ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- MÃ DAO MA YAO TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN VÀ QUAN CHẾ TRIỀU LÊ SƠ VIỆT NAM: NGHIÊN CỨU SO SÁNH VỚI TRIỀU MINH TRUNG QUỐC
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MÃ DAO (MA YAO)
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN VÀ QUAN CHẾ TRIỀU LÊ SƠ (VIỆT NAM): NGHIÊN CỨU SO SÁNH VỚI TRIỀU MINH (TRUNG QUỐC)
LUẬN VĂN THẠC SĨ (Chuyên ngành Việt Nam học)
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
MÃ DAO (MA YAO)
TỔ CHỨC CHÍNH QUYỀN VÀ QUAN CHẾ TRIỀU LÊ SƠ (VIỆT NAM): NGHIÊN CỨU SO SÁNH VỚI TRIỀU MINH (TRUNG QUỐC)
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Việt Nam học
Mã số: 18035399
Người hướng dẫn khoa học TS Phạm Đức Anh
Hà Nội – 2020
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tâm của TS Phạm Đức Anh Những hướng dẫn, chỉ bảo của thầy trong quá trình viết luận cùng các tài liệu được thầy cung cấp có ý nghĩa và giá trị to lớn đối với tác giả luận văn Nhân đây, tôi xin được gửi đến thầy lời cảm ơn chân thành nhất
Đồng thời, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo tại Khoa Việt Nam học, trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình truyền đạt kiến thức trong những năm tháng tôi học tập và hoàn thành luận văn Kiến thức mà các thày cô mang lại cho tôi sẽ không chỉ là nền tảng cho quá trình nghiên cứu luận văn mà còn là hành trang vô giá cho công việc và cuộc sống của tôi sau này Xin cảm ơn các bạn học cùng khóa, các bạn Việt Nam đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn tôi tìm tài liệu, chỉnh sửa lỗi sai chính tả, ngữ pháp, cách thức diễn đạt, phiên dịch tài liệu trong quá trình học tập và viết luận văn
Cuối cùng xin được kính chúc các thầy cô và các bạn sức khỏe, hạnh phúc, thành công
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5
MỤC LỤC
MỤC LỤC - 1 -
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU - 3 -
PHẦN MỞ ĐẦU - 1 -
1 Lý do chọn đề tài - 1 -
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề - 2 -
2.1 Những nghiên cứu ở Trung Quốc - 3 -
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài - 5 -
3 Mục tiêu nghiên cứu - 11 -
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - 12 -
4.1 Đối tượng nghiên cứu - 12 -
4.2 Phạm vi nghiên cứu - 12 -
5 Nguồn tư liệu nghiên cứu - 13 -
5.1 Tư liệu Trung Quốc - 13 -
5.2 Tư liệu Việt Nam - 14 -
6 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu - 16 -
7 Cấu trúc nội dung - 16 -
CHƯƠNG 1: TRIỀU LÊ SƠ VỚI VIỆC TIẾP NHẬN MÔ HÌNH
CHÍNH TRỊ TRUNG HOA - 17 -
1.1 Triều Lê Sơ trong bối cảnh chính trị thế kỷ XV - 17 -
1.1.1 Sự thành lập vương triều Lê Sơ và những đặc điểm chủ yếu - 17 -
1.1.2 Bối cảnh chính trị của các nước trong khu vực Đông Á cuối thế kỷ XIV-đầu thế kỷ XV - 19 -
1.2 Khái lược về thiết chế chính trị triều Minh - 21 -
1.2.1 Quá trình ra đời và tồn tại của triều Minh - 21 -
1.2.2 Những đặc điểm chủ yếu của thiết chế chính trị triều Minh - 23 -
1.2.3 Ảnh hưởng của thiết chế chính trị triều Minh tới các nước trong khu vực - 25 -
1.3 Quá trình tiếp nhận thiết chế chính trị triều Minh của nhà Lê Sơ - 26 -
1.3.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng thiết chế chính trị thời Lê Sơ - 26 -
1.3.2 Quá trình tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa của triều Lê Sơ - 29 -
Tiểu kết chương I - 32 -
CHƯƠNG 2: SO SÁNH TỔ CHỨC BỘ MÁY CHÍNH QUYỀN GIỮA TRIỀULÊ SƠ VÀ TRIỀU MINH - 34 -
2.1 Tổ chức chính quyền trung ương - 34 -
Trang 62.1.1 Khái quát về cách thức, mô hình tổ chức chính quyền trung ương triều Lê
Sơ - 34 -
2.1.2 So sánh với tổ chức bộ máy chính quyền trung ương triều Minh - 45 -
2.2 Tổ chức chính quyền địa phương - 51 -
2.2.1 Khái quát về cách thức, mô hình tổ chức các cấp chính quyền địa phương triều Lê Sơ - 51 -
2.2.2 So sánh về cách thức tổ chức chính quyền địa phương giữa triều Lê Sơ với triều Minh - 53 -
Tiểu kết chương 2 - 56 -
CHƯƠNG 3: SO SÁNH QUAN CHẾ GIỮA TRIỀU LÊ SƠ VỚI TRIỀU MINH- 58 - 3.1 Về chế độ tuyển bổ quan lại - 58 -
3.1.1 Cách thức tuyển chọn và quy định bổ nhiệm quan lại triều Lê Sơ - 58 -
3.1.2 So sánh với chế độ tuyển bổ quan lại triều Minh - 66 -
3.2 Chế độ ban phong chức tước, phẩm trật - 70 -
3.2.1 Cách thức và quy định ban phong chức tước triều Lê Sơ - 70 -
3.2.2 Các quy định về phẩm trật quan lại triều Lê Sơ - 71 -
3.2.3 So sánh với chế độ ban phong chức tước, phẩm trật triều Minh - 72 -
3.3 So sánh chế độ lương bổng giữa triều Lê Sơ với triều Minh - 76 -
3.4 Về chế độ khảo khoá và thưởng phạt quan lại - 80 -
Tiểu kết chương 3 - 83 -
KẾT LUẬN - 86 -
TÀI LIỆU THAM KHẢO - 88 -
Trang 7DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU
Sơ đồ 1 – Mô hình tổ chức chính quyền trung ương triều Lê Sơ
Sơ đồ 3 – Cơ cấu tổ chức chính quyền địa phương triều Lê Sơ
Bảng 2.1 – Chức năng, đặc điểm của Lục Bộ triều Lê Sơ
Bảng 2.2 Cách thức tổ chức những cơ quan trông coi việc giấy tờ bên cạnh Vua triều
Bảng 2.3- Cách thức tổ chức các cơ quan chuyên môn triều Lê Sơ
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Do những điều kiện về địa lý, lịch sử và nhiều nguyên nhân khách quan, chủ quan khác, Trung Quốc và Việt Nam có khá nhiều điểm tương đồng, từ phương diện chính trị, tư tưởng, đến kinh tế, văn hóa, xã hội Trên các phương diện đó, giữa hai nước thậm chí còn có mối quan hệ tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Điều này đặt ra yêu cầu cần phải có những nghiên cứu so sánh, xem xét tổng thể trên nhiều lĩnh vực, cũng như trong từng khía cạnh cụ thể
Trong nhiều năm gần đây, lịch sử Nhà nước và Pháp quyền ở Việt Nam đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong nước và quốc tế, với những hướng tiếp cận tuy có khác nhau, nhưng nhìn chung đã toàn diện và sâu rộng hơn Đặc biệt, khi nghiên cứu về lịch sử Nhà nước quân chủ Việt Nam thì không thể nghiên cứu riêng lẻ mà cần phải mở rộng tiếp cận trong mối quan hệ so sánh, đối chiếu trên cả phương diện đồng đại và lịch đại Vì vậy, sẽ là thiếu sót rất lớn nếu nghiên cứu lịch sử nhà nước quân chủ ở Việt Nam mà không đặt trong mối liên hệ mật thiết với Trung Quốc
Thực tế lịch sử các nhà nước quân chủ ở Trung Quốc và Việt Nam cho thấy, đã có những triều đại đạt được sự phát triển cực thịnh, để lại nhiều thành tựu cho hậu thế cũng như ảnh hưởng đến tận ngày nay Chẳng hạn như nghiên cứu về lịch sử các nhà nước quân chủ Trung Quốc thì không thể không nghiên cứu về nhà Đường, nhà Minh, nhà Tống…, cũng như khi nghiên cứu về lịch sử các nhà nước quân chủ Việt Nam thì không thể bỏ qua các triều đại Lý, Trần hay Lê Sơ Nhất là ở những thời điểm cả hai nước đều đạt đến giai đoạn phát triển, có tầm ảnh hưởng lớn, lại càng cần có sự nghiên cứu, so sánh, đối chiếu một cách toàn diện và hệ thống Trong đó, điển hình nhất có thể
kể đến giai đoạn thế kỷ XV-XVI, tương ứng với thời kỳ tồn tại của triều Lê Sơ (Việt Nam) và triều Minh (Trung Quốc)
Trang 10Trong 100 năm tồn tại (1428-1527), vương triều Lê Sơ đã kế thừa những thành tựu phát triển của nhiều triều đại trước đó (nhất là hai triều Lý, Trần), đồng thời chịu ảnh hưởng trực tiếp từ nhà Minh (Trung Quốc) đương thời Ảnh hưởng của chế độ chính trị triều Minh đối với Đại Việt gắn liền với bối cảnh văn hóa – lịch sử, là kết quả tất yếu của quá trình giao lưu chính trị-văn hóa-lịch sử hàng ngàn năm của hai nước Trung – Việt Mặc dù không thể tránh khỏi những nhận thức và hành động cục bộ, hạn hẹp do bị hạn chế bởi các yếu tố thời đại nhưng trong cách thức tổ chức bộ máy chính quyền, cơ chế quan lại từ trung ương đến địa phương của triều Minh và triều Lê đến nay vẫn còn giá trị và ứng dụng trong thực tiễn xây dựng và quản lý nhà nước Chẳng hạn như chế độ tuyển cử ở các cấp trung ương, địa phương, chế độ thưởng, phạt quan lại…
Tác giả luận văn là một học viên người Trung Quốc đã sinh sống và học tập tại Việt Nam hơn 5 năm, theo ngành Việt Nam học Làm việc trong lĩnh vực hành chính - công vụ nên hướng nghiên cứu của đề tài luận văn sẽ hỗ trợ rất lớn cho người viết trong quá trình học tập cũng như công tác Đồng thời, với góc độ tiếp cận lịch sử hiện đại, những kết quả so sánh, phân tích của luận văn sẽ đưa tới cái nhìn toàn diện, tổng hợp và rõ ràng hơn về cơ cấu tổ chức và phương thức quản lý nhà nước quân chủ chuyên chế đương thời
Xuất phát từ những lý do nêu trên, học viên quyết định lựa chọn chủ đề “Tổ chức
chính quyền và quan chế thời Lê Sơ (Việt Nam): Nghiên cứu so sánh với triều Minh (Trung Quốc)” làm đề tài luận văn thạc sĩ
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Những nghiên cứu liên quan đến các triều đại quân chủ Trung Quốc hay Việt Nam đến nay đã có rất nhiều, đặc biệt là về Trung Quốc Tuy nhiên, nghiên cứu từ góc độ so sánh, đối chiếu, nhất là phân tích sự ảnh hưởng qua lại giữa hai nhà nước, hai triều đại hoặc giữa các thời kỳ lịch sử giữa Trung Quốc và Việt Nam lại rất hạn chế Tác giả trong quá trình thực hiện đề tài đã gặp khá nhiều khó khăn khi tìm kiếm, tổng hợp tài
Trang 11liệu Hầu hết các nghiên cứu, công trình nếu có đề cập đến mối quan hệ giữa triều Minh (Trung Quốc) với triều Lê Sơ (Việt Nam) chủ yếu chỉ đề cập dưới góc độ ảnh hưởng của chính trị triều Minh tới triều Lê Sơ, ít nghiên cứu phân tích dưới góc độ so sánh, đối chiếu những điểm tương đồng và khác biệt
2.1 Những nghiên cứu ở Trung Quốc
Tuy có rất nhiều nghiên cứu về các khía cạnh, bình diện của lịch sử Trung – Việt nhưng nhìn chung, hầu hết các nghiên cứu đều chỉ khai thác dưới góc độ ảnh hưởng của các triều đại phong kiến Trung Quốc tới các triều đại phong kiến Việt Nam mà ít khai thác dưới góc độ so sánh, đối chiếu sự giống và khác nhau
Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu Minh sử giảng nghĩa
của tác giả Meng Sen (Nxb Shang hai Gu ji, 2002) Quyển sách lấy lịch sử triều Minh làm đối tượng nghiên cứu Đây vốn dĩ là giáo trình nội bộ cho các sinh viên Trường Đại học Bắc Kinh, nhưng do giải đáp được nhiều câu hỏi liên quan đến lịch sử triều Minh, có nhiều giá trị tham khảo nên từ lâu đã trở thành một trong những tư liệu tham khảo điển hình khi nghiên cứu về triều đại nhà Minh Điểm độc đáo của cuốn sách này
là tác giả đã kết hợp phương pháp nghiên cứu lịch sử cận đại, mở ra một cách thức tiếp cận vấn đề lịch sử mới cho các nghiên cứu sau này
Lin Jin Shu, (Nxb Đại học Sư phạm Quảng Tây, 2003) cũng là một tác phẩm nổi tiếng
về đề tài lịch sử chính trị triều Minh Lấy bối cảnh là quá trình phát triển kinh tế đương thời đang bước vào giai đoạn hội nhập với thế giới, tài liệu này có giá trị, góc độ tiếp cận mới, lập trường rõ ràng Quyển sách gồm 10 chương, chia thành các Tiết đã phản ánh đầy đủ, toàn diện nhiều nội dung quan trọng như: kết cấu giai cấp của triều Minh, hình thái quốc gia, cơ cấu chính phủ, chế độ quản lý quan liêu, chế độ pháp luật, cải cách chính trị, đấu tranh giữa các đảng phái, chính sách dân tộc, quan hệ bang giao (đối ngoại), tư tưởng chính trị Từ đó thông qua phân tích về các hoạt động chính trị triều
Trang 12Minh để thấy được tầm ảnh hưởng đối với nền kinh tế, văn hóa, nghiên cứu sâu rộng hơn quy luật phát triển của xã hội Trung Quốc cổ đại, đồng thời cũng mang đến những giá trị tham khảo quý báu cho xã hội hiện đại
Luận văn tiến sĩ Nghiên cứu về triều Minh và quan hệ với nước An Nam
Đại học Kí Nam, 2005 của Chen Wen Yuan lại khai thác đề tài dưới góc độ quan hệ bang giao giữa triều Minh với các triều đại Việt Nam cùng thời (đồng đại) Trong đó tác giả khẳng định triều Minh là giai đoạn quan trọng trong lịch
sử quan hệ bang giao Trung – Việt Nghiên cứu cho thấy toàn bộ tiến trình lịch sử quan
hệ triều Minh với nước Đại Việt đương thời, từ khởi đầu đến quy phạm hoá, chế độ hoá
Luận văn thạc sỹ Ảnh hưởng của quan chế triều Minh đối với các vương triều Lê
Ưu điểm của luận văn này là có bố cục rõ ràng, dễ hiểu, tác giả phân chia rõ quan chế của triều Minh và quan chế triều Lê Sơ để người đọc dễ hiểu được vấn đề Thêm vào
đó, luận văn cũng lý giải nguyên nhân của những ảnh hưởng mà triều Minh mang đến cho triều Lê Sơ của Việt Nam từ góc độ văn hoá khá hợp lý Hạn chế của nghiên cứu này là tác giả chưa có những so sánh, phân tích tổng hợp chi tiết hơn (ít các bảng biểu đối chiếu) , vì vậy người đọc chưa thấy rõ được toàn bộ hệ thống chính trị đương thời Bên cạnh các sách tham khảo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ còn có một số bài
nghiên cứu có tác dụng tham khảo với người viết, tiêu biểu như ―Nghiên cứu về ảnh hưởng của quan chế Trung Hoa tới Việt Nam – Lấy phạm vi nghiên cứu từ thế kỷ X
Trang 13nhưng đã khái quát được những nội dung cơ bản nhất về những ảnh hưởng của chế độ quan lại Trung Hoa thế kỷ X-XV đối với các triều đại Việt Nam đương thời Bắt đầu từ việc tham khảo mô hình quan chế của Trung Hoa trong thời Ngô, Đinh, Tiền Lê thế kỷ X-XI đến việc áp dụng rộng rãi hơn các mô hình quan chế ở thời Lý, Trần, Hồ thế kỷ XI-XV
Các bài viết ―Giao lưu văn hoá Trung - Việt thời Minh‖
của He Xiao Rong (đăng trên Lịch sử giáo học, kỳ 10/1998) giới thiệu khái quát về tiến
trình giao lưu văn hoá Trung – Việt dưới thời Minh, trong bối cảnh kinh tế - văn hoá –
chính trị - văn hoá của toàn khu vực Đông Á đương thời; hoặc các bài Khái quát một
Chen Yu Long (tạp chí Dọc ngang Đông Nam Á, kỳ 01, 1983); bài Bàn về nguồn gốc, đặc trưng và ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam
(Tạp chí Đại học Bắc Kinh, kỳ 01, 1995); bài Nghiên cứu của học giả Trung Quốc
Nam Á, kỳ 03/2006 cũng đều là những nghiên cứu có giá trị tham khảo nhất định với người viết trong quá trình thực hiện đề tài luận văn
2.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam và nước ngoài
Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam cũng có những vấn đề tương tự như ở Trung Quốc Có thể kết luận rằng các nghiên cứu liên quan theo tiếp cận so sánh, đối chiếu hoặc phân tích ảnh hưởng từ các nhà nước quân chủ chuyên chế Trung Quốc đến các nhà nước quân chủ Việt Nam, nhất là các nghiên cứu so sánh về một giai đoạn lịch sử
cụ thể (ví dụ như triều Lê Sơ và triều Minh), thì gần như không có Mặc dù vậy, cũng
Trang 14đã có khá nhiều công trình nghiên cứu, đề cập đến vấn đề này ở những mức độ khác nhau
Đầu tiên phải kể đến là cuốn “Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460-1497)‖ của tác gỉa Lê Kim Ngân (Bộ Quốc gia giáo dục, Saigon-
1963) Đây là một tài liệu tham khảo có giá trị, với cách thức nghiên cứu và tiếp cận vấn đề khá khoa học và hợp lý, giúp người viết học hỏi được cách thức suy nghĩ khi triển khai một đề tài luận văn Ví dụ như hai phương pháp nghiên cứu chính được tác giả áp dụng khi thực hiện đề tài đó là “Phương pháp suy-luận theo chứng cớ loại – suy”
và “Phương pháp suy – luận theo chứng cớ hồi-cứu” Nhiều nội dung trong cuốn sách
có giá trị tham khảo lớn như cách tổ chức chính quyền trung ương của các triều trước
Lê Thánh Tông (trang 2), giúp chúng ta hiểu được cách tổ chức nền hành chính trung ương, nền binh bị trung ương và cơ quan kiểm soát qua các triều đại từ thời nhà Ngô đến đầu triều Lê Sơ
Không chỉ dừng lại ở các công trình nghiên cứu như trên, nhiều bài viết khoa học,
tiểu luận, luận văn liên quan đến đề tài như ―Quan chế dưới triều vua Lê Thánh Tông
và giá trị kế thừa trong xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức Việt Nam hiện nay‖ của
Hoàng Thị Kim Quế (Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Luật học, Tập 29, Số 2, 2013);
―Thiết chế chính trị - pháp lý thời Lê Sơ‖ của Trương Vĩnh Khang (Tạp chí Khoa học
xã hội Việt Nam, 2013, số 7) Ưu điểm của những nghiên cứu này là đã giới thiệu được tới người đọc hệ thống tổ chức hành chính của thời Lê từ góc độ tiếp cận mới đó
là có liên hệ với cách thức tổ chức bộ máy hiện nay của chính phủ Việt Nam, do đó có tính gợi ý và tham khảo nhất định với những người nghiên cứu ở thời đại này Tuy nhiên do đây chỉ là những bài viết phát biểu trên Tạp chí, những bài nghiên cứu hội thảo… nên nội dung tương đối ngắn, chỉ mang tính liệt kê, giới thiệu sơ lược, chưa đi sâu vào từng khía cạnh cụ thể, ví dụ như chưa có sự so sánh, đối chiếu kèm theo dẫn chứng minh hoạ cho cơ cấu tổ chức chính quyền (như lập bảng, phân tích ưu, nhược
Trang 15điểm…), vì vậy những nghiên cứu sau này có thể dựa vào những luận điểm của các bài nghiên cứu này để mở rộng nghiên cứu của mình
Trong bài Tổ chức chính quyền của nhà Minh và ảnh hưởng của nó thời Lê – Mạc (Tạp chí Nghiên cứu Trung Quốc, số 2 (36), 2001), Đinh Khắc Thuận sau khi trình bày
hết những nét cơ bản của nhà Minh thì đã giới thiệu những đặc trưng cơ bản trong bộ máy chính quyền triều Lê-Mạc Theo đó, cũng như nhiều công trình nghiên cứu khác, sau khi khái quát về cơ cấu tổ chức chính quyền triều Minh, tác giả cũng đã khẳng định
“thiết chế chính trị của nhà Minh đã ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức chính quyền thời Lê – Mạc ở Việt Nam, đặc biệt là từ thời Lê Thánh Tông 1471 [40: 02]
Luận văn Thạc sĩ luật học Quan chế triều Lê Sơ – Những nội dung cơ bản và giá trị kế thừa trong sự nghiệp xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay của Vũ
Thị Hằng (Đại học quốc gia Hà Nội, 2014) cũng là một tài liệu tham khảo có giá trị Thông qua những phân tích, đánh giá, tổng hợp của mình, tác giả đã góp phần mô tả đầy đủ hơn chế độ quan lại triều Lê Sơ trên nhiều phương diện như khái niệm, nội dung cơ bản, vai trò, hệ thống chính sách, pháp luật v.v của các triều đại Hậu Lê trong đào tạo, tuyển dụng và sử dụng đội ngũ quan lại Luận văn còn nêu ra được các giải pháp tiếp thu, kế thừa các giá trị tiến bộ của chế độ quan lại triều Lê Sơ trong quá trình xây dựng xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam hiện nay
Một trong những tài liệu tham khảo đặc biệt hữu ích cho người viết luận văn đó là
cuốn Tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ Việt Nam từ năm 939 đến năm 1884 của tác
giả Nguyễn Minh Tường (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2015) Cuốn sách gồm gần
1000 trang, chia làm 10 chương, được trình bày từ khi Ngô Quyền thành lập vương triều Ngô (939) đến khi vương triều Nguyễn không còn duy trì được nền độc lập, tự chủ nữa (1884) Toàn bộ nội dung sách giới thiệu đầy đủ nhà nước quân chủ Việt Nam, hình thành, phát triển và kế tục của 12 triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê
sơ, Mạc, Lê – Trịnh, Chúa Nguyễn, Tây Sơn, Nguyễn ở Đại Việt cùng với vương quốc Champa của dân tộc Chăm Đóng góp quan trọng của công trình là tác giả đã phân tích,
Trang 16so sánh sự khác biệt và nêu lên đặc trưng của tổ chức bộ máy nhà nước quân chủ Việt Nam, qua từng triều đại Ngoài ra, tác giả còn làm rõ nguồn gốc, danh xưng của từng chức quan, hay từng cơ quan của nhà nước quân chủ Việt Nam khi tham khảo quan chế Trung Hoa Đặc biệt, từ đề tài của luận văn, rất nhiều nội dung trong cuốn sách này đã giúp người viết luận hiểu sâu và rộng về đề tài cũng như hiểu rõ về tổ chức Nhà nước quân chủ trong lịch sử Việt Nam nói riêng và trong cả hệ thống tổ chức Nhà nước quân chủ trong lịch sử phương Đông nói chung Ví dụ như chương 2, tác giả viết về Tổ chức chính quyền Trung ương (từ thời Ngô đến Lê sơ), chương 3, chương 4 viết về tổ chức chính quyền trung ương (từ thời Mạc đến thời Nguyễn), chương 5 viết về cách tổ chức quân đội với các mô hình qua các thời Đinh, Tiền Lê, Lý, Champa, Trần, Hồ, Lê sơ, Mạc, Lê – Trịnh ở Đàng Ngoài, Chúa Nguyễn ở Đàng Trong, Tây Sơn và Nguyễn v.v v Đặc biệt là các chương 8, 9 và 20, tác giả phân tích kỹ về các vấn đề ban hành luật pháp và thực thi pháp luật; cách tuyển bổ quan lại và lệ phong tước, chỉ ra nhiệm
vụ và quyền lợi của quan lại trong tổ chức chính quyền quân chủ, cuối cùng tác giả phân tích, giới thiệu về vấn đề khảo khóa, thưởng phạt và chế độ hưu trí của quan lại
Có thể nói cuốn sách của Nguyễn Minh Tường là một công trình khoa học công phu, nghiêm túc, có những đóng góp khoa học tích cực vào sự nghiệp nghiên cứu lịch sử Nhà nước quân chủ Việt Nam Đặc biệt là với một nghiên cứu sinh người Trung Quốc như tác giả luận văn, cuốn sách đã mang đến cho người viết những kiến thức bổ ích và quý báu trong quá trình thực hiện đề tài
Cuốn Mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam thế kỷ X – XIX là một chuyên khảo
của tác giả Phạm Đức Anh (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) Cuốn sách hơn 300 trang chia làm bốn chương đã khái quát đầy đủ về mô hình tổ chức nhà nước ở Việt Nam trong suốt gần 9 thế kỷ Từ thiết chế nhà nước thời Lý – Trần (thế kỷ XI – XIV) , thiết chế nhà nước Lê Sơ (thế kỷ XV), các thiết chế nhà nước trong giai đoạn thế kỷ XVI – XVIII đến thiết chế nhà nước thời Nguyễn (thế kỷ XIX) Tài liệu này đã hỗ trợ rất lớn cho tác giả trong quá trình thực hiện luận văn
Trang 17Không chỉ ở Việt Nam, vấn đề nghiên cứu của luận văn từ lâu cũng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả quốc tế Xin nêu một số tác giả và công trình tiêu biểu như sau:
Năm 1968, bản luận án tiến sĩ The Development of Le Government in Fifteenth Centery Vietnam (Sự phát triển của chính quyền Lê thế kỷ XV ở Việt Nam) được John
K Whitmore bảo vệ tại Đại học Cornell Công trình có nhiều đóng góp và phát hiện mới mẻ về lịch sử chính trị Việt Nam trong giai đoạn những năm 30 đến thập niên 70 của thế kỷ XV Nội dung xuyên suốt của công trình xoay quanh cuộc chiến giành quyền lực, tác động to lớn đến ngai vàng nhà Lê cũng như toàn bộ nền chính trị - xã hội Đại Việt, giữa hai nhóm (phe phái) - như tác giả đặt tên - nhóm “quyền thần” gốc Thanh - Nghệ và nhóm “Nho sĩ” vùng đồng bằng Bắc Bộ
Insun Yu là một nhà Việt Nam học nổi tiếng người Hàn Quốc Ông có nhiều công
trình nghiên cứu về Việt Nam, trong đó nổi tiếng với ba cuốn sách: Lịch sử Việt Nam (tiếng Hàn Quốc, 1984), Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII, Việt Nam và nước láng giềng Trung Quốc: Mối quan hệ trong quá khứ và hiện tại Cuốn Luật và xã hội Việt Nam thế kỷ XVII - XVIII được dịch từ nguyên bản tiếng Anh (Law and Society
in Seventeenth and Eighteenth Century Vietnam, Seoul 1990) và xuất bản ở Việt Nam
năm 1994 Trong công trình này, Insun Yu đã chỉ rõ và chứng minh một cách thuyết phục những ảnh hưởng của luật pháp Trung Hoa (từ đời Đường đến Minh) đến bộ luật nhà Lê, sự kế thừa luật pháp thời Lý - Trần, đặc biệt là những điều luật riêng có trong Quốc triều hình luật Bên cạnh đó, tác giả cũng tập trung phân tích ảnh hưởng và tác động của luật pháp lên cấu trúc gia đình và phong tục Việt Nam, quan hệ giữa làng xã với nhà nước Năm 2012, ông xuất bản tại Hàn Quốc cuốn sách Việt Nam và nước láng giềng Trung Quốc: Mối quan hệ trong quá khứ và hiện tại (tiếng Hàn) Nội dung xuyên suốt của cuốn sách, tác giả chủ yếu trình bày lịch sử mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, từ thời Bắc thuộc đến thời hiện đại Trong đó, dù không tập trung, các
Trang 18vấn đề về thiết chế chính trị, mô hình tổ chức nhà nước, luật Pháp Việt Nam và những ảnh hưởng của nó từ Trung Hoa cũng được đề cập ở những mức độ nhất định
Sự phục hưng của nước Đại Việt thế kỷ X-XV một là công trình của tác giả người
Nga, A.B Pôliacốp Bản dịch tiếng Việt của cuốn sách được xuất bản năm 1996 Tuy
đề cập tới nhiều vấn đề, nhưng nội dung chủ yếu của cuốn sách xoay quanh lịch sử chính trị của hai triều Lý - Trần, theo ông, đây là “giai đoạn mấu chốt của sự khôi phục
và phát triển quốc gia phong kiến Việt Nam độc lập”
Cuốn Quá trình hình thành và biến đổi của nhà nước Đại Việt thời trung thế
xuất bản tại Đại học Osaka năm 2011 Nội dung chủ yếu của cuốn sách, tác giả phân tích những thay đổi về thiết chế nhà nước và xã hội Đại Việt thời Lý - Trần (thế kỷ XI - XIV), theo tác giả, là giai đoạn chuyển tiếp từ mô hình “nhà nước kiểu Đông Nam Á”
ở thế kỷ X sang mô hình “nhà nước tiểu Trung Hoa” vào thế kỷ XV Tác giả tán thành quan điểm của Shiraishi Masaya cho rằng Việt Nam thế kỷ X là mô hình nhà nước phân tán quyền lực kiểu Đông Nam Á, chủ yếu do các thủ lĩnh địa phương nắm giữ Nhưng đến thế kỷ XV, nhà nước bắt đầu được thiết lập theo mô hình tập quyền của Trung Hoa Thông qua phân tích các hành động quân sự và hệ thống tổ chức hành chính, tác giả cho rằng từ thế kỷ XII, nhà Lý đã khẳng định được quyền quản lý đối với các địa phương Đến thời Trần, hệ thống quản lý địa phương được củng cố vững chắc, một phần nhờ việc cư trú của tôn thất nhà Trần ở những địa bàn trọng yếu (chế độ Thái ấp)
Cuối cùng, chúng tôi xin nhắc tới cuốn A History of the Vietnamese của K.W
Taylor, xuất bản tại Đại học Cambridge, năm 2013 Đây có thể coi như tập đại thành những kết quả nghiên cứu Việt Nam trong suốt hơn 40 năm của học giả người Mỹ Nội dung cuốn sách (dày 696 trang) trình bày toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam - hay
“lịch sử người Việt”, như tác giả đặt tên - từ đầu thời Bắc thuộc cho đến đương đại Rất
Trang 19nhiều chủ đề đã được tác giả đề cập trong công trình này, từ ngôn ngữ, văn học, tôn giáo, cho đến những cuộc xung đột chính trị - quân sự bên trong và bên ngoài lãnh thổ, quan hệ Việt Nam - Trung Hoa, những khuôn mẫu chính quyền Việt Nam đã “vay mượn” trong suốt tiến trình lịch sử Tác giả đưa ra nhiều quan điểm mới về các vấn đề của lịch sử Việt Nam, nhưng cũng vì thế đang gây ra những ý kiến tranh luận, nhất là của các nhà nghiên cứu trong nước
Nhìn chung, những nghiên cứu liên quan đến triều Minh cũng như quan hệ giữa triều Minh với triều Lê Sơ (Việt Nam) ở Trung Quốc và cả ở Việt Nam đã có một số lượng nhất định, nhiều công trình trong đó có giá trị tham khảo và giá trị thực tiễn lớn,
có thể coi là đặt nền móng cho những nghiên cứu sau này Nếu không có hệ thống các công trình nghiên cứu rất công phu này của các học giả Trung Quốc nói riêng cũng như của các học giả trên toàn thế giới nói chung thì chắc chắn rằng những người nghiên cứu sau này sẽ không thể có đủ tư liệu tham khảo, cũng như sẽ không thể hiểu được cái nhìn tổng quan nhất cả về mặt đồng đại lẫn lịch đại của triều Minh và triều Lê Sơ Tuy nhiên, về tổng thể thì những nghiên cứu chuyên sâu liên quan đến mối quan
hệ giữa triều Minh với triều Lê Sơ, về ảnh hưởng của triều Minh tới triều Lê Sơ cũng như nguyên nhân của những ảnh hưởng đó…, thì chưa có nhiều Theo tổng hợp của chúng tôi thì đại đa số các nghiên cứu đều chỉ dừng lại ở việc mô tả, đối chiếu đơn giản
sự giống và khác nhau trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền của triều Minh với triều Lê Sơ, tuy nhiên đi sâu vào đối chiếu, so sánh từng khía cạnh cụ thể (ví dụ chi tiết tới từng bộ, khoa, từ trung ương tới địa phương… thì chưa có nhiều, các số liệu thống
kê còn nhiều điểm có thể khai thác mặc dù đây là công việc vô cùng khó khăn do những hạn chế về điều kiện nghiên cứu)… Tuy nhiên tất cả những hạn chế này cho thấy tiềm năng nghiên cứu mở rộng của đề tài là rất lớn
3 Mục tiêu nghiên cứu
Thông qua các nội dung nghiên cứu, Luận văn này hướng tới giải quyết những vấn
đề khoa học sau đây:
Trang 20- Phân tích được một cách hệ thống bối cảnh lịch sử, quá trình hình thành và phát triển thể chế chính trị của triều Lê Sơ ở Đại Việt và của triều Minh ở Trung Quốc; mô hình tổ chức bộ máy chính quyền và chế độ quan lại của hai vương triều
- Nghiên cứu so sánh, chỉ ra được những điểm tương đồng và khác biệt chủ yếu trong cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền và quan chế của triều Minh (Trung Quốc) và triều Lê Sơ (Việt Nam)
- Lý giải được những nguyên nhân cơ bản khiến cho các triều đại này đã đưa hai quốc gia đương thời đạt được những thành tựu phát triển rực rỡ trên nhiều phương diện; cũng như mối quan hệ, sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai vương triều trong cùng một bối cảnh lịch sử (đồng đại)
- Chỉ rõ được nguyên nhân vì sao các triều đại phong kiến Trung Quốc nói chung
và triều Minh nói riêng lại có ảnh hưởng lớn đến cách thức xây dựng, tổ chức bộ máy chính quyền của các triều đại Đại Việt, nhất là vương triều Lê Sơ
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu của luận văn tập trung vào hai đối tượng chính là “tổ chức bộ máy chính quyền” và “chế độ quan lại” (quan chế) của triều Lê Sơ, đồng thời, thông qua nghiên cứu so sánh để chỉ rõ những ảnh hưởng của triều Minh tới cách thức tổ chức chính quyền (từ trung ương đến địa phương) và chế độ quan lại của triều Lê Sơ
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn giới hạn phạm vi thời gian nghiên cứu tương ứng với thời kỳ tồn tại của triều Lê Sơ, từ năm 1428 đến 1527 Với các triều đại quân chủ khác ở Việt Nam, tác giả luận văn chỉ đề cập ở mức độ nhất định để người đọc có thể nắm được tổng quan vấn đề nghiên cứu và hình dung theo diễn trình lịch sử Luận văn lấy triều Lê Sơ (Việt Nam) là chủ thể, đặt trong tương quan so sánh với triều Minh ở Trung Quốc (đối tượng được so sánh), đặc biệt là thời kỳ trị vì của Minh Thái Tổ (1368-1398) Tổ chức chính
Trang 21quyền và chế độ quan lại được dụng khi so sánh trong luận văn này chủ yếu là quan
chế thời Hồng Đức (1470-1497) và thời kỳ Hồng Vũ chi trị (1368-1398)
5 Nguồn tư liệu nghiên cứu
Trong khả năng và giới hạn của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi đã khai thác khá triệt để các nguồn tư liệu liên quan, của cả Việt Nam và Trung Quốc để có thể hoàn thành được luận văn Tư liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm một số tư liệu chính như: chính sử, văn bản pháp luật, điển chế, hội điển… Cụ thể như sau:
5.1 Tư liệu Trung Quốc
từ năm 1393 đến năm 1587 bởi các tác giả Li Dong Yang, Xu Pu và Shen Ming Hang
Đại Minh hội điển ghi chép về những điển pháp của Trung Hoa dưới triều Minh Sử
liệu này đã có ảnh hưởng lớn đến việc đặt định điển pháp tại các quốc gia thuộc vùng văn hoá chữ Hán đương thời, trong đó có Việt Nam đồng văn với Trung Hoa
cùng trong Nhị thập tứ sử viết về triều Minh Trung Quốc Minh Sử ghi chép bắt đầu từ
Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương kiến lập nhà Minh (Hồng Vũ, năm 1368) đến
Minh Tư Tông Sùng Trinh (1644) Minh sử tổng cộng có 332 quyển, bao gồm Bản kỷ
24 quyển, Chí 75 quyển, Liệt truyện 220 quyển, Biểu 13 quyển và cộng thêm 4 quyển Mục lục Với sự đồ sộ về số lượng cũng như tính hệ thống và hoàn chỉnh về mặt nội
dung, Minh sử là tư liệu nghiên cứu không thể bỏ qua cho bất cứ nghiên cứu nào liên quan đến lịch sử triều Minh Đặc biệt, cùng với Minh thực lục, Minh sử là một trong
những sử liệu hiếm hoi có nhiều ghi chép liên quan đến đất nước Đại Việt đương thời, trong đó bao gồm triều Lê sơ
chân thực về những đời hoàng đế kế tiếp nhau của nhà Minh ở Trung Hoa (1368-1644)
Trang 22Các nhà sử học đã đánh giá rằng Minh thực lục đã góp phần tạo nên biên niên sử của nhà Minh Với khối lượng đồ sộ gồm 3070 quyển, cho tới nay Minh thực lục là nguồn
sử liệu lớn nhất và độc nhất đối với triều Minh, giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc tái dựng lịch sử của xã hội và chính trị nhà Minh
5.2 Tư liệu Việt Nam
Đại Việt thông sử của Lê Quý Đôn (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1978) là bộ
sử lớn ghi chép khá đầy đủ về 10 đời vua đầu của nhà Lê Song hiện nay chỉ còn lại phần viết về vua Lê Thái Tổ Đây cũng được coi là một sử liệu có giá trị và đáng tin cậy trong việc khảo cứu, khôi phục lại nội dung các văn bản pháp luật về tổ chức nhà
nước thời Lê sơ Nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét “Bộ sách của ông rất đầy đủ,
rõ ràng có thể là một bộ sử hoàn toàn của một triều đại‖ [18:40]
Bộ Đại Việt sử ký toàn thư (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1993) : Đây là bộ sử
biên niên và chính thống ghi chép từ thời Hồng Bàng đến năm 1675, được coi là sử liệu kinh điển cho bất cứ ai nghiên cứu về lịch sử của Việt Nam, cũng là bộ quốc sử đầu tiên hiện vẫn còn được lưu giữ và truyền tải đến tận ngày nay Tác phẩm được Ngô
Sĩ Liên và các sử gia tiếp nối sau đó biên soạn và hoàn thiện suốt thời Hậu Lê Nội
dung của Đại Việt sử ký toàn thư đề cập đến mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, quân sự,
thiên văn, ngoại giao,… Chẳng hạn về mặt chính trị, bộ sử đã cung cấp nhiều nội dung
quý báu về bộ máy tổ chức chính quyền, cách thức cai trị của các vị vua triều Lê Đại Việt sử ký toàn thư gồm 33 quyển, chia thành 3 loại sách là sách Đại Việt sử ký ngoại
kỷ toàn thư (5 quyển) nói về các thời kỳ từ nhà Ngô trở về trước, sách Đại Việt sử ký bản kỷ toàn thư (9 quyển) nói về các thời kỳ từ nhà Đinh đến thời thuộc Minh và sách Bản kỷ thực lục (19 quyển) nói về thời Hậu Lê đến năm 1765
Cuốn Lê triều quan chế do Phạm Văn Liệu dịch và chú giải (Viện Sử học và nhà
xuất bản văn hoá- thông tin, Hà Nội , 1997) là một sử liệu có giá trị Cuốn sách là những quy định về hệ thống chức tước, phẩm cấp cho từng loại quan chức văn, chức
võ, từ trong Hoàng tộc đến thần dân, từ kinh đô cho đến các xứ, trung ương đến địa
Trang 23phương; các điều lệ về việc phong ấn cho Hoàng thân quốc thích và nhiều mặt khác của bộ máy nhà nước quân chủ phong kiến thời Lê của Vua Lê Thánh Tông Đây là một tài liệu tham khảo có giá trị đối với tất cả những người nghiên cứu về chế độ phong kiến Việt Nam, nhất là nghiên cứu về thời Lê
Cuốn Một số văn bản điển chế và pháp luật Việt Nam từ thế kỷ XV đến XVIII, Tập I và Tập II, (Nxb.Khoa học xã hội, 2006) của nhóm tác giả Nguyễn Ngọc Nhuận
(chủ biên), Lê Tuấn Anh, Trần Thị Kim Anh Hai tập sách đã giới thiệu khá hoàn chỉnh
và đầy đủ về hệ thống văn bản pháp luật từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII Trong đó, tác giả luận văn đã tiếp thu được nhiều kiến thức về cách thức tổ chức bộ máy của thời Lê nói chung, và thời Lê Sơ nói riêng từ hai cuốn sách này Ví dụ như trong tập II, văn
bản ―Lê triều hội điển‖ do Trần Thị Kim Anh dịch (từ trang 11-218) ghi chép về các
chế độ, luật lệnh của sáu thuộc triều Lê, theo thứ tự từ Hộ thuộc, Lại thuộc, Binh thuộc,
Hình thuộc, Công thuộc, Lễ thuộc Hoặc văn bản ―Lê triều Quan chế‖ (từ trang 377
đến 472) do Phạm Văn Liệu dịch và chú giải mà người viết đã giới thiệu ở trên Qua hai cuốn sách này, nhóm tác giả đã chứng minh được rằng, các văn bản pháp luật thời phong kiến ra đời như một nhu cầu tất yếu đối với một xã hội xuất hiện tư hữu, có giai cấp của nhà nước phong kiến, có nhiệm vụ điều chỉnh quan hệ giữa các tầng lớp, giai cấp, các cá nhân trong cộng đồng xã hội
Bộ Việt sử lược (Trần Quốc Vượng phiên dịch và chú giải, Nxb.Hồng Đức,
2019) tuy là bộ sách nhỏ nhưng lại có nhiều chi tiết quý báu, giúp ích cho việc nghiên cứu lịch sử Việt Nam, nhất là lịch sử buổi đầu thời kỳ tự chủ Đồng thời, đây cũnglà bộ sách lịch sử vào loại cổ xưa nhất do người Việt Nam viết còn lưu truyền đến ngày nay
của tác giả khuyết danh đời Trần (thế kỷ XIV) Việt sử lược chia làm ba quyển: Quyển
I chép những sự thay đổi trong nước buổi đầu, các vua từ Triệu Đà trở xuống; quyển II
và III chép về truyện nhà Lý
Trang 246 Tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài luận văn được tiếp cận chủ yếu từ góc độ của khoa học lịch sử và khoa học pháp lý, nhằm làm sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa nhà nước, pháp luật với bối cảnh và các tác động của lịch Vì vậy, luận văn trước hết sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành pháp lý – lịch sử Những vấn đề liên quan đến cách thức tổ chức bộ máy chính quyền của triều Minh và triều Lê Sơ đặt trong mối liên hệ với điều kiện lịch sử
Những kết quả thu được sau khi tổng hợp và so sánh của luận văn sẽ giúp cho người đọc có cơ sở và hiểu biết tổng quan nhất về cách thức tổ chức chính quyền của triều Minh và triều Lê Sơ nói riêng cũng như của các triều đại phong kiến Trung Quốc
và Việt Nam khác nói chung
7 Cấu trúc nội dung
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn bao gồm ba chương:
Chương 1: Triều Lê Sơ với việc tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa
Trang 25Chương 2: So sánh tổ chức bộ máy chính quyền triều Lê Sơ và triều Minh
Chương 3: So sánh quan chế giữa triều Lê Sơ với triều Minh
CHƯƠNG 1: TRIỀU LÊ SƠ VỚI VIỆC TIẾP NHẬN MÔ HÌNH
CHÍNH TRỊ TRUNG HOA 1.1 Triều Lê Sơ trong bối cảnh chính trị thế kỷ XV
1.1.1 Sự thành lập vương triều Lê Sơ và những đặc điểm chủ yếu
Trước khi vương triều Lê Sơ (1428-1527) được thành lập, lãnh thổ nước Việt khi
ấy lệ thuộc vào Trung Hoa, do triều Minh cai trị, được gọi là thời kỳ thuộc Minh (1407-1427) Cơ cấu tổ chức hành chính ở nước Việt được áp dụng theo mô hình chính quyền Trung Hoa đương thời Dưới ách đô hộ của nhà Minh, trên khắp cõi đất Việt nổ
ra nhiều cuộc khởi nghĩa Trong đó, lớn nhất là cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo Sau hơn 10 năm chiến đấu (1418-1427), cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi, thiết lập nên vương triều Lê Sơ Lê Lợi lên ngôi vua (Lê Thái Tổ), đặt quốc hiệu là Đại Việt, mở ra kỷ nguyên phát triển mới Triều Lê Sơ tồn tại 100 năm (1428-1527), trải qua 11 đời vua [14: 21-22], có thể chia thành 3 giai đoạn sau:
Trang 26Giai đoạn thứ nhất (1428 – 1459) gắn với 4 triều vua đầu triều, gồm: Lê Thái Tổ
(1428 – 1433), Lê Thái Tông (1434 – 1442), Lê Nhân Tông (1453 – 1459), Lê Nghi Dân (1459) Trong đó, đặc biệt đáng chú ý là sự kiện Lê Thái Tổ (tức Lê Lợi) ngay sau
khi lên ngôi đã cho “bàn định luật lệnh” Ông đã hạ lệnh ―cho các quan Tư không, Tư
đồ, Tư mã, Thiếu úy, Hành khiển bàn định pháp lệnh cai trị quân dân để người làm tướng biết phép trị quân, quan các lộ biết phép trị dân… Mọi công việc đều có cơ quan phụ trách riêng‖ Biết như vậy nhưng chính vua cũng còn băn khăn khi đặt ra trước triều đình: ―Hiện nay công việc của triều đình rất bề bộn, việc gì nên làm trước, việc gì nên làm sau? các tướng trong triều ai có thể cáng đáng được việc lớn? có thể trao cho
sứ mệnh ngoài ngàn dặm, ai có thể dạy dỗ thái tử?…‖ Nhờ cố gắng đó, hai năm sau
(1430) Lê Thái Tổ đã cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình [34:07]
Giai đoạn thứ hai (1460-1504) tương ứng với 2 triều vua: Lê Thánh Tông (1460 –
1497) và Lê Hiến Tông (1498 – 1504) Giai đoạn này chiếm hơn 1/3 thời gian tồn tại của vương triều Lê sơ (44/100 năm) Trong đó, thời kỳ trị vì của Lê Thánh Tông được coi là thịnh đạt nhất không chỉ của vương triều Lê sơ, mà còn có vị trí nổi bật về xây dựng đất nước và phục hưng dân tộc trong lịch sử các vương triều quân chủ ở Việt Nam Rất nhiều nhà sử học trước đây cũng như hiện nay đều ghi nhận và đánh giá rất cao các vị trí quan trọng của triều đại Lê Thánh Tông trong lịch sử Việt Nam Ví dụ như khi bình luận về công nghiệp của vua Lê Thánh Tông, sử gia Trần Trọng Kim đã
viết: ―Ngài trị vì được 38 năm, sửa sang được nhiều việc chính trị, mở mang sự học hành, chỉnh đốn các việc vũ bị, đánh dẹp nước Chiêm, nước Lào, mở thêm bờ cõi, khiến cho nước Nam ta bấy giờ được văn minh thêm ra và lại lừng lẫy một phương, kể
từ xưa tới nay chưa bao giờ được cường thịnh như vậy.‖ [20: 22]
Giai đoạn thứ ba (1504 – 1527) là thời kỳ suy yếu và sụp đổ của vương triều Lê sơ,
gắn với 5 đời vua cuối cùng, từ Lê Uy Mục đến Lê Thiếu đế
Trong suốt 100 năm, vương triều Lê Sơ đã tạo ra những thành tựu nổi bật, trên nhiều phương diện cho quốc gia Đại Việt Quyền lực của hoàng đế không ngừng được
Trang 27củng cố, tăng cường Từ chỗ Nhà nước chỉ có thể quản lý các cấp chính quyền địa phương, nhất là các làng xã thông qua các cấp trung gian, triều đình Lê Sơ đã trực tiếp can thiệp vào những công việc nội bộ của làng xã thông qua luật pháp (phép vua) và đội ngũ xã quan nằm trong hệ thống quan liêu của nhà nước Quyền chủ tể của hoàng
đế được khẳng định chính thức bởi pháp luật Trong nghiên cứu của mình, tác giả Vũ Minh Giang đã khái quát những đặc trưng cơ bản của mô hình nhà nước Lê Sơ đương
thời (ông gọi là mô hình tập quyền quan liêu) như dưới đây [11: 51-60]:
Một là, chính quyền trung ương quản lý đất nước thông qua các bộ và cơ quan chức
năng Các bộ có quyền hạn lớn nhưng có giám sát và điều tiết bởi các cơ quan chức năng
Hai là, đội ngũ quan chức và liêu thuộc (những chuyên viên giúp việc) được đào
tạo theo hướng chuyên nghiệp Các quan lại được trả bổng lộc cao để trung thành và liêm khiết
Ba là, Nhà nước đề cao vai trò của luật pháp
Bốn là, thiết lập bộ máy quản lý hành chính đến tận cấp xã, hạn chế thiết chế tự
quản làng xã
Năm là, do quản lý được ruộng đất nên nhà nước có quyền lực kinh tế lớn
Nắm được những đặc điểm cơ bản trên đây về mô hình nhà nước Lê Sơ, sẽ là tiền
đề quan trọng để chúng tôi đi sâu nghiên cứu so sánh, chỉ ra các điểm tương đồng và khác biệt trong mô hình tổ chức chính quyền của Đại Việt đương thời và Trung Hoa dưới thời Minh ở chương 2 và chương 3 của luận văn
1.1.2 Bối cảnh chính trị của các nước trong khu vực Đông Á cuối thế kỷ XIV- đầu thế kỷ XV
Trong thế kỷ XIII, các nước Đông Á đều chịu sức ép từ các cuộc chiến tranh với người Mông Cổ Sự sụp đổ của đế quốc Nguyên Mông (1271–1368) vào tay nhà Hán ở Trung Quốc trong nửa cuối thế kỷ XIV là một biến động lớn và vô cùng quan trọng trong lịch sử Trung Quốc nói riêng và lịch sử Đông Á nói chung Nhà Minh sau khi lên
Trang 28thống trị ngày càng lớn mạnh, kéo theo đó là sự suy yếu và dần dần biến mất ảnh hưởng mọi mặt của người Mông Cổ trong khu vực Điều này đã trở thành một nền tảng quan trọng để các quốc gia trong khu vực Đông Á đương thời khôi phục nền tự chủ hoặc nâng cao sự tự chủ của mình trong các quan hệ kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội sâu rộng với các quốc gia trong và ngoài khu vực
Trong lịch sử, khu vực Đông Á có một truyền thống văn hoá-lịch sử lâu đời và một trật tự khu vực khá hoàn chỉnh Trước khi có sự trao đổi và giao lưu văn hóa với các khu vực khác trên thế giới thì bản thân các quốc gia trong khu vực Đông Á đã có sự qua lại về kinh tế với nhau Sự tiến bộ của khoa học và sự mở rộng khu vực đã thúc đẩy vòng kinh tế này không ngừng phát triển, kết nối hiệu quả với vòng thương mại Ấn
Độ Dương, khiến cho Đông Á với Ấn Độ, Đông Á với các quốc gia Hồi giáo và châu
Âu ngày càng gắn kết chặt chẽ Sau cuộc chiến tranh giữa nhà Nguyên và nhà Minh với thắng lợi vang dội của nhà Minh trong các nước Đông Á lúc đó đã hình thành những khu vực văn minh mới và những mô hình nhà nước bắt đầu theo chiều hướng riêng, mang các đặc trưng dân tộc riêng Đặc biệt, thời gian cuối thế kỷ XIV – đầu thế
kỷ XV là giai đoạn giao lưu thương mại và văn hóa ở Đông Á phát triển rực rỡ Bản thân triều Minh đã thiết lập được chế độ triều cống và thể chế kinh tế độc đáo, mang tính điển hình Sự buôn bán giữa lục địa và hải đảo kích thích sự hình thành của các mạng lưới buôn bán giữa các trung tâm chính trị - kinh tế với các vùng và các cảng thị [49 :01]
Trong bối cảnh kinh tế - văn hoá đó của Đông Á, tất yếu dẫn đến những biến động chính trị lớn ở các nước thuộc khu vực này Trong đó nổi bật lên là sự thiết lập các mô hình tổ chức nhà nước mới, các thiết chế chính trị kiểu mới trong khu vực Triều Minh (Trung Quốc) hay Đại Việt cũng đều không phải là ngoại lệ Có thể khái quát một đặc điểm chung rằng, sự thịnh suy của các thể chế, quốc gia và vương triều, các mối quan
hệ nhộn nhịp và kinh tế và văn hóa chính là bối cảnh chung của Đông Á cuối thế kỷ XIV-đầu thế kỷ XV Trong đó, các mối quan hệ kinh tế, văn hóa, chính trị của triều
Trang 29Minh với các nước Đông Á nói chung và với Đại Việt nói riêng, là một bộ phận không thể tách rời của nó
Các mối quan hệ đó vừa chịu ảnh hưởng của bối cảnh chung ấy, đồng thời cũng để lại những dấu ấn trong lịch sử Đông Á trong thời gian này Hiểu được cái nhìn tổng quan về bối cảnh lịch sử của Đông Á giai đoạn cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV sẽ giúp chúng ta lý giải được vì sao triều Minh trong suốt hơn 300 năm trị vì lại có thể tạo
ra sự ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều quốc gia trong khu vực, như Nhật Bản, Cao Ly…,
và đặc biệt là Đại Việt như vậy
1.2 Khái lược về thiết chế chính trị triều Minh
1.2.1 Quá trình ra đời và tồn tại của triều Minh
Vào giữa thế kỷ XIV, ở Trung Quốc xảy ra nhiều biến động, với nạn đói, bệnh dịch
và các cuộc khởi nghĩa nông dân diễn ra khắp nơi Một số nhóm người Hán nổi dậy, cuối cùng nhóm do Chu Nguyên Chương lãnh đạo có lực lượng đông đảo và mạnh nhất đã giành thắng lợi, đánh bại nhà Nguyên Tháng 1 năm 1368, Chu Nguyên Chương xưng đế tại Nam Kinh (tức Minh Thái Tổ), lấy niên hiệu Hồng Vũ, triều Minh được kiến lập Sau đó, quân Minh tiến hành Bắc phạt và Tây chinh, trong cùng năm công chiếm Đại Đô (nay là Bắc Kinh), triều Nguyên triệt thoát khỏi Trung Nguyên, rút
về phía Bắc (sử gọi là Bắc Nguyên) Năm 1387, nhà Minh thu phục Liêu Đông, đánh bại Ngạch Cáp Xuất Cuối cùng, đến năm 1388, nhà Minh xâm nhập Mạc Bắc (phía Bắc sa mạc Gobi) tấn công và đánh bại Bắc Nguyên Trung Quốc đến đây ổn định Đầu thời kiến quốc, Minh Thái Tổ (Chu Nguyên Chương) định đô tại phủ Ứng Thiên (nay là Nam Kinh), đến năm Vĩnh Lạc thứ 19 (1421), Minh Thành Tổ (Chu Đệ) mới dời đô đến phủ Thuận Thiên (nay là Bắc Kinh) [62:9-16 ]
Minh Thái Tổ được xem như là một trong các hoàng đế vĩ đại nhất trong lịch sử các vương triều phong kiến Trung Hoa Ông đã có rất nhiều công trạng to lớn với đất
Trang 30Vũ chi trị thì Vĩnh Lạc thịnh thế thời Thành Tổ và Nhân Tuyên chi trị thời Nhân Tông
và Minh Tông cũng là các thời kỳ hưng thịnh của triều Minh
Tuy nhiên, đến thời kỳ Anh Tông và Cảnh Thái Đế, trải qua Sự biến Thổ Mộc(
Dương Đình Hòa, Mao Trừng, trở thành một trường đấu tranh chính trị trong triều đình nhà Minh lúc đó Kết quả, Minh Thế Tông dựa vào hoàng quyền hùng mạnh, giành được thắng lợi cuối cùng, những người phản đối đều bị trừng phạt Năm 1566, Minh Thế Tông từ trần, Hoàng thái tử Chu Tái Hậu tức vị, tức Minh Mục Tông, lấy niên hiệu
là Long Khánh Từ đây, triều Minh bắt đầu bước vào giai đoạn trung hưng, trải qua hai
lực triều Minh được khôi phục Tuy nhiên, đến giữa thời Minh Thần Tông (1563 –1620,
hoàng đế dần lơ đãng triều chính, sử gọi giai đoạn này là Vạn Lịch đãi chính
, bắt đầu chính trị hỗn loạn thời vãn Minh Từ trung kỳ về sau, ở Trung Quốc xảy
ra nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân Năm 1644, Lý Tự Thành cùng những nông dân khác khởi nghĩa, đánh hạ Bắc Kinh, triều Minh sụp đổ [76:363-404]
1 Là cuộc chiến xảy ra vào 1 tháng 9 năm 1449 tại biên giới Đại Minh, giữa quân đội nhà Minh và Mông Cổ Trong trận chiến này, lực lượng nhà Minh vốn đông đảo hơn đã thất bại hoàn toàn Với việc toàn quân bại trận, hoàng đế bị bắt sống Sự biến Thổ Mộc bảo được coi là thất bại quân sự lớn nhất trong lịch sử nhà Minh và là bước ngoặt đánh dấu sự thay đổi cán cân quyền lực ở biên giới phía Bắc Trung Quốc giữa nhà Minh và các bộ tộc gốc Mông Cổ
2 Đại lễ nghị ( ) là một loạt những cuộc tranh luận về vấn đề phong hiệu dành cho thân sinh của Minh Thế Tông Gia Tĩnh Đế trong đại lễ tôn xưng Hoàng khảo theo Tông pháp Hoàng tộc có nghĩa
là cha của Hoàng đế đã qua đời
Trang 311.2.2 Những đặc điểm chủ yếu của thiết chế chính trị triều Minh
Ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, Minh Thái Tổ đã tận dụng những lợi thế chính trị-kinh tế-văn hoá-xã hội sẵn có trong bối cảnh chính trị chung của khu vực Đông Á
để xây dựng một mô hình nhà nước mới – một thiết chế chính trị mới
Về chính trị, Năm Hồng Vũ thứ 13 (1380), Minh Thái Tổ lấy việc Thừa tướng Hồ Duy Dung mưu phản nên phế bỏ chức vụ Thừa tướng Các hoàng đế nhà Minh sau này cũng không đặt lại chức vụ đó Từ thời Tần, Hán trở đi, Trung Quốc đã hơn 1.600 năm
áp dụng chế độ Tể tướng, đến đây bị phế bỏ Từ đó, Lục bộ (Lại, Hộ, Lễ, Binh, Hình, Công) trực tiếp do hoàng đế phụ trách, quyền của Thừa tướng và quyền về quân sự hợp làm một, hoàng đế triều Minh một mình nắm đại quyền Thể chế chính trị của triều Minh cũng là chính thể chuyên chế hiếm thấy trong lịch sử thế giới, thi hành thể chế quốc gia mang tính chất “tam quyền phân lập”: quân quyền, quyền hành chính, quyền giám sát.[56: 11]
Về tổng thể, triều Minh mô phỏng và kế thừa cách phân chia hành chính của triều Nguyên Khu hành chính địa phương cấp một, nhà Minh đặt ba cơ quan: Bố chính ty (quản lý hành chính địa phương), Án sát ty, và Đô ty (quản lý quân sự địa phương), phân biệt quản lý hành chính, tư pháp và quân sự Cách tổ chức chính quyền địa phương như vậy là do nhà Minh rút kinh nghiệm từ những triều đại trước, phòng ngừa việc tập trung quyền lực địa phương [64:51]
Trong thời kỳ Minh Thành Tổ (1360–1424), quân sự Trung Quốc hưng thịnh, tầm ảnh hưởng sâu rộng tới nhiều quốc gia Đông Á đương thời, trong đó có Đại Việt Nhờ
kế thừa những thành tựu khoa học mà người Mông Cổ mang về từ khắp nơi trên thế giới, nhà Minh có một quân đội có thể nói là đông đảo và trang bị tốt nhất thế giới trong thế kỉ XIV-, XV [62:33-49]
Về ngoại giao, Minh Thành Tổ thay đổi sách lược bế quan tự thủ của Minh Thái
Tổ, từ năm 1405 bắt đầu phái cử nhà hàng hải Trịnh Hòa xuống Tây Dương, giao thiệp với các quốc gia ở khu vực Đông Nam Á Đội thương thuyền của Trịnh Hòa ghi dấu
Trang 32trên khắp khu vực Đông Á, lập cả căn cứ tại Malacca, truyền bá uy quyền của các hoàng đế nhà Minh cũng như tăng cường giao lưu kinh tế chính trị giữa triều Minh và thế giới, thể hiện triều đại Vĩnh Lạc ở vào đỉnh cao thịnh vượng và có tính mở cửa Quy mô của đội thuyền Trịnh Hoà vô cùng lớn mạnh, các triều đại Trung Quốc trước
đó chưa từng có, đi xa nhất đến khu vực Somali tại Đông Phi, khuếch đại sức ảnh hưởng của triều Minh đối với các quốc gia Đông Á và ven Ấn Độ Dương [76: 46-65 ]
Về kinh tế, ngoài sự phát triển thương mại và giao thông xuyên biên giới như chúng tôi đã giới thiệu qua ở trên, trong nước, Minh Thái Tổ rất ủng hộ việc thành lập các cộng đồng nông nghiệp tự túc Những địa chủ phong kiến mới nổi cuối thời nhà Tống và trong thời nhà Nguyên bị tịch thu tài sản Một lượng lớn đất đai bị triều đình sung công, chia lẻ và cho thuê; nô lệ tư nhân bị cấm Vì vậy sau khi Minh Thành Tổ qua đời, các nông dân có sở hữu đất chiếm số đông trong nông nghiệp Trung Quốc Nhìn chung, kinh tế thời Minh vẫn lấy phương thức tiểu nông tự cấp tự túc làm chủ yếu [53:154-165]
Về văn hoá-xã hội, từ năm 1403 đến năm 1408, Minh Thành Tổ cho biên soạn
quyển, ước tính có hơn 370 triệu chữ Vĩnh lạc đại điển được coi là bộ bách khoa toàn
thư của Trung Quốc, cũng được coi là một trong những bộ bách khoa toàn thư đầu tiên trên thế giới và cho đến nay đây vẫn là một trong những tác phẩm đồ sộ nhất trong lĩnh vực này [51:01] Về mặt xã hội, một đặc điểm nổi bật đó là nếu như dưới thời Nguyên, tầng lớp Nho sĩ Khổng giáo bị khống chế, kìm hãm trong gần một thế kỷ thì đến thời Minh Thái Tổ một lần nữa lại chiếm được vai trò chủ chốt trong việc điều hành đế quốc Đây cũng là một trong những lý do vì sao các vị vua của vương triều Lê Sơ rất coi trọng Nho giáo Chính vì tầm ảnh hưởng từ việc chủ trương Nho học của triều Minh đã tạo ra ảnh hưởng rất lớn đối với tất cả các quốc gia Đông Á đương thời, trong
đó có Việt Nam
Trang 33Những đặc trưng khái quát về kinh tế - chính trị - văn hoá - xã hội của triều Minh trên đây sẽ giúp chúng ta hiểu được tổng thể tình hình xã hội Trung Quốc đương thời cũng như hiểu được vì sao các vương triều Lê Sơ lại chịu ảnh hưởng nhiều mặt từ các chính sách, chiến lược phát triển quốc gia của triều Minh Trung Quốc đến như vậy
1.2.3 Ảnh hưởng của thiết chế chính trị triều Minh tới các nước trong khu vực
Sự hình thành và phát triển cường thịnh của triều Minh cuối thế kỷ XIV, đầu thế
kỷ XV đã là cơ sở quan trọng để Trung Quốc không chỉ tiến hành cuộc đấu tranh chống người Mông Cổ ở phía Bắc mà còn khiến cho triều Minh có đủ điều kiện, khả năng để mở rộng ảnh hưởng và các mối quan hệ với Triều Tiên, Hàn Quốc, Nhật Bản
và các quốc gia khác ở Đông Nam Á đương thời, trong đó có Việt Nam Chính trên cơ
sở đó, từ những năm 1371 (khi Hồng Vũ lần đầu tiên gửi sứ giả tới các nước láng giềng) cho tới cuối thế kỷ XV, phần lớn các quốc gia ở Đông Á đã thiết lập mối bang giao với triều Minh, tạo ra mối liên hệ thường xuyên về kinh tế, chính trị và ngoại giao giữa các nước với Trung Quốc
Mối bang giao giữa triều Minh với các quốc gia Đông Á trong khoảng cuối thế kỷ XIV, đầu thế kỷ XV được xây dựng dựa trên nhiều khuôn mẫu truyền thống trong quan
hệ Trung Quốc với các láng giềng trong lịch sử Thêm vào đó, Trung Hoa từ lâu đã được biết đến là một trong những cái nôi của nền văn minh thế giới, là trung tâm của
cả vùng Đông Á đương thời, giữ vị trí quan trọng nhất trong các mối quan hệ kinh tế, thương mại và có có sức mạnh quân sự và ảnh hưởng mạnh mẽ về mặt văn hóa tới các quốc gia xung quanh
Trong khoảng nửa cuối thế kỷ XIV - đầu thế kỷ XV, xu hướng chủ yếu của triều Minh trong mối quan hệ với các quốc gia láng giềng thể hiện chủ yếu ở việc thiết lập mối bang giao tương đối hòa bình với các nước ở phía Đông và ở phương Nam
Cùng với những ảnh hưởng về thương mại, quân sự thì dựa trên những nền tảng của các hệ tư tưởng văn hoá quan trọng, điển hình là hệ tư tưởng Nho giáo (Khổng giáo) kéo dài hơn 2000 năm, triều Minh đã thiết lập chế độ triều cống giữa Trung Quốc với
Trang 34các quốc gia láng giềng Những hoạt động ban bố chiếu thư, ban tặng phẩm, hoặc hỏi thăm, tham dự lễ tiết và ban sắc phong từ thời Minh Thái Tổ được diễn ra khá đều đặn Ngược lại, chính quyền các nước Đông Á và Đông Nam Á cũng thường xuyên gửi các
sứ đoàn tới Trung Quốc để triều cống, tạ lễ, dự khánh tiết Do đó, từ nửa cuổi thế kỷ XIV đã hình thành nên một hệ thống triều cống và sắc phong giữa các nước Đông Á với vương triều Minh ở Trung Quốc đương thời Ngoài ra, trong các chuyến đi của Trịnh Hòa tới nhiều vùng đất mới, xuống cả vùng biển Đông Nam Á và Nam Á đã góp phần tạo ra nhiều ảnh hưởng của triều Minh tới các quốc gia trong khu vực Những chuyến đi này một mặt là phương thức để Trung Quốc thiết lập quan hệ với các nước, nhưng mặt khác cũng cho thấy sự mở rộng những ảnh hưởng của triều Minh xuống phương Nam, cả trên phương diện kinh tế, thương mại, văn hóa và chính trị
Từ những khái quát ở trên, có thể thấy được rằng ở khu vực Đông Á thế kỷ XV, thiết chế chính trị triều Minh được coi là mô hình tiêu biểu, tiên tiến nhất, là một thiết chế trung ương tập quyền khá hoàn chỉnh trong lịch sử Trung Quốc thời kỳ trung đại Nhà Minh đã xây dựng thiết chế trung ương với mức độ tập quyền cao, hệ thống pháp luật tương đối hoàn chỉnh, trở thành một trong những triều đại cường thịnh nhất trong lịch sử Trung Hoa Trong suốt 276 năm (1368-1644) của triều đại này, Trung Quốc phát triển hưng thịnh trên mọi lĩnh vực, là cường quốc có cương vực lãnh thổ và hệ thống chư hầu rộng lớn thuộc loại bậc nhất thế giới đương thời 3 [ 71:16 ] Với sức ảnh hưởng rộng rãi các giá trị văn minh cũng như lan toả ảnh hưởng chính trị-kinh tế, thiết chế Trung Hoa trở thành mô hình phát triển chung của cả khu vực [03:73]
1.3 Quá trình tiếp nhận thiết chế chính trị triều Minh của nhà Lê Sơ
1.3.1 Yêu cầu đặt ra đối với việc xây dựng thiết chế chính trị thời Lê Sơ
Trang 35Chúng ta đều biết rằng, từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX, trong khoảng thời gian gần 10 thế kỷ đó, nhà nước quân chủ Đại Việt4 là sự hình thành, phát triển và kế tục của 11 triều đại: Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng, Tây Sơn và Nguyễn Trong khoảng thời gian này, trong nước không ngừng xảy ra những sự biến cung đình, đổi thay quyền lực, trấn áp quân sự và cả nội chiến, trong khi đó vẫn phải đối phó với các thế lực bên ngoài Từ năm 179 trước Công nguyên đến năm 938 là một thời kỳ lịch sử đặc biệt, trong lịch sử thế giới không tìm thấy hiện tượng tương tự như vậy Nổi bật lên là sự đối lập giữa người Hán và người Việt Nam đã trở thành một đặc trưng xuyên suốt của đời sống chính trị giai đoạn đó [12:37]
Ra đời và tồn tại trong bối cảnh lịch sử đầy biến loạn đó, các chính quyền tự chủ của người Việt đã thức sâu sắc về sức mạnh của quyền lực tập trung Để duy trì và củng cố quốc gia thống nhất, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ, tình hình mới đòi hỏi phải có một thiết chế chính trị đủ vững mạnh để bảo đảm sự tồn vong của quốc gia Lịch sử cho thấy rằng, hầu hết các đời vua nhà Lê Sơ (đặc biệt là từ thời Lê Thái Tổ đến Lê Thánh Tông), đều đã nhận thức được điều này
Vì vừa mới độc lập, các triều đại Ngô và Đinh chưa kịp tổ chức lại triều chính thì
đã mất, nên tổ chức chính quyền còn sơ sài Đến thời Lý, nước Đại Việt khá yên bình,
cơ nghiệp nhà Lý khá ổn định nên các vua triều Lý kế tiếp nhau chỉnh đốn lại bộ máy cai trị, nhưng vì nhu cầu của nhân dân lúc đó không yêu cầu nhiều cải tổ mới nên bộ máy chính quyền bấy giờ chưa được hoàn chỉnh Tới đời Trần, việc cai trị và quản lý
xã hội cũng mô phỏng theo triều Lý, không có mấy cải cách trọng đại Tuy nhiên, nhà
4
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt là quốc hiệu Việt Nam tồn tại trong 2 giai đoạn từ năm 1054
đến năm 1400 và từ năm 1428 đến năm 1805 Tên gọi này chính thức có từ thời trị vì của vua Lý Thánh Tông (1054–1072) (trước đó kể từ thời kỳ trị vì của Đinh Bộ Lĩnh, quốc hiệu là Đại Cồ Việt) Năm 1400, sau khi thay thế nhà Trần, Hồ Quý Ly, người sáng lập nhà Hồ, đã đổi quốc hiệu thành Đại Ngu Từ năm 1407-1427 là giai đoạn nhà Minh thống trị nước Đại Ngu, chỉ đến năm 1428, sau khi giành độc lập, Lê Thái Tổ (Lê Lợi) đã lấy lại tên Đại Việt đặt làm quốc hiệu Năm 1804, vua Gia Long đổi tên nước thành Việt Nam, quốc hiệu Đại Việt chấm dứt hoàn toàn
Trang 36Trần cũng đã có công lập ra nhiều cơ quan chuyên môn để điều hành bộ máy thống trị
và giúp cho công việc được thi hành mau chóng [20:20]
Như chúng tôi đã giới thiệu ở trên, vương triều Lê Sơ được thành lập từ kết quả của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Nếu như các chính quyền tự chủ trước đó như Đinh, Tiền
Lê, Lý, Trần, Hồ ra đời là sự kế thừa, chuyển giao chính quyền từ tập đoàn dòng họ này, sang tập đoàn dòng họ khác thì triều Lê sơ được thành lập lại hoàn toàn khác Đó
là kết quả của công cuộc kháng chiến cứu quốc suốt 10 năm (1418-1427) và có tính nhân dân sâu rộng Ý thức về độc lập và toàn vẹn núi sông cũng là một đặc điểm nổi trội của các vương triều Lê Sơ, nổi bật lên hẳn so với bất cứ triều đại nào trước đó của Việt Nam Đây cũng là nguyên nhân khiến cho các vị vua triều Lê Sơ không ngừng tăng cường, triển khai nhiều biện pháp chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa nhằm chủ động bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ và an ninh quốc gia (trong đó có cả biện pháp hạn chế nghiêm ngặt ngoại thương, tiếp xúc, trao đổi, với bên ngoài)… Lê Lợi (Lê Thái Tổ) đã sớm ý thức được điều này nên ngay từ những ngày đầu độc lập, khi mà dân, quân còn chưa quen với việc viết đúng niên hiệu, quốc hiệu, đô hiệu của thời kỳ mới, Lê Lợi đã
chú trọng xây dựng các pháp lệnh cai trị quân dân Như Lê Quý Đôn trong cuốn Đại Việt thông sử , Quyển II-Đế kỷ Đệ nhị, mục Thái Tổ (Hạ), có chép rằng: “Hoàng đế sai
các quan: “Tư Đồ, Tư Mã, Thiếu uý và Hành khiển, cùng hợp bàn định phép cai trị muôn dân, để cho người làm Tướng biết phép trị quân, người làm quan các Lộ biết phép trị dân, và sự răn dạy quân dân, cũng nên cho biết có phép, để những người giữ
việc gì, biết phép của việc đấy mà làm” [09:22]
Tuy nhiên, trước tình hình mới, Lê Lợi do lên làm vua chưa lâu nên ông cùng triều đình gặp nhiều khó khăn trong việc xây dựng thiết chế chính trị phù hợp với bối cảnh mới Gặp vấn đề tương tự như nhiều vị vua khác trước đó, các vị vua nhà Lê Sơ cũng không ngừng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi liệu có lựa chọn nào khác ngoài thiết chế quân chủ tập quyền theo hình mẫu Trung Hoa?, mà điển hình là hình mẫu của triều Minh đương thời
Trang 37Qua những khái quát ở trên, có thể thấy được rằng trong giai đoạn nửa đầu thế kỷ
XV, triều Lê Sơ lâm vào tình trạng lúng túng vừa về đường lối trị nước, khủng hoảng
về đội ngũ quản lí Đó là sự lúng túng, khủng hoảng của thời kì chuyển đổi Dẫu có tiến hành nhiều biện pháp như chọn lựa, kiểm định lại đội ngũ từ quan tới lại nhưng căn bản vẫn không khắc phục được
1.3.2 Quá trình tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa của triều Lê Sơ
Có thể nói, triều Minh nói riêng và các triều đại phong kiến Trung Hoa trước đó nói chung đã sớm xây dựng được một hệ thống quản lý hành chính vô cùng đầy đủ, vì vậy tất yếu sẽ có nhiều ảnh hưởng lớn tới tổ chức bộ máy chính quyền ở Việt Nam đương thời, mà rõ nét nhất là ảnh hưởng tới triều Lê Sơ (1428-1527) do bối cảnh lịch sử-chính trị đương thời
Theo thời gian, những tri thức, phương hướng, đường lối, chủ trương trong quản lý, cai trị đất nước, cũng như bên cạnh các điều kiện, hoàn cảnh khách quan của bối cảnh chính trị Đông Á đương thời đòi hỏi các vị vua triều Lê Sơ phải không ngừng tăng cường, bổ sung, điều chỉnh hệ thống quan chế và cấu trúc mô hình tổ chức nhà nước trong suốt 100 năm tồn tại
Ngay cả khi đã giành được độc lập, những ảnh hưởng của triều Minh nói riêng và của nền văn hoá Trung Hoa rộng lớn nói chung tới triều Lê Sơ vẫn rất rõ nét Nói một cách khác, các vị vua triều Lê Sơ một mặt nỗ lực xây dựng một mô hình tổ chức nhà nước, một thiết chế chính trị theo kiểu mới với những đặc trưng, đặc sắc của văn hoá Đại Việt, mặt khác vẫn không ngừng tiếp nhận các giá trị từ mô hình chính trị của nhà nước quân chủ chuyên chế tập quyền kiểu mẫuTrung Hoa mà điển hình là nhà Minh Khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, vương triều Lê Sơ ngay từ khi thành lập đã phải đối mặt với nhiều thách thức, đặc biệt là yêu cầu bức thiết trong việc phải xây dựng một thiết chế chính trị và mô hình nhà nước mới Các vị vua anh minh nhất triều Lê Sơ như
Lê Thái Tổ, và đặc biệt là Lê Thánh Tông đã không để lãng phí thời gian, lựa chọn xác lập mô hình “tập quyền quan liêu” [13:46] Biểu hiện rõ nhất của việc mô phỏng hình
Trang 38mẫu mô hình “tập quyền quan liêu” này, giống như nhiều quốc gia phong kiến phương Đông khác, đó là mọi quyền lực trong nhà nước quân chủ chuyên chế đều tập trung trong tay nhà vua Tính chất chuyên chế của nhà nước quân chủ Lê Sơ ngày càng gia tăng được phản ánh trong tổ chức, hoạt động của bộ máy nhà nước và trong quá trình ban hành các chế định pháp luật đương thời [43:43 ]
Sự tiếp nhận này thể hiện trước hết trong việc xây dựng đội ngũ nhân tài cho chính quyền triều Lê Một thực tế – cũng có thể coi là một đặc điểm trong thiết chế chính trị của triều Lê Sơ đó là các tướng lĩnh, công thần của cuộc kháng chiến với nhà Minh có
vị trí đặc biệt quan trọng trong nửa đầu thế kỷ XV Sau khi khởi nghĩa thắng lợi, hầu hết những người này đều tham gia vào bộ máy nhà nước từ cấp cao nhất (vua) đến các cấp chính quyền từ trung ương đến địa phương, thuộc các lĩnh vực, cấp độ khác nhau
So với các triều đình Việt Nam tự chủ trước đó, khó có triều đình nào lại có đội ngũ công thần khai quốc đông đảo như triều Lê sơ Cách thức xây dựng và tổ chức hệ thống quan lại như vậy mang nhiều đặc điểm từ hình mẫu của các nhà nước phong kiến Trung Hoa Chúng tôi sẽ đề cập chi tiết ở chương 2 và 3 của luận văn dưới đây
Biểu hiện, quá trình và diễn biến của việc tiếp nhận mô hình chính trị Trung Hoa còn được thể hiện rõ qua việc tiếp nhận, đề cao vai trò và ảnh hưởng của Nho giáo trong mọi mặt đời sống Trong xã hội Trung Hoa cổ đại, “Nho” là một danh hiệu chỉ những người có học thức, biết lễ nghi Nho giáo là hệ thống giáo lý của các nhà Nho nhằm tổ chức xã hội có hiệu quả Nho giáo đã có một thời gian dài là hệ tư tưởng chính thống của giai cấp cầm quyền Trung Hoa, nó ảnh hưởng tới nhiều nước xung quanh, tạo thành một vùng văn hóa Nho giáo với vai trò thống trị Ngay cả đến tận bây giờ, vai trò của Nho giáo vẫn thu hút được sự quan tâm của nhiều học giả, nhà nghiên cứu
từ khắp nơi trên thế giới bởi ảnh hưởng và sự lan tỏa của nó vẫn rất rõ nét trong xã hội hiện đại, đặc biệt là với các quốc gia phương Đông như Trung Hoa, Việt Nam, Hàn Quốc, Nhật Bản
Trang 39Đội ngũ quan, lại xuất thân từ khoa cử Nho học ngày càng chiếm số lượng đông đảo và có vị trí quan trọng trong tổ chức bộ máy chính quyền và quan lại các cấp của triều Lê Nhà Lê khai quốc, trước hết mở khoa thi Hội; đến đời vua Lê Thái Tông (1434-1442) kỳ thi định 3 năm một khoa, phép thi bốn trường khác nhau, phép ấy truyền đến thời nhà Nguyễn [07:05] Theo thời gian, tầng lớp Nho quan càng ngày càng được tăng cường về số lượng và chiếm giữ vị trí quan trọng trong bộ máy trung ương và các địa phương Đến khoảng hai thập kỷ cuối của thế kỷ XV, trong triều đình nhà Lê, những người nắm giữ các chức vụ quan trọng xuất thân từ đỗ đạt Nho học chiếm đa số Đương nhiên, trong suốt thời Lê Sơ còn có phương thức tuyển chọn quan lại bằng cách tiến cử, bảo cử (như trên đã nói) nhưng tuyển chọn qua học – thi Nho là phổ biến, thường xuyên và quan trọng hơn cả Khi nhận xét về con đường học – thi – làm quan của thời kì này, Lê Quý Đôn (thế kỷ XVIII) đã nêu nhận xét: “Khoảng giữa niên hiệu Hồng Đức, mở rộng khoa cử, tuyển nhiều nhân tài, sĩ tử tập lối văn bong bảy đẽo gọt từng câu, mong sao thi đỗ để ra làm quan Muốn tìm thấy những người khí tiết, khảng khái trong thời này xem ra có phần thưa thớt Nhưng con đường bổng lộc đã mở
ra thì phương pháp thi cử cũng nghiêm ngặt, người điềm tĩnh được tiến lên, người cầu may bị sang sảy, cho nên người tại chức ít thói cầu cạnh mà trong nước biết quý danh nghĩa.” [10:259]
Cũng cần phải nói thêm rằng, không phải đến thời Lê Sơ, mô hình quân chủ tập trung lấy Nho giáo làm nền tảng tư tưởng mới có ở Việt Nam Nói chính xác hơn thì hệ
tư tưởng Nho giáo, vốn đã thẩm thấu bằng nhiều phương cách từ các thế kỷ trước, được gia tăng mạnh qua 20 năm (1407-1427) Tuy nhiên, chỉ đến thời Lê Sơ, mô hình
đó mới được tăng cường mạnh mẽ thành hướng tập trung, chủ đạo với tất cả những cố gắng trên mọi phương diện Trong một nghiên cứu, tácgiả Phạm Đức Anh đã nêu nhận định: “Đối với Việt Nam, xu hướng tiếp nhận mô hình Trung Hoa mạnh tới mức vượt qua cả “nghịch lý văn hoá” Không lâu sau ngày bình Ngô và đại cáo “phong tục Bắc Nam cũng khác”, các vua Lê với lòng tự hào dân tộc và tư tưởng “vô tốn Hoa Hạ”,
Trang 40muốn sánh ngang Trung Hoa, đã chủ động tiếp nhận và mô phỏng ở mức cao nhất thể chế, hệ tư tưởng của văn hoá phương Bắc Trong khi đó, những yếu tố văn hoá Nam Á vốn thấm đẫm trong xã hội Đại Việt thời Lý-Trần, nay bị coi là thô lậu, không hợp lễ.” [03:74]
Vũ Minh Giang khi phân tích những đặc trưng về nền tảng tư tưởng của các thiết chế chính trị đã đưa ra nhận xét: “Tư tưởng Nho giáo đã được người Việt đồng nhất với những giá trị mang bản sắc văn hoá dân tộc, coi đó là cái của mình Những chuẩn mực của Nho giáo trở thành khuôn mẫu cho tổ chức nhà nước và quy phạm đạo đức của xã hội Thậm chí ảnh hưởng của Nho giáo đối với văn hoá và văn minh Việt Nam lớn tới mức nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài đã xếp Việt Nam vào loại hình các nước văn minh Khổng giáo hoặc văn minh Trung Hoa Điều này không đơn giản chỉ giải thích bằng sự sùng mộ Nho giáo của các vị Hoàng đế mà chủ yếu lại xuất phát từ yêu cầu củng cố thiết tập quyền theo một phương thức mới mà Phật giáo không đủ sức hỗ trợ Tuy nhiên, cũng như Phật giáo, không thể đồng nhất Nho giáo Việt Nam, bởi vì nó
đã được sàng tuyển, được gia cường bằng cách thức Việt Nam ” [11:101]
Tiểu kết chương I
Trong chương 1, chúng tôi đã giới thiệu khái lược quá trình ra đời của vương triều
Lê Sơ, sau khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn giành thắng lợi Các ông vua đầu tiên của nhà
Lê như Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông và đặc biệt là Lê Thánh Tông đều rất quan tâm đến việc xây dựng thiết chế chính trị và tổ chức chính quyền hiệu quả để quản lý nhà nước Một mặt, nhà Lê không ngừng tiếp nhận các đặc trưng từ mô hình kiểu mẫu của nhà nước Trung Hoa, đề cao Nho học, mặt khác lại chủ trương xây dựng nhà nước Đại Việt mang đặc sắc văn hoá của dân tộc
Trong chương này, để làm cơ sở lý luận cho những so sánh ở chương 2 và 3, chúng tôi cũng giới thiệu về sự thành lập nhà Minh, chỉ ra những đặc điểm chính trong gần
300 năm trị vì của các vị vua nhà Minh, từ đó nêu tầm ảnh hưởng của nhà Minh với khu vực Đông Á nói chung và với Việt Nam nói riêng Đặc biệt, có thể thấy được rằng