1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

NGHIA HUNG BAO CAO TRINH PHE DUYET 8 6

155 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 1,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất đai, đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,đảm bảo an ninh lương thực và các mục

Trang 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, lànhân tố quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư,xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh, quốc phòng;

Hiến pháp nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 tại chương II Điều

8 đã quy định "Nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ đất đai theo quy hoạch và pháp luật,

đảm bảo sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả" Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng

đất đai có một ý nghĩa đặc biệt quan trọng không chỉ trong giai đoạn trước mắt mà cả lâudài Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành nhằm định hướng cho các cấp, các ngành lậpquy hoạch sử dụng đất trên địa bàn lãnh thổ, xác lập sự ổn định về mặt pháp lý cho côngtác quản lý Nhà nước về đất đai, làm cơ sở để tiến hành giao đất, cho thuê đất, chuyển mụcđích sử dụng đất và đáp ứng các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là đảm bảo antoàn lương thực quốc gia và môi trường sinh thái của cả nước;

Mục tiêu của quy hoạch là quản lý chặt chẽ tài nguyên đất đai theo quy hoạch, kếhoạch và pháp luật, đảm bảo sử dụng đúng mục đích tiết kiệm, hiệu quả, bảo vệ môitrường sinh thái bền vững Phát huy tối đa tiềm năng, nguồn lực về đất đai, đáp ứng yêucầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nông thôn mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế,đảm bảo an ninh lương thực và các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, anninh của đất nước;

Trong những năm qua, việc quản lý sử dụng đất đai của huyện đã dần đi vào nềnếp Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phục vụ cho việc pháttriển kinh tế - xã hội, xây dựng cơ sở sản xuất công nghiệp và dịch vụ, tạo vốn xây dựng

cơ sở hạ tầng là phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được UBND tỉnh phêduyệt cả về quy mô diện tích và vị trí thực hiện, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tếcủa huyện và nhu cầu sử dụng đất cho các đơn vị, tổ chức kinh tế, đất ở cho nhân dântrên địa bàn huyện Việc chuyển mục đích sử dụng đã tạo thêm nguồn thu cho ngân sáchcủa huyện Diện mạo đô thị và nông thôn đã thay đổi rõ rệt cả về chất và lượng Việcchuyển mục đích sử dụng đất đã giải quyết tạo được nhiều việc làm và thu nhập chongười lao động Công tác xây dựng quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất phục vụ cho kếhoạch phát triển kinh tế - xã hội của huyện đã góp phần đáng kể cho việc bảo vệ quỹ đấthiện có, khai thác sử dụng đất đai hợp lý mang lại hiệu quả thiết thực;

Do tầm quan trọng của việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trong giai đoạnhiện nay Được sự quan tâm chỉ đạo của UBND tỉnh Nam Định, sự giúp đỡ của Sở Tàinguyên và Môi trường tỉnh Nam Định UBND huyện Nghĩa Hưng đã chỉ đạo Phòng Tàinguyên Môi trường huyện phối hợp với các phòng chức năng xây dựng phương án quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020, kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu 2011 - 2015 củahuyện Nghĩa Hưng, để trình Uỷ ban nhân dân tỉnh Nam Định phê duyệt theo luật định;

Trang 2

Sau khi được phê duyệt, quy hoạch sử dụng đất sẽ trở thành công cụ quản lý Nhànước về đất đai phù hợp với yêu cầu của từng giai đoạn; xử lý các vấn đề còn bất cập vàcác vi phạm pháp luật về quản lý và sử dụng đất đai Làm cơ sở, lập quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất của các xã, thị trấn đến năm 2020

Những căn cứ pháp lý và cơ sở lập quy hoạch sử dụng đất đai huyện Nghĩa Hưng đến năm 2020.

Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992;

Luật Đất đai năm 2003, Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 củaChính phủ về thi hành Luật Đất đai;

Nghị quyết số 54/NQ-TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế - xã hội và bảođảm quốc phòng, an ninh vùng Đồng bằng sông Hồng đến năm 2010 và định hướng đếnnăm 2020;

Chiến lược, quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninhcủa cả nước;

Nghị định số 69/2009/NĐ-CP ngày 13/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định

bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư;

Quyết định số 87/2008/QĐ-TTg ngày 03/7/2008 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Nam Định đến năm 2020;

Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệtchương trình mục tiêu quy hoạch về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020 và

kế hoạch triển khai xây dựng nông thôn mới tỉnh Nam Định giai đoạn 2011 - 2015;

Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT ngày 02 tháng 11 năm 2009 của Bộ Tài nguyên

và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh và thẩm định quy hoạch, kế hoạch sửdụng đất;

Thông tư số 06/2010TT-BTNMT ngày 15/3/2010 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quyđịnh về định mức kinh tế kỹ thuật lập và điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

Công văn số 2778/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 04/8/2009 của Bộ Tài nguyên và Môitrường về việc triển khai lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụngđất 5 năm 2011 - 2015;

Thông tư số 13/2011/TT-BTNMT ngày 15/4/2011 của Bộ Tài nguyên và Môitrường quy định về ký hiệu bản đồ hiện trạng sử dụng đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất

Trang 3

Nghị định số 42/2012/NĐ-CP ngày 11/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ Về quản

lý, sử dụng đất trồng lúa

Nghị quyết số 15/NQ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2013 của Chính phủ về quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ đầu (2011 - 2015)tỉnh Nam Định

Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và địnhhướng đến năm 2020;

Kế hoạch số 37/KH-UBND ngày 12 tháng 8 năm 2011 của UBND tỉnh Nam Định

về thực hiện Nghị quyết của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển công nghiệp- tiểuthủ công nghiệp, làng nghề ở nông thôn giai đoạn 2011-2015;

Quyết định số 434/QĐ-UBND ngày 17 tháng 3 năm 2011 của UBND tỉnh NamĐịnh về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống y tế tỉnh Nam Định đếnnăm 2020;

Công văn 1910/TTg-KTN ngày 10/11/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc bổ sungcác khu công nghiệp của tỉnh Nam Định vào Quy hoạch phát triển các KCN ở Việt Nam;

Quyết định 129/QĐ-TTg ngày 18/01/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phêduyệt Quy hoạch chi tiết đường bộ ven biển Việt Nam;

Quyết định số 119/QĐ-UBND ngày 20/01/2011 của UBND tỉnh Nam Định vềviệc phê duyệt quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2020;

Quyết định 738/QĐ-UBND ngày 28 tháng 5 năm 2012 của UBND tỉnh Nam Định

về phê duyệt Quy hoạch phát triển thương mại tỉnh Nam Định giai đoạn 2011-2020, tầmnhìn đến năm 2025;

Quyết định số 521/QĐ-UBND ngày 12/4/2013 của UBND tỉnh Nam Định về phêduyệt quy hoạch thủy lợi hệ thống Nam Ninh, Hải Hậu, Nghĩa Hưng, Xuân Thủy, BắcNam Hà thuộc địa phận tỉnh Nam Định;

Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp, thủy sản muối tỉnh Nam Định giaiđoạn 2011-2020 và tầm nhìn 2030;

Điều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT tỉnh Nam Định đến năm 2020 và địnhhướng đến năm 2030;

Công văn số 2663/SGTVT-KTTĐĐT ngày 16/11/2012 về việc thông báo điểmđều chỉnh quy hoạch phát triển GTVT tỉnh Nam Định đến năm 2020, định hướng đếnnăm 2030;

Công văn số 356/UBND-VP3 ngày 22/6/2012 của UBND tỉnh Nam Định về việc phân

bổ chỉ tiêu quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho các huyện thành phố tỉnh Nam Định;

Quy hoạch phát triển sản xuất nông nghiệp huyện Nghĩa Hưng giai đoạn

2011-2020 tầm nhìn 2030;

Trang 4

Kết quả thực hiện quy hoạch sử dụng đất giai đoạn 2001-2010 Các tài liệu, sốliệu tổng kiểm kê đất đai của huyện Nghĩa Hưng qua các thời kỳ;

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định khóa XVIII tháng 9 năm 2010;

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Nghĩa Hưng lần thứ XXIII nhiệm kỳ

2010 - 2015;

Báo cáo nhu cầu sử dụng đất của ngành trong huyện, đến năm 2020;

Các số liệu thống kê kiểm kê đất đai các năm của huyện

Bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 huyện Nghĩa Hưng

Nội dung quy hoạch sử dụng đất đai huyện Nghĩa Hưng đến năm 2020

Quy hoạch sử dụng đất đai huyện Nghĩa Hưng đã được nghiên cứu xây dựng trên

cơ sở khảo sát đánh giá thực trạng, tiềm năng sử dụng đất đai một cách có hệ thống từcác xã, thị trấn trên địa bàn huyện Báo cáo tổng hợp gồm các nội dung chính sau:

- Đặt vấn đề

- Phần thứ nhất: Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội;

- Phần thứ hai: Tình hình quản lý, sử dụng đất đai;

- Phần thứ ba: Đánh giá tiềm năng đất đai và định hướng dài hạn sử dụng đất;

- Phần thứ tư: Phương án quy hoạch sử dụng đất;

- Kết luận và kiến nghị

Trang 5

Phần I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI

I ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG

1.1 Điều kiện tự nhiên

1.1.1 Vị trí địa lý

Nghĩa Hưng là huyện ven biển, có toạ độ địa lý từ 19o55’ đến 20o30’ vĩ độ Bắc và

từ 106o04’ đến 106o11’ kinh độ Đông;

Phía Bắc giáp với huyện Nam Trực và huyện Ý Yên;

Phía Đông Bắc giáp huyện Hải Hậu và Huyện Trực Ninh;

Phía Tây giáp huyện Kim Sơn và huyện Yên Khánh tỉnh Ninh Bình;

Phía Nam giáp vịnh Bắc Bộ;

Với vị trí nằm giáp sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ, đất đai Nghĩa Hưng chủyếu là đất phù sa do hệ thống sông Hồng bồi lắng tạo thành Trải qua hàng nghìn năm nhândân Nghĩa Hưng đời sau kế tiếp đời trước quai đê lấn biển, xây dựng xóm làng, biến vùngđất này thành vùng đất trù phú của tỉnh Nam Định Nghĩa Hưng có 3 mặt giáp sông và mộtmặt giáp biển tạo cho huyện có thế lợi về đường thuỷ, phát triển kinh tế biển Trên địa bànhuyện, có 2 tuyến đường tỉnh đi qua, đường 490C chạy dọc huyện từ Bắc xuống Nam là trụcgiao thông chính của huyện, đường 486B cắt ngang huyện tạo ra các thị tứ, trung tâm huyện

và dịch vụ thương mại giữa huyện Nghĩa Hưng với huyện Hải Hậu và huyện Ý Yên Với vịtrí địa lý khá thuận lợi đó là điều kiện quan trọng để Nghĩa Hưng phát triển kinh tế năngđộng, đa dạng và hoà nhập cùng với các địa phương trong và ngoài tỉnh

1.1.2 Địa hình, địa mạo

Nghĩa Hưng nằm trải dài theo trục Bắc Nam, bề ngang hẹp (chỗ rộng nhất 11km,chỗ hẹp nhất chưa đến 1km) Địa hình bằng phẳng, ba mặt Bắc, Tây, Đông được bao bọcbởi ba con sông (sông Đào, sông Ninh Cơ, sông Đáy), mỗi năm tiến ra biển 50 -100 mđất Tuyến đê biển dài tít tắp nói lên sức bền bỉ của con người nơi đây trong công cuộcchinh phục thiên nhiên "bắt sóng dữ phải cúi đầu, bắt biển sâu thành đồng ruộng" Trong

đê san sát những hồ chứa, ao, đầm nuôi trồng thuỷ sản, phía ngoài đê là khoảng 3500 habãi ngập triều Huyện có 12 km chiều dài bờ biển, rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưngthuộc Khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng Nghĩa Hưng thuận lợi phát triểnkinh tế nông nghiệp đa dạng

1.1.3 Khí hậu

Nghĩa Hưng mang đầy đủ những đặc điểm của tiểu khí hậu vùng Đồng bằng sông Hồng,

là khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, mưa nhiều, có 4 mùa rõ rệt (Xuân, Hạ, Thu, Đông)

- Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23-24oC, số tháng có nhiệt độ trungbình lớn hơn 20oC từ 8-9 tháng Mùa đông, nhiệt độ trung bình là 18,9 oC, tháng lạnh

Trang 6

nhất là tháng 1 và tháng 2 Mùa hạ, nhiệt độ trung bình là 27oC, tháng nóng nhất là tháng

7 và tháng 8

- Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm 80-85%, giữa tháng có

độ ẩm lớn nhất và nhỏ nhất không chênh lệch nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là 90%(tháng 3), thấp nhất là 81% (tháng 11)

- Chế độ mưa: Lượng mưa trung bình trong năm từ 1.700-1.800 mm, phân bốtương đối đồng đều trên toàn bộ lãnh thổ của tỉnh Lượng mưa phân bổ không đều trongnăm, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm,các tháng mưa nhiều là tháng 7,8,9 Do lượng mưa nhiều, tập trung nên gây ngập úng,làm thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhất là khi mưa lớn kết hợp với triều cường,nước sông lên cao Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chiếm 20%lượng mưa cả năm Các tháng ít mưa nhất là tháng 12, 1,2, có tháng hầu như không cómưa Tuy nhiên, có những năm mưa muộn ảnh hưởng đến việc gieo trồng cây vụ đông

và mưa sớm ảnh hưởng đến thu hoạch vụ chiêm xuân

- Nắng: Hàng năm trung bình có tới 250 ngày nắng, tổng số giờ nắng từ 1650 -1700 giờ

Vụ hè thu có số giờ nắng cao khoảng 1.100-1.200 giờ, chiếm 70% số giờ nắng trong năm

- Gió: Hướng gió thịnh hành thay đổi theo mùa, tốc độ gió trung bình cả năm là 2

- 2,3 m/s Mùa đông hướng gió thịnh hành là gió đông bắc với tần suất 60-70%, tốc độgió trung bình 2,4 -2,6 m/s, những tháng cuối mùa đông, gió có xu hướng chuyển dần vềphía đông Mùa hè hướng gió thịnh hành là gió đông nam, với tần suất 50 -70%, tốc độgió trung bình 1,9 -2,2 m/s, tốc độ gió cực đại (khi có bão) là 40 m/s, đầu mùa hạ thườngxuất hiện các đợt gió tây khô nóng gây tác động xấu đến cây trồng Ngoài ra vùng venbiển còn chịu ảnh hưởng của gió đất (hướng thịnh hành là Tây và Tây Nam), gió biển(hướng thịnh hành là Đông Nam)

- Bão: Do nằm trong vùng Vịnh Bắc Bộ, nên hàng năm thường chịu ảnh hưởngcủa bão hoặc áp thấp nhiệt đới, bình quân từ 4-6 cơn/năm Cơn bão số 5 (tháng 9/1998)

có sức gió giật trên cấp 12, là trận bão lớn nhất trong khoảng 100 năm trở lại đây

Nhìn chung khí hậu Nghĩa Hưng rất thuận lợi cho môi trường sống của con người,

sự phát triển của hệ sinh thái động, thực vật và du lịch

1.1.4 Thuỷ văn

- Hệ thống sông ngòi: Nghĩa Hưng có hệ thống sông ngòi khá dầy đặc với mật độlưới sông vào khoảng 0,6 - 0,9 km/km2 Do đặc điểm địa hình, các dòng chảy đều theohướng Tây Bắc - Đông Nam, các sông lớn như sông Đáy, Sông Ninh Cơ và sông Đàochảy qua Nghĩa Hưng đều thuộc phần hạ lưu nên lòng sông thường rộng và không sâulắm, tốc độ dòng chảy chậm hơn phía thượng lưu Chế độ nước của hệ sống sông ngòichia theo 2 mùa rõ rệt là mùa mưa lũ và mùa cạn;

Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các tuyến sông nội đồng, kênh lớn như kênh ĐạiTán, Bình Hải, Âm Sa, Quần Vinh I, Quần Vinh II , phân bố đều khắp trên địa huyện theo

Trang 7

hình xương cá, rất thuận lợi cho việc chủ động tưới tiêu Sông ngòi đã mang lại nguồn lợicho nguồn kinh tế của Huyện, thuận lợi về nguồn nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, bồiđắp phù sa cho vùng đất ngoài đê và một số vùng trong đê tăng thêm độ phì cho đất Ngoài

ra sông ngòi còn là đường giao thông thuỷ thuận lợi, rẻ tiền và là nơi sản xuất, cung cấpnguồn thuỷ sản dồi dào phong phú Mặt hạn chế là hàng năm phải đầu tư tu bổ đê điều, nạovét kênh mương

- Thuỷ triều: Thuỷ triều tại vùng biển Nghĩa Hưng thuộc loại nhật triều, biên độtriều trung bình từ 1,6-1,7 m, lớn nhất là 3,3 m, nhỏ nhất là 0,1 m Thông qua hệ thốngsông ngòi, kênh mương, chế độ nhật triều đã giúp quá trình thau chua, rửa mặn trênđồng ruộng Dòng chảy của sông Ninh Cơ và sông Đáy kết hợp với chế độ nhật triều đãbồi tụ vùng cửa sông, tạo thành bãi bồi lớn Cồn Trời, Cồn Mờ

Đánh giá chung: Đặc điểm khí hậu, thuỷ văn của Nghĩa Hưng tương đối thuận lợicho sử dụng đất đai vào mục đích sản xuất nông nghiệp, có thể chuyển đổi cơ cấu đượcnhiều mùa vụ, nhiều hệ thống cây trồng Tuy nhiên, chúng cũng biểu lộ nhiều yếu tố làmhạn chế đến khả năng thích nghi của đất đai khi đưa vào sản xuất các cây trồng, vật nuôi

1.2 Các nguồn tài nguyên

bờ biển từ Nghĩa Thắng đến Nghĩa Phúc và vùng cồn ngoài bãi triều Đất cát nghèo mùn

và N, P, K, có phản ứng chua Thường thiếu nước cho sinh hoạt và cây trồng gặp rấtnhiều khó khăn, có thể tận dụng trồng hoa màu, cây công nghiệp hay trồng rừng;

- Nhóm đất mặn (Salic Fluvisols): có diện tích 4.095 ha, chiếm 20% tổng diện

tích của Huyện chiếm 20 % diện tích điều tra, phân bố ở vùng bãi triều, dọc phía nam TTRạng Đông, vùng ven cửa sông Đáy (Nam Điền, Nghĩa Hải) và Sông Ninh (Nghĩa Bình,Nghĩa Tân) Đất nhiễm mặn do 2 nguyên nhân (do ngập nước triều mặn và nước ngầmmặn gây ra) Tùy theo hàm lượng (CL- ) trong đất mà phân ra mặn nhiều hay ít Để khaithác đất mặn, nhân dân ta thường quai đê lấn biển, rửa mặn bằng nước mưa, trồng cóitrước - lúa sau;

- Nhóm đất phù sa (Fluvisols): có diện tích 13.729 ha, chiếm 50% diện tích tự nhiên,

chiếm 80 % diện tích điều tra được phân bố ở hầu hết các xã, thị trấn trong huyện Nhóm đấtphù sa được hình thành do quá trình lắng đọng các vật liệu phù sa của hệ thống sông Hồng

Hệ thống đê của các dòng sông chia đất phù sa thành 2 vùng: Vùng đất ngoài đê được bồiđắp phù sa hàng năm và vùng đất trong đê rộng lớn không được bồi hàng năm Đất phù sa

có hàm lượng các chất dinh dưỡng từ trung bình đến khá Đây là loại đất tương đối tốt thích

Trang 8

hợp với nhiều loại cây trồng, phần lớn diện tích đã được sử dụng trồng các loại hoa màu, câylương thực, thực phẩm và các loại cây công nghiệp ngắn ngày;

Nhìn tổng quát, trên địa bàn huyện có sự phong phú về chủng loại đất nên quátrình khai thác sử dụng có thể cho phép đa dạng hóa các loại hình sử dụng theo hướng đadạng sinh học với thế mạnh là các loại cây rừng, cây công nghiệp dài ngày, cây ăn trái vàcác loại cây công nghiệp ngắn ngày

1.2.2 Tài nguyên nước

- Nguồn nước mặt: Do hệ thống các sông, hồ, mương máng và nguồn nước mưa cung cấp.Nguồn nước sông: Nghĩa Hưng có hệ thống sông Ninh Cơ, sông Đáy và sông Đào,bao quanh địa phận huyện, do vậy nguồn nước tưới rất phong phú, có thể lấy nước bằng tựchảy là chủ yếu Tuy nhiên mùa khô do nước mặn lấn sâu nên việc lấy nước khó khăn,mùa mưa thường có lũ

Nước mưa: lượng mưa bình quân hàng năm lớn (1.700-1.800 mm) nhưng phân bốkhông đều trong năm, tập trung vào các tháng 7,8,9 tới 80% lượng mưa cả năm Do vậymùa mưa thường gây ra úng lụt, mùa khô thường thiếu nước cho cây trồng và sinh hoạt

- Nguồn nước ngầm: Qua điều tra, khảo sát ban đầu cho thấy nguồn nước ngầmcủa huyện tương đối phong phú, hàm lượng CL < 200 mg/L tầng khai thác phổ biến ở độsâu từ 80 m - 150 m Hiện nay có đến 80 – 90% người dân huyện Nghĩa Hưng sống phụthuộc vào nguồn nước ngầm Nghĩa Hưng được đánh giá là nơi có chất lượng nguồnnước ngầm tương đối tốt Do đó, hầu hết dân ở đây sử dụng trực tiếp nước ngầm chosinh hoạt và sản xuất Nước ngầm trở thành nguồn cung cấp chính cho dân trong vùng

1.2.3 Tài nguyên rừng

Theo kết quả tổng kiểm kê đất đai tính đến năm 2010 toàn huyện có 1671,23 harừng Rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng thuộc vùng tạm giao quyền quản lý hànhchính các xã: Nghĩa Thắng, Nghĩa Phúc, Nghĩa Hải, Nghĩa Lợi, thị trấn Rạng Đông và xãNam Điền Rừng phòng hộ ven biển Nghĩa Hưng đã được UNESCO đưa vào danh sáchđịa danh thuộc khu dự trữ sinh quyển đồng bằng sông Hồng

1.2.4 Tài nguyên biển

Tài nguyên biển huyện Nghĩa Hưng chiếm phần quan trọng trong tài nguyênbiển của tỉnh Nam Định, với chiều dài bờ biển 12 km, nằm trong vùng ngư trườngthuộc tỉnh Nam Định nên cũng có tiềm năng lớn về phát triển kinh tế biển Nằm giữacửa 2 sông lớn là sông Ninh Cơ và sông Đáy, là nơi quần tụ nhiều loại hải sản quý nhưngao, hàu, tôm, cua Với khoảng hơn 5000 ha bãi bồi ven biển, huyện đã trồng trên2.000 ha sú vẹt, quy hoạch 200 ha bãi vạng và 550 ha vùng nuôi trồng thuỷ sản trong

đê (thuộc khu vực đông Nam Điền), vùng Cồn Xanh thực tạm giao quyền quản lý hànhchính các xã Nam Điền, Nghĩa Lâm, Nghĩa Thành, Nghĩa Hải Kết quả thu được trongnhững vụ thu hoạch tạo nguồn thu nhập đáng kể cho người dân; Tuy nhiên vài năm trở

Trang 9

lại đây do ảnh hưởng của biến đổi khí hậu và nguồn nước bị ảnh hưởng do suy thoáimôi trường vùng hạ lưu các sông lớn dẫn đến sản lượng chưa ổn định,

Tổng sản lượng nuôi trồng, đánh bắt hải sản năm 2010 ước đạt 23 nghìn tấn.Trong đó, nuôi trồng đạt 10.500 tấn, đánh bắt đạt 12.500 tấn, tăng gấp 4 lần so với năm

2000 Nhiều mô hình trang trại, gia trại; nhiều điển hình tiên tiến trong nuôi trồng thuỷsản đã xuất hiện Toàn huyện hiện có 221 trang trại nuôi thủy sản, quy mô có trang trại cábiệt 3-5 ha với con nuôi chủ lực là: tôm sú, cua, cá bống bớp… Nhiều trang trại có lợinhuận thu được từ nuôi thuỷ sản đạt trên 200 triệu đồng/ha/năm; Ngoài ra còn một sốCông ty đầu tư xây dựng đầm ao, nuôi trồng thuỷ sản theo quy mô công nghiệp nhưCông ty TNHH RDB Viễn Đông 105 ha, Công ty CPXD đô thi thị Nam Định 9 ha

Nguồn lợi thuỷ sản vùng biển có thời gian sản xuất quanh năm, nhưng khôngđược thuận lợi như các vùng biển khác của cả nước, thường bị gián đoạn bởi các cơnbão, gió mùa Đông Bắc mạnh, số ngày khai thác trên biển thuận lợi mỗi năm thường từ

180 - 240 ngày;

Vùng bãi bồi Nghĩa Hưng do phù sa sông Hồng bồi đắp ở cửa Lạch Giang tạothêm diện tích khoảng 150 ha/năm Bình quân 20 năm quai thêm được khoảng 1000 hađất ở cao trình (- 0,5 ÷ -0,8) m trở lên;

Thiên tai: Bão, mỗi năm trung bình có 3 - 4 cơn bão qua Biển Đông Bão lớn kèmtheo với sóng lừng, nước dâng cao gây nên lũ lụt là loại thiên tai bất thường, khó phòngtránh, gây thiệt hại lớn về người và tài sản (nhất là với dân cư ven biển);

Như vậy, sử dụng hợp lí nguồn lợi thiên nhiên biển, phòng tránh ô nhiễm môitrường biển, thực hiện các biện pháp phòng tránh thiên tai là những vấn đề hệ trọng trongchiến lược khai thác tổng hợp, phát triển kinh tế biển của Nghĩa Hưng Biển thực sựđóng góp vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện

1.2.5 Tài nguyên nhân văn

Nghĩa Hưng là mảnh đất giàu truyền thống cách mạng Dưới sự lãnh đạo của Ban Chấphành Đảng bộ huyện, nhân dân Nghĩa Hưng đã lần lượt đi qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ

và đang tích cực thực hiện công cuộc đổi mới với những thành công đáng ghi nhận.Với nhữngthành tích và đóng góp to lớn trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Nghĩa Hưng đã vinh dựđược phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân thời kỳ chống Mỹ cứunước, 6 xã được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, 01 đơn vịđược phong tặng Anh hùng Lao động, 02 cá nhân là Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân,

01 cá nhân là Anh hùng Lao động và 76 bà mẹ được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt NamAnh hùng Trên địa bàn huyện, có 7 di tích lịch sử, văn hoá đã được Nhà nước xếp hạng Cókhu di tích lịch sử thờ Hoàng Giáp Tam Đăng Phạm Văn Nghị - người có công khai khẩn lập

ấp Mễ Lâm, nay là xã Nghĩa Lâm Tuy là vùng đất rất trẻ, nhưng có nhiều làng nghề truyềnthống như ở Nghĩa Châu, Nghĩa Trung, Nghĩa Sơn, Nghĩa Lâm

Trang 10

Lễ hội: Ngày 6 Tết âm lịch hàng năm, ở Liễu Đề, có phiên chợ Xuân truyền thống.Ngày 7 Tết âm lịch hàng năm có chợ viềng Hải Lạng - Xã Nghĩa Thịnh Về du lịch, NghĩaHưng có khu du lịch sinh thái nghỉ dưỡng Rạng Đông, khu dự trữ sinh quyển châu thổ sôngHồng, đình Hưng Lộc (xã Nghĩa Thịnh), đền chùa Hạ Kỳ (xã Nghĩa Thịnh), đền thờ PhạmVăn Nghị (xã Nghĩa Lâm), đền thờ Doãn Khuê (xã Nghĩa Thành)…

1.2.6 Tài nguyên khoáng sản

Theo tài liệụ điều tra của cục Địa chất cho thấy khoáng sản Nghĩa Hưng nghèo cả

về chủng loại và trữ lượng, bao gồm các loại chủ yếu sau:

- Khoáng sản kim loại: Có các vành phân tán Inmenit, Ziarcon, mônazit Loại nàymới tìm kiếm và phát hiện tại Nghĩa Hưng Các mỏ này có quy mô nhỏ, trữ lượng chưađược đánh giá Quặng Ti tan, Zicôn phân bố dưới dạng “vết”, trữ lượng ít;

- Các nguyên liệu sét: Các mỏ sét mới được nghiên cứu sơ bộ, chưa đáng giáchính xác về quy mô, trữ lượng, chất lượng để có phương án khai thác sử dụng Sét làmgạch, ngói: phân bố ở Nghĩa Thịnh, Nghĩa Đồng và các xã có vùng bãi bồi ven sông Đáy,sông Ninh Cơ

1.3 Thực trạng môi trường

1.3.1 Hiện trạng môi trường nông nghiệp nông thôn

- Môi trường nông thôn:

Ô nhiễm môi trường nông thôn đang là tình trạng chung ở hầu hết các địa phương.Nói tới vệ sinh môi trường trong các khu dân cư nông thôn chủ yếu là đề cập đến vấn đề

xử lý phân chuồng tươi để bón, rác và nước thải Đặc biệt, ở những vùng nông thôn cómật độ dân cư đông đúc và tại khu vực có các làng nghề, khu vực phát triển mạnh vềchăn nuôi gia súc, gia cầm;

Vấn đề tồn tại về rác và nước thải ở nông thôn liên quan tới sự thu hẹp và biếnmất của nhiều diện tích đất vườn, ao Các hộ có vườn thường ủ rác hoặc đốt rác làm phânbón, nước thải được thu vào một hố cuối vườn hay cho chảy xuống ao của gia đình Vớicác điểm dân cư nông thôn không còn vườn, ao thì nước thải và rác đều đã trở thànhnhững nguồn gây ô nhiễm, cần giải quyết ngay từ đầu

Sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp:

Việc dùng phân hoá học và thuốc bảo vệ thực vật trong canh tác là rất lớn Lượngthuốc trừ sâu bệnh, thuốc kích thích sinh trưởng có tốc độ cao, kể cả loại thuốc không rõnguồn gốc có chiều hướng gia tăng Tình trạng dùng phân chuồng, phân bắc chăm bón trựctiếp cho cây trồng còn xảy ra Đây là những nguy cơ gây ô nhiễm môi trường đất, nước,đồng thời dễ gây ngộ độc và dịch bệnh cho người tiêu dùng sản phẩm nông nghiệp

- Vệ sinh môi trường nông thôn:

Đến nay, trên địa bàn huyện đã có 12 xã, thị trấn có 12 bãi chôn lấp rác được tỉnhđầu tư xây dựng là các xã: Nghĩa Thịnh, Nghĩa Minh, Nghĩa Thái, Nghĩa Trung, Thị trấn

Trang 11

Liễu Đề, Nghĩa Sơn, Nghĩa Hồng, Nghĩa Phong, Nghĩa Bình, Thị trấn Quỹ Nhất, NghĩaLợi, Thị trấn Rạng Đông Trên địa bàn huyện còn 13 xã chưa có bãi rác đảm bảo vệ sinhmôi trường;

Công tác thu gom chất thải rắn tại khu vực nông thôn còn chưa đồng bộ và cònnhiều bất cập Khối lượng chất thải rắn phát sinh 45,8 tấn/ ngày Một số thôn, xóm, cụmdân cư trung tâm đã có tổ vệ sinh môi trường của thôn, HTX VSMT đứng ra tổ chức thugom, vận chuyển đến bãi để xử lý và tự thu phí hoạt động Còn lại một số hộ gia đình dongười dân tự thu gom và đưa đổ xuống sông hoặc các bãi đất trống, ven đường, kênhmương đã gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng tới sức khỏe nhân dân; Trang thiết bịphục vụ công tác thu gom chủ yếu là xe cải tiến, xe máy, xe công nông chuyên dụng docác cá nhân trong tổ VSMT tự trang bị;

Việc bảo đảm vệ sinh môi trường nông thôn là công việc lâu dài, phải làm công phu,bền bỉ Trong kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội cần chú trọng các vấn đề bảo đảm vệ sinhmôi trường Các cấp chính quyền, các ngành, đoàn thể tăng cường công tác quản lý, hướngdẫn các cơ sở sản xuất, kinh doanh chấp hành nghiêm các quy định, không gây ô nhiễm môitrường Cần quan tâm công tác tuyên truyền, vận động để người dân hiểu biết đầy đủ, có ýthức tự giác trong việc giữ gìn vệ sinh, bảo vệ môi trường xanh, sạch, đẹp

1.3.2 Hiện trạng các thành phần môi trường

+ Ô nhiễm thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật có đặc điểm rất độc đốivới mọi sinh vật; tồn dư lâu dài trong môi trường đất- nước; tác dụng gây độc khôngphân biệt, nghĩa là gây chết tất cả những sinh vật có hại và có lợi trong môi trường đất.Theo các kết quả nghiên cứu, hiện nay, mặc dù khối lượng thuốc bảo vệ thực vật được sửdụng còn ít, trung bình từ 0,5 - 1,0 kg/ha/năm, tuy nhiên, ở nhiều nơi đã phát hiện dưlượng thuốc bảo vệ thực vật trong đất

- Về Môi trường nước:

Ở nông thôn và khu vực sản xuất nông nghiệp: Về tình trạng ô nhiễm nước ở nôngthôn và khu vực sản xuất nông nghiệp, hiện nay Nghĩa Hưng có 86% dân số đang sinh sống

ở nông thôn là nơi cơ sở hạ tầng còn lạc hậu, phần lớn các chất thải của con người và gia súckhông được xử lý nên thấm xuống đất hoặc bị rửa trôi, làm cho tình trạng ô nhiễm nguồnnước về mặt hữu cơ và vi sinh vật ngày càng cao Kết quả phân tích so sánh với QCVN08:2008 (B1) (quy chuẩn Việt Nam) như sau: Có 06/12 thông số được phân tích cao hơn so

Trang 12

với quy chuẩn Việt Nam Thông số COD vượt quy chuẩn từ 1,1 đến 5,1 lần Thông số BODvượt quy chuẩn từ 1,07 đến 5,31 lần Thông số tổng chất rắn lơ lửng vượt quy chuẩn từ 1,24đến 1,86 lần Thông số tổng dầu mỡ vượt quy chuẩn 1,1 đến 1,8 lần Thông số Phenol vượtquy chuẩn từ 1,17 đến 2,1 lần Thông số Coliform vượt quy chuẩn từ 1,04 đến 1,44 lần ở cáckênh tưới tiêu, nước ao, hồ, sông nhỏ, sông nội đồng trên địa bàn huyện.

- Môi trường không khí:

Về tổng thể quan trắc môi trường không khí tại khu vực nông thôn của huyệnchưa bị ô nhiễm, song tại một số khu vực ven tuyến sông Ninh Cơ, sông Đào, sông Đáytình trạng hàng trăm lò nung gạch thủ công hàm lượng các chất có trong không khí như

SO2, CO2, bụi vượt trên tiêu chuẩn cho phép

- Môi trường nước biển ven bờ:

+ Về khai thác hải sản: Thực trạng môi trường ven biển đang quan tâm nhất hiện

nay là tình trạng khai thác chưa hợp lý các nguồn khai thác tài nguyên ven biển, tìnhtrạng đánh bắt như nổ mìn, xung điện lưới mắt nhỏ, ánh sáng… vẫn còn xảy ra gây ảnhhưởng đến hệ sinh thái thay đổi chuỗi thức ăn, mất tính đa dạng sinh học có vùng gâysuy thoái tài nguyên đất, đất bị tái nhiễm mặn do chuyển đổi cơ cấu sản xuất chưa hợp

lý, việc quản lý chất thải khai thác thuỷ sản vẫn còn nhiều bất cập;

+ Về nuôi trồng thuỷ sản: Hoạt động nuôi trồng thuỷ sản phát triển với công thứcnuôi công nghiệp nên lượng thức ăn dư thừa cũng như hoá chất, thuốc chữa bệnh giatăng, theo nguồn nước thải vào môi trường xung quanh; Nước biển vùng nuôi trồng thủysản có 4 chỉ tiêu vượt quy chuẩn cho phép, đó là COD(KMnO4) 8,4/3 mg/l (đo được 8,4 cho phép 3 mg/l); tổng chất rắn lửng lơ 244/50 mg/l; Sunfua 0,006/0,005 mg/l;

Amoni(theo N) 0,23/0,1 mg/l;

+ Về chế biến, xuất khẩu và dịch vụ hậu cần nghề cá hầu hết các cơ sở chế biến thuỷsản vẫn chưa được quy hoạch, mang tính thủ công quy mô nhỏ nguy cơ gây ô nhiễm môi

trường cao (chủ yếu là môi trường nước) từ khâu sơ chế và chế biến sản phẩm.

1.4 Ứng phó với biến đổi khí hậu

Việt Nam được coi là một trong những quốc gia trên thế giới bị ảnh hưởng nhiềunhất vì hiện tượng biến đổi khí hậu, do có đường bờ biển dài có ảnh hưởng bão, lốc, mưa

to và thường xuyên biến đổi Hiện tượng thay đổi khí hậu đã ảnh hưởng đến hệ thống tựnhiên, nền kinh tế của Việt Nam;

Một số dẫn chứng của sự biến đổi khí hậu tại Nam Định:

- Vụ ĐX 98-99 ở miền hạ huyện Nghĩa Hưng đã có nơi bị chết lúa do xâm nhậpmặn, nước mặn ngấm qua đê, nước lấy vào đồng vượt quá giới hạn cho phép Vùng đấtlúa Nam Điền, thị trấn Rạng Đông, Nghĩa Thắng và một số xã vùng ven biển huyệnNghĩa Hưng từ năm 2008 có trên 300 ha đất trồng lúa hiện nay đang bị nhiễm mặn nặng

nề không cấy được lúa nhân dân đang phải lên luống trồng rau màu và chuyển sang nuôitrồng thuỷ sản;

Trang 13

- Vụ ĐX 98-99 và vụ ĐX 2002-2003 phải cấy chậm lại so với thời vụ do khônglấy được nước vào đồng ở 4 huyện Xuân Trường, Giao Thủy, Hải Hậu và Nghĩa Hưng;

- Liên tiếp trong các năm từ 2004 - 2006, nước mặn đã lấn sâu vào sông trên địabàn tỉnh Nam Định Ranh giới mặn 10/00 đã xâm nhập ngày càng sâu vào trong các sôngHồng, Ninh Cơ và Đáy Đặc biệt, trong tháng 01/2006, trên tất cả 3 vùng cửa sông, mặnxâm nhập sâu đến mức kỷ lục: Trên sông Hồng mặn lấn sâu đến cửa cống Hạ Miêu I với

độ mặn 7,20/00 cách biển 26km; trên sông Ninh Cơ mặn đã lấn đến cửa cống Múc 2 với

độ mặn 1,70/00, cách biển tới 37km, trên sông Đáy mặn đã đến cửa cống Bình Hải I với

độ mặn 50/00, cách biển 18km, thậm trí có năm lên tới tam tòa Nghĩa Trung;

Nguyên nhân chính là do dòng chảy trên toàn hệ thống sông Hồng ở mức thấphơn trung bình nhiều năm nên dòng chảy đổ ra cửa biển rất thấp, làm mặn xâm nhập sớm

và lấn sâu vào gần 30 km;

- Cơn bão số 7 (9/2005) đã làm sạt lở, vỡ nhiều đoạn đê, kè, cống Tổng số

23.000m đê biển Nam Định, chủ yếu tại các huyện Hải Hậu, Giao Thủy, Nghĩa Hưng bị

vỡ làm ngập úng 48.300 ha diện tích lúa (trong đó mất trắng 13.000 ha, hoa màu bị mất5.193 ha), đất đã bị nhiễm mặn nên phải 4 đến 5 năm sau mới có thể canh tác và trồngtrọt được Tình trạng ô nhiễm môi trường đang ở mức báo động, diện tích gieo trồng bịtàn phá nặng nề;

- Ảnh hưởng của cơn bão số 9 (năm 2006), một số vùng ven biển của tỉnh cũngxảy ra tình trạng nước biển dâng cao, tràn vào ruộng đồng Tại Thịnh Long, người dâncho biết mặc dù trong cơn bão số 9 ở đây không xảy ra mưa bão, nhưng nước dâng rấtcao và tràn vào nhà cửa, vườn cây ngập cao lên đến hơn 1m Cả một vùng trắng xoámênh mông nước mặn Dân bản xứ ở đây đều nói: Chưa bao giờ thấy thuỷ triều dâng caonhư trong đợt vừa qua;

- Kể từ năm 2005 cho đến nay, mực nước biển tại khu du lịch thị trấn Quất Lâm(huyện Giao Thủy) đã dâng cao thêm 20cm Mỗi lần thủy triều lên, mực nước biển trànqua bờ đê này vào đường khu du lịch Năm 2007, chính quyền địa phương đã đầu tư gia

cố thêm 50 cm ngăn mực nước biển tràn vào khu du lịch thị trấn Quất Lâm, đây là biểu

hiện sâu xa có liên quan tới vấn đề biến đổi khí hậu (Số liệu này được Công ty khai thác công trình thủy lợi của huyện và trung tâm Khí tượng thủy văn của tỉnh Nam Định đo đạc và ghi nhận);

Ngày 28/10/2012 bão số 8 hay còn gọi là bão Sơn Tinh đi qua Nam Định vànhiều tỉnh ven biển miền Bắc, miền Trung với sức gió mạnh cấp 10, cấp 11, giật cấp 12,

13 Bão số 8 đi qua, người dân Nghĩa Hưng chưa hết bàng hoàng

Trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng, lượng mưa bình quân 1.477,5 mm, thấp hơn sovới trung bình nhiều năm khoảng 200mm; tháng 8 có lượng mưa khoảng 469mm chiếm35% lượng mưa cả năm Trên Sông Ninh Cơ, mặn lấn sâu đến cống Phượng Tường gâykhó khăn cho việc lấy nước phục vụ cho sản xuất nông nghiệp

Trang 14

Nghĩa Hưng ứng phó với biến đổi khí hậu:Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu đối

với huyện những năm gần đây càng ngày càng biểu hiện rõ, trong ứng phó với biến đổi khí

hậu vấn đề quan trọng hàng đầu đối với Nghĩa Hưng là thích ứng với biến đổi khí hậu, vì vậy

khi có bão, áp thấp nhiệt đới, UBND huyện, ban chỉ huy PCLB huyện đã chỉ đạo cácngành, xã, thị trấn triển khai công tác phòng chống như thông báo diễn biến của bão,kiểm tra đê điều và công trình thuỷ lợi, đôn đốc kiểm tra việc chủ động tiêu rút nước đệmphòng chống úng, chỉ đạo, đôn đốc UBND xã báo gọi tầu cá tránh trú bão kịp thời antoàn Các xã, thị trấn, doanh nghiệp tại các vùng ngoại bối, bãi chủ động phương án hộ

đê Đài phát thanh huyện, đài truyền thanh xã, thị trấn cập nhật và đưa tin kịp thời tìnhhình bão, tạo sự chủ động phòng chống bão, lũ đối với cán bộ và nhân dân;

Thích ứng với biến đổi khí hậu huyện đã lồng ghép trong quy hoạch phát triển kinh tế - xãhội ở tất cả các quy mô trong đó đầu tư cho các biện pháp thích ứng trong thời gian qua như:Xây dựng hệ thống thủy lợi nam Nghĩa Hưng gần 120 tỷ đồng; Nâng cấp kiên cố hóa hệthống đê biển gần 500 tỷ đồng; Nạo vét kênh Quần Vinh II gần 40 tỷ đồng; Xây dựng trạmbơm tiêu Hoàng Nam 10 tỷ đồng; Hệ thống kênh Bình Hải 60 tỷ đồng

Hạn chế và tồn tại: Công tác dự báo về tác động của BĐKH, dự báo thiên tai còn hạnchế; kế hoạch hành động ứng phó với BĐKH và phòng chống thiên tai còn thiếu cụ thể

II THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ, XÃ HỘI

2.1 Tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2000 - 2005 đạt 8,7%/năm; Giaiđoạn 2005 - 2010 đạt 11,02%/năm cao hơn nhiệm kỳ trước 2,32%/năm Tổng giá trị sảnxuất bình quân năm giai đoạn 2005-2010 đạt 1.738 tỷ đồng, thu nhập bình quân đầungười đến năm 2010 đạt 11 triệu đồng/người

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

+ Nông, lâm ngư nghiệp 47,05%

+ Công nghiệp, xây dựng 20,68%

+ Thương mại, dịch vụ 27,25%

Tuy nhiên, tốc độ chuyển dịch của các ngành công nghiệp, dịch vụ còn chậm, tỷtrọng các ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong GDP của huyện vẫn còn cao hơn so vớibình quân chung của cả tỉnh (29,5%)

Bảng 1: Các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu thời kỳ 2000-2010

Trang 15

Chỉ tiêu ĐVT Năm 2000 2005 2010

2.2.1 Khu vực kinh tế nông nghiệp

Các ngành nông, lâm, ngư nghiệp trong thời gian qua có một bước phát triển khá.Tổng giá trị sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp bình quân đạt 748 tỷ đồng tốc độ tăngtrưởng đạt 6%;

Sản xuất nông nghiệp tiếp tục được xác định là một lĩnh vực quan trọng trong pháttriển kinh tế, đã đạt được kết quả khá toàn diện về năng suất, chất lượng và hiệu quả sảnxuất Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp tăng bình quân 3,0%/năm giai đoạn 2005-2010

và đạt bình quân 500 tỷ đồng/năm, tổng sản lượng lượng thực đạt bình quân 138.000 tấn

- Trồng trọt: Những năm qua đẩy mạnh sản xuất vụ đông trên chân đất 2 lúa, trồngmàu, trồng cây công nghiệp và chuyển đổi những diện tích trồng lúa kém hiệu quả sangnuôi trồng thủy sản, trồng màu Nhiều mô hình sản xuất vụ đông, chuyển đổi nuôi trồngthủy sản, trồng màu đạt hiệu quả kinh tế cao tại các xã: Nghĩa Hồng, Nghĩa Hòa, NghĩaBình, Nghĩa Phong, Nghĩa Phú Giá trị sản phẩm/ha canh tác đến năm 2010 đạt 70 triệuđồng;

Năng suất lúa hàng năm ổn định, bình quân đạt khoảng 124 tạ/ha/năm, so với năm

2005 tăng 22,0 tạ/ha Lương thực bình quân đầu người đạt khoảng 816 kg/người/năm.Sản lượng lương thực đảm bảo an ninh lương thực, nhu cầu thức ăn cho chăn nuôi

- Chăn nuôi tuy chịu ảnh hưởng của các đợt dịch cúm gia cầm, nhưng vẫn tiếp tụcphát triển về số lượng với chất lượng khá Chăn nuôi chủ yếu bằng hình thức tận dụngthu hẹp dần, chăn nuôi theo phương pháp công nghiệp và bán công nghiệp được các giatrại, trang trại và nhiều hộ gia đình áp dụng

Tổng đàn trâu bò có 3.563 con Đàn lợn tăng nhanh về số lượng và chất lượng sảnlượng tổng số đàn lợn có 92.088 con Sản lượng thịt hơi xuất chuồng bán năm 2010 đạt12.537 tấn, tăng 3.412 tấn so với năm 2005, tổng đàn gia cầm có 779.230 con Mô hìnhkinh tế trang trại, gia trại với phương thức chăn nuôi bán công nghiệp và công nghiệp tậptrung quy mô hợp lý đã đưa lại hiệu quả kinh tế cao đến năm 2010 đã có 491 trang trại,trong đó nuôi trồng thủy sản 221 trang trại, chăn nuôi gia súc, gia cầm 270 trang trại

- Nuôi trồng thủy sản: Tổng giá trị ngành nuôi trồng thủy sản bình quân giai đoạn2005-2010 đạt 242 tỷ đồng Tốc độ tăng trưởng 15,2%/năm, tổng sản lượng nuôi trồng,đánh bắt thủy hải sản đến năm 2010 đạt 23.000 tấn

Trang 16

- Lâm nghiệp: hàng năm trồng mới 256.000 cây và 50 ha phi lao, sú vẹt, bần.

- Nghề muối: Sản xuất muối đạt kết quả khá, sản lượng muối ráo bình quân 5 nămđạt trên 4.000 tấn/năm

Hoạt động dịch vụ nông nghiệp: đang có bước chuyển mình phát triển mạnh mẽ.Các hộ gia đình đã mạnh dạn đầu tư vào sản xuất nông nghiệp nay càng có thêm cơ hộithành công nhờ nguồn vốn từ Dịch vụ cho vay vốn hỗ trợ sản xuất nông nghiệp - nguồn

hỗ trợ tài chính thiết thực

Dịch vụ cung ứng vật tư, máy móc nông nghiệp chuyên cung cấp các thiết bị máymóc , thiết bị cơ khí, phương tiện phục vụ sản xuất và chế biến nông nghiệp như: Máygặt đập liên hợp, máy tuốt lúa; Máy xay sát, máy tẽ hạt, máy bơm nước; máy nổ, độngcơ Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngoài giống cây trồng, vật nuôi thì phân bón,thức ăn chăn nuôi và thuốc bảo vệ thực vật cũng đóng vai trò quan trọng không kém.Trong trồng trọt, việc sử dụng phân bón hợp lý, chất lượng cao và áp dụng đúng cách cácbiện pháp bảo vệ thực vật sẽ làm tăng năng suất

2.2.2 Khu vực kinh tế công nghiệp

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản bình quânnăm giai đoạn 2005-2010 đạt 563 tỷ đồng, tăng 409 tỷ đồng so với năm 2005 Tốc độtăng bình quân 5 năm qua 2005-2010 của ngành là 20,0% tăng hơn 4,5%/năm so với giaiđoạn 2000-2005 (15,5%/năm) Tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng

cơ bản đến năm 2010 chiếm 20,68% tổng giá trị sản xuất;

Cụm công nghiệp Nghĩa Sơn phát huy hiệu quả tốt Đến nay thu hút được trên1.000 lao động làm việc, vùng bãi ven sông Đào, sông Đáy và sông Ninh Cơ phát triểnsản xuất vật liệu xây dựng (có 7 nhà máy sản xuất gạch Tuynel đi vào sản xuất), sảnlượng gạch năm 2010 đạt trên 90 triệu viên;

Lĩnh vực xây dựng cơ bản: triển khai xây dựng nhiều công trình quan trọng phục

vụ cho phát triển kinh tế-xã hội (đường 490C, thủy lợi Nam Nghĩa Hưng, kiên cố hóa hệthống đê biển, nạo vét kênh Quần Vinh II, trạm bơm tiêu Hoàng Nam, );

Công tác quản lý xây dựng cơ bản như lập quy hoạch, xây dựng dự án, đầu tưvốn, quản lý công trình… được thực hiện công khai, dân chủ, đúng luật định Năm 2010tiến hành lập quy hoạch xây dựng thị trấn Rạng Đông giai đoạn 2010-2020;

Ngành nghề tiểu thủ công nghiệp trong nông thôn tiếp tục được củng cơ và pháttriển Các làng nghề như: Dệt chiếu ở Tân Liêu (Nghĩa Sơn), Nghĩa Trung, thị trấn Liễu Đề,khâu nón lá ở Nghĩa Châu, Hoàng Nam, làm miến ở Nghĩa Lâm, sản xuất các mặt hàng thủcông, mỹ nghệ: mây tre đan, hàng nón, thảm ở Nghĩa Phong, thị trấn Quỹ Nhất, NghĩaLợi… đã giải quyết việc làm cho nhiều lao động nông thôn và tăng thu nhập cho người dân

2.2.3 Khu vực kinh tế dịch vụ

Trang 17

Phát huy lợi thế của huyện về giao thông, các trung tâm dịch vụ thương mại pháttriển nhanh và khá ổn định đa dạng về loại hình, phong phú về mặt hàng và lĩnh vực dịch

vụ Giá trị sản xuất ngành thương mại-dịch vụ bình quân giai đoạn 2005-2010 đạt 426 tỷđồng, tốc độ tăng 12,42%/năm;

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế phát triển mạnhdịch vụ bán lẻ hàng hóa, hầu hết các xã trong huyện đều hình thành các điểm dịch vụ vàbuôn bán hàng hóa, nâng cấp hệ thống chợ nông thôn;

Hoạt động tài chính, ngân hàng, kho bạc bước đầu đã có chuyển biến, góp phần quantrọng trong việc kiềm chế lạm phát Ngành tín dụng ngân hàng tích cực huy động các nguồnvốn cho vay tạo điều kiện cho các ngành kinh tế có vốn phát triển sản xuất - kinh doanh

2.3 Dân số, lao động, việc làm và thu nhập

- Dân số, lao động và việc làm: Tổng dân số tính đến năm 2010 là 205195 người

Trong 5 năm tỷ lệ tăng dân số của huyện giảm từ 1,03% (năm 2005) xuống còn 0,9%

năm 2010 Dân số năm 2010 giảm 5.884 người so với năm 2005 Mật độ dân số 709người//km2 thấp hơn bình quân của tỉnh

- Tổng lao động đến năm 2010 đang làm việc trong các ngành nghề kinh tế là:101.995 người, trong đó số người có khả năng lao động: 89.665 người, mất khả năng laođộng: 3.624 người; Người có khả năng lao động nhưng không có việc làm: 577 người.Phân bổ lao động theo các ngành kinh tế như sau:

- Lao động nông nghiệp, thủy sản: 78.083 người bằng 76,56% tổng lao động

- Lao động CN -TTCN và xây dựng: 14.143 người, bằng 13,87% tổng lao động

- Thương mại, dịch vụ: 9.769 người, bằng 9,57% tổng lao động

Như vậy, người dân thu nhập từ phi nông nghiệp năm 2010 so với năm 2005 đãtăng nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng thấp

- Năm 2000 đạt 2,7 triệu đồng/khẩu Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người (giáhiện hành) đạt 11 triệu đồng/năm

2.4 Thực trạng phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn

a) Thực trạng phát triển khu đô thị

Mạng lưới đô thị đã và đang được phát triển, mở rộng từ 2 đô thị năm 2000 đếnnay đã tăng lên 3 đô thị bao gồm thị trấn Liễu Đề Thị trấn Rạng Đông và thị trấn QuỹNhất Dân số đô thị theo số liệu thống kê năm 2010 là 20.0511 chiếm 11,4% tổng dân sốtoàn huyện Diện tích đất đô thị: 2310 ha, chiếm 9,1% tổng diện tích tự nhiên toànhuyện, trong đó đất ở đô thị 115 ha bình quân 56 m2/người, bình quân hộ 183 m2/hộ

- Thị trấn Liễu Đề: Là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của huyện Nghĩa

Hưng, là cửa ngõ tây bắc của vùng duyên hải tiếp giáp với Ninh Bình qua sông Đáy.Kinh tế của thị trấn là công nghiệp chế biến nông sản, cơ khí nhỏ, dịch vụ thương mại vàmột số nghề thủ công

Trang 18

Về giao thông có 2 tuyến tỉnh lộ 490C ( cũ) và 486B (56 cũ) và một số đường liênhuyện, liên xã đi qua trung tâm thị trấn, có mạng lưới giao thông thủy thuận lợi Nguồnnước ngầm khá dồi dào, bảo đảm nước cho sinh hoạt và sản xuất của thị trấn.

Dân số hiện có 6255 người, diện tích đất theo ranh giới hành chính thị trấn là432,78 ha, trong đó đất phi nông nghiệp là 153,27 ha

- Thị trấn Rạng Đông: Nông trường Rạng Đông được thành lập ngày 30-6-1965

theo quyết định số 239-NV của Bộ trưởng Bộ Nội vụ Ban đầu thị trấn mang tên là thịtrấn Nông trường Rạng Đông Đến ngày 13-2-1987 đổi tên thành thị trấn Rạng Đông.Dân số hiện có 82229 người, diện tích tự nhiên toàn thị trấn có 1.330,78 ha, trong đó đấtphi nông nghiệp có 28491 ha Ở đây đã hình thành các cơ sở chế biến hải sản và một sốnghề tiểu thủ công nghiệp

Vì có đặc thù là một thị trấn ven biển nên kinh tế chủ yếu góp phần làm phồnthịnh cho thị trấn này gắn liền với nuôi trồng (hệ thống ao đầm dày đặc nuôi tôm, cua,cá để xuất khẩu, những nghề mang lại nguồn thu lớn cho người dân ở đây (nổi tiếngvới gạo thơm) Cảnh quan nơi đây rất yên bình với những đồng lúa xanh mát, không khítrong lành, dịch vụ giá cả không đắt đỏ Bờ biển trong sạch và được xây mới băng bêtông chắc chắn Ven biển có hệ thống rừng ngập mặn với đa dạng sinh thái được các tổchức môi trường quốc tế quan tâm và nghiên cứu Mặc dù bãi biển không nổi tiếngnhưng cũng trở thành nơi dạo chơi và tắm mát vào mỗi buổi chiều của đông đảo ngườidân thị trấn

- Thị trấn Quỹ Nhất: Thị trấn Quỹ Nhất là một trong 3 thị trấn thuộc huyện

Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định Ngày 19/11/2007, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Nghịđịnh số 171/2007/NĐ-CP thành lập thị trấn Quỹ Nhất thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnhNam Định trên cơ sở toàn bộ 546,49 ha diện tích tự nhiên và 6.274 nhân khẩu của xãNghĩa Hoà, huyện Nghĩa Hưng Ở đây đã hình thành các cơ sở tiểu thủ công nghiệp, vàdịch vụ thương mại

* Đặc điểm của hệ thống đô thị Nghĩa Hưng:

- Về lịch sử hình thành: Các đô thị chủ yếu được hình thành trong giai đoạn từnhững năm 1958 đến nay

- Về quy mô và hình thức phân bố: Các đô thị trên địa bàn huyện đều có quy môvừa và nhỏ, chủ yếu được phân bố dải đều, có tính tự phát từ các tụ điểm dân cư nôngthôn, bám theo các trụcgiao thông

- Về tính chất đô thị: Tất cả các đô thị đều có tính chất đa năng, đa tính chất và cótính chất chung là trung tâm hành chính, kinh tế - xã hội của địa phương Một số đô thị

có thêm các tính chất như an ninh, quốc phòng, du lịch, nghỉ dưỡng, sản xuất tiểu thủcông nghiệp, sản xuất nông nghiệp (TT Rạng Đông) và dịch vụ…

- Về hình thái và dân số đô thị:

Trang 19

Về cơ bản các đô thị ở Nghĩa Hưng phát triển tự do Các đô thị có hình thái pháttriển theo hướng hướng điểm, dải, chuỗi theo trục giao thông và phân tán.

Dân số đô thị đa số có thành phần xuất phát từ nông nghiệp

* Những hạn chế của hệ thống đô thị Nghĩa Hưng là:

- Chất lượng đường phố còn kém, tỷ lệ đất giao thông đô thị mới đạt 5,8%;

- Cấp điện đủ dùng với tiêu chuẩn thấp;

- Hệ thống thoát nước còn kém Chỉ có hệ thống thoát nước dọc các tuyến giaothông nhưng chỉ đảm bảo thoát nước mưa;

- Cấu trúc không gian hệ thống đô thị mất cân đối: dân cư đô thị tập trung nhiều ởhành lang giao thông;

- Các đô thị của huyện chủ yếu mang chức năng trung tâm hành chính, chính trị.Các chức năng sản xuất, dịch vụ, thương mại phát triển chậm;

- Đầu tư cho việc quy hoạch các đô thị còn thấp;

- Với tốc độ đô thị hóa chỉ đạt 11,4 %;

- Việc thu gom và xử lý chất thải rắn đô thị mới đạt 50 - 60%

b) Khu dân cư nông thôn

Khu dân cư nông thôn có 23134,01 ha, chiếm 90,9 % tổng diện tích tự nhiên Dân

số 158357 người chiếm 88,6% dân số của huyện Bình quân đất ở 64 m2/người, các khudân cư nông thôn được phân bố trên địa bàn 22 xã;

Khu dân cư nông thôn huyện Nghĩa Hưng được phân bố theo địa giới hành chính xãgồm 22 xã với 315 điểm dân cư Các khu dân cư nông thôn của huyện Nghĩa Hưng đượcphân bố và phát triển trên các nền đất cao ráo, thoáng mát, sự hình thành các điểm dân cưgắn liền với quá trình nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là chủ yếu Các khu dân cư thườngđược bao quanh bởi đồng ruộng, thuận tiện cho sản xuất Các công trình văn hoá phúc lợi xãhội được bố trí ở trung tâm xã và ở các thôn Các điểm dân cư trong huyện được liên hệ vớinhau bởi hệ thống đường giao thông liên thôn, liên xã, liên huyện và hệ thống đường thônxóm, thuận lợi cho nhu cầu đi lại cũng như sản xuất của nhân dân;

Trong những năm gần đây chương trình xây dựng nông thôn mới, việc chú trọngcho xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là đường giao thông nông thôn và hệ thống điện,trường học, trạm y tế… được các địa phương, mà cụ thể là các xã được chọn làm điểmđặc biệt quan tâm, xây dựng tương đối ổn định, đáp ứng được yêu cầu của nhân dân;

Tuy nhiên hiệu qủa sử dụng đất cho thấy, chưa xây dựng được các điểm dân cưnông thôn có đầy đủ cơ sở hạ tầng kỹ thuật, cơ sở hạ tầng ở nông thôn vẫn lạc hậu, manhmún, việc xây dựng vẫn tuỳ tiện, chắp vá, thiếu kỷ cương, kỷ luật dẫn đến lãng phí tốnkém Môi trường ở nông thôn hiện nay đang đặt ra những vấn đề bức bách Cơ hội tìmviệc làm tại khu vực nông thôn còn hạn chế; Thu nhập của người dân nông thôn còn thấp

2.5 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng

Trang 20

- Đường tỉnh 490C (55 cũ): từ chân cầu Đò Quan đến Nam Điền dài 56,58 km điqua địa bàn TP Nam Định và 3 huyện (Nam Trực, Trực Ninh, Nghĩa Hưng) Đoạn quaNghĩa Hưng dài 34 km Đoạn từ Nghĩa Thái đến kênh Quần Liêu đã được nâng cấp tiêuchuẩn cấp III giai đoạn 1 Giai đoạn 2 đang nâng cấp tiếp đoạn còn lại

* Đường giao thông nông thôn

Đường GTNT bao gồm đường huyện, đường xã và đường thôn xóm Tính đến31/12/ 2010 tổng chiều dài đường GTNT là 910 km, trong đó đường huyện 51,7 km,đường xã - liên xã 247,32 km và đường thôn xóm 611 km Loại mặt đường, mặt đườngnhựa, BTXM: dài 724,77 km; cấp phối 121,88 km, gạch đất 62,93 km Về mạng đườngGTNT huyện phân bố tương đối đều Về chất lượng đường hầu hết đường huyện đạt cấp

V, đường xã đạt cấp VI trở xuống có chiều rộng nền đường nhỏ hơn 6 m, mặt đường 2-3m; đường thôn xóm chưa vào cấp kỹ thuật;

Biểu 2: Tổng hợp hiện trạng đường GTNT

Nguồn: Sở Giao thông tỉnh Nam Định

Về hệ thống cầu, cống trên đường huyện và đường xã hiện nay đều có khổ hẹp, tảitrọng thấp không đáp ứng nhu cầu vận tải; hệ thống cầu cống trên đường thôn xóm chủ yếu

là cầu có tải trọng thấp, khổ hẹp 2-3 m phục vụ các phương tiện thô sơ

* Hiện trạng giao thông tĩnh Trên địa bàn huyện có 2 bến xe đang hoạt động, cụ thể

- Bến xe Thị trấn Liễu Đề do HTX vận tải quản lý, bến xe loại 4

- Bến xe TT Quỹ Nhất, bến xe Rạng Đông do HTX VTĐB Quỹ Nhất quản lý và xây

Trang 21

dựng với tiêu chuẩn cấp 4.

* Đường thuỷ: Trên sông Sông Đáy có 5 bến đò ngang, sông Ninh Cơ có 3 bến.Cùng với mạng lưới đường bộ, hàng năm hệ thống đường thuỷ cũng được nạo vét, thanhthải chướng ngại vật trên sông, đặt hệ thống phao tiêu trên sông, đảm bảo an toàn giaothông đường thuỷ

Nhìn chung mạng lưới giao thông đường bộ của huyện phân bố hợp lý, tương đốihoàn chỉnh đến từng thôn, xóm Hầu hết các tuyến đường đã được rải nhựa, bê tông hoặclát gạch thuận tiện đi lại trong cả 4 mùa Tuy nhiên nền đường còn hẹp chưa đáp ứng nhucầu về giao thông trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nôngthôn những năm tới

2.5.2 Thuỷ lợi

- Hệ thống đê điều:

Hệ thống đê điều đã từng bước được bổ sung, tu sửa và nâng cấp Nghĩa Hưng có

120 km đê trong đó đê biển 26,3 km còn lại là đê sông Ninh Cơ, sông Đáy và sông Đào

- Hệ thống thuỷ nông:

Kênh, mương: với 770 km kênh chính và 580 km mương nội đồng, kênh nổi saucống và kênh tưới sau trạm bơm;

Toàn huyện có 35 trạm bơm điện, hệ thống thuỷ nông từng bước được xây dựng

bổ sung phù hợp Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên khai thác công trình thuỷlợi của huyện khai thác quản lý 18 trạm bơm còn lại do các xã, hợp tác xã quản lý.;

+ Về tưới: Hệ số tưới của toàn vùng mới đạt (1,0÷1,06)1/s/ha, trong khi đó yêucầu là 1,16 1/s/ha (1,16÷1,3);

+ Về tiêu: Năng lực của toàn vùng mới chỉ đạt khoảng (5,0÷5,2)1/s/ha, trong khiyêu cầu là (5,43÷6,5)1/s/ha;

Sông ngòi của Nghĩa Hưng cũng như sông ngòi của tỉnh Nam Định nói chung đềutrong tình trạng nông và không đủ mặt cắt tưới, tiêu nước Nhiều tuyến sông hàng chụcnăm chưa được nạo vét, cùng với các hoạt động lấn chiếm dòng chảy như móng nhà,móng cầu, đập đất, rác thải sinh hoạt làm ách tắc dòng chảy dẫn đến chuyển tải nướcchậm, đầu nguồn nước bị tổn thất, tưới tiêu tự chảy kéo dài thời gian và tăng điện năngtiêu thụ cho việc bơm tát;

Cống dưới đê hàng năm khai thác đã khẳng định được năng lực cung cấp nướccho toàn huyện Hiện tại công trình xây dựng đang bị xuống cấp cần có kế hoạch nângcấp để bảo đảm an toàn mùa mưa lũ;

Các tuyến kênh mặt ruộng ít ảnh hưởng đến hiệu quả tưới tiêu, kênh chính đã kiên

cố hoá 30 km kênh từ cấp I đến cấp III, còn lại là kênh đất Kênh đất thường có nước rò

rỉ, thẩm lậu 20% Nếu hệ thống kênh của huyện được cứng hoá có thể tiết kiệm được

Trang 22

hàng trăm triệu đồng mỗi năm (do hệ số lợi dụng nước được tăng lên) và góp phần củng

cố vững chắc thêm cho hệ thống đê điều và bảo vệ môi trường đất;

Để duy trì và hoàn chỉnh hệ thống thuỷ lợi, trong những năm tới phải dành đất đểđắp đê, củng cố bờ kênh, nạo vét khơi thông dòng chảy, xây dựng thêm cống, trạm bơm,đập điều tiết và đào thêm một số đoạn kênh mương nội đồng để giải quyết tình trạng hạnúng cục bộ và phân cách đất sản xuất với khu dân cư

2.5.3 Công trình năng lượng

Nguồn cung cấp điện: Hiện nay, huyện Nghĩa Hưng được cung cấp điện chủ yếu

từ trạm nguồn 110 KV Nghĩa Hưng E3.10 (MBA T1 (110/22kv)), gồm 2 lộ 371, lộ 373,cung cấp qua 3 trạm trung gian Nghĩa Tân, Liễu Đề và Đông Bình;

Tổng mức tiêu thụ điện qua các trạm biến áp là 10513 KVA Toàn huyện có 15 kmđường dây 110 KV, 44 km đường dây 35 KV và 130 km đường dây 10 KV 100% các xãtrong huyện đã sử dụng điện lưới quốc gia;

Hệ thống lưới điện đã cơ bản đáp ứng nhu cầu sản xuất và dân sinh Tuy nhiên cáctrạm trung gian đã đầy tải, một số xã xa trạm biến áp trung gian và một số xã trạm hạ thếchưa đủ công suất phục vụ sản xuất và đời sống, phải xây dựng thêm trạm hạ thế

2.5.4 Công trình bưu chính viễn thông

Mạng lưới bưu chính viễn thông của huyện được chú trọng đầu tư, phát triểnnhanh, rộng khắp đến hầu hết các xã với chiến lược của ngành Bưu chính - viễn thôngthường xuyên được nâng cấp, hiện đại hoá đảm bảo thông tin liên lạc trong nước và quốc

tế được thuận lợi, nhanh chóng Có 100% xã, thị trấn có điện thoại và điểm bưu điện vănhóa xã Toàn huyện có 4 bưu cục trung tâm tại thị trấn Liễu Đề, Nghĩa Lạc, Nghĩa Tân,Rạng Đông 25 bưu điện văn hóa xã, thị trấn Bình quân 35 máy điện thoại/100 dân

2.5.5 Giáo dục và đào tạo

Trong những năm qua ngành giáo dục đào tạo của huyện có bước phát triển mới

cả về quy mô và chất lượng Phong trào thi đua 2 tốt phát triển theo chiều sâu Cuộc vậnđộng dân chủ, kỷ cương, tình thương và trách nhiệm trong trường học được đẩy mạnh.Trong 5 năm qua đã xây mới gần 500 phòng học cao tầng, đến nay đã có 17/26 trườngmầm non đạt chuẩn, 33/33 trường tiểu học (trong đó có 7 trường đạt chuẩn mức II),12/26 trường THCS đạt chuẩn Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS vào THPT các loại hìnhđạt > 80% Trung tâm dạy nghề công lập Nghĩa Hưng ngày càng phát triển về quy mô vàloại hình dạy nghề, hàng năm đã đào tạo hàng nghìn lượt lao động ở nhiều ngành nghềkhác nhau Năm 2010 xét tốt nghiệp bậc THCS đạt 100%, khối THPT tỷ lệ tốt nghiệp đạt99,76%; khánh thành và khai giảng trường THPT Nghĩa Minh;

Hiện tại cơ sở vật chất của ngành đã được nâng cấp, trường lớp học khang trang đápứng nhu cầu dạy học để các cháu có điều kiện phát triển đầy đủ về thể chất từ khi còn nhỏ

2.5.6 Y tế

Trang 23

Trong những năm qua ngành y tế được đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang bịthêm máy móc hiện đại, tiếp tục nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sứckhỏe nhân dân 100% Trạm y tế xã, thị trấn đã đạt chuẩn quốc gia về y tế Công tác giữgìn vệ sinh môi trường ở trong các khu dân cư, đường làng ngõ xóm và trong các hộ giađình đã được các cấp, các ngành, các đoàn thể và nhân dân chú ý quan tâm Đến nay cókhoảng 90% số hộ gia đình dùng nước hợp vệ sinh Hàng năm không có dịch bệnh lớnxảy ra trên địa bàn huyện.

2.5.7 Văn hoá xã hội, Thể dục thể thao

Trong những năm qua phong trào văn hoá - thể dục thể thao phát triển mạnh vàrộng khắp thu hút được nhiều người tham gia, hàng năm huyện đều tổ chức ngày hội thểthao trong toàn huyện qua đó khuyến khích hơn nữa phong trào văn hoá - thể dục thểthao tại các xã, thị trấn phát triển Toàn huyện có 73,0% cơ quan; 25,0% số làng; 72,7%gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa, trong giai đoạn tới huyện cần dành một quỹ đất thíchđáng cho hoạt động này

2.5.8 Đánh giá chung hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế,

xã hội

Nhìn tổng quát, trong những năm qua, Đảng bộ và nhân dân huyện Nghĩa Hưng

đã dành sự quan tâm lớn đến đầu tư phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.Nhờ đó, hệ thống kết cấu hạ tầng có bước cải thiện rõ rệt, từng bước đáp ứng yêu cầuphát triển của huyện, góp phần bảo đảm tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh, phát triển cáclĩnh vực văn hóa, xã hội, giảm nhẹ thiên tai và bảo đảm an ninh quốc phòng, nâng caođời sống nhân dân, xóa đói, giảm nghèo, rút ngắn khoảng cách giữa các vùng, miền Một

số công trình hiện đại đã được đầu tư xây dựng, tạo diện mạo mới của huyện trong quátrình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn Năng lực công nghệ và chấtlượng nguồn nhân lực trên các lĩnh vực xây dựng, quản lý và vận hành kết cấu hạ tầngđược nâng lên;

Nguồn lực đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng ngày càng lớn Cơ cấu nguồn vốn ngàycàng đa dạng, vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và có nguồn gốc từ ngân sách nhà nướcchiếm tỷ trọng lớn Ngoài nguồn lực của Nhà nước, đã và đang mở rộng sự tham gia củatoàn xã hội, đặc biệt là sự tham gia của doanh nghiệp và đóng góp tự nguyện của nhân dânvào phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn Nhiều hình thức đầu tư phát triển kết cấu hạ tầngcùng các mô hình, phương thức đầu tư, kinh doanh các dịch vụ hạ tầng được mở rộng;

Trang 24

- Hạ tầng đô thị chưa đồng bộ, nhất là giao thông, công trình nước sạch vệ sinhmôi trường;

- Hạ tầng xã hội thiếu về số lượng, kém về chất lượng, hiệu quả sử dụng chưa cao,chưa đáp ứng yêu cầu dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là văn hóa, thể dục thể thao

III ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ ĐIỀU KIỆN TƯ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI VÀ MÔI TRƯỜNG

Với điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên môi trường trên, huyện Nghĩa Hưng

có nhiều lợi thế và tiềm năng:

- Có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu và phát triển kinh tế - văn hoá - xã hộicủa huyện, nhất là trong tương lai khi khu kinh tế Ninh Cơ đi vào hoạt động, đây là trongđiều kiện để huyện tập trung phát triển kinh tế-xã hội tạo nhiều cơ hội để hội nhập kinh

tế với thế giới, những lợi thế về địa lý và giao thông là yếu tố rất quan trọng;

- Đất đai Nghĩa Hưng chủ yếu là đất phù sa bồi lắng có độ phì khá, có khả nănggiữ nước và giữ chất dinh dưỡng tốt nên phù hợp với các cây trồng như: lúa các loại, đặcbiệt là lúa đặc sản: lúa nếp, lúa thơm các loại lúa chất lượng cao có khả năng xuất khẩu,các loại cây ăn quả có giá trị như: nhãn, vải, chuối, xoài Điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu,nguồn nước đã tạo cho Nghĩa Hưng có thảm thực vật tự nhiên phong phú, nhất là thảmthực vật ven biển, tài nguyên động vật mang tính chất đặc trưng và độc đáo của vùng cửasông ven biển Nguồn thuỷ hải sản phong phú đa dạng thuận lợi cho sản xuất các mặthàng xuất khẩu: tôm, cua, cá bớp, ngao vạng Đó là những thuận lợi cơ bản cho pháttriển kinh tế- xã hội Ngoài ra vùng biển còn có tiềm năng phát triển du lịch biển và dulịch sinh thái thăm quan rừng ngập mặn

Tuy nhiên huyện Nghĩa Hưng cũng vẫn còn có một số khó khăn và hạn chế:

Do sức ép của sự gia tăng dân số và kinh tế thị trường cùng với những tác động tiêucực của con người như ý thức bảo vệ rừng phòng hộ, khai thác kiệt quệ độ phì của đất, sửdụng những phương tiện đánh bắt thuỷ hải sản tự nhiên bị Nhà nước nghiêm cấm, sử dụngcác loại thức ăn trong chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thuỷ hải sản và sử dụng thuốcbảo vệ thực vật không đúng quy định, là những tác nhân ảnh hưởng xấu đến môi trườngđất, nguồn nước, không khí Khó khăn về thời tiết, nhất là hiện tượng biến đổi khí hậu,nước biển dâng sẽ ảnh hưởng, tác động xấu đến sản xuất nông nghiệp, đời sống người dân

Thực trạng phát triển kinh tế-xã hội gây áp lực đối với đất đai:

Mặc dù chịu tác động suy thoái kinh tế thế giới, nhưng kinh tế của huyện vẫn đạt tốc

độ tăng trưởng khá (11,02%/năm) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng dần

tỷ trọng ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, giảm dần tỷ trọng ngành nôngnghiệp Nông nghiệp tiếp tục chuyển sang sản xuất hàng hóa, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấucây trồng vật nuôi, mô hình cánh đồng cho giá trị kinh tế cao được nhân rộng, số trang trại,gia trại tăng Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ, thương mại, du lịch tiếp tục mở ra

Trang 25

hướng phát triển mới, cụm công nghiệp ở các xã và một số doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đivào hoạt động, góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người lao động

Tuy nhiên, trong điều kiện gia tăng dân số còn ở mức cao cùng với quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn và phát triển kinh tế xã hội đang gây áplực ngày càng lớn đối với đất đai trên các mặt:

- Quỹ đất dành cho nhu cầu xây dựng và phát triển kinh tế, xã hội, phát triển đôthị, công nghiệp, dịch vụ thương mại, du lịch, giao thông, thuỷ lợi, các công trình vănhoá, phúc lợi … hàng năm không ngừng tăng lên;

- Quá trình sử dụng đất cần phải thích ứng với yêu cầu phát triển kinh tế xã hội trongtừng thời kỳ Hiện nay kinh tế xã hội đang phát triển với tốc độ tăng nhanh, nhất là ở cáckhu vực thị trấn, thị tứ và các khu dân cư tập trung phát triển công nghiệp, tiểu thủ côngnghiệp, thương mại dịch vụ và du lịch đã tác động trực tiếp đến nhu cầu vốn quỹ đất đai;

- Quá trình phát triển kinh tế xã hội tất yếu phát sinh nhu cầu sử dụng đất Để pháttriển ổn định, bền vững kinh tế-xã hội theo định hướng mục tiêu Đại hội Đảng bộ huyệnlần thứ XXIII, cần xác định rõ nhu cầu đất đai của các lĩnh vực để phân bổ, hoạch định

cụ thể một cách khoa học, hợp lý, tiết kiệm, sử dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả;

- Còn tiềm ẩn những bất ổn trong xã hội như khiếu kiện đất đai, gây mất trật tự xãhội ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh

Phần II TÌNH HÌNH QUẢN LÝ SỬ DỤNG ĐẤT ĐAI

I TÌNH HÌNH QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI

1.1 Công tác quản lý đất đai theo địa giới hành chính

Trang 26

Thực hiện Chỉ thị 364/CT-HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ), Huyện Nghĩa Hưng đã hoàn thành việc hoạch định ranh giới hành chính ở 2 cấp

huyện, xã Các tuyến ranh giới ở 2 cấp đều được xác định, thống nhất rõ ràng bằng cácyếu tố địa vật cố định hoặc các điểm mốc giới và được triển vẽ lên bản đồ địa hình đãgiúp cho công tác quản lý Nhà nước về địa giới ổn định thống nhất

1.2 Điều tra, khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính

Được sự quan tâm giúp đỡ của Sở Tài nguyên và Môi trường, năm 2001 toànHuyện Nghĩa Hưng đã xây dựng xong lưới địa chính cấp 1;

Đã có 25/25 xã, thị trấn của huyện đã đo đạc lập bản đồ địa chính Trong đó, đo ở tỷ lệ1/1000 được 3.023,81 ha, tỷ lệ 1/2000 được 17.129,75 ha, tỷ lệ 1/10.000 được 5.290,5 ha;

Đo chỉnh lý bản đồ Địa chính, lập hồ sơ cấp GCN QSD đất: Từ năm 2001 - 2005huyện Nghĩa Hưng tiếp tục triển khai đo đạc mới bản đồ địa chính theo công nghệ mớihiện đại tại 02 thị trấn: Liễu Đề và Rạng Đông để phục vụ Để phục vụ cho công tác lập

hồ sơ đề nghị cấp GCN QSD đất cho các tổ chức, cơ quan, doanh nghiệp và hộ gia đình,

cá nhân trên địa bàn huyện;

Đo chỉnh lý khu dân cư: Từ năm 2001-2005 huyện Nghĩa Hưng đã triển khai đođạc, chỉnh lý bản đồ tỷ lệ: 1/1000 và tỷ lệ: 1/2000 cho 18 xã gồm: Nghĩa Đồng, NghĩaThịnh, Nghĩa Minh, Hoàng Nam, Nghĩa Châu, Nghĩa Thái, Nghĩa Trung, Nghĩa Sơn,Nghĩa Hồng, Nghĩa Phong, Nghĩa Phú, Nghĩa Bình, Nghĩa Hoà, Nghĩa Lâm, NghĩaPhúc, Nam Điền, Nghĩa Hùng và xã Nghĩa Hải Để phục vụ cho công tác lập hồ sơ đềnghị cấp GCN QSD đất cho các tổ chức và hộ gia đình, cá nhân;

Năm 2001 tổ chức đo đạc, lập bản đồ địa chính cho TT Liễu Đề theo công nghệbản đồ số;

Năm 2006-2007 tổ chức đo đạc, lập bản đồ địa chính khu dân cư cho xã NghĩaThành và xã Nghĩa Lạc theo công nghệ bản đồ số;

Năm 2009 tổ chức đo đạc, lập bản đồ địa chính cho xã Nghĩa Trung và xã NghĩaTân theo công nghệ bản đồ số (đo khu dân cư và ngoài đồng);

Năm 2010 tổ chức đo đạc, lập bản đồ địa chính cho xã Nghĩa Thái theo công nghệbản đồ số (đo khu dân cư và ngoài đồng)

1.3 Công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất

* Quy hoạch sử dụng đất:

Năm 2002, huyện đã hoàn thành công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cấphuyện 10 năm thời kỳ 2001-2010 và UBND tỉnh Nam Định phê duyệt tại Quyết định số3335/2002/QĐ-UBND ngày 31/12/2002 Quy hoạch cấp xã, thị trấn trong năm 2003 đã có

25 xã, thị trấn hoàn thành công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thời kỳ 2001

-2010 đã được UBND huyện phê duyệt Hàng năm các xã, thị trấn căn cứ vào quy hoạch sửdụng đất đã được phê duyệt để lập kế hoạch sử dụng đất trình thông qua HĐND xã, thị

Trang 27

trấn và trình cấp có thẩm quyền phê duyệt Đây là cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giaođất, cho thuê đất và chuyển mục đích sử dụng đất hàng năm của địa phương;

Đến hết năm 2007 huyện đã hoàn thành việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch

sử dụng đất đến năm 2010 cấp huyện và một số xã có biến động;

Thực hiện quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản quy định, hướngdẫn công tác lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và thực hiện Công văn số1094/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 13 tháng 4 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trườnggửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương về việc triển khai công tác lập quyhoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất 5 năm 2011- 2015 đối với 3cấp tỉnh, huyện, xã;

UBND tỉnh đã ban hành chỉ thị số 16/CT-UBND ngày 25/9/2009 về việc Kiểm kêđất đai năm 2010, lập quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, KHSD đất 5 năm (2011-2015);

Như vậy, hiện nay công tác Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất cho giai đoạn

2011-2020 đang được triển khai cho cấp huyện và cấp xã

* Kế hoạch sử dụng đất đai:

Từ năm 2001 đến 2010 huyện đã triển khai lập kế hoạch sử dụng đất đai hàngnăm Cấp huyện đã lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình và được chủ tịch UBNDtỉnh phê duyệt Cấp xã, thị trấn đều lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình và đượcUBND huyện phê duyệt Đây là cơ sở pháp lý cho việc thu hồi đất, giao đất, cho thuêđất, chuyển mục đích sử dụng đất hàng năm của địa phương;

Việc thực hiện kế hoạch sử dụng đất hàng năm phần lớn đã thực hiện theo quyhoạch và kế hoạch sử dụng đất nhưng vẫn còn một số địa phương, một số công trìnhchưa thực hiện đúng với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, việc quản lý thực hiện kếhoạch sử dụng đất hàng năm thiếu triệt để

Đánh giá chung:

Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất trên địa bàn huyện trong những năm qua

đã dần đi vào nề nếp; trở thành công cụ quan trọng của quản lý nhà nước đối với đất đai,

đã bước đầu kiểm soát được việc chuyển đổi cơ cấu sử dụng đất theo quy hoạch, kế hoạchđược duyệt, nhất là đối với đất sản xuất nông nghiệp, bảo đảm cho đất đai được sử dụnghợp lý hơn, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của huyện; góp phần quan trọnglàm chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, nông thôn; tạo điều kiện để kinh tếnông thôn thoát khỏi tình trạng tự cung, tự cấp và chuyển sang sản xuất hàng hóa, bảo đảm

an ninh lương thực quốc gia, bộ mặt kinh tế - xã hội nông thôn được cải thiện

1.4 Tình hình giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất

Công tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp được thực hiện Nghị quyết02/NQ/TU ngày 08/02/2002 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Nam Định về dồn điền đổithửa đất nông nghiệp và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của tỉnh và huyện Sau hơn 2

Trang 28

tháng từ 15/12/2004 đến 20/2/2005, huyện tổ chức làm điểm tại xã Nghĩa Đồng và xãNam Điền để sơ kết, rút kinh nghiệm và triển khai ra diện rộng Từ tháng 3/2005, huyệnchỉ đạo 23 xã, thị trấn còn lại và đến 30/5/2005, thì hoàn thành công tác giao đất nôngnghiệp tại thực địa cho các hộ nông dân Đồng thời UBND huyện tập trung chỉ đạo các

xã, thị trấn hoàn thiện công tác lập hồ sơ địa chính để cấp đổi 47.006 giấy chứng nhậnquyền sử dụng đất (GCNQSD) đất nông nghiệp trong năm 2005

Đến nay diện tích các loại đất giao hết cho đối tượng quản lý sử dụng như sau:

* Theo đối tượng sử dụng

- Hộ gia đình cá nhân: 12.668,2 ha chiếm 49,78% tổng diện tích tự nhiên trong đó (đất nông nghiệp 11.534,26 ha, đất phi nông nghiệp 1.113,94 ha);

- UBND cấp xã: 2.094,96 ha chiếm 8,23% tổng diện tích tự nhiên trong đó (đấtnông nghiệp 1.172,53 ha, đất phi nông nghiệp 322,43 ha);

- Tổ chức kinh tế: 1.022,11 ha chiếm 4,01% tổng diện tích tự nhiên trong đó (đấtnông nghiệp 943,8 ha, đất phi nông nghiệp 78,31 ha);

- Cơ quan, đơn vị của nhà nước: 1.783,91 ha chiếm 7,01% tổng diện tích tự nhiêntrong đó (đất nông nghiệp 1.670,75 ha, đất phi nông nghiệp 113,16 ha);

- Tổ chức khác: 822,77 ha chiếm 3,23% tổng diện tích tự nhiên trong đó (đất nôngnghiệp 742,44 ha, đất phi nông nghiệp 80,33 ha);

- Cộng đồng dân cư: 22,63 ha chiếm 0,09% tổng diện tích tự nhiên trong đó (đấtnông nghiệp 1,09 ha, đất phi nông nghiệp 21,54 ha)

* Theo đối tượng quản lý

- UBND cấp xã quản lý 2529,48 ha chiếm 9,94% tổng diện tích tự nhiên (đất phinông nghiệp 2.443,75 ha, đất chưa sử dụng 85,73 ha);

- Tổ chức khác quản lý 4.500,0 ha chiếm 17,6% tổng diện tích tự nhiên (đất phinông nghiệp 2.355.63 ha, đất chưa sử dụng 2.144,37 ha);

- Giao đất và cho thuê đất;

Từ năm 2003 đến năm 2005, toàn huyện đã có 18 doanh nghiệp lập hồ sơ xin thuêđất với tổng diện tích là 136.89 ha và 22 công trình, dự án của các ngành và UBND các

xã, thị trấn lập hồ sơ xin giao đất với tổng diện tích là 17,02 ha

- Đấu giá và giao đất ở;

Từ năm 2001 đến năm 2005, toàn huyện đã tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ởtại 25 xã, thị trấn cho 1930 hộ trúng giá, diện tích là 22,82 ha với tổng số tiền trúng giá là210.857,76 triệu đồng;

Từ năm 2005 đến năm 2009, toàn huyện đã tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ởtại 25 xã, thị trấn cho 1270 lô đất, diện tích là 13,65 ha với tổng số tiền trúng giá là107.212,61 triệu đồng;

Trang 29

Năm 2010 tổ chức đấu giá quyền sử dụng đất ở tại 13 xã, thị trấn cho 249 lô đất,diện tích là 3,16 ha;

Công tác đấu giá đảm bảo đúng quy chế đấu giá của UBND tỉnh, góp phần tăngnguồn thu cho ngân sách 3 cấp (tỉnh, huyện, xã)

1.5 Đăng ký đất đai, thống kê kiểm kê đất đai, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

* Công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

Công tác cấp GCN QSD đất của Huyện Nghĩa Hưng tính đến 01/01/2010 toànhuyện đã cấp GCN đất cho được 97.684 giấy, trong đó cấp cho hộ gia đình, cá nhân được97.644 giấy, cấp cho tổ chức được 40 giấy;

Công tác cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn huyện đã cấp cơbản, diện tích đất nông nghiệp trong năm 2003-2004 các xã, thị trấn đã cơ bản hoànthành việc cấp đổi 47.006 giấy chứng nhận đất nông nghiệp của hộ sau dồn điền đổithửa; đất khu dân cư nông thôn từ năm 2000 đến nay toàn huyện đã lập hồ sơ xét cấpgiấy chứng nhận quyền sử dụng đất được 94% số hộ

* Công tác thống kê, kiểm kê đất đai

Công tác thống kê, kiểm kê được tiến hành theo đúng Thông tư 08/2007/BTNMT,

số liệu thống kê và kiểm kê đất đai các năm đã phục vụ kịp thời cho việc quản lý đất đai

và phát triển kinh tế, xã hội của huyện;

Thực hiện Chỉ thị số 31/2007/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc kiểm kêquỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổ chức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất.UBND huyện đã chỉ đạo thực hiện kiểm kê quỹ đất đang quản lý, sử dụng của các tổchức được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trên địa bàn của huyện đảm bảo chất lượng

và đúng thời gian quy định;

Việc thực hiện Chỉ thị 618/2009/CT-TTg ngày 15/5/2009 của Thủ tướng ChínhPhủ về tổng kiểm kê đất đai, xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 và Côngvăn số 2841/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 07 tháng 8 năm 2009 của Bộ Tài nguyên và Môitrường về kế hoạch thực hiện kiểm kê đất đai và xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đấtnăm 2010, thực hiện kế hoạch kiểm kê đất đai của UBND tỉnh, được sự chỉ đạo, hướngdẫn chuyên môn nghiệp vụ của Sở Tài nguyên và Môi trường, UBND huyện đã giaoPhòng Tài nguyên và Môi trường chủ trì thực hiện công tác kiểm kê đất đai và xây dựngbản đồ hiện trạng sử dụng đất năm 2010 trên địa bàn huyện Đến nay huyện đã hoànthành kiểm kê đất đai đối với cấp huyện, cấp xã theo đúng nội dung và yêu cầu Nhữngkết quả thu được sau đợt tổng kiểm kê này là một cơ sở dữ liệu thông tin về đất đai đầy

đủ và chính xác nhất phục vụ cho việc xây dựng định hướng phát triển kinh tế - xã hộicủa huyện thời kỳ 2011 - 2020 và kế hoạch phát triển kinh tế xã hội hàng năm của địaphương Qua tổng kiểm kê một lần nữa nâng cao nhận thức và trách nhiệm của các

Trang 30

ngành, các cấp trong huyện đối với quản lý Nhà nước về đất đai nói chung và đối vớidiện tích đất đang được ngành mình, cấp mình đang sử dụng quản lý nói riêng.

1.6 Giải quyết giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai

Công tác giải quyết đơn thư về khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai đã đượcchính quyền các xã, thị trấn và huyện quan tâm giải quyết dứt điểm Các vụ việc phátsinh ở cơ sở đã được giải quyết kịp thời, không để đơn thư vượt cấp và tồn đọng kéo dài.Một số vụ tranh chấp đất đai tại xã do tính chất từng vụ việc phức tạp, hồ sơ địa chínhbất cập, phải mất nhiều thời gian, công sức để thanh tra, kiểm tra, xác minh và kết luậngiải quyết vụ việc khách quan và thấu tình, đạt lý

1.7 Quản lý tài chính về đất đai

Công tác quản lý tài chính về đất đai được triển khai thực hiện theo đúng quy địnhcủa pháp luật;

Về việc thực hiện các khoản thu, chi liên quan đến đất đai, được UBND huyện đãchỉ đạo Phòng Tài chính kết hợp với Phòng Tài nguyên và Môi trường cùng các phòng,ban ngành và UBND các cấp thực hiện theo hướng dẫn của tỉnh, Sở Tài chính, Sở Tàinguyên và Môi trường và các văn bản của huyện

1.8 Quản lý và phát triển thị trường quyền sử dụng đất trong thị trường bất động sản

Việc chuyển quyền sử dụng đất được ngành tích cực thực hiện nhằm thúc đẩy thịtrường bất động sản phát triển Trong năm qua các xã, thị trấn đã làm thủ tục xác nhậnchuyển quyền sử dụng đất theo luật định tạo điều kiện thực hiện tốt các quyền của người

sử dụng đất và quản lý đất đai theo pháp luật;

Thực hiện Nghị định số 08/2000/NĐ-CP của Chính phủ và các thông tin hướngdẫn của liên Bộ Tài nguyên và Môi trường - Tư pháp về đăng ký giao dịch bảo đảm,ngành đã triển khai thực hiện đăng ký thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất, tài sảngắn liền với đất cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu Phòng đã tổ chức xác nhận để làmthủ tục thế chấp vay vốn phát triển sản xuất kinh doanh cho các tổ chức, hộ gia đình, cánhân, doanh nghiệp;

Thị trường quyền sử dụng đất vận hành đã góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách vàtrở thành một trong những nguồn lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện

1.9 Quản lý, giám sát việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất

Trước đây, công tác quản lý, giám sát thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sửdụng đất chưa được quan tâm đúng mức Đây là nguyên nhân chính dẫn đến kết quả thựchiện một số nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai chưa cao;

Trang 31

Thi hành các quy định về pháp luật đất đai hiện nay, huyện đã quan tâm bảo đảmthực hiện các quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất ngày càng đầy đủ và tốt hơn.

1.10 Việc tổ chức thực hiện các văn bản pháp luật về quản lý sử dụng đất

Luật đất đai năm 2003 đã được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 26/11/2003, cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2004 Đây là đạo luật rất quan trọng, có ý nghĩa to lớntrong việc nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước về đất đai, khuyến khích sử dụng đất đaihợp lý và khai thác có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, góp phần tích cực vào tiến trìnhđẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước;

Để nhanh chóng đưa Luật đất đai năm 2003 vào cuộc sống, tạo ra những chuyểnbiến tích cực trong quản lý, sử dụng đất đai, đưa công tác quản lý đất đai ngày càng đivào trật tự, kỷ cương UBND huyện đã tập trung chỉ đạo các ngành, các cơ quan, tổ chức,doanh nghiệp đóng trên địa bàn huyện và UBND các xã, thị trấn tổ chức triển khai thựchiện Chỉ thị số: 05/2004/CT-TTg ngày 09/2/2004 của Thủ tướng Chính phủ về triển khaithi hành Luật đất đai năm 2003, Kế hoạch triển khai Luật đất đai ban hành kèm theoQuyết định số: 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ TN&MT, Chỉthị số: 22/2004/CT-UB ngày 17/6/2004 của UBND tỉnh Nam Định về việc triển khai thihành Luật đất đai năm 2003 và Kế hoạch số: 67/VP3 ngày 17/6/2004 của UBND tỉnhNam Định về tuyên truyền phổ biến Luật đất đai năm 2003 và các Nghị định hướng dẫnthi hành Luật Đất đai của Chính phủ Cấp tỉnh đã tổ chức 3 hội nghị quy mô lớn toàn tỉnh

về triển khai thi hành Luật đất đai năm 2003 và các Nghị định thi hành Luật đất đai;

Huyện đã tổ chức quán triệt và triển khai Luật đất đai năm 2003 và các Nghị địnhthi hành Luật tới cán bộ chủ chốt huyện, lãnh đạo và cán bộ chuyên bộ UBND cấp xã Ở

xã đã tổ chức quán triệt đến bí thư Chi bộ, xóm trưởng và các ban, ngành, đoàn thể xã; tổchức tuyên truyền trên đài phát thanh, truyền thanh của huyện, xã;

Việc triển khai Luật đất đai năm 2003 và các Nghị định thi hành Luật đất đai trênđịa bàn huyện Nghĩa Hưng nói riêng đã được sự quan tâm của tỉnh và các cấp, các ngànhnên đã có nhiều thuận lợi và đem lại hiệu quả cao

* Đánh giá chung:

- Những kết quả đạt được

Thực hiện sự chỉ đạo trực tiếp của Huyện uỷ và UBND huyện và sự quan tâmgiúp đỡ của Sở Tài nguyên và Môi trường, trong những năm qua huyện Nghĩa Hưng đãđạt được một số thành tích đáng khích lệ trong công tác quản lý và sử dụng tài nguyênđất có thể kể đến đó là: Các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, của ngànhcũng như nội dung quản lý nhà nước về đất đai theo luật định đã được triển khai và thựchiện đầy đủ trên địa bàn huyện Công tác giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụngđất được triển khai hầu hết ở các xã, thị trấn đạt được kết quả tốt Việc giải quyết các thủtục chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thu hồi đất… được thực hiện theo đúng quyđịnh của pháp luật Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật trong quản lý

Trang 32

sử dụng đất đai, giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo được tiến hành thường xuyên,dứt điểm góp phần làm ổn định tình hình an ninh nông thôn trên địa bàn huyện Công tácđào tạo và sử dụng cán bộ chuyên môn của ngành được quan tâm chú trọng hơn;

Về hiện trạng sử dụng đất: Hiện tại quỹ đất đai của huyện đã đưa vào sử dụngđược 91,24% diện tích, còn 8,76% chủ yếu là đất bãi bồi ven sông, ven biển, đây là mộttiềm năng cho việc mở rộng diện tích và phát triển nuôi trồng thuỷ sản Việc sử dụng đấtchuyên dùng nhìn chung là đúng mục đích và có hiệu quả tuy nhiên còn một số côngtrình xây dựng chưa hợp lý hoặc để lãng phí đất;

Việc sử dụng đất đai có nhiều tiến bộ ngày càng chú trọng đến hiệu quả sử dụngđất đai Sản xuất nông nghiệp đã chuyển đổi cơ cấu mùa vụ, cơ cấu cây trồng vật nuôitheo hướng sản xuất hàng hoá Năng suất cây trồng nhất là năng suất lúa ngày càng cao;

Tình hình vi phạm pháp luật đất đai trên địa bàn toàn huyện đã giảm nhiều, tuy nhiênvẫn còn một số hộ gia đình, cá nhân tự làm nhà trên đất vườn ao, tự chuyển đổi đất trồng lúasang nuôi trồng thuỷ sản, làm vườn và mua bán chuyển nhượng nhà đất không làm thủ tụcđất đai theo quy định Công tác quản lý đất đai của một số xã còn buông lỏng và chưa kiênquyết xử lý các hộ vi phạm; dẫn đến nguồn tài nguyên đất chưa được khai thác hiệu quả,việc sử dụng đất còn lãng phí, kém hiệu quả, nguồn thu từ đất bị thất thoát;

Diện tích đất chưa sử dụng còn 2.230,10 ha tại vùng đất công của huyện, hướngkhai thác đất đai của Huyện chủ yếu là khai thác về chiều sâu Bên cạnh việc khai hoangcải tạo đất chưa sử dụng để sử dụng vào các mục đích thì việc cần thiết và quan trọng làphải sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả các loại đất đặc biệt là đất nông nghiệp

- Nguyên nhân tồn tại

+ Pháp luật đất đai cùng với những chính sách đất đai đã được hình thành nhưngcòn thiếu đồng bộ và chưa được phổ biến sâu rộng để toàn thể nhân dân tự giác thựchiện Việc xử lý hành chính các vi phạm pháp luật về đất đai, quản lý và sử dụng đấtchưa được chặt chẽ đã dẫn đến tình trạng: Việc lấn chiếm đất công, mua bán sangnhượng đất đai trái pháp luật vẫn còn diễn ra ở các địa phương, việc chuyển mục đích sửdụng đất không tuân thủ theo quy hoạch, kế hoạch đã gây nên tình trạng giảm đất nôngnghiệp, nhất là đất trồng lúa;

+ Trong việc thực hiện Luật Đất đai, các ngành, các cấp còn chưa quan tâm đếnviệc gắn quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội với quy hoạch sử dụng đất đai;

+ Kinh phí đầu tư cho ngành tài nguyên và môi trường từ tỉnh, huyện đến xã cònhạn chế Đội ngũ cán bộ Địa chính xã còn hạn chế về chuyên môn, nghiệp vụ dẫn đếnviệc tham mưu cho các cấp chính quyền trong quản lý Nhà nước về đất đai còn chưathực sự đạt hiệu quả mong muốn;

Những hạn chế và tồn tại nêu trên là những thách thức lớn đối với công tác quản

lý Nhà nước về đất đai ở huyện trước yêu cầu nhiệm vụ mới trong giai đoạn của tiếntrình công nghiệp hoá - hiện đại hoá

Trang 33

II hiện trạng sử dụng đất và biến động các loại đất

2.1 Hiện trạng sử dụng cỏc loại đất

Theo số liệu thống kờ đất đai đến ngày 31/12/2010 diện tớch tự nhiờn huyện là25.444,07 ha, chiếm 15,41% diện tớch tự nhiờn toàn tỉnh, được phõn theo cỏc loại đất chớnhnhư bảng sau:

Bảng 3: Diện tớch, cơ cấu đất đai phõn theo mục đớch sử dụng

Diện tớch (ha) Cơ cấu (%)

2.5 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh SKC 22,01 0,06

2.6 Đất sản xuất vật liệu xõy dựng gốm sứ SKX 96,55 0,38

2.9 Đất xử lý, chụn lấp chất thải nguy hại TTN 14,48 0,37

2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa SMN 210,82 0,80

Trang 34

Diện tích đất nông nghiệp trên địa bàn huyện là 16.6651,4 ha, chiếm 65,45 % tổngdiện tích tự nhiên.

cư và diện tích đất trồng cây lâu năm khác được phân bố đều khắp các xã trong huyện;

+ Đất rừng phòng hộ: Trên địa bàn huyện Nghĩa Hưng chỉ có duy nhất một loại rừng

là đất rừng phòng hộ có diện tích 1.671,23 ha, chiếm 6,57% diện tích đất tự nhiên gồm toàn

bộ là diện tích đất có rừng trồng phòng hộ ven biển thuộc vùng đất công của huyện;

+ Đất nuôi trồng thủy sản: diện tích 2.660,63 ha, chiếm 10,46 % diện tích tự nhiên

và 15,97% diện tích đất nông nghiệp Đất nuôi trồng thủy sản của huyện phân bố tậptrung vùng ven biển;

Trong những năm qua huyện đã có những chính sách khuyến khích phát triển nuôitrồng thuỷ sản phù hợp, công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức sản xuất nuôi trồng thuỷsản có sự quan tâm và đổi mới Việc tiếp thu kỹ thuật về nuôi trồng thuỷ sản, công tácchuyển giao kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất đã được chú trọng và có hiệu quả;

+ Các loại đất nông nghiệp còn lại (đất trồng cây hàng năm còn lại, đất nôngnghiệp khác): diện tích 566,02 ha, chiếm 2,22 % diện tích tự nhiên và 3,40 % diện tíchđất nông nghiệp

2) Đất phi nông nghiệp

Tổng diện tích đất phi nông nghiệp là 6.558,28 ha; chiếm 25,78% diện tích tựnhiên toàn huyện, gồm:

+ Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp: diện tích 19,17 ha, chiếm0,08 % diện tích tự nhiên và chiếm 0,30% diện tích đất phi nông nghiệp;

+ Đất quốc phòng: diện tích 17,25 ha, chiếm 0,06% diện tích tự nhiên và chiếm0,22% diện tích đất phi nông nghiệp;

+ Đất an ninh: diện tích đất an ninh trên địa bàn huyện chiếm tỷ lệ rất nhỏ trongtổng diện tích tự nhiên với 0,57 ha và chỉ chiếm 0,009% diện tích đất phi nông nghiệp;

+ Đất khu công nghiệp: có diện tích 6,02 ha, chiếm 0,02% diện tích tự nhiên vàchiếm 0,09% diện tích đất phi nông nghiệp, tập trung tại khu công nghiệp xã Nghĩa Sơn;

+ Đất cơ sở sản xuất kinh doanh: diện tích 22,01 ha, chiếm 0,06% diện tích tựnhiên và chiếm 0,24 % diện tích đất phi nông nghiệp, trong đó phần lớn các doanhnghiệp trên địa bàn huyện thuê đất để sản xuất kinh doanh;

Trang 35

+ Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: diện tích 96,55 ha, chiếm 0,38% diệntích tự nhiên và chiếm 1,48% diện tích đất phi nông nghiệp, diện tích đất sản xuất vậtliệu xây dựng chủ yếu là diện tích đất để khai thác sử dụng sản xuất gạch;

+ Đất di tích danh thắng: Có diện tích 8,34 ha, chiếm 0,03 % diện tích tự nhiên vàchiếm 0,19% diện tích đất phi nông nghiệp;

+ Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại: diện tích 14,48 ha, chiếm 0,06% diệntích tự nhiên và chiếm 0,22% diện tích đất phi nông nghiệp, trong đó chủ yếu là các bãirác, bãi thải tập trung trên địa bàn các xã;

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa diện tích 210,82 ha, chiếm 0,8% diện tích tự nhiên vàchiếm 3,21% diện tích đất phi nông nghiệp, phân bố trên địa bàn các xã;

+ Đất có mặt nước chuyên dùng: diện tích 2191,93 ha, chiếm 10,74% diện tích tựnhiên và chiếm 33,4 % diện tích đất phi nông nghiệp;

+ Đất phát triển hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, năng lượng, bưu chính viễn thông,

cơ sở văn hóa, cơ sở y tế, cơ sở giáo dục - đào tạo, cơ sở thể dục - thể thao, cơ sở nghiêncứu khoa học, cơ sở dịch vụ về xã hội và chợ), diện tích 2.716,12 ha, chiếm 12,31 % diệntích đất tự nhiên và chiếm 41,4198% diện tích đất phi nông nghiệp;

+ Đất phi nông nghiệp còn lại (đất ở, đất sông suối, đất phi nông nghiệp khác):diện tích 3.132,53 ha, chiếm 12,31% diện tích tự nhiên và chiếm 47,83% diện tích đấtphi nông nghiệp;

Diện tích đất phi nông nghiệp năm 2010 là 6.558,28 ha, tăng 453,01 ha so vớinăm 2000 Kết quả này đã phản ánh đúng tình hình phát triển kinh tế - xã hội của huyệntrong những năm qua

3) Đất đô thị

Tổng diện tích đất đô thị của huyện là 2.310,05 ha, chiếm 9,08% diện tích tựnhiên của huyện, bao gồm thị trấn Liễu Đề, thị trấn Quỹ Nhất và thị trấn Rạng Đông,trong đó:

Diện tích đất ở tại đô thị hiện có 115,04 ha Trong những năm qua huyện đã tậpchung xây dựng cơ sở hạ tầng như: Đường giao thông, các công trình công cộng từ đó đãtạo ra bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, hiện đại

4) Đất khu dân cư nông thôn

Tổng diện tích đất khu dân cư nông thôn của huyện 3.755,95 ha, chiếm 14,76%diện tích tự nhiên, phân bố ở các thôn, xóm thuộc 22 xã của huyện Trong đó:

Diện tích đất ở tại nông thôn là 1.042,24 ha, được phân bố rộng khắp ở 22 xãtrong huyện nhưng tập chung nhiều ở các xã

5) Đất chưa sử dụng:

Diện tích đất đất chưa sử dụng đến năm 2010 của huyện còn khá lớn với 2.231,02

ha, chiếm 8,76% tổng diện tích tự nhiên

Trang 36

Trong thời gian tới cần có kế hoạch khai thác và đưa vào sử dụng cho các mục đích Diện tích đất chưa sử dụng phần lớn tập trung ở các xã ven biển: Nghĩa Lợi, Nghĩa Lâm, Nam Điền, Nghĩa Hùng, Thị trấn Rạng Đông, Nghĩa Thành và vùng bãitriều.

2.2 Phân tích, đánh giá biến động các loại đất

2.2.1 Diện tích đất tự nhiên huyện Nghĩa Hưng

Diện tích tự nhiên trong những năm qua có sự khác nhau, tuy nhiên không phải đấtđai tăng, giảm mà do tính toán qua các thời kỳ có khác nhau dẫn đến diện tích thay đổi, cụthể năm 2006 điều chỉnh Bổ sung thêm 27,76 ha diện tích đất hành chính thuộc vùng đấtcông của huyện vào báo cáo thống kê đất đai năm 2006 Vì vậy diện tích tự nhiên của huyệnhiện tại là 25.440,07 ha; tăng so với diện tích kiểm kê đất đai năm 2005 là 27,76 ha

Bảng 4: So sánh biến động sử dụng đất qua các năm

ST

T Chỉ tiêu Mã năm 2000 Diện tích năm 2005 Diện tích năm 2010 Diện tích

Biến động giai đoạn 2000-2010

Biến động giai đoạn 2005-2010

2.5 Đất cơ sở sản xuất kinh doanh SKC 10,64 22,01 22,01 11,372.6 Đất sản xuất vật liệu xây dựng SKX 27,69 29,79 96,55 68,86 66,762.7 Đất cho hoạt động khoáng sản SKS

2.9 Đất xử lý, chôn lấp chất thải nguy hại DRA 6,84 14,48 14,48 7,64

2.11 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 195,20 203,56 210,82 15,62 7,262.12 Đất có mặt nước chuyên dùng SMN 310,93 299,54 2191,93 1881 1892,392.13 Đất phát triển hạ tầng DHT 2.531,30 2.586,24 2716,12 184,82 129,88

Trang 37

Diện tích năm 2000

Diện tích năm 2005

Diện tích năm 2010

Biến động giai đoạn 2000-2010

Biến động giai đoạn 2005-2010

4

2.2.2 Biến động diện tích các loại đất

Hầu hết diện tích đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp đều tăng trong giai đoạn

2001 - 2010 Diện tích tăng bởi các nguyên nhân sau:

+ Trong những năm qua huyện Nghĩa Hưng xác định: Phát triển kinh tế là nhiệm

vụ trọng tâm, dồn sức đầu tư cho vùng nông thôn, nhằm xóa đói, giảm nghèo, nâng caođời sống cho nhân dân Tập trung giải quyết các vấn đề về xã hội, thực hiện các chươngtrình công tác trọng tâm, đề án, kế hoạch hướng về cơ sở của tỉnh Nam Định, có nhiều cơchế, chính sách phù hợp, các chương trình, dự án có tính khả thi cao như: dự án chuyểndịch cơ cấu cây trồng vật nuôi, chính sách hỗ trợ cây, con giống vật tư kỹ thuật …Hệthống cơ sở hạ tầng được chú trọng đầu tư nâng cấp, bằng trương trình kiên cố hóa kênhmương thủy lợi;

+ Thực hiện công tác đấu giá quyền sử dụng đất ở tại các xã, thị trấn trong 5 nămqua (2005-2010);

+ Công tác đo đạc lập bản đồ địa chính chính quy, trong những năm qua cũngđược huyện chú trọng quan tâm, nhất là công tác trích đo khu dân cư nông thôn và thống

kê đất đai hàng năm đã phát hiện những sai sót, nhầm lẫn;

+ Các xã, thị trấn xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, công trình pháttriển hạ tầng cơ sở như: giao thông, thủy lợi, văn hóa, y tế, giáo dục đào tạo…

+ Ngoài ra do phù sa từ các sông bồi tụ nhiều năm qua và hiện tượng sạt lở sông Đáy;+ Tình hình đô thị hóa mạnh đặc biệt là sự phát triển của 3 thị trấn: Liễu Đề, RạngĐông, Quỹ Nhất và các thị tứ, trung tâm các xã;

+ Ngoài ra có sự biến động tự phát của người dân như: chuyển diện tích đất lúasang nuôi trồng thủy sản, làm nhà trên đất vườn, ao, hộ gia đình, cá nhân lấn chiếm,chuyển nhượng trái phép, sử dụng đất không đúng mục đích

Trang 38

Ngoài ra, đất trồng lúa nước những năm qua cũng được tăng lên, khai thác từ đấtbằng trồng cây hàng năm khác (26,94 ha), đất nuôi trồng thủy sản (10,55 ha) và các loạiđất nông nghiệp khác;

- Đất trồng cây lâu năm tăng 90,81 ha so với năm 2000, tăng mạnh trong giai đoạn2005-2010 tăng 75,38 ha Đất trồng cây lâu năm tăng trong những năm vừa qua do đượcchuyển sang từ đất trồng lúa, đất bằng trồng cây hàng năm, đất nuôi trồng thủy sản và dotrong kỳ kiểm kê vừa qua có nhiều xã trên địa bàn huyện đo đạc địa chính và đo đạc khudân cư nông thôn nên diện tích đất nông nghiệp nhiều vị trí được xác định lại theo hiệntrạng sử dụng đất và trong kỳ kiểm kê vừa qua có một số diện tích do các hộ gia đình cánhân tự chuyển đổi diện tích đất lúa đất ao sang đất vuờn;

- Đất rừng phòng hộ năm 2010 giảm 121,1 ha so với năm 2000 và giảm 19,3 ha sovới năm 2005 do chuyển sang đất bằng trồng cây hàng năm khác, đất trồng cây lâu nămkhác, đất nuôi trồng thủy sản nước lợ;

- Đất nuôi trồng thủy sản 10 năm qua tăng 1.387,14 ha, tăng mạnh trong giai đoạn

2000 - 2005 (1680,41 ha), giảm giai đoạn 2005-2010 (293,27 ha) Diện tích tăng trongnhững năm vừa qua do phát triển nuôi trồng thủy sản vùng đất công ven biển của huyện

và phát triển mô hình trang trại nên người dân chuyển đất nông nghiệp trồng lúa kémhiệu quả sang đào ao nuôi thủy sản, ngoài ra một phần do đo đạc xác định lại hiện trạng

sử dụng đất và do các hộ gia đình cá nhân tự chuyển đổi mục đích sử dụng nông nghiệptrong khuôn viên thửa đất của gia đình mình sang nuôi trồng thủy sản;

- Các loại đất nông nghiệp còn lại:

+ Đất bằng trồng cây hàng năm còn lại tăng 75,92 ha trong 10 năm qua, tăngmạnh trong giai đoạn 2006-2010 (tăng 101,18 ha) do chuyển đổi cơ cấu cây trồng trênđịa bàn bàn huyện trong những năm vừa qua;

+ Đất nông nghiệp khác tăng 56,67 ha trong 10 năm qua, giai đoạn 2006-2010tăng 4,38 ha do chuyển đổi mục đích sử dụng đất sang mô hình kinh tế trang trại trên địabàn huyện từ năm 2005 đến nay;

+ Đất làm muối tăng 3,66 ha so với năm 2000, giảm 0,18 ha so với năm 2005 dochuyển sang đất thủy lợi

b) Đất phi nông nghiệp

Theo số liệu kiểm kê đất đai năm 2010, diện tích đất phi nông nghiệp của huyện là6558,28 ha, tăng 453,01 ha so với năm 2000, tăng 213,01 ha so với năm 2005, như vậyđất phi nông nghiệp tăng đều trong 2 giai đoạn 2000-2005 và 2006-2010 đất phi nôngnghiệp tăng mạnh do thực hiện phát triển cơ sở hạ tầng như: giao thông, thủy lợi, giáodục đào tạo, sản xuất vật liệu xây dựng, đất các cơ sở sản xuất kinh doanh, bố trí đất ở

Biến động các loại đất phi nông nghiệp:

Trang 39

+ Đất trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp năm 2010 diện tích 19,17 ha, giảm 20,17

ha so với năm 2000 và giảm 9,74 ha so với năm 2005, diện tích đất Đất trụ sở cơ quan, côngtrình sự nghiệp giảm giai đoạn này do chuyển diện tích đất nông nghiệp trong khuôn viênUBND xã sang đúng mục đích theo hướng dẫn thông tư 08/2007/TT-BTNMT;

+ Đất quốc phòng tăng 4,69 ha so với năm 2000 và 3,67 ha so với năm 2005;+ Đất cụm công nghiệp năm 2010 tăng 6,02 ha so với năm 2005;

+ Đất cơ sở sản xuất kinh doanh tăng trong những năm vừa qua, đến năm 2010diện tích đất cở sản xuất kinh doanh có 22,01 ha, tăng 11,37 ha so với năm 2005, trong

đó phần lớn theo các quyết định cho các doanh nghiệp trên địa bàn huyện thuê đất để sảnxuất kinh doanh, phần còn lại do chuyển loại đất nông nghiệp trong khuôn viên các tổchức kinh tế về loại đất chính theo hướng dẫn của thông tư 08/2007/TT-BTNMT;

+ Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ: tăng nhanh trong những năm vừa qua,tăng 68,86 ha so với năm 2000 và 66,76 ha so với năm 2005 để cho công ty thuê đất trênđịa bàn xã làm nhà máy sản xuất gạch;

+ Đất di tích, danh thắng: tăng 1,16 ha so với năm 2005;

+ Đất Đất xử lý, chôn lấp chất thải diện tích 14,48 ha, tăng 7,64 ha so với năm

2005 để xây dựng bãi rác tập trung của xã phục vụ việc bảo vệ môi trường;

+ Đất nghĩa trang, nghĩa địa: năm 2010 diện tích 210,82 ha, tăng 15,62 ha so vớinăm 2000 và tăng 7,26 ha so với năm 2005 do các thôn, xóm trên địa bàn các xã tiếnhành mở rộng khuôn viên nghĩa địa thuộc thôn, xóm mình phục vụ việc an táng;

+ Đất phát triển hạ tầng: diện tích năm 2010 là 2.716,12 ha, tăng 184,82 ha so vớinăm 2000 và tăng 129,88 ha so với năm 2005, diện tích đất phát triển hạ tầng tăng tronggiai đoạn 2001-2010 cho thấy tốc độ phát cơ sở hạ tầng của huyện tăng nhanh trongnhững năm vừa qua, cụ thể:

- Đất giao thông: năm 2010 diện tích 941,1 ha, tăng 97,7 ha so với năm 2000 vàtăng 63,29 ha so với 2005 do mở rộng, nâng cấp hệ thống quốc lộ, tỉnh lộ, huyện lộ vàUBND các xã, thị trấn cải tạo nâng cấp giao thông nội đồng phục vụ việc sản xuất nôngnghiệp trên địa bàn xã được tốt hơn

Ngoài ra giai đoạn này diện tích đất giao thông bị giảm do chuyển sang đất thủylợi và các loại đất khác;

- Đất thủy lợi: năm 2010 tăng 48,91 ha so với năm 2000, tăng mạnh trong giaiđoạn 2005-2010 tăng 63,81 ha do những năm qua thực hiện công tác kè mới, nâng cấp hệthống đê biển, nâng cấp hệ thống kênh tưới, làm mới kênh mương nội đồng

Diện tích đất thủy lợi giảm giai đoạn này do chuyển sang trồng lúa, sang nuôitrồng thủy sản, sang đất giao thông và các loại đất khác;

- Đất để chuyển dẫn năng lượng: Tăng 1,07 ha so với năm 2005 do xây dựng mới

và mở rộng các trạm biến áp điện trên địa bàn các xã;

Trang 40

- Đất cơ sở văn hóa: tăng 4,36 ha so với năm 2005, đất cơ sở văn hóa tăng trongnhững năm vừa qua để phát triển hệ thống thiết chế văn hóa thông tin cơ sở cụ thể, bố tríđất xây dựng nhà văn hóa xã, nhà văn hóa cho các thôn, xóm phục vụ nhu cầu sinh hoạtcộng đồng của nhân dân;

- Đất y tế: tăng 1,75 ha so với năm 2000 và tăng 0,80 ha so với năm 2005 do giaiđoạn này thực hiện quy định công nhận trạm y tế đạt chuẩn nên mơ rộng diện tích khuônviên trạm y tế các xã để đạt chuẩn về diện tích (đến nay 100% xã, thị trấn đã đạt chuẩnquốc gia về y tế);

- Đất cơ sở giáo dục đào tạo: tăng 29,16 ha so với năm 2000 và tăng 7,95 ha sovới năm 2005 để giao đất xây dựng trường THPT Nghĩa Minh Diện tích biến động cònlại một phần do UBND các xã, thị trấn tiến hành mở rộng khuôn viên các trường học để

đủ diện tích chuẩn hoá các trường, một phần do trong khuôn viên các trường học khi đođạc có tách ra các loại đất phụ như vườn, ao trường nhưng không phải để sản xuất nôngnghiệp nó chỉ tạo cảnh quan môi trường, khi thực hiện chỉ thị 31 đã đưa vào kê khai theomục đích sử dụng chính là giáo dục;

- Đất cơ sở thể dục thể thao: tăng 4,46 ha so với năm 2005 để UBND các xã tiếnhành xây dựng và mở rộng khuôn viên các sân vân động trên địa bàn xã phục vụ nhu cầuvui chơi giải trí của nhân dân;

- Đất chợ: tăng 0,30 ha so với năm 2005 do mở rộng chợ;

+ Đất phi nông nghiệp còn lại (đất ở, đất sông suối, đất phi nông nghiệp khác)tăng 144,28 ha so với năm 2000 và 78,42 ha so với năm 2005 cụ thể:

- Đất ở: tăng 221,97 ho so với năm 2000 và tăng 34,13 ha so với năm 2005 đểgiao đất cho nhân dân làm nhà ở trên địa bàn các xã và do các hộ gia đình cá nhânchuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp trong khuôn viên diện tích sử dụng đất của giađình mình sang đất ở;

- Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng: giảm 131,09 ha so với năm 2000 vàgiảm 55,06 ha so với năm 2005 do chuyển diện tích đất mặt nước chuyên dùng sangtrồng lúa nước, sang đất nông nghiệp khác, sang đất trồng cây hàng năm, sang đất trồngcây lâu năm và nuôi trồng thủy sản

c) Đất chưa sử dụng

Tổng diện tích đất đất chưa sử dụng năm 2010 còn 2231,02 ha, giảm 572,82 ha so

với năm 2000 và tăng 694,89 ha so với năm 2005 Những năm qua đất chưa sử dụng giảmmạnh do khai thác đưa vào sử dụng, nguyên nhân chính là: cải tạo diện tích đất bằng chưa

sử dụng sang nuôi trồng thủy sản Đất chưa sử dụng tăng trong giai đoạn 2005-2010 do

mở rộng diện tích vùng đất công nên giai đoạn này đất chưa sử dụng tăng

2.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế, xã hội, môi trường, tính hợp lý của việc sử dụng đất

Ngày đăng: 28/08/2020, 16:29

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w