven biển giúp nhà quản lí và doanh nghiệpđánh giá mối quan hệ giữa sử dụng biển cho mục đích du lịch với sử dụng biển chomục đích khác; xác định mối quan hệ giữa du lịch với môi trường biển Cách tiếp cậnnày sẽ giúp Nhà nước và doanh nghiệp cùng xây dựng SPDL tương thích với điều kiệnmôi trường biển
-+ Nguyễn Chu Hồi, đã tiến hành nghiên cứu về công tác tuyên truyền về quản lýtổng hợp không gian ven biển, Biển đào Việt Nam (2012), tác giả đã có những phântích và chỉ ra những mặt còn hạn chế trong công tác tuyên truyền về biển, đảo hiện nay,
Trang 17chưa đáp ứng được yêu cầu của tình hình mới Chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc và chútrọng đúng mức đến công tác tuyên truyền, giáo dục về phát triển bền vững biển, hảiđảo và vấn đề chủ quyền của Việt Nam trên Biển Đông trong các tầng lớp nhân dântrên phạm vi cả nước; Chỉ đạo công tác tuyên truyền biển, hải đảo còn thiếu tập trung,hướng dẫn chưa chuyên nghiệp, còn làm theo phong trào và gắn quá mức vào một số
sự kiện của Bộ, ngành và địa phương
+ Nguyễn Bá Diến, tiến hành nghiên cứu vấn đề :”Tranh chấp chủ quyền Trường Sa– Hoàng Sa” là mối tranh chấp phức tạp, lâu dài nhất, đầy nguy cơ tiềm ẩn nhất về biểnđảo Hiện đã có hàng loạt văn bản làm nền tảng khẳng định chủ quyền của Việt Namđối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa Do vậy, công tác tuyên truyền cần phảiđược triển khai một cách đồng bộ, khoa học, cụ thể dựa trên cơ sở pháp lý, luật phápquốc tế để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam, bảo vệ chủ quyền củaViệt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, tạp chí Biển đảo Việt Nam, số
126, tr 16-18
+ Nguyễn Văn Hùng (2012), tiến hành nghiên cứu vấn đề: “Tuyên truyền nâng cao
ý thức người dân về quản lý tài nguyên biển”, tác giả đã cho chỉ ra: về ý thức chủ
quyền biển, đảo, phải cho mọi người dân, kể cả lãnh đạo từ cấp thấp đến cấp cao nhậnthức được vai trò, tầm quan trọng của biển đối với sự sinh tồn của Việt Nam Biển phải
là không gian sinh tồn của người Việt trước mắt và lâu dài, tạp chí Biển đảo Việt Nam,
số 112, tr 11-12
2.2.3.Tổng quan về quản lý tổng hợp không gian ven biển ở tỉnh Nam Định
Nam Định, phạm vi do UNESCO công nhận gồm 2 tiểu vùng nằm ở cửa Ba Lạt
và cửa Đáy: Vườn quốc gia Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định thuộc các xã GiaoThiện, Giao An, Giao Lạc, Nghĩa Đồng của huyện Giao Thủy và không gian ven biểnphòng hộ ven biển Nghĩa Hưng thuộc các xã: Nghĩa Thắng, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hải,Nghĩa Lợi, thị trấn Rạng Đông, xã Nam Điền huyện Nghĩa Hưng [5]
Trang 18Nam Định xây dựng kế hoạch hành động công tác truyền thông về quản lý tổnghợp không gian ven biển giai đoạn 2011- 2013 và định hướng đến năm 2020, quyhoạch công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển và cơ sở dữ liệucông tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển trên địa bàn tỉnh SởNông nghiệp và Phát triển nông thôn và Sở Tài nguyên môi trường tổ chức đào tạonguồn nhân lực về quản lý công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian venbiển; tuyên truyền giáo dục pháp luật về công tác truyền thông về quản lý tổng hợpkhông gian ven biển Trong giai đoạn 2013-2015, Nam Định lập kế hoạch về công táctruyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển huyện Giao Thủy, huyện NghĩaHưng về quản lý tổng hợp không gian ven biển trên địa bàn tỉnh; xây dựng các đội ngũ,lực lượng phục vụ công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển tạicác khu bảo tồn, vườn quốc gia và các vùng đất ngập nước quan trọng [5].
Từ đầu năm 2011, các cơ quan chức năng trong tỉnh tiến hành điều tra cơ bản về côngtác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển; xây dựng mạng lưới, thựchiện kế hoạch về công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển vàbảo vệ môi trường biển Quy chế phối hợp trong việc xử lý khai thác, kinh doanh, sửdụng tài nguyên thuộc không gian biển xây dựng các mô hình ứng dụng tiến bộ khoahọc công nghệ về công tác truyền thông về quản lý tổng hợp không gian ven biển [5].Năm 2011 tỉnh Nam định triển khai chương trình bảo vệ môi trường không gian biểnvới thông điệp “Cộng đồng các quốc gia chung sức thúc đẩy việc quản lý, bảo tồn vàphát triển bền vững các loại không gian ven biển; phòng, chống phá không gian venbiển và suy thoái không gian ven biển” Hưởng ứng chương trình này tỉnh ta đang triểnkhai nhiều hoạt động khai thác và bảo vệ không gian ven biển, trong đó, đặc biệt ưutiên việc khai thác không gian ven biển phòng hộ ven biển, ứng phó với tình trạng nướcbiển dâng và tiếp tục tham gia hiệu quả vào mục tiêu thực hiện dự án quốc gia khaithác mới 5 triệu ha không gian ven biển Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đãchọn Tỉnh Đoàn Nam Định làm điểm trong việc triển khai xây dựng mô hình bảo vệmôi trường năm 2011, trong đó dự án “quản lý không gian ven biển chắn sóng” với
Trang 19tổng diện tích 12ha đang được triển khai tại 3 huyện ven biển Giao Thủy, Hải Hậu vàNghĩa Hưng Các địa phương tham gia dự án về ý nghĩa, mục đích của việc khai tháckhông gian ven biển phòng hộ ven biển để cải thiện các điều kiện khắc nghiệt của môitrường vùng đất cát như giảm nhiệt độ ở lớp cát mặt trong mùa hè và giữ nước trongmùa khô Rừng ven biển còn giúp nâng cao sự đa dạng của hệ sinh thái vùng ven biển,đáp ứng nhu cầu về gỗ gia dụng và củi đun cho nhân dân địa phương Rừng còn hạnchế được nạn cát bay và quá trình rửa trôi (bạc màu) ở lớp cát mặt, đồng thời cung cấpkhối lượng lớn các chất hữu cơ làm cho độ phì nhiêu của đất không ngừng được cảithiện Năm 2011, Tỉnh Đoàn đã chọn xã Giao Long (Giao Thủy) là mô hình điểm đểrút kinh nghiệm và nhân ra diện rộng Đồng chí Vũ Tuyết Minh, Bí thư huyện ĐoànGiao Thủy cho biết: “Từ tháng 6, Đoàn Thanh niên huyện đảm nhận khai thác 4hakhông gian ven biển Hoạt động khai thác không gian ven biển được coi là điểm nhấntrong công tác Đoàn năm 2011” Đến thời điểm này, công tác chuẩn bị cho việc tuyêntruyền quản lý không gian ven biển đang diễn ra khá sôi nổi tại các cơ sở Đoàn thamgia dự án Theo kế hoạch, trong tháng 8 sẽ đồng loạt triển khai việc quản lý khai tháckhông gian ven biển [8].
Tỉnh Nam Định triển khai Dự án đầu tư không gian ven biển phòng hộ ven biển nhằmkhôi phục và phát triển không gian ven biển và rừng ngập mặn, không gian ven biểnphòng hộ ven biển để chắn sóng, bảo vệ đê biển đê sông, lấn biển, hạn chế tác độngcủa biến đổi khí hậu toàn cầu, phòng chống thiên tai cho cộng đồng dân cư ven biển,điều hoà khí hậu, tôn tạo vẻ đẹp cảnh quan, cải thiện đời sống nhân dân và góp phầnđảm bảo an ninh quốc phòng trên tuyến biên giới biển của tỉnh Được thực hiện từ nayđến năm 2014 với tổng kinh phí dự toán gần 46,7 tỷ đồng, dự án tập trung bảo vệ trên2.203ha không gian ven biển phòng hộ hiện có tại 3 huyện ven biển của tỉnh gồm HảiHậu, Nghĩa Hưng và Giao Thuỷ; khai thác mới gần 1.530ha, trong đó có trên 1.036 hakhông gian ven biển phòng hộ tập trung, khai thác bổ sung 405ha không gian ven biểnkhai thác có mật độ thấp tại huyện Nghĩa Hưng, 58ha không gian ven biển chắn gió hạitại Hải Hậu và Giao Thuỷ, 29ha cây cảnh quan môi trường, cảnh quan du lịch tại thị
Trang 20trấn Thịnh Long và Quất Lâm (huyện Giao Thuỷ) Ngoài ra, dự án còn đầu tư xâydựng các cơ sở hạ tầng lâm sinh như nâng cấp vườn ươm giống cây lâm nghiệp và xâydựng mới vườn ươm giống cây ngập mặn tại vùng bãi bồi phía đông xã Nam Điền(huyện Nghĩa Hưng) Nằm ở vùng Nam châu thổ sông Hồng, tỉnh Nam Định sở hữu72km bờ biển Hằng năm, do phù sa sông Hồng bồi đắp ở cửa Ba Lạt và Lạch Giang,biển Nam Định lùi ra khoảng 100- 200 m với diện tích khoảng 400ha Theo thống kê,khảo sát, diện tích đất thích nghi cho lâm nghiệp trên địa bàn toàn tỉnh khoảng 12.000-14.000ha, chủ yếu là khai thác không gian ven biển phòng hộ ven biển thuộc các huyệnGiao Thuỷ, Hải Hậu và Nghĩa Hưng [7].
Một số văn bản pháp lý, tỉnh Nam Định đã triển khai thực hiện trong công tác truyềnthông về quản lý tổng hợp không gian ven biển VQG Nghĩa Hưng:
- Quyết định số 26/LN- KH ngày 19/1/1995, trao quyền từ Chính phủ cho Bộ Lâmnghiệp (nay là Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn) về việc phê duyệt nghiêncứu khả thi về kỹ thuật và kinh tế ở khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước HuyệnNghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
- Quyết định số 479/QĐ- UB ngày 10/5/2012 của UBND tỉnh Nam Hà (nay làUBND tỉnh Nam Định) về việc thành lập Ban quản lý tổng hợp không gian venbiển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh Nam Định
- Quyết định số 872/2003/QĐ- UB ngày 24/4/2003 của UBND tỉnh Nam Định quyếtđịnh chức năng nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy chịu trách nhiệm truyêntruyền về quản lý tổng hợp không gian ven biển tại huyện Nghĩa Hưng tỉnh NamĐịnh
- Quyết định số 126/QĐ- TTg ngày 2/2/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc thíđiểm cơ chế chia sẻ lợi ích trong quản lý bảo vệ và phát triển bền vững không gianven biển đặc dụng được triển khai tại Huyện Nghĩa Hưng
Trang 21- Quyết định số 1010/QĐ- BNN- TCLN ngày 7/5/2013 của Tổng cục Thủy Sản vềviệc phê duyệt phương án chia sẻ lợi ích trong quản lý, bảo vệ và phát triển bềnvững không gian ven biển đặc dụng tại huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định.
- Công văn số 1343/ĐTCB ngày 1/10/1989 của Uỷ ban khoa học nhà nước về việcUNESCO công nhận bãi bồi Huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định gia nhập côngước Ramsar
- Công văn số 302/KG ngày 6/8/1998 của văn phòng Hội đồng Bộ trưởng đồng ýkhoanh vùng cửa sông Hồng tỉnh Nam Hà đăng ký gia nhập công ước Ramsar
- Báo cáo số 183/VP3 ngày 6/12/2002 của UBND tỉnh Nam Định xác định ranh giớivùng lõi và của huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định để trình trước Thủ tướng chínhphủ và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
- Văn bản số 4822/BNN- KL ngày 24/12/2002 của Bộ Nông nghiệp và Phát triểnNông thôn trình Thủ tướng Chính phủ về việc mở rộng diện tích của huyện NghĩaHưng, tỉnh Nam Định
Trang 22CHƯƠNG 2 : PHÂN TÍCH HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ THỰC TRẠNG TRUYỀN THÔNG QUẢN LÝ TỔNG HỢP KHÔNG GIAN VEN BIỂN
NGHĨA HƯNG TỈNH NAM ĐỊNH 2.1 Đặc điểm tự nhiên và kinh tế xã hội huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định
2.1.1 Vị trí địa lý - tài nguyên vị thế
- Nghĩa Hưng là huyện ven biển, có toạ độ địa lý từ 19o55’ đến 20o30’ vĩ độ Bắc
và từ 106o04’ đến 106o11’ kinh độ Đông;
- Phía Bắc giáp với huyện Nam Trực và huyện Ý Yên;
- Phía Đông Bắc giáp huyện Hải Hậu và Huyện Trực Ninh;
- Phía Tây giáp huyện Kim Sơn và huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình;
- Phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ;
Với vị trí nằm giáp sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ, đất đai Nghĩa Hưng chủ yếu
là đất phù sa do hệ thống sông Hồng bồi lắng tạo thành Trải qua hàng nghìn năm nhândân Nghĩa Hưng đời sau kế tiếp đời trước quai đê lấn biển, xây dựng xóm làng, biếnvùng đất này thành vùng đất trù phú của tỉnh Nam Định Nghĩa Hưng có 3 mặt giápsông và một mặt giáp biển tạo cho huyện có thế lợi về đường thuỷ, phát triển kinh tếbiển Trên địa bàn huyện, có 2 tuyến đường tỉnh đi qua, đường 490C chạy dọc huyện từBắc xuống Nam là trục giao thông chính của huyện, đường 486B cắt ngang huyện tạo
ra các thị tứ, trung tâm huyện và dịch vụ thương mại giữa huyện Nghĩa Hưng vớihuyện Hải Hậu và huyện Ý Yên Với vị trí địa lý khá thuận lợi đó là điều kiện quantrọng để Nghĩa Hưng phát triển kinh tế năng động, đa dạng và hoà nhập cùng với cácđịa phương trong và ngoài tỉnh
Trang 23Hình 2.1 Vị trí vùng nghiên cứu nhìn từ vệ tinh
Hình 2.2 Vị trí địa lỹ vùng nghiên cứu qua bản đồ
Nghĩa Hưng
Huyện Nghĩa Hưng
Trang 24Khí hậu
Nghĩa Hưng mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu vùng Đồng bằng sôngHồng, là khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt (Xuân, Hạ,Thu, Đông)
- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-24oC, số tháng có nhiệt độ trung bìnhlớn hơn 20oC từ 8-9 tháng Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9 oC, tháng lạnh nhất
là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27oC, tháng nóng nhất là tháng 7
và tháng 8
- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm 80-85%, giữa tháng có độ
ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là 90%(tháng 3), thấp nhất là 81% (tháng 11)
- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700-1.800 mm, phân bố tươngđối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Lượng mưa phân bổ không đều trong năm,mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm, cáctháng mưa nhiều là tháng 7,8,9 Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng, làmthiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường, nướcsông lên cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20% lượngmưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1,2, có tháng hầu như không có mưa.Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông vàmưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân
- Nắng: Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1650 -1700giờ Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100-1.200 giờ, chiếm 70% số giờ nắngtrong năm
- Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2 - 2,3m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió đông bắc với tần suất 60-70%, tốc độ giótrung bình 2,4 -2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng chuyển dần về
Trang 25phía đông Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió đông nam, với tần suất 50 -70%, tốc độgió trung bình 1,9 -2,2 m/s, tốc độ gió cực đại (khi có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạthường xuất hiện các đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng Ngoài ravùng ven biển còn chịu ảnh hưởng của gió đất (hướng thịnh hành là Tây và Tây Nam),gió biển (hướng thịnh hành là Đông Nam).
- Bão: Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thường chịu ảnh hưởng của bãohoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4-6 cơn/năm Cơn bão số 5 (tháng 9/1998) có sứcgió giật trên cấp 12, là trận bão lớn nhất trong khoảng 100 năm trở lại đây
Nhìn chung khí hậu Nghĩa Hưng rất thuận lợi cho môi trường sống của con người, sựphát triển của hệ sinh thái động, thực vật và du lịch
Thuỷ văn
- Hệ thống sông ngòi: Nghĩa Hưng có hệ thống sông ngòi khá dầy đặc với mật độ lướisông vào khoảng 0,6 - 0,9 km/km2 Do đặc điểm địa hình, các dòng chảy đều theohướng Tây Bắc - Đông Nam, các sông lớn như sông Đáy, Sông Ninh Cơ và sông Đàochảy qua Nghĩa Hưng đều thuộc phần hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâulắm, tốc độ dòng chảy chậm hơn phía thượng lưu Chế độ nước của hệ sống sông ngòichia theo 2 mùa rõ rệt là mùa mưa lũ và mùa cạn;
Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các tuyến sông nội đồng, kênh lớn như kênh ĐạiTán, Bình Hải, Âm Sa, Quần Vinh I, Quần Vinh II , phân bố đều khắp trên địa huyệntheo hình xương cá, rất thuận lợi cho việc chủ động tưới tiêu Sông ngòi đã mang lạinguồn lợi cho nguồn kinh tế của Huyện, thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuấtnông nghiệp, bồi đắp phù sa cho vùng đất ngoài đê và một số vùng trong đê tăng thêm
độ phì cho đất Ngoài ra sông ngòi còn là đường giao thông thuỷ thuận lợi, rẻ tiền và lànơi sản xuất, cung cấp nguồn thuỷ sản dồi dào phong phú Mặt hạn chế là hàng nămphải đầu tư tu bổ đê điều, nạo vét kênh mương
- Thuỷ triều: Thuỷ triều tại vùng biển Nghĩa Hưng thuộc loại nhật triều, biên độ triềutrung bình từ 1,6-1,7 m, lớn nhất là 3,3 m, nhỏ nhất là 0,1 m Thông qua hệ thống sông
Trang 26ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp quá trình thau chua, rửa mặn trên đồngruộng Dòng chảy của sông Ninh Cơ và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đã bồi
tụ vùng cửa sông, tạo thành bãi bồi lớn Cồn Trời, Cồn Mờ
Đánh giá chung: Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn của Nghĩa Hưng tương đối thuận lợi cho
sử dụng đất đai vào mục đích sản xuất nông nghiệp, có thể chuyển đổi cơ cấu đượcnhiều mùa vụ, nhiều hệ thống cây trồng Tuy nhiên, chúng cũng biểu lộ nhiều yếu tốlàm hạn chế đến khả năng thích nghi của đất đai khi đưa vào sản xuất các cây trồng, vậtnuôi
Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2000 - 2005 đạt 8,7%/năm; Giai đoạn
2005 - 2010 đạt 11,02%/năm cao hơn nhiệm kỳ trước 2,32%/năm Tổng giá trị sản xuấtbình quân năm giai đoạn 2005-2010 đạt 1.738 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầu ngườiđến năm 2010 đạt 11 triệu đồng/người
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
+ Nông, lâm ngư nghiệp 47,05%
+ Công nghiệp, xây dựng 20,68%
+ Thương mại, dịch vụ 27,25%
Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch của các ngành công nghiệp, dịch vụ còn chậm, tỷ trọngcác ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP của huyện vẫn còn cao hơn so với bìnhquân chung của cả tỉnh (29,5%)
Bảng 2.1: Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu thời kỳ 2000-2010
Trang 27- Dân số, lao động và việc làm: Tổng dân số tính đến năm 2010 là 205195 người.
Trong 5 năm tỷ lệ tăng dân số của huyện giảm từ 1,03% (năm 2005) xuống còn 0,9%
năm 2010 Dân số năm 2010 giảm 5.884 người so với năm 2005 Mật độ dân số 709người//km2 thấp hơn bình quân của tỉnh
- Tổng lao động đến năm 2010 đang làm việc trong các ngành nghề kinh tế là: 101.995người, trong đó số người có khả năng lao động: 89.665 người, mất khả năng lao động:3.624 người; Người có khả năng lao động nhưng không có việc làm: 577 người Phân
bổ lao động theo các ngành kinh tế như sau:
- Lao động nông nghiệp, thủy sản: 78.083 người bằng 76,56% tổng lao động
Trang 28- Lao động CN -TTCN và xây dựng: 14.143 người, bằng 13,87% tổng lao động
- Thương mại, dịch vụ: 9.769 người, bằng 9,57% tổng lao động
Như vậy, người dân thu nhập từ phi nông nghiệp năm 2010 so với năm 2005 đã tăngnhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp
- Năm 2000 đạt 2,7 triệu đồng/khẩu Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người (giá hiệnhành) đạt 11 triệu đồng/năm
2.2 Hiện trạng và diễn biến môi trường biển giai đoạn 2011 - 2015
2.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước biển
2.2.1.1 Chất thải từ hoạt động của con người
- Hoạt động công nghiệp vùng ven sông, biển (công nghiệp đóng tàu và chế biến thủy sản): Hoạt động đóng tàu phát sinh nhiều chất thải độc hại như dầu mỡ, chất thải rắn
(đặc biệt là mạt rỉ sắt), dung môi sơn, các chất thải sinh hoạt Công nghiệp chế biếnthuỷ sản do nước thải chứa nhiều hợp chất hữu cơ trong quá trình sản xuất không được
xử lý hoặc xử lý không đạt yêu cầu
Hoạt động dân sinh: Hầu hết nước thải từ các nguồn phát sinh chưa được xử lý hoặc
xử lý chưa đạt yêu cầu đã làm ô nhiễm nguồn nước mặt trong lục địa
Ô nhiễm do sử dụng hóa chất trong sản xuất nông nghiệp: Lượng dư thừa thuốc bảo vệ
thực vật và phân bón sẽ bị rửa trôi khi mưa xuống và theo kênh mương dẫn vào cáctuyến sông nội đồng và sông lớn để đổ ra biển
Du lịch biển và nuôi trồng thủy sản:
Hoạt động du lịch: Trong những năm qua lượng khách du lịch càng ngày càng gia tăng
tập trung chủ yếu ở khu vực bãi tắm Thịnh Long Hiện tại, các nhà nghỉ tại khu du lịchhầu hết đều chưa có hệ thống xử lý nước thải đảm bảo Việc xây dựng nhà nghỉ pháttriển mạnh và thiếu quy hoạch, xây dựng trên diện tích rừng phi lao chắn sóng làm diện
Trang 29tích rừng giảm Việc xả thải rác thải bừa bãi của khách du lịch cũng đã làm ô nhiễmmôi trường bờ biển
Hoạt động nuôi trồng thủy hải sản: Bùn thải trong quá trình nuôi trồng thủy sản chứa
các nguồn thức ăn dư thừa thối rữa bị phân hủy, các hóa chất và thuốc kháng sinh, cácloại khoáng chất Diatomit, Dolomit, lưu huỳnh lắng đọng, các chất độc hại có trong đấtphèn Fe2+, Fe3+, Al3+, SO42- Lớp bùn này có chiều dày từ 0,1-0,3m trong tình trạngngập nước yếm khí tạo thành các sản phẩm phân hủy độc hại như H2S, NH3, CH4,Mecaptan…thải ra trong quá trình vệ sinh và nạo vét ao nuôi tác động xấu đến môi
trường xung quanh, ảnh hưởng đến chất lượng thủy sản nuôi trồng Nước thải nuôi tôm
công nghiệp có hàm lượng các chất hữu cơ cao (BOD512 - 35mg/l, COD 20 - 50mg/l),các chất dinh dưỡng (photpho, nitơ), chất rắn lơ lửng (12 - 70mg/l), ammoniac (0,5 -1mg/l), coliforms (2,5.102 -3.104 MNP/100ml) Hoạt động nuôi trồng thuỷ hải sản chủyếu vùng ven biển nên nước thải của hoạt động này góp phần gia tăng ô nhiễm môi
trường biển [4].
Hoạt động giao thông vận tải biển: Khu vực Nghĩa Hưng với cảng biển Thịnh Long
xây dựng tại cửa sông Ninh Cơ với hai cầu tàu dài 200m, đảm bảo cho tàu 400 - 2000tấn cập bến xếp dỡ hàng hoá, năng lực thông qua cảng 30 vạn tấn/năm Ngoài ra, hoạtđộng của cảng Ninh Phúc (Ninh Bình) trên sông Đáy, đảm bảo cho tàu biển trên 3.000tấn ra vào thuận lợi cũng là yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nước ven biển trong khuvực Hoạt động giao thông đường thuỷ với số lượng lớn là nguồn phát sinh dầu mỡkhoáng và các loại chất thải, rác thải khác từ hoạt động sinh hoạt trên phương tiện.Nước thải của phương tiện đường thuỷ như nước dằn tàu, nước la canh, nước thải sinhhoạt chưa được xử lý thường thải trực tiếp xuống nguồn nước Sự nhiễm bẩn dầu chủyếu tại các cảng, bến bãi và dọc theo tuyến luồng giao thông
2.2.1.3 Diễn biến ô nhiễm 2012 – 2016
- Về môi trường đất:
Trang 30+ Ô nhiễm do sử dụng phân hóa học: sử dụng phân bón không đúng kỹ thuật trongcanh tác nông nghiệp nên hiệu lực phân bón thấp, có trên 50% lượng đạm, 50% lượngkali và xấp xỉ 80% lượng lân dư thừa trực tiếp hay gián tiếp gây ô nhiễm môi trườngđất Các loại phân vô cơ thuộc nhóm chua sinh lý như K2(SO4), Cl, Ca(H2PO4)2 còntồn dư axit, đã làm chua đất, nghèo kệt các cation kiềm và xuất hiện nhiều độc tố trongmôi trường đất như ion Al3+, Fe3+, Mn2+ giảm hoạt tính sinh học của đất và năng suấtcây trồng;
+ Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đối vớimọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc không phânbiệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất Theocác kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sửdụng còn ít, trung bình từ 0,5 - 1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dưlượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất
- Về Môi trường nước:
Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp: Về tình trạng ô nhiễm nước ở nông thôn
và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Nghĩa Hưng có 86% dân số đang sinh sống
ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người vàgia súc không được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ônhiễm nguồn nước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Kết quả phân tích sosánh với QCVN 08:2008 (B1) (quy chuẩn Việt Nam) như sau: Có 06/12 thông số đượcphân tích cao hơn so với quy chuẩn Việt Nam Thông số COD vượt quy chuẩn từ 1,1đến 5,1 lần Thông số BOD vượt quy chuẩn từ 1,07 đến 5,31 lần Thông số tổng chấtrắn lơ lửng vượt quy chuẩn từ 1,24 đến 1,86 lần Thông số tổng dầu mỡ vượt quychuẩn 1,1 đến 1,8 lần Thông số Phenol vượt quy chuẩn từ 1,17 đến 2,1 lần Thông sốColiform vượt quy chuẩn từ 1,04 đến 1,44 lần ở các kênh tưới tiêu, nước ao, hồ, sôngnhỏ, sông nội đồng trên địa bàn huyện
- Môi trường không khí:
Trang 31Về tổng thể quan trắc môi trường không khí tại khu vực nông thôn của huyện chưa bị ônhiễm, song tại một số khu vực ven tuyến sông Ninh Cơ, sông Đào, sông Đáy tìnhtrạng hàng trăm lò nung gạch thủ công hàm lượng các chất có trong không khí nhưSO2, CO2, bụi vượt trên tiêu chuẩn cho phép.
- Môi trường nước biển ven bờ:
+ Về khai thác hải sản: Thực trạng môi trường ven biển đang quan tâm nhất hiện nay là
tình trạng khai thác chưa hợp lý các nguồn khai thác tài nguyên ven biển, tình trạngđánh bắt như nổ mìn, xung điện lưới mắt nhỏ, ánh sáng… vẫn còn xảy ra gây ảnhhưởng đến hệ sinh thái thay đổi chuỗi thức ăn, mất tính quản lý tổng hợp không gianven biển có vùng gây suy thoái tài nguyên đất, đất bị tái nhiễm mặn do chuyển đổi cơcấu sản xuất chưa hợp lý, việc quản lý chất thải khai thác thuỷ sản vẫn còn nhiều bấtcập;
+ Về nuôi trồng thuỷ sản: Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản phát triển với công thức nuôicông nghiệp nên lượng thức ăn dư thừa cũng như hoá chất, thuốc chữa bệnh gia tăng,theo nguồn nước thải vào môi trường xung quanh; Nước biển vùng nuôi trồng thủy sản
có 4 chỉ tiêu vượt quy chuẩn cho phép, đó là COD(KMnO4) 8,4/3 mg/l (đo được 8,4
cho phép 3 mg/l); tổng chất rắn lửng lơ 244/50 mg/l; Sunfua 0,006/0,005 mg/l;
Amoni(theo N) 0,23/0,1 mg/l;
+ Về chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần nghề cá hầu hết các cơ sở chế biến thuỷsản vẫn chưa được quy hoạch, mang tính thủ công quy mô nhỏ nguy cơ gây ô nhiễm
môi trường cao (chủ yếu là môi trường nước) từ khâu sơ chế và chế biến sản phẩm.
Kết quả quan trắc qua các năm cho thấy chất lượng nước biển ven bờ tại các khu vựckhông có các hoạt động nuôi trồng thủy sản hay khu vực du lịch thì có chất lượng tốthơn Tuy nhiên, tại các khu vực này nước biển đã có dấu hiệu ô nhiễm cục bộ bởi cácthông số như sunfua, Coliform nhưng ở mức độ thấp Các thông số khác như Amoni,Dầu mỡ, phenol đều nằm trong giới hạn cho phép của quy chuẩn QCVN10:2008
Trang 32Hình 2.3 Diễn biến thông số Sunfua
trong nước biển ven bờ Hình 2.4 Diễn biến thông số Coliform
trong nước biển ven bờ
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Nam Định 5 năm giai đoạn 2012 – 2016 )
Diễn biến độ mặn trên các sông lớn
Với địa hình thấp, bằng phẳng bị phân cắt bởi các hệ thống sông, kênh mương thủy lợi,lại tiếp giáp với biển cho nên các sông, kênh, mương của khu vực nghiên cứu dễ bịnước biển xâm nhập (nhiễm mặn), nhất là vào mùa khô Tình hình xâm nhập mặn trongthời gian qua tại khu vực nghiên cứu diễn biến phức tạp, mặn xâm nhập ngày càng sâuvào trong nội đồng làm ảnh hưởng đến các vùng sản xuất Mặt khác, hiện tượng biếnđổi khí hậu, tính phức tạp của dòng chảy sông ở hạ du về mùa cạn, nhu cầu dùng nướccủa các ngành kinh tế tăng cao… đã làm cho nước mặn tiến ngày càng sâu vào trongđất liền [4]
Giao Phong Hải Lý Rạng Đông
mg/l
Giao Phong Hải Lý
mg/l
Trang 33Hình 2.14 Diễn biến độ mặn trên
sông Đáy vào mùa mưa
Hình 2.15 Diễn biến độ mặn trên sông Đáy vào mùa khô
(Nguồn: Báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Nam Định 5 năm giai đoạn 2011 – 2015 )
Tình hình xâm nhập mặn có xu hướng ngày càng tiến sâu vào trong đất liền nhất
là vào mùa khô Độ mặn có diễn biến thất thường trên các sông và qua các năm Vàomùa khô, trên sông Đáy độ mặn có nồng độ tăng dần theo thời gian Tuy nhiên, trênsông Ninh Cơ có sự tăng giảm thất thường, năm 2011 có độ mặn cao nhất sau đó năm
2012 giảm và tăng dần từ năm 2012 đến 2016
2.2.2 Hiện trạng chất thải rắn
Khối lượng chất thải rắn phát sinh khoảng 110,3 tấn/ngày, Trong đó đô thị
14,5tấn/ngày, chủ yếu là lượngchất thải rắn sinh hoạt chiếm 73% (nguồn Quy hoạch
môi trường tỉnh Nam Định)
Hình thức xử lý CTR tại các xã, thị trấn chủ yếu là đổ thải tại các điểm quyđịnh, một phần do dân tự xử lý Hiện huyện có 01 bãi chôn lấp tại xã Hải Phương thiết
kế hợp vệ sinh, còn lại các bãi xử lý theo biện pháp là chôn lấp và đổ thải Về mặt lựachọn công nghệ và quy hoạch xử lý rác thải ở huyện cũng còn nhiều bất cập, địnhhướng xử lý chất thải rắn tại các xã chủ yếu là chôn lấp Có tới 29% lượng rác thu gomđược đổ không đúng nơi quy định, 58% lượng rác thu gom được đổ vào các nơi quyđịnh của thôn xóm, 8% lượng rác thu gom được xử lý chôn lấp và tiêu huỷ tại các hộ
0.2 0.3 0.4 0.5 0.6 0.7 0.8
Chart Title
Axis Title
Trang 34gia đình, chỉ 10% lượng rác thu gom được đổ theo quy hoạch cũng như quy định của
xã Việc quản lý chất thải rắn theo hướng liên xã, liên huyện chưa được quan tâm đúngmức Rác thải chưa được quan tâm xử lý theo hướng tái chế, tái sử dụng để hạn chếchôn lấp Trong khi đó công tác quy hoạch, lựa chọn, điểm chôn lấp rác chưa hợp lýgây tốn kém quỹ đất, kinh phí hoạt động cho công tác bải vệ môi trường còn hạn chế,một bộ phận người dân chưa có ý thức bảo vệ môi trường chung…
Vì vậy việc quy hoạch quản lý chất thải rắn của huyện nhằm xây dựng mộtchương trình quản lý chất thải rắn tổng hợp theo hướng tiên tiến, có lộ trình, nâng caohiệu quả công tác quản lý và xử lý chất thải, tiết kiệm về kinh tế và tài nguyên, đáp ứngcác yêu cầu của chiến lược quốc gia về quản lý chất thải rắn tổng hợp đối với huyệnhiện nay đặt ra hết sức cấp bách
2.3 Thực trạng truyền thông về ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường ven biển huyện Nghĩa Hưng
2.3.1 Đối tượng của chương trình truyền thông về ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường ven biển
Phân tích đối tượng là nhằm mục đích lựa chọn phương pháp và ngôn ngữtruyền thông phù hợp với đối tượng, đặc biệt cần quan tâm đến nhóm đối tượng có liênquan trực tiếp đến mục tiêu của chiến dịch truyền thông
Trong chương trình truyền thông về ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môitrường ven biển, được xác định gồm có các đối tượng chính như sau:
Trang 35trong các chương trình truyền thông là cộng đồng, bên cạnh đó thì cũng có 33,3% chorằng đối tượng cán bộ quản lý cấp huyện cũng cần được ưu tiên trong truyền thông.
Biểu: Đối tượng ưu tiên trong truyền thông
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
2.3.2 Hình thức, tần suất truyền thông về ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môitrường ven biển
a/ Về các chương trình truyền thông
Chương trình truyền thông sẽ giúp cho các cộng đồng dân cư ven biển, chongười dân nhận thức được giá trị tài nguyên và môi trường vùng bờ; đồng thời khuyếncáo cho họ về tác hại của việc ô nhiễm môi trường ven biển Từ đó xây dựng ý thứctham gia tích cực các chiến dịch làm sạch bãi biển, các phương thức đánh bắt thủy hảisản mang tính hủy diệt đã giảm hẳn Nhờ có chuyển đổi dần nhận thức nên cộng đồngdân cư ven biển ở một số địa phương đã tham gia tích cực vào các hoạt động tuyêntruyền về ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường ven biển
Theo kết quả khảo sát, phương tiện truyền thông thường được sử dụng để truyềnthông nâng cao nhận thức về ô nhiễm môi trường ven biển là từ truyền hình và loa đàiđịa phương, chiếm 33,3%, ít nhất là từ sách báo (chiếm 6,7%)
Trang 36Biểu: Phương tiện truyền thông thường được sử dụng để truyền thông nâng cao
nhận thức cộng đồng về ô nhiễm môi trường ven biển
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
Đối với người dân việc tham gia hoạt động truyền thông nhằm ngăn ngừa vàkiểm soát ô nhiễm môi trường ven biển là rất quan trọng, tuy nhiên theo kết quả khảosát thì tỷ lệ người tham gia các hoạt động này chỉ chiếm 40%, chủ yếu là tham gia vàocác chương trình ra quân thu gom, làm sạch bờ biển theo sự chỉ đạo của chính quyềnđịa phương và tham gia các lớp tập huấn về ô nhiễm môi trường biển (chiếm 16,7%)
Biểu : Hoạt động truyền thông nhằm ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường
ven biển đã tham gia Hoạt động Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 37Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
Sự tham gia của công đồng người dân vào các chương trình truyền thông cóhiệu quả hay không? Một phần là nhờ vào các đơn vị tổ chức chương trình, theo kếtquả khảo sát, hiện nay trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, hầu hết đơn vị tổ chức chươngtrình là chính quyền địa phương (chiếm 40%)
Biểu: Đơn vị tổ chức chương trình truyền thông ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm
môi trường ven biển
ĐVT:%
Biểu Hoạt động truyền thông làm cho người dân hiểu rõ nhất về ô nhiễm môi
trường ven biển
ĐVT:%
Phương tiện Số lượng Tỷ lệ (%)
Trang 38Thông báo của chính quyền 3 10,0
Biểu: Số lần tham gia các hoạt động truyền thông
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
Khi được hỏi về sự hợp tác của người dân với các chương trình truyền thông thì
có 80% có sẵn sàng tham gia, còn 20% số người không sẵn sàng tham gia, điều đóchứng tỏ rằng chương trình truyền thông thực hiện trên địa bàn huyện sẽ khó thực hiệnmột các hiệu quả
Trang 39Biểu : Sự sẵn sàng của người dân về hợp tác với các chương trình truyền thông
Trả lời Số lượng Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
Tuy nhiên, những người sẵn sàng hợp tác với chương trình thì 50% người cótinh thần tham gia vận động gia đình, bạn bè và người thân cùng tham gia các chươngtrình, và 50% không có tinh thần
Biểu: Tinh thần tham gia vận động gia đình,bạn bè, người thân cùng tham gia các
chương trình truyền thông
ĐVT:%
Trả lời Số lượng Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
Người dân sống trong khu vực ven biển huyện Nghĩa Hưng, chủ yếu là làm cácnghề nuôi trông và đánh bắt thủy sản; đối với những người đánh bắt thì thường xa nhà,nên khi được hỏi về số lần phù hợp diễn ra các chương trình truyền thông thì 3 thánghoặc trên 6 tháng/lần là phù hợp nhất (chiếm 33,3%)
Biểu: Số lần phù hợp diễn ra các chương trình truyền thông
Trang 40Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
2.3.3 Các nội dung và thông điệp truyền thông về ngăn ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường ven biển
a/ Nhận thức của người dân về môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển, ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
Để quản lý tốt môi trường biển, trước hết cần phải dựa vào các cộng đồng dân
cư đang sinh sống ở vùng ven biển Sự tham gia của người dân vào bảo vệ môi trường(BVMT) không chỉ tạo thêm nguồn lực tại chỗ, mà còn là lực lượng giám sát môitrường nhanh và hiệu quả, giúp cho các cơ quan quản lý môi trường giải quyết kịp thời
sự ô nhiễm môi trường biển ngay từ khi mới xuất hiện
Biểu Hiểu biết của người dân về khái niệm liên quan
ĐVT:%
Nội dung
Chưa Đã từng Tổng Số
lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Số lượng
Tỷ lệ (%)
Biết tới khái niệm
Biết tới khái niệm “Ô
nhiễm môi trường
Biết đến cụm từ
"Ngăn ngừa và kiểm
soát ô nhiễm môi
trường biển"
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ kết quả điều tra, 2017
Theo kết quả khảo sát, hiểu biết của người dân về các khái niệm “môi trườngbiển”, “ô nhiễm môi trường biển”, “ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển”còn rất hạn chế; có đến 83,3% người chưa từng biết tới khái niệm “môi trường biển”,66,7% chưa biết tới khái niệm “ô nhiễm môi trường biển”.Tại nhiều xã, các cộng đồng