Trong những năm qua, một số đề tài, dự án do UBND tỉnh Bắc Kạn làm chủ đầu tư và Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn quản lý được Viện Nghiên cứu Rau quả triển khai tại Bắc Kạn nhằm hỗ trợ
Trang 1ĐỒNG THANH HOÀN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TRỒNG HỒNG
KHÔNG HẠT CỦA NÔNG HỘ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 2ĐỒNG THANH HOÀN
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TRỒNG HỒNG
KHÔNG HẠT CỦA NÔNG HỘ TRÊN
ĐỊA BÀN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8.62.01.16
Người hướng dẫn khoa học: TS ĐỖ XUÂN LUẬN
THÁI NGUYÊN - 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018
Tác giả
Đồng Thanh Hoàn
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để thực hiện và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học này, tôi đã nhận được
sự hỗ trợ, giúp đỡ cũng như là quan tâm, động viên từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân Nghiên cứu khoa học cũng được hoàn thành dựa trên sự tham khảo, học tập kinh nghiệm từ các kết quả nghiên cứu liên quan, các sách, báo chuyên ngành của nhiều tác giả ở các trường Đại học, các tổ chức nghiên cứu, tổ chức chính trị… Đặc biệt hơn nữa là sự giúp đỡ, tạo điều kiện về vật chất và tinh thần từ phía gia đình,
bạn bè và các đồng nghiệp
Em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy giáo - TS Đỗ Xuân Luận người trực tiếp hướng dẫn khoa học đã luôn dành nhiều thời gian, công sức hướng dẫn em trong
suốt quá trình thực hiện nghiên cứu và hoàn thành đề tài nghiên cứu khoa học
Tôi xin trân trọng cám ơn Ban Giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo công tác trong trường đã tận tình truyền
đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong đề tài nghiên cứu khoa học này không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong quý thầy, cô, các chuyên gia, những người quan tâm đến đề tài, đồng nghiệp, gia đình và bạn bè tiếp tục có những ý kiến đóng
góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn
Một lần nữa tôi xin chân thành cám ơn!
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2018
Tác giả
Đồng Thanh Hoàn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CÁM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT v
DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài 2
3 Phạm vi nghiên cứu 3
4 Ý nghĩa của đề tài 3
5 Những đóng góp mới của đề tài 4
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP 5
1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước 5
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về cây hồng 11
1.2 Cơ sở lý luận về cây hồng, hiệu quả và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp 15
1.2.1 Một số lý luận về cây hồng 15
1.2.2 Lý luận về năng suất, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp 19
1.3 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sản xuất hồng không hạt 23
1.3.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất hồng không hạt tại Bắc Kạn 23
1.3.2 Tình hình sản xuất cây hồng không hạt 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
2.1 Đối tượng nghiên cứu 30
2.2 Nội dung nghiên cứu 30
2.3 Phương pháp nghiên cứu 30
2.3.1 Thu thập số liệu 30
2.3.2 Phương pháp tổng hợp số liệu 32
Trang 62.3.3 Phương pháp phân tích số liệu 32
2.3.4 Uớc lượng hiệu quả sử dụng phương pháp đường biên sản xuất DEA 33
2.3.5 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật 34
Chương 3: THỰC TRẠNG HIỆU QUẢ TRỒNG HỒNG KHÔNG HẠT TẠI HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN VÀ CÁC GIẢI PHÁP 37
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 37
3.1.1 Điều kiện tự nhiên huyện Ba Bể 37
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 38
3.1.3 Diện tích, năng suất, sản lượng và phân bố sản xuất hồng không hạt theo địa bàn tại Bắc Kạn 40
3.2 Thực trạng phát triển sản xuất Hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 42
3.2.1 Kết quả sản xuất hồng không hạt 42
3.2.2 Xác định các yếu tố hạn chế ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng Hồng không hạt 50
3.3 Ước lượng hiệu quả trồng hồng không hạt sử dụng DEA 53
3.3.1 Mức hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ trồng hồng không hạt tại huyện Ba Bể 53
3.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trồng hồng không hạt tại huyện Ba Bể 55
3.4 Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cây Hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn 58
3.4.1 Quan điểm - phương hướng - mục tiêu sản xuất đến năm 2025 58
3.4.2 Các giải pháp nâng cao hiệu quả kinh tế cây Hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể 59
3.4.3 Giải pháp thúc đẩy phát triển sản xuất hồng không hạt trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn 62
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 68
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV : Bảo vệ thực vật HQKT : Hiệu quả kinh tế HTX : Hợp tác xã KH&CN : Khoa học và công nghệ UBND : Ủy ban nhân dân
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG, HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng hồng ở Việt Nam đến năm 2015 5
Bảng 1.2: Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2015 6
Bảng 1.3: Sản lượng trồng hồng của một số nước trên thế giới 12
Bảng 1.4: Sự phân bố và sử dụng của các loài thuộc chi Diospyros 13
Bảng 1.5: Các giống hồng đang trồng tại Bắc Kạn 25
Bảng 1.6: Đặc trưng về tính chất, đặc thù của 2 loạiHồng không hạt Bắc Kạn 26
Bảng 1.7: Tình hình phát triển cây hồng không hạt tỉnh Bắc Kạn từ 2000-2015 27
Bảng 2.1: Sản lượng Hồng không hạt ở một số vùng trồng tập trungtại tỉnh Bắc Kạn 31
Bảng 2.2: Cỡ mẫu và phân bổ cỡ mẫu nghiên cứu 32
Bảng 3.1: Sản lượng Hồng không hạt ở một số vùng trồng tập trung năm 2016 40
Bảng 3.3: Diện tích hồng huyện Ba Bể phát triển trong những năm gần đây 43
Bảng 3.4: Các giống hồng được trồng tại huyện Ba Bể 44
Bảng 3.5: Các biến sử dụng trong mô hình DEA 54
Bảng 3.6: Hiệu quả kỹ thuật sản xuất hồng không hạt của các hộ khảo sát 55
Bảng 3.7: Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng mô hình Tobit 57
Bảng 3.8: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu với cơ hội và thách thức trongsản xuất hồng không hạt tại các hộ điều tra 61
Sơ đồ 1.1 Phân loại hồng theo Mori 1953 17
Hình 1.1 Mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào DEACRS và DEAVRS 21
Hình 2.1 Mô tả hiệu quả kỹ thuật dựa trên đường giới hạn năng lực sản xuất 33
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bắc Kạn là tỉnh miền núi, vùng cao phía Bắc, gồm 7 huyện và 1 thành phố, Trung tâm thành phố cách thủ đô Hà Nội khoảng 170km về phía Bắc, Bắc Kạn có địa hình phức tạp độ chia cắt mạnh Nhiệt độ trung bình hàng năm 220C, mùa hè có nhiệt độ cao từ tháng 5 tới tháng 8 (có khi lên đến 400C), mùa đông khô kéo dài từ tháng 11 tới tháng 3 năm sau (có khi nhiệt độ xuống thấp tới - 10C), do mùa đông lạnh và kéo dài đây cũng là thuận tiện cho cây hồng rụng lá và phân hóa mầm hoa cho năm sau phát triển Số giờ nắng trung bình là 1.554,7 giờ /năm, trong đó tháng
có giờ nắng cao nhất là tháng 7 và tháng 9 (trung bình 5 giờ/ ngày) Lượng mua trung bình hàng năm tại Bắc Kạn là 1.508mm tại huyện Chợ Đồn là 1.858mm, đặc điểm trung của Bắc Kạn là lượng mưa hàng năm phân bố không đều Độ ẩm trung bình hàng năm tại Bắc Kạn là 84% đạt cao nhất là 86% vào các tháng 7, tháng 8 thấp nhất 82% vào các tháng 12, 1, 2, 5 lượng bốc hơi trung bình hàng năm 725,8
mm Theo số liệu của Sở Tài nguyên Bắc Kạn, trên địa bàn có 14 loại đất thuộc 4 nhóm là nhóm đất phù sa, nhóm đất đỏ vàng, nhóm đất mùn đỏ vàng trên núi và nhóm đất dốc tụ rất phù hợp cho phát triển một số nông sản đặc trưng, trong đó có hồng không hạt
Hồng không hạt là sản phẩm đặc sản của tỉnh Bắc Kạn, được trồng từ lâu đời Hiện tại, cây hồng được trồng tại hầu khắp các huyện của tỉnh Bắc Kạn, nhưng tập trung chủ yếu tại các huyện Ba Bể, Chợ Đồn và Ngân Sơn Hồng Bắc Kạn là giống hồng đặc sản của địa phương, có chất lượng tốt, vỏ mỏng, giòn, ngọt, có vị chát ít đặc biệt là công tác bảo quản sử lý sau thu hoạch phù hợp với người dân địa phương Hồng Bắc Kạn thời vụ cho thu hoạch kéo dài đúng vào dịp tết Trung thu cho đến tháng 10, làm tăng đáng kể giá trị kinh tế góp phần vào việc phát triển kinh
tế, xóa đói giảm nghèo cho người dân Bắc Kạn Ngày 8 tháng 9 năm 2010, Cục Sở hữu trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) đã ban hành Quyết định số 1721/QĐ-SHTT cấp “Giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm hồng không hạt Bắc Kạn” Hiện tại, cây hồng Bắc Kạn đang được xếp trong nhóm 100 sản phẩm được bảo hộ chỉ dẫn địa lý UBND tỉnh Bắc Kạn đã phê duyệt dự án phát triển cây
Trang 10hồng không hạt giai đoạn 1996 - 2015 tại 3 huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Ngân Sơn với diện tích khoảng 1000 - 1200 ha nhằm tạo ra vùng sản xuất hồng thành hàng hóa đặc sản của tỉnh Bắc Kạn là một tỉnh miền núi có điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu thích hợp với một số loài cây ăn quả ôn đới, cận nhiệt đới, hồng không hạt là giống cây ăn quả dễ trồng, không kén đất, có chất lượng đặc thù riêng biệt và đã trở thành loại cây đặc sản của tỉnh Bắc Kạn Cây hồng không hạt gắn với vùng đất Bắc Kạn
đã có lịch sử phát triển trên 100 năm Tại Bản Lác thuộc xã Quảng Bạch, xã Xuân Lạc, xã Tân Lập huyện Chợ Đồn hay tại các xã Quảng Khê, Đồng Phúc thuộc huyện Ba Bể và thị trấn Nà Phặc thuộc huyện Ngân Sơn vẫn còn những cây hồng gần 100 năm tuổi cho năng suất và chất lượng quả tốt
Đặc sản Hồng không hạt của Bắc Kạn đã có thương hiệu và khá nổi tiếng ở thị trường trong và ngoài tỉnh Tuy nhiên, theo đánh giá chung thì việc phát triển Hồng không hạt chưa tương xứng với tiềm năng của tỉnh, chưa thực sự trở thành hàng hoá, cách làm của nông dân chưa đạt hiệu quả cao Trong những năm qua, một số đề tài, dự án do UBND tỉnh Bắc Kạn làm chủ đầu tư và Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn quản lý được Viện Nghiên cứu Rau quả triển khai tại Bắc Kạn nhằm hỗ trợ phát triển sản xuất hồng không hạt tại địa phương nhưng chưa có nghiên cứu nào nhằm tính toán, phân tích các yếu tố hưởng đến hiệu quả sản xuất hồng không hạt ở Bắc Kạn Để đề xuất được những giải pháp có tính khoa học và thực tiễn về phát triển cây hồng không hạt nâng cao năng suất, chất lượng quả mang lại thu nhập ổn định cho người dân trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn trong
những năm tới, việc nghiên cứu đề tài “phân tích hiệu quả trồng hồng không hạt
của nông hộ trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn” là rất cần thiết
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Điều tra, đánh giá thực trạng phát triển cây hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn;
- Xác định hiệu quả kỹ thuật trồng hồng không hạt tại địa phương;
- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trồng hồng không hạt
- Đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả kỹ thuật, góp phần tăng thu nhập cho các nông hộ trồng hồng không hạt trên địa bàn huyện
Trang 113 Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về nội dung: Có nhiều cách tiếp cận trong phân tích đánh giá hiệu quả, tuy nhiên đề tài chỉ tập trung phân tích, đánh giá hiệu quả về mặt kỹ thuật của trồng hồng không hạt quy mô hộ tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Hiệu quả kỹ thuật được xây dựng dựa trên lý thuyết về đường giới hạn năng lực sản xuất, phản ánh mối quan hệ trực tiếp giữa các yếu tố đầu vào và kết quả sản xuất Những hộ đạt hiệu quả kỹ thuật nằm trên đường biên giới hạn năng lực sản xuất, và những hộ có tiềm năng cải thiện hiệu quả nằm dưới đường biên Cách tiếp cận này khác với cách tiếp cận truyền thống, chẳng hạn như so sánh thu nhập, giá trị gia tăng trên một đơn
vị vốn, lao động, đất đai Cách tiếp cận truyền thống dựa trên sự so sánh cơ học và việc đánh giá các chỉ tiêu bị hạn chế bởi thiếu chuẩn đánh giá và nếu các chỉ tiêu truyền thống (VA/lao động, vốn, đất đai ) được so với các địa bàn khác thì cũng hạn chế bởi điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và nguồn lực là khác nhau Cách tiếp cận đánh giá hiệu quả kỹ thuật sử dụng phương pháp màng bao dữ liệu (DEA) sẽ cho phép so sánh hiệu quả giữa các nông hộ với nhau, và do đó cho phép hạn chế được sự khác biệt về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn huyện Ba Bể, trong đó tập trung nghiên cứu về phân tích năng suất, hiệu quả trồng hồng không hạt của nông
hộ tại xã Quảng Khê và Đồng Phúc là 2 xã có diện tích trồng cây hồng không hạt lớn của huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
+ Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 03 năm 2015-2017 Số liệu sơ cấp được thu thập qua khảo sát các nông hộ trồng hồng không hạt tại địa phương năm 2017
4 Ý nghĩa của đề tài
Trên cơ sở đánh giá hiệu quả kỹ thuật và phân tích các yếu tố ảnh hưởng, đề tài sẽ kiến nghị những can thiệp chính sách phù hợp, giúp địa phương đưa ra phương hướng để phát huy tiềm năng thế mạnh, giải quyết những khó khăn, trở ngại nhằm phát triển năng suất cây hồng không hạt ngày càng hiệu quả và bền vững
Trang 125 Những đóng góp mới của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên nhằm ước lượng, đánh giá hiệu quả kinh tế, phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh tế hồng không hạt tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Đề tài sử dụng phương pháp phân tích biên (DEA-Deterministic Efficiency Analysis), là phương pháp ứng dụng lý thuyết về đường giới hạn năng lực sản xuất trong ước lượng, phân tích và đánh giá hiệu quả kinh tế Những biến số trong mô hình phân tích thống kê được lựa chọn dựa trên ý nghĩa về kiến nghị chính sách phát triển, nâng cao năng suất hồng không hạt
Trang 13Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ HIỆU QUẢ TRONG SẢN XUẤT
NÔNG NGHIỆP 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam chưa xác định được nguồn gốc và xuất xứ của cây hồng, tuy nhiên hiện nay hồng được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và vùng cao của miền Nam như Đà Lạt - Lâm Đồng Theo Mai Xuân Lương (1994); Yung Kyung Choi và Jung Hokim (1972) cây hồng được trồng từ rất lâu đời ở Việt Nam, đây là một trong những cây ăn quả quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bởi khả năng thích ứng rộng với các vùng sinh thái, năng suất cao và ổn định, chất lượng quả tốt, hiệu quả kinh tế cao phù hợp với khẩu vị của người phương Đông
Theo Đào Thanh Vân (2002) trong những năm gần đây, cây ăn quả nước ta đang được chú trọng phát triển trong đó có cây hồng nên diện tích và sản lượng hồng đã tăng lên đáng kể và được thể hiện qua bảng 1.1
Bảng 1.1: Diện tích, sản lượng hồng ở Việt Nam đến năm 2015
(ha) Năng suất (kg/ha)
Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Tổng cục thống kê năm 2015)
Qua số liệu bảng 1.1 cho ta thấy diện tích và sản lượng hồng ở nước ta đã tăng lên gấp đôi sau 10 năm (2012 - 2014) Do cây hồng có khả năng thích nghi rộng, chủng loại phong phú nên hồng được trồng ở rất nhiều tỉnh trong cả nước, nhưng tập trung chủ yếu ở các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc và dẫn đầu là tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn và tiếp đến là tỉnh Lâm Đồng, đây là đơn vị đi đầu phát triển mạnh cây hồng trong cả nước
Trang 14Bảng 1.2: Diện tích hồng của một số tỉnh trong cả nước năm 2015
Nguồn: Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn các tỉnh
Mỗi giống hồng đều có vùng phân bố riêng, khả năng mở rộng diện tích trồng hồng còn phụ thuộc vào điều kiện sinh thái nơi trồng Những nơi có điều kiện sinh thái gần tương tự nhau đều có thể trồng cùng một giống hồng
Nhìn chung, các giống hồng chính ở Việt Nam được trồng chủ yếu ở các tỉnh trung du, miền núi phía Bắc và một số tỉnh đồng bằng Hồng Thạch Thất là giống có diện tích trồng lớn nhất (chiếm 25,1% diện tích trồng của cả nước), trồng chủ yếu ở Thái Nguyên, hồng Nhân Hậu là giống có diện tích trồng lớn thứ 2 (sau hồng Thạch Thất) Hồng không hạt Bắc Kạn co 822ha (chiểm 14,74% diện tích hồng cả nước), chủ yếu là diện tích mới trồng, diện tích đang cho quả chỉ có 210ha với năng suất trung bình là 34,9 tạ /ha, sản hượng 733 tấn/năm
Hầu hết các tác giả nghiên cứu và điều tra về cây ăn quả đều thống nhất nhận xét ở Việt Nam hiện nay có nhiều vùng trồng hồng và các giống hồng rất phong phú, có những giống hồng rất nổi tiếng [1], [14], [20]
Dưới đây là một số giống hồng được trồng phổ biến:
+ Hồng trứng lốc
Đặc điểm: Quả hình vuông, cân đối, quả khi chín có màu hồng, bóng láng Cây có tán rất lớn, năng suất cao, có thể đạt 5 - 6 tạ/cây/năm, có khả năng chống chịu tốt với sâu bệnh, dễ trồng Đây là một trong những giống hồng được ưa chuộng nhất
Trang 15hiện nay Quả khi chín ăn rất ngọt, vừa giòn vừa dẻo, thích hợp cho vận chuyển đi xa, thời gian thu hoạch từ tháng 6 - 8 dương lịch
+ Hồng trứng muộn
Đặc điểm: Quả hình trứng, khi chín có màu hồng, bóng Cây có tán trung bình, năng suất cao, chống chịu tốt, quả khó rụng khi gió lớn Mặc dù chất lượng không bằng hồng trứng lốc, nhưng vì chín muộn (thu hoạch hàng năm vào tháng 10
- 11) nên giá hồng tươi rất cao Thông thương cây 7 - 8 năm tuổi có thể cho thu hoạch 3 - 4 tạ/năm
+ Hồng Pome tròn
Đặc điểm: Quả tròn to, mã quả rất đẹp, năng suất tương đối cao, trung bình 1tạ/cây/năm Cây bắt đầu cho thu hoạch từ năm thứ 7 - 8 sau trồng Quả chín có màu đỏ son, phẩm chất tốt, rất được ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10
+ Hồng chén
Đặc điểm: Cây có tán lá trung bình, cành yếu nên thường phải chống đỡ khi
có quả Lá nhiều, thường che khuất quả, năng suất trung bình, quả to, hơi dẹt về phía cuống, phẩm chất tốt, được người tiêu dùng ưa chuộng Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 9 - 10
+ Hồng ăn liền
Đặc điểm: Cây có tán lá thấp bé, có thể trồng với mật độ dày Quả tròn dẹt, khi chín màu vàng đỏ, có thể ăn ngay khi quả ở trạng thái cứng, thịt quả giòn, ngọt, khối lượng 1 quả trung bình 200 - 250 g, không có hạt
+ Hồng Nhật
Đặc điểm: Cây có tán lá trung bình, có thể trồng tương đối dày, nhanh cho quả, có thể thu hoạch quả sau 3 năm kể từ khi trồng Chất lượng quả trung bình, có nhiều nước, khó vận chuyển Tuy nhiên do có năng suất cao nên giống này được đánh giá là một trong số các giống có giá trị kinh tế cao nhất Nhược điểm của nó được khắc phục bằng cách chế biến thành hồng sấy khô để tiêu thụ trên thị trường Mùa thu hoạch hàng năm vào tháng 10 - 11
Ngoài các giống kể trên, còn nhiều giống hồng với số lượng không nhiều như: hồng quê hương, hồng gạch, hồng son, hồng hoả tiễn, hồng giòn, hồng Lạng Sơn, hồng xà, hồng nước
Trang 16+ Hồng vuông không hạt
Đặc điểm: Cây cao trung bình 9,5 m, đường kính tán cây 9,2 m, thân không
to lắm (đường kính gốc khoảng 27 cm, tán cây hình dù Lá to, hơi bầu, dài 15 cm, rộng 11 cm, mặt trên xanh đậm và bóng, mặt dưới có màu xanh nhạt và có lông màu vàng mọc dày theo gân lá Quả hình vuông có khía sâu dọc quả, chiều cao và đường kính quả khoảng 6,3 cm, trọng lượng quả 160 g, tỷ lệ phần ăn được 93%, tỷ lệ chất khô 15%, tỷ lệ đường 9,5%, tỷ lệ axit 0,3% Vỏ quả hơi dày, bóng, dễ bóc, vỏ khi chín có màu đỏ vàng, ít xơ, thịt quả có màu đỏ hồng, được nhiều người ưa thích Năng suất trung bình có thể đạt 400 - 500 kg/cây
+ Hồng tròn
Đặc điểm: Cây cao trung bình 10,5 m, tán rộng 8,3 m, hình cầu, đường kính gốc thân 27 cm Lá hình bầu dục, dài 14 cm, rộng 10,5 cm, mặt trên xanh bóng, mặt dưới có lông tơ màu vàng nhưng thưa hơn so với lá hồng vuông không hạt Quả hình tròn, đỉnh quả tròn, vỏ dày và bóng khi chín có màu vàng, thịt quả có màu vàng nhạt, không có sơ, ăn ngọt Trọng lượng quả trung bình 120 g, chiều cao 6,0
cm, đường kính quả cũng khoảng 6,0 cm Tỷ lệ phần ăn được: chất khô 18,7%, đường 11%, axit 0,2%, có 0,5 hạt/quả
+ Hồng cậy vuông
Đặc điểm: Cây cao trung bình 6,4 m, tán cây rộng 7,5 m, hình bán nguyệt Lá hơi tròn dài, to trung bình, đầu lá nhọn, mặt trên bóng nhẵn, mặt dưới xanh nhạt có lông tơ màu nâu tập trung ở gân lá Quả hình vuông, đỉnh quả bằng hoặc hơi lõm Khi chín vỏ quả màu đỏ, vỏ mỏng giòn, có ít phấn ở gần cuống lá Tai quả nhỏ, vểnh lên, gốc quả lõm ít, thịt quả có màu đỏ Chiều cao quả 3,3 cm, đường kính quả 4,2cm Trọng lượng quả trung bình 50 g, số hạt trong quả 0,4, tỷ lệ thịt quả 71,5% Một cây cho khoảng 80 kg quả
+ Hồng nứa
Đặc điểm: Cây cao trung bình 8,2 m, tán rộng khoảng 9 m, hình cầu Lá to màu xanh nhạt, đầu lá tròn, mặt dưới lá có lông tơ màu vàng mọc theo gân lá Quả hình trụ dài, đỉnh quả bằng, khi chín có màu đỏ, vỏ quả không bóng, phần trên quả (tai quả) có rãnh dọc Thịt quả màu vàng, ít sơ Tai quả to và vểnh lên Trọng lượng quả trung bình 90 g Chiều cao quả 5,2 cm, đường kính quả 4,8 cm, số hạt trong quả 1,5 hạt, tỷ lệ thịt quả 88,1% Một cây có thể cho thu hoạch tới 100 kg quả
Trang 17+ Hồng tiên
Đặc điểm: Cây cao trung bình 6 m (thấp cây), tán rộng 6 m, hình tháp Lá to nhẵn, mặt trên lá hơi vàng, có độ bóng, mặt dưới lá màu xanh trắng có lông tơ màu vàng xung quanh gân lá Quả thuộc dạng quả to, đỉnh quả lõm, nhìn dọc theo quả thì hơi vuông, nhưng nhìn ngang thì dài, khi chín có màu đỏ, vỏ quả dày, trơn, vỏ quả không có vân, có ít phấn ở đỉnh quả, gốc và tai quả lõm sâu Trọng lượng quả trung bình 85g, chiều cao quả 5,0 cm, đường kính quả 4,7 cm Số hạt trong quả 0,5, tỷ lệ thịt quả 89% Một cây cho khoảng 65 kg quả
+ Hồng tròn dài
Đặc điểm: Cây cao khoảng 7 m, tán rộng 6,7 m hình đống rơm Lá to, đầu nhọn, mặt trên lá xanh bóng, mặt dưới có lông tơ màu vàng, mọc thưa Quả mọc thành chùm 1 - 3 quả, khi chín có màu đỏ, không hạt Quả hình tròn dài, chóp quả bằng, vỏ quả dày, trơn, hơi có khía, gốc quả lõm, tai quả cong lên, thịt quả màu đỏ Trọng lượng quả trung bình 80g Chiều cao quả 4,9 cm, đường kính quả 4,7 cm Tỷ lệ thịt quả 90%, tỷ lệ đường 10,5%, tỷ lệ axit 0,2% Năng suất 1 cây khoảng 142 kg
+ Hồng Nhân Hậu
Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình bán nguyệt, độ cao phân cành ≥1m Lá to, hình bầu dục, màu xanh đậm; trên mặt lá bóng láng, mặt có lông tơ màu nâu vàng, chiều dài lá 15,8cm, chiều rộng lá 10,4cm Quả hình trái tim, khi chín có màu đỏ thắm, chín vào trung tuần tháng 8
âm lịch, vỏ quả mỏng, thịt quả dẻo, ít hạt Trọng lượng quả 150-200g
Trang 18+ Hồng Văn Lý
Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu xám sáng, tán cây thường có hình dù, độ phân cành 60 - 70cm Lá to trung bình, hình bầu dục, mặt trên hơi ráp, chiều dài lá 14,4cm, chiều rộng lá 7,5cm Quả hình trụ, chôn quả tròn, khi chín có màu
đỏ vàng, không hạt Trọng lượng quả trung bình 70 - 90g, chín vào giáp tết âm lịch
+ Hồng Yên Thôn
Đặc điểm: Thân cây màu xám, cành bánh tẻ màu nâu, tán cây hình tròn hoặc
ô van, độ cao phân cành khoảng 65 cm Lá to hình bầu dục, màu xanh đậm Mặt trên lá bóng, phản quang, mặt dưới có lông tơ màu nâu vàng Chiều dài lá 16 cm, chiều rộng 9,3 cm Quả hình trụ, chôn quả hơi lồi, khi chín có màu đỏ vàng, thường chín vào tháng 11 - 12; thịt quả nát, nhiều nước Quả nặng 150 - 250 g, có 2 - 3 hạt
+ Hồng Hạc Trì
Đặc điểm: Cây cao trên 9 m, tán rộng trên 7 m, sinh trưởng khoẻ Lá hình elíp rộng, mặt trên có màu xanh hơi vàng, không bóng, mặt dưới màu xanh trắng, có lông màu vàng Quả hình trụ, chôn quả hơi tù, có 4 cạnh rõ rệt Trọng lượng quả
100 - 150 g, không hạt Khi chín có màu vàng đỏ, thịt quả màu vàng, ăn giòn, có cát, chín vào tháng 9 (thường thu hoạch đồng loạt vào trước 15/8 âm lịch, ngâm sau
2 - 3 ngày là ăn được)
+ Hồng Tiến
Đặc điểm: Cây cao trên 10 m, tán rộng trên 8 m Lá to hình bầu dục, mặt trên màu xanh đậm, không bóng, mặt dưới màu trắng xanh có nhiều lông tơ Quả hình trụ vuông, trên và dưới quả đều bằng Quả năng trung bình 120 - 160 g, không có hạt hoặc có 1 - 2 hạt bé dẹt Chín vào tháng 10, khi chín quả có màu đỏ hồng, thịt quả màu đỏ Vỏ quả nhẵn đẹp, giấm 3 ngày thì chín, nếu quả chín trên cây vẫn ăn được ngay
+ Hồng Thạch
Đặc điểm: Cây cao trên 10 m, tán rộng trên 8 m Lá to hình bầu dục, mặt trên màu xanh thẫm, không bóng, mặt dưới màu trắng xanh có lông màu vàng Quả hình trụ tròn, chôn quả lồi Quả nặng trung bình 150-200g, có 1 - 2 hạt, ít khi có 3 hạt Chín vào đầu tháng 9, khi chín vỏ quả màu đỏ vàng, thịt màu đỏ hồng, giấm 4 ngày là chín
Trang 19+ Hồng ngâm quả hình trứng
Đặc điểm: Thân cây bé, cây cao trên 9 m, tán rộng trên 6 m (thuộc loại tán hẹp) Lá thuôn dài, mặt trên màu xanh đậm, bóng, mặt dưới xanh trắng có lông thưa Quả hình trứng nặng 100 - 150 g có 1 - 3 hạt dài và dày Chín vào tháng 9, khi chín vỏ quả màu vàng nhạt Ngâm khoảng 3 ngày là ăn được
+ Hồng ngâm quả hình trụ dài
Đặc điểm: Cây không lớn (cao khoảng 7 m), tán lá rộng 4 m Lá thuôn dài, mặt trên xanh bóng, mặt dưới màu xanh có lông tơ thưa màu vàng Quả hình trụ dài nặng trung bình 100 - 150g, chín vào tháng 9, khi chín quả có màu vàng không đều, phía tai quả màu xanh, phía chôn quả màu vàng có 1 - 2 hạt, có quả không hạt
1.1.2 Các nghiên cứu trên thế giới về cây hồng
Trong lịch sử phát triển cây hồng, theo Yung Kyung Choi và Jung Hokim (1972) cho biết: Từ Trung Quốc hồng được đưa sang Nhật Bản, Triều Tiên sang châu Âu rồi đến Mỹ
Theo Grubov, U.I (1967): Hiện nay những nước trồng hồng và xuất khẩu nổi tiếng nhát là: Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên và các nước á nhiệt đới miền Nam Liên Xô cũ
Theo Vũ Công Hậu hiện nay Trung Quốc là nước trồng hồng nhiều nhất, khắp lãnh thổ của nước này, trừ mấy tỉnh biên giới như: Hắc Long Nam, Nội Mông, Tân Cương, Tây Tạng; còn hầu hết các tỉnh đều trồng hồng
Ở Hàn Quốc hồng là một trong những cây ăn quả quan trọng đang được chú
ý phát triển, chỉ sau 5 năm, sản lượng hồng của Hàn Quốc đã tăng gần gấp đôi (từ 167.671tấn năm 1999 lên 273.846 tấn năm 2011)
Theo FAO, sản lượng hồng của một số nước được trình bày qua bảng 1.3
Trang 20Bảng 1.3: Sản lượng trồng hồng của một số nước trên thế giới
(Nguồn: FAO năm 2015)
Số liệu bảng 1.3 ta thấy, mặc dù năng suất của Trung Quốc không cao nhưng
do có diện tích lớn nhất thế giới nên sản lượng hồng của Trung Quốc vẫn đứng đầu thế giới với 2.212.152 tấn năm 2010 tăng lên 2.533.899 tấn năm 2013 tỷ lệ tăng đạt 14,54%, chiếm 69,85% sản lượng toàn thế giới, tiếp đến vẫn là Hàn Quốc và Nhật Bản là ba nước đứng đầu trong danh sách những nước có sản lượng lớn nhất thế giới
Mỗi loại cây trồng đều có một biên độ sinh thái nhất định Khi được trồng trong điều kiện sinh thái phù hợp, cây trồng đó sẽ sinh trưởng phát triển tốt và cho
năng suất cao Các loài thuộc chi Diospyos có các vùng phân bố khác nhau nhưng
tập trung chủ yếu ở Châu Á và Bắc Mỹ Tuỳ đặc điểm của các loài khác nhau mà hướng sử dụng khác nhau (bảng 1.4)
Trang 21Bảng 1.4: Sự phân bố và sử dụng của các loài thuộc chi Diospyros
Diospyros kaky Linn Nhật Bản, Trung Quốc,
Hàn Quốc, Việt Nam Ăn tươi và chế biến
Diospyros lotus linn Châu Á Sản xuất tanin, làm
gốc ghép
Deospyros virginiana Linn Bắc Châu Mỹ Ăn tươi, làm gốc
ghép Diospyros oleifera Cheng Trung Quốc Sản xuất tanin
(Nguồn: Đào Thanh Vân (2002)
Loài D.kali phân bố chủ yếu ở 4 nước: Nhật, Trung Quốc, Hàn Quốc và Việt Nam Vì loài Diospyros kaki có thịt quả mềm nên có thể dùng để chế biến
Về mặt tiêu thụ và chế biến: Quả hồng chủ yếu được ăn tươi với thị trường tiêu thụ là các nước Châu Á Ở Trung Quốc và Nhật Bản, hồng là một trong những món tráng miệng chính trong khẩu phần ăn hàng ngày Sản phẩm hồng khô chế biến được sản xuất nhiều ở các nước Nhật Bản, Trung Quốc, Triều Tiên Các sản phẩm chế biến từ hồng tiêu thụ mạnh ở thị trường Châu Âu Người Châu Âu ở vùng Địa Trung Hải đã quen với cây hồng và cho rằng quả hồng chín rất ngọt, hương vị đậm
đà Phạm Văn Côn (2002), Vũ Công Hậu (1999)
Ở Mỹ, hồng trước đây chưa phát triển rộng được là do người ta chưa quen cách ăn quả hồng chín Những điều này lí giải các ý kiến cho rằng hồng rất khó xuất khẩu sang thị trường Châu Mỹ Vũ Công Hậu (1999)
Ở Việt Nam, Hồng không hạt được trồng chủ yếu ở Lạng Sơn, Bắc Kạn và Cao Bằng Hầu hết các vườn Hồng được nhân giống và gây trồng theo kinh nghiệm
và sở thích của các hộ gia đình nên số diện tích vườn Hồng biến động mạnh, có thời
kỳ tăng cả về diện tích và sản lượng với những năm Hồng được giá bán, nhưng cũng có thời kỳ cây Hồng bị chặt phá vì không bán được Thời gian qua, cây Hồng không hạt trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn đã có nhiều dự án và các công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm như:
Trang 22- Đề tài: Nghiên cứu tuyển chọn cây đầu dòng và xây dựng mô hình thâm canh giống hồng không hạt tỉnh Bắc Kạn
- Dự án: Ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển giống hồng không hạt đặc sản tại tỉnh Bắc Kạn; Dự án Nông thôn miền núi; Nghiệm thu năm 2008-2010
- Dự án: Ứng dụng khoa học và công nghệ sản xuất cây giống đảm bảo chất lượng phục vụ phát triển 1.000ha hồng không hạt của tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2015 (phục vụ huyện Ngân Sơn và Chợ Đồn)
- Dự án: Bảo tồn và phát triển thương mại hóa sản phẩm hồng không hạt Bắc Kạn
- Dự án: Xây dựng “Chỉ dẫn địa lý Bắc Kạn” cho sản phẩm hồng không hạt tỉnh Bắc Kạn (triển khai từ năm 2008-2010)
- Báo cáo Nghiên cứu, tuyển chọn cây đầu dòng và xây dựng mô hình thâm canh giống hồng không hạt ở Bắc Kạn - Viện nghiên cứu rau quả
- Dự án: Quản lý và Phát triển Chỉ dẫn địa lý hồng không hạt Bắc Kạn - Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Hệ thống Nông nghiệp
- Dự án “Ứng dụng khoa học và công nghệ phát triển giống Hồng không hạt đặc sản tại tỉnh Bắc Kạn” - Trung tâm ứng dụng tiến bộ KH&CN- Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bắc Kạn
- Dự án: “Ứng dụng Khoa học và Công nghệ sản xuất cây giống đảm bảo chất lượng phục vụ phát triển vùng hồng 1.000 ha của tỉnh Bắc Kạn từ nay đến năm 2015” - Viện nghiên cứu Rau quả
Trong các dự án, đề tài nghiên cứu có liên quan đến cây Hồng không hạt Bắc Kạn nói trên chủ yếu đều nói đến việc quy hoạch vùng sản xuất, các vấn đề có liên quan đến ứng dụng khoa học kỹ thuật và bảo tồn nguồn gen để duy trì và phát triển Hồng không hạt Bắc Kạn Cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ
và cụ thể giải pháp phát triển sản xuất nâng cao hiệu quả knh tế, kỹ thuật Hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể Chính vì vậy, luận văn lựa chọn nghiên cứu đề tài phân tích hiệu quả trồng Hồng không hạt của nông hộ trên địa bàn huyện Ba Bể,
tỉnh Bắc Kạn đáp ứng yêu cầu đòi hỏi thực tế
Trang 231.2 Cơ sở lý luận về cây hồng, hiệu quả và hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
1.2.1 M ột số lý luận về cây hồng
1.2.1.1 Nguồn gốc cây hồng
Cây hồng có nguồn gốc từ Trung Quốc (nguyên sản ở lưu vực sông Trường Giang), phân bố tự nhiên ở 320 - 370 vĩ độ Bắc Từ Trung Quốc hồng được đưa đến trồng tại Địa Trung Hải, cũng từ đây hồng được đưa sang Mỹ từ năm 1856, được nhập vào châu Âu năm 1789
Hồng là cây trồng á nhiệt đới khởi nguyên từ Trung Quốc và cũng là cây trồng có nguồn gốc ở Hàn Quốc (cây bản địa) Việc trồng hồng được sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, ngoài ăn quả còn được sử dụng để chữa các bệnh như: bệnh liệt, tê cóng, bỏng và làm ngưng chảy máu vì trong lá của hồng có rất nhiều chất tanin, phenol, axit hữu cơ, chlorophyl nhưng tanin là nguyên tố chủ yếu [14]
Theo một số tác giả: khi nghiên cứu về nguồn gốc của cây hồng phương
Đông đều cho rằng một số nhóm hồng thuộc loài hồng dại Diospyros kaki tồn tại
trong những khu rừng của Trung Quốc Tài liệu của cây hồng xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ V, VI [14]
Cây hồng được nhập từ Trung Quốc đến châu Âu vào năm 1789 và di chuyển san châu Mỹ vào năm 1856
Ở Việt Nam, cây hồng được nhập từ Trung Quốc qua miền Bắc Việt Nam rồi đến Đà Lạt Việt Nam
1.2.1.2 Phân loại giống hồng
Cây hồng (Diospyros) thuộc họ thị (Ebenaceae), phân lớp sổ (Dilleniaceae), thuộc lớp hai lá mầm (Dicotylledoneae), ngành thực vật hạt kín (Angiospermae) [3], [16]
Theo Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [24] trích dẫn kết quả nghiên cứu của các nhà phân loại học Nhật Bản cho biết: hiện nay có 800 - 1000 loài hồng Cây hồng được trồng phổ biến ở các nước có khí hậu ôn hoà thuộc châu Á, bắc Mỹ
và chỉ có 4 loài được trồng để lấy quả đó là: Diospyros kaki linn: D oleifera
Cheng: D virginiana Linn: D lotus Linn
Chi Diospyros gồm 400 loài, chủ yếu phân bố ở vùng á nhiệt đới châu Á, châu Phi và nam Mỹ, một số loài trong đó có hồng phương đông phân bố rộng trên các vùng ôn đới
Trang 24Cây hồng (Diospyros kaki linn) được trồng rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc và một số vùng khí hậu ôn hoà, cận nhiệt đới như Califonia (Mỹ), Italia, Israen, Braxin, Niudilân, Úc có hai nhóm hồng chính là hồng chát và hồng không chát
Cũng theo tác giả Yung Kyung Choi, Jung Hokim (1972) [24] trích dẫn kết quả nghiên cứu cho biết: Mori (1953) chia hồng thành 4 nhóm là:
+ Nhóm 1: Nhóm PCNA (Pollination constant Non-Astringnt): những giống
không chát và không biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống Fuju, Jiro, Gosh, Suruga, thịt quả gồm những đốm tanin sẫm
+ Nhóm 2: nhóm PVNA (Pollination Variant Non-Astringnt): những giống
không chát và biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Zenjimaru, Shogatsu, Mizushima, Anahya kume, thịt quả có những đốm tanin sẫm và khi không có hạt thì thịt quả có vị chát
+ Nhóm 3: nhóm PCA (Pollination constant Astringent): những giống chát,
không biến đổi với sự thụ phấn, gồm những giống: Yokomo, Yotsumizo, Shakokaski, Hagakushi, Hachiya, Ghionho, thịt quả không có những đốm tanin sẫm
+ Nhóm 4: nhóm PVA (Pollination Variant Astringnt): những giống chát
biến đổi với sự thụ phấn, gồm các giống: Azumi Shirazu, Emon, Kosshuhya kume, Hiratanenashi, có thể chát khi được thụ phấn và có một vài đốm tanin sẫm xung quanh hạt
Ở Việt Nam, những điều tra ban đầu từ năm 1990 về cây hồng đã phát hiện 3 loài hồng sau:
+ Hồng lông (D Tokinensis L) được phân bố rải rác khắp nơi ở miền
Bắc.Thân cao to thường có màu trắng tro, cây phân cành ngang, tạo nhiều tầng cành, tán hình tròn Lá thuôn dài, mặt trên màu sẫm, có lông vàng màu xanh, mặt dưới màu xanh nhạt, có lông màu hơi vàng Quả to tròn hoặc tròn dẹt; khi còn xanh, mặt ngoài quả có lông tơ màu xanh, khi chín, lông màu vàng nhạt, trong quả
có nhiều hạt (6 - 9 hạt), to dày, màu vàng nâu
Trang 25Sơ đồ 1.1 Phân loại hồng theo Mori 1953
(Nguồn: Phạm Văn Côn (2004))
+ Hồng cậy (D lotus L) được trồng rải rác ở các tỉnh phía Bắc Việt Nam
như Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình Thân cây cao to, tán lớn, lá nhỏ hẹp, mặt trên màu xanh đậm nhẵn nhưng không bóng, mặt lá màu xanh trắng có ít lông Quả hình tròn dẹt, bé, chiều cao quả trung bình 2,2 cm, đường kính quả trung bình 2,6cm Hiện nay, nông dân thường thu hoạch quả chín để lấy hạt gieo làm gốc ghép
+ Hồng trơn có lá nhẵn (D kaki L) được trồng nhiều ở các tỉnh phía Bắc và
vùng Đà Lạt tỉnh Lâm Đồng Thân cây thường có màu nâu, cành hẹp, tán hình tròn hoặc hình tháp, lá hình bầu dục hoặc elip, mặt trên màu xanh sẫm, nhẵn, mặt dưới
có lông màu xanh nhạt hoặc trắng Quả to, nhỏ tuỳ giống, khi còn xanh vỏ nhẵn, trơn màu xanh lục, khi chín màu vàng đỏ Trong quả có ít hạt hơn 2 loài trên (0 - 6 hạt) Hạt nhỏ, mỏng màu nâu cánh gián (Phạm Văn Côn (2002))
1.2.1.3 Lịch sử phát triển Hồng không hạt ở Ba Bể
Hồng không hạt là một loại cây ăn quả đặc sản đã có từ nhiều năm nay ở huyện Ba Bể Tuy nhiên, phong trào trồng hồng không hạt chỉ thực sự phát triển trong thời gian gần đây, khi giống quả này bắt đầu chiếm được cảm tình của người tiêu dùng trên thị trường trong và ngoài tỉnh Đặc biệt sự kiện hồng không hạt Bắc Kạn, trong đó có Ba Bể được cấp chỉ dẫn địa lý đã khẳng định tiềm năng kinh tế của loại cây ăn quả này đối với người nông dân của huyện vùng cao Ba Bể
Thụ phấn bất biến
Thụ phấn biến đổi
Trang 261.2.1.4 Vị trí của Hồng không hạt trong ngành trồng trọt ở huyện Ba Bể
Quả hồng Bắc Kạn thuộc nhóm hồng ngâm, trọng lượng quả trung bình 40 -
65 gr/quả, khi chín vỏ quả vàng nhạt, thịt quả giòn, thơm, vị đậm Đáng chú ý là hồng Bắc Kạn cho thu hoạch đúng vào dịp tết trung thu, làm cho mâm hoa quả thêm phong phú, hấp dẫn, cũng là cơ hội cho nhiều gia đình sắm sửa đồ dùng cho con vào năm học mới Vì vậy, cây hồng không hạt Bắc Kạn ngoài giá trị kinh tế, giúp nhân dân đồng bào huyện Ba Bể và các vùng lân cận xoá đói giảm nghèo, phủ xanh đất trống đồi trọc, chống xói mòn, bảo vệ lâm sinh bền vững thân thiện môi trường còn là niềm tự hào của người dân địa phương Xuất phát từ nhu cầu thực tế UBND tỉnh Bắc Kạn đã phê duyệt dự án phát triển cây hồng không hạt giai đoạn 1996 -
2015 tại 15 xã/3 huyện Chợ Đồn, Ba Bể, Ngân Sơn với diện tích 1.500ha và đã có nhiều cơ chế hỗ chợ đồng bào để phát triển cây hồng không hạt Bắc Kạn thành vùng hàng hóa có thương hiệu
Hiện nay, Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Kạn đang thực hiện mô hình cấy ghép cải tạo giống hồng tại huyện Ba Bể Từ nguồn vốn của Chương trình 30a, ngành nông - lâm nghiệp huyện cũng đang đầu tư xây dựng vườn ươm hồng không hạt tại vườn ươm xã Bành Trạch Phấn đấu nâng diện tích hồng không hạt lên 500ha vào năm 2020 Để thực hiện được mục tiêu đề ra, huyện đã có nhiều biện pháp nâng cao nhận thức của người dân về lợi ích kinh tế của loại cây ăn quả này, từ đó nhân rộng diện tích trồng ra nhiều địa phương, tích cực bảo tồn và nhân rộng nguồn gen của loại hồng không hạt truyền thống, quảng bá thương hiệu ra thị trường Với giá bán trên thị trường khoảng 10.000đ/kg như hiện nay thì việc nhân rộng giống hồng này thành công sẽ tạo ra nhiều cơ hội phát triển kinh tế cho bà con nông dân huyện
Trang 27Sơn Các sản phẩm hồng không hạt có chất lượng được người tiêu dùng biết đến và tiêu thụ nhiều ở trong tỉnh và ngoài tỉnh như: Hà Nội, Cao Bằng, Thái Nguyên
- Ứng dụng tiến bộ kỹ thuật trong nhân giống như sử dụng phương pháp ghép mắt để tăng hệ số nhân giống
b) Một số tồn tại, khó khăn trong sản xuất
- Diện tích trồng hồng không hạt còn nhỏ lẻ, manh mún chủ yếu phát triển trong vườn hộ gia đình, không có kiến tạo, trồng phân tán dưới tán rừng hoặc trực tiếp trồng xen vào các vườn quả cũ
- Các biện pháp kỹ thuật như chăm sóc, bón phân, tỉa cành, tạo tán, tưới nước, phòng trừ sâu bệnh hại chưa được hộ nông dân quan tâm đúng mức
- Công tác tổ chức sản xuất và cung ứng giống cây con chưa được chủ động, thiếu giống chất lượng tốt phục vụ cho sản xuất, chi phí đầu tư cho trồng mới cao người dân khó áp dụng đại trà
- Công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đến người dân cho cây hồng không hạt còn rất ít; nếu có chỉ tập trung vào các kỹ thuật riêng rẽ, ít đi sâu vào phổ biến các kỹ thuật đồng bộ của cả một quá trình sản xuất, từ khâu chọn giống đến sản xuất
- thu hoạch - bảo quản - tiêu thụ sản phẩm
- Diễn biến thời tiết trong những năm gần đây hết sức bất thường, khó lường ảnh hưởng nghiêm trọng đến năng suất, chất lượng quả
- Cơ sở vật chất kỹ thuật như hệ thống đường giao thông và thuỷ lợi còn hạn chế chưa có diện tích hồng không hạt được đầu tư hệ thống tưới đảm bảo yêu cầu
sản xuất
1.2.2 Lý luận về năng suất, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
1.2.2.1 Một số khái niệm về năng suất
* Năng suất:
- Theo Từ điển Oxford [21] “năng suất là tính hiệu quả của hoạt động sản
xuất được đo bằng việc so sánh giữa khối lượng sản xuất trong những thời gian hoặc nguồn lực được sử dụng để tạo ra nó”- Cách tiếp cận mới về năng suất lao động.GS- PTS Nguyễn Đình Phan.Nxb Chính trị quốc gia, HN Tr 6
Trang 28- Theo từ điển kinh tế học hiện đại của MIT (Mỹ) “năng suất là đầu ra trên
một đơn vị đầu vào được sử dụng Tăng năng suất xuất phát từ tăng tính hiệu quả của các bộ phận vốn, lao động Cần thiết phải đo năng suất bằng đầu ra thực tế, nhưng rất ít khi tách riêng biệt được năng suất của nguồn vốn và lao động”- Cách tiếp cận mới về năng suất lao động.GS- PTS Nguyễn Đình Phan.Nxb Chính trị quốc gia, HN Tr 6.
Khái niệm mới về năng suất bao hàm nội dung coi trọng sử dụng hợp lý các yếu tố đầu vào với suất tiêu hao lao động và nguyên vật liệu thấp, hàm lượng trí tuệ
- KH&CN - ngày càng cao Nói tới năng suất, người ta chú trọng hơn yêu cầu lượng đầu ra phải tăng lên hoặc tăng nhanh hơn lượng đầu vào để có ngày càng nhiều sản phẩm, dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của dân cư, tạo thêm việc làm cho người lao động; tăng năng suất không chỉ tăng thêm kết quả sản xuất của một đơn vị đầu vào mà còn phải tăng thêm ngày càng nhiều số đơn vị có mức năng suất cao Như vậy, tăng năng suất không phải là giảm bớt việc làm, mà ngược lại, tăng năng suất gắn liền với tăng việc làm cho người lao động
1.2.2.2 Khái niệm hiệu quả
Hiệu quả được định nghĩa là đạt được một kết quả giống nhau nhưng sử dụng ít thời gian, công sức và nguồn lực nhất Hiệu quả là sự liên quan giữa nguồn lực đầu vào khan hiếm (như lao động, vốn, máy móc…) với kết quả trung gian hay kết quả cuối cùng Hiệu quả là một phạm trù được sử dụng rộng rãi trong tất cả các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, xã hội Hiểu theo nghĩa rộng, hiệu quả thể hiện mối tương quan giữa các biến số đầu ra thu được (outputs) so với các biến số đầu vào đã được
sử dụng để tạo ra những kết quả đầu ra đó - Võ Đình Quyết, Trường Đại học Nha Trang
1.2.2.3 Khái niệm hiệu quả kỹ thuật (Technical efficiency)
Hiệu quả kỹ thuật là tối thiểu hóa lượng các yếu tố đầu vào với đầu ra cho trước hoặc tối đa hóa các yếu tố đầu ra với lượng yếu tố đầu vào cho trước Có hai phương pháp đo lường hiệu quả kỹ thuật phổ biến là: phân tích màng dữ liệu (Data Envelopment Analysis - DEA) và phân tích đường biên ngẫu nhiên (Stochastic Production Frontier - SPF), trong đó SFA sử dụng phương pháp tham số (parametric methods), DEA dựa theo phương pháp phi tham số (non - parametric methods) để ước lượng giới hạn khả năng sản xuất dựa trên các quan sát thực tế
Trang 29Phương pháp DEA
DEA lần đầu tiên được phát triển bởi Charnes, Cooper, và Rhodes vào năm
1978 Có hai phương pháp tiếp cận ước lượng giới hạn khả năng sản xuất là: phân tích màng dữ liệu trong trường hợp qui mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (Constant Return to Scale - CRS) và phân tích màng dữ liệu trong trường hợp qui
mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (Variable Return to Scale - VRS) Cả hai mô hình DEACRS và DEAVRS đều được xây dựng với giả thiết tối thiểu hóa các yếu tố đầu vào mà không làm giảm sút đầu ra và tối đa hóa đầu ra dựa trên đầu vào có sẵn
Để so sánh phương pháp DEACRS và DEAVRS, ta xét điểm không đạt hiệu quả kỹ thuật P (hình 1.1) Sự không hiệu quả kỹ thuật theo mô hình phân tích màng
dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp qui mô không ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (CRS) của điểm P là một khoảng cách PPc Trong khi đó, sự không hiệu quả kỹ thuật theo mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào trong trường hợp qui mô ảnh hưởng đến kết quả sản xuất (VRS) chỉ là PPv Sự khác biệt của hai mô hình đo lường này là do sự không hiệu quả về mặt qui mô Các khái niệm này có thể chỉ rõ trong đo lường hiệu quả tỉ lệ như sau:
TECRS = APc/ AP TEVRS = APv/ AP
Hình 1.1 Mô hình phân tích màng dữ liệu tối thiểu hóa đầu vào DEA CRS và DEA VRS
Do vậy, hệ số hiệu quả TECRS, TEVRS trong mô hình phân tích màng dữ liệu luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1
Trang 301.2.2.4 Khái niệm hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế là một vấn đề quan trọng cả về lý thuyết và thực tiễn Đảm bảo hiệu quả kinh tế là vấn đề bao trùm thể hiện của chất lượng của toàn bộ công tác quản lý kinh tế vì suy cho cùng quản lý kinh tế là đảm bảo tạo ra kết quả cuối cùng, hiệu quả cuối cùng của mọi quá trình kinh tế Dự thảo chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của nước ta đã chỉ rõ “Hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn quan trọng nhất của sự phát triển” Hiệu quả kinh tế là phạm trù kinh tế quan trọng biểu hiện quan hệ so sánh giữa kết quả kinh tế mà xã hội đạt được với chi phí
bỏ ra để đạt được hiệu quả đó
1.2.2.5 Đo lường năng suất, hiệu quả trong nông nghiệp
Cho đến nay có đã có rất nhiều các nghiên cứu sử dụng phương pháp bao dữ liệu (DEA) nhằm ước lượng đường biên sản xuất chung Rao và cộng sự (2003) và O’Donnell và cộng sự (2008) sử dụng mô hình DEA trong phân tích sự khác biệt năng suất nông nghiệp của 97 nước Các nước này được chia thành 4 nhóm Các tác giả chỉ
ra rằng Châu Mỹ là khu vực có hiệu quả kỹ thuật cao nhất trong khi đó Châu Phi là thấp nhất Châu Á nắm giữ vị trí hàng đầu trong công nghệ sản xuất nông nghiệp Với phương pháp tương tự, Krishnasamy và Ahmed (2009) phân tích tăng trưởng năng suất
và chỉ ra khoảng cách giữa 26 nước OECD Ở cấp số liệu vi mô, Breustedt và cộng sự (2009) phân tích hiệu quả kỹ thuật và khoảng cách công nghệ giữa 2 nhóm: 1.239 nông trại truyền thống và 102 nông trại organic ở Bavaria, Đức vào năm 2005
Khác với các nghiên cứu sử dụng bao dữ liệu giản đơn chỉ tập trung vào hiệu quả kỹ thuật và khoảng cách công nghệ ở một thời điểm nhất định, Oh và Lee (2010) xây dựng chỉ số Malmquist TFP toàn cục nhằm đo lường xu hướng thay đổi của hiệu quả kỹ thuật, tiến bộ công nghệ và năng suất trong thời kỳ Các tác giả ước lượng tăng trưởng năng suất và các thành phần của nó đối với một mẫu gồm 58 nước được chia thành 5 khu vực trong giai đoạn 1970-2000 Oh (2010) kết hợp chỉ
số này với những khác biệt giữa các nhóm để phát triển thành chỉ số tăng trưởng năng suất “nhạy cảm” Tác giả đã sử dụng nó trong phân tích tăng trưởng năng suất của 46 nước được chia thành 3 khu vực trong giai đoạn 1992-2003
Battese và cộng sự (2002, 2004) cùng với O’Donnell và cộng sự (2008) phát triển phương pháp phân tích sản xuất biên ngẫu nhiên để ước lượng đường biên sản
Trang 31xuất chung được sử dụng trong rất nhiều nghiên cứu đo lường hiệu quả và năng suất Rao và cộng sự (2003) và O’Donnell và cộng sự (2008) phân tích sự khác biệt năng suất nông nghiệp giữa 97 quốc gia trong các khu vực: Châu Phi, Châu Mỹ, Châu Á và Châu Âu trong giai đoạn 1986-1990 Cũng sử dụng phương pháp này, Jemaa và Dhif (2005) đo lường năng suất nông nghiệp và khoảng cách trong công nghệ sản xuất giữa khu vực MENA và một số nước Châu Âu Chen và Song (2008) ước lượng hiệu quả kỹ thuật và khoảng cách trong công nghệ sản xuất giữa 4 khu vực bao gồm 31 tỉnh của Trung Quốc vào những năm 1990 Ở cấp số liệu vi mô, Moreira
và Bravo-Ureta (2010) đo lường hiệu quả kỹ thuật và tỷ lệ khoảng cách công nghệ của các trang trại bò sữa ở 3 quốc gia: Argentina, Chile và Uruguay Tương tự, Mariano và cộng sự (2010) phân tích hiệu quả và khoảng cách công nghệ của 2,000 trang trại trồng lúa trong 4 vùng khí hậu ở Phillipine trong giai đoạn 1997-2007
Cho đến nay chưa có một nghiên cứu được công bố nào sử dụng những phương pháp này để ước lượng khoảng cách trong công nghệ sản xuất nông nghiệp cũng như các khu vực khác ở Việt Nam Hầu hết các nghiên cứu trước đây trong lĩnh vực hiệu quả kỹ thuật và năng suất nông nghiệp chủ yếu theo hướng sử dụng các phân tích định tính và thống kê mô tả Một số nghiên cứu định lượng trong lĩnh vực này đều sử dụng phương pháp bao dữ liệu để ước lượng chỉ số Malmquist TFP truyền thống hoặc sử dụng phương pháp phân tích hàm sản xuất biên ngẫu nhiên truyền thống như: Son, Coelli và Fleming (1993) - các trang trại cao su; Nghiêm và Coelli (2002) - ngành lúa gạo; Rios và Shively (2005) - các trang trại trồng cà phê; Linh (2008) - nông nghiệp nói chung; Minh và Long (2008) - nông nghiệp nói chung; Kompas và cộng sự (2009) - ngành lúa gạo Các nghiên cứu này không chỉ
ra được sự khác biệt, mức độ thay đổi về công nghệ sản xuất giữa các vùng nông nghiệp do chúng đều giả định rằng tất cả các tỉnh (hộ/trang trại sản xuất nông nghiệp) có cùng công nghệ tại mỗi thời kỳ
1.3 Cơ sở thực tiễn về hiệu quả sản xuất hồng không hạt
1.3.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất hồng không hạt tại Bắc Kạn
Bắc Kạn là tỉnh thuộc vùng cao, địa hình khá phức tạp và khá đặc biệt, độ cao, độ dốc lớn, lại là đầu nguồn của nhiều hệ thống sông nên tập trung dòng chảy
Trang 32về mùa mưa rất nhanh do vậy việc bảo vệ rừng đầu nguồn có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sản xuất và đời sống nhân dân trong tỉnh nói riêng và cả vùng hạ lưu nói chung
Về khí hậu: Bắc Kạn có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa nhưng có sự phân hoá
theo độ cao của địa hình và hướng núi Với chế độ nhiệt đới gió mùa, một năm ở Bắc Kạn có hai mùa rõ rệt: Mùa mưa nóng ẩm từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm 70 - 80% lượng mưa cả năm; mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, lượng mưa chỉ chiếm khoảng 20-30% tổng lượng mưa trong năm, tháng mưa ít nhất là tháng 12
Về chế độ nhiệt: Nhiệt độ trung bình hàng năm 23,00C, trung bình cao nhất 28,00C, trung bình thấp nhất từ 15,70C Nhiệt độ tối thiểu thấp nhất tuyệt đối - 0,10C tại huyện Ba Bể và - 20C tại huyện Ngân Sơn… gây băng giá, ảnh hưởng rất lớn đến cây trồng vật nuôi Tuy nhiên do địa hình chia cắt cùng với chế độ nhiệt như vậy đã hình thành trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn có nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau, thích hợp với nhiều loại cây trồng vật nuôi tạo nên các thế mạnh cho từng khu vực tỉnh, với các loại sản phẩm đặc trưng của vùng nhiệt đới và á nhiệt đới
Về đất đai: Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh là 485.941 ha, trong đó đất nông
nghiệp có 371.676 ha chiếm 76,36%; đất phi nông nghiệp có 18.535 ha chiếm 3,82%, đất chưa sử dụng có 96.493 ha chiếm 19,82% tổng diện tích đất tự nhiên Theo tài liệu về đất đai của Bộ Tài nguyên và Môi trường cho thấy Bắc Kạn có nhiều loại khác nhau, chất lượng đất đai tỉnh Bắc Kạn khá tốt, tầng đất dày, đất đồi núi có lượng mùn cao thuận tiện cho sản xuất lương thực, trồng cây công nghiệp, cây ăn quả và trồng cỏ phục vụ chăn nuôi đại gia súc
1.3.2 Tình hình sản xuất cây hồng không hạt
Hồng không hạt Bắc Kạn là cây ăn quả đặc sản của địa phương có giá trị kinh tế đã được tỉnh Bắc Kạn xác định là cây trồng chính có tiềm năng mở rộng và phát triển Năm 2009, UBND tỉnh đã có Quyết định số: 3483/QĐ-UBND, ngày 11/11/2009 về việc phê duyệt dự án Quy hoạch cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008-2015, tầm nhìn đến năm 2020, trong đó quy hoạch diện tích trồng hồng không hạt là 1.200ha
Trang 33Theo thống kê toàn tỉnh Bắc Kạn hiện có 822 ha trồng cây Hồng không hạt, diện tích cho thu hoạch trên 210ha, hàng năm sản phẩm hồng không hạt được tiêu thụ mạnh với giá bán trung bình từ 20.000-25.000 đồng/kg, tuy có chất lượng nổi tiếng và thị trường tiêu thụ thận lợi nhưng cơ bản diện tích hồng không hạt của Bắc Kạn chưa được đầu tư thâm canh để phát huy hiệu quả kinh tế từ cây trồng có giá trị kinh tế cao này
Thông qua điều tra đánh giá hiện trạng giống hồng thì hiện tại ở Bắc Kạn đang có 6 giống hồng trồng lẫn tại các hộ với mức độ khác nhau, chất lượng giống chưa cao và chưa có sự lựa chọn chất lượng giống nên sản phẩm thiếu tính đồng nhất nên giá trị thu nhập chưa cao
Bảng 1.5: Các giống hồng đang trồng tại Bắc Kạn
TT Tên giống hồng Hình thức
nhân giống Một số đặc điểm hình thái
1 Hồng Thạch Thất Cây ghép Thân màu nâu tía, Quả hình trụ,
đáy quả hơi lồi, khi chín có màu đỏ vàng, thường chín vào tháng 11 - 12; thịt quả nát, nhiều nước Quả nặng 150 - 250 g, có 2 - 3 hạt
2 Hồng Nhân Hậu Cây ghép Quả hình trái tim, khi chín có màu
đỏ thắm, chín vào trung tuần tháng 8 âm lịch, vỏ quả mỏng, thịt quả dẻo, ít hạt Trọng lượng quả
150 -200g
3 Hồng lông (địa
phương)
Từ hạt Quả to, hơi dẹt về phía cuống,
phẩm chất trung bình, người tiêu dùng ít biết đến Thu hoạch tháng 9
- 10 dương lịch
4 Hồng Trung Quốc Cây ghép Quả hình vuông, đỉnh quả bằng
hoặc hơi lõm Khi chín vỏ quả màu đỏ, vỏ mỏng Trọng lượng quả trung bình 50 g
5 Hồng găng (quả nhỏ) Giâm từ rễ Quả hình trứng nặng 100 - 150g có 2
- 4 hạt Chín vào tháng 9 dương lịch, khi chín vỏ quả màu vàng nhạt
Trang 34Đối với loại Hồng Thạch Thất, Hồng Nhân Hậu được trồng từ những năm 80
- 90 của thế kỷ trước thuộc nhiều dự án phát triển cây ăn quả của tỉnh Bắc Thái (cũ), cây sinh trưởng tốt, năng suất cao, tuy nhiên hiện nay người dân không tiếp tục trồng và đang phá bỏ các giống cây này với lý do: kỹ thuật khử chát bằng hình thức dấm còn phức tạp, quả mềm khó vận chuyển, khi dấm không kỹ ăn có vị chát, đồng thời tập quán của người dân không thích ăn loại hồng mềm Hoặc một số hộ đã tiến hành ghép cải tạo, dùng mắt Hồng không hạt Bắc Kạn ghép lên thân Hồng Thạch Thất, bước đầu có kết quả tốt
Còn đối với Hồng Trung Quốc, mới được trồng khoảng 5-10 năm trở lại đây, tuy nhiên diện tích trồng còn ít
Trong các giống trên thì phổ biến nhất là giống Hồng không hạt quả to, thuôn dạng hình tim, có năng suất cao, phẩm chất tốt đây cũng chính là giống hồng đặc sản được người dân lưu truyền do bán được giá và cho thu nhập cao nên đang được khuyến cáo phát triển trong thời gian vừa qua Còn loại quả hơi tròn chín muộn diện tích ít hơn, được trồng để rải vụ thu hoạch
Bảng 1.6: Đặc trưng về tính chất, đặc thù của 2 loại
Hồng không hạt Bắc Kạn
thuôn dài
Loại hồng dạng tròn
5 Tai quả Tai to, có 4-5 tai Tai to, có 4 tai
6 Độ cứng quả sau khi ngâm Không cứng Hơi cứng
7 Độ chát của quả sau khi ngâm Không chát Không chát
8 Độ ngọt của quả sau ngâm Ngọt dịu đến ngọt đậm Ngọt dịu
9 Độ giòn thịt quả Nhiều cát đường, rất giòn Ít cát
10 Trọng lượng quả 15-18 quả/kg 25-30 quả/kg
Trang 35Trong 2 loại hồng thì dạng quả thuôn dài chín sớm hơn vào khoảng
10/8-19/9 âm lịch nên người ta cũng gọi là Hồng không hạt tháng 8-9, đây cũng là dịp
tết Trung thu nên khi thu hoạch thường bán được giá Còn loại hồng quả hơi tròn
chín muộn hơn vào cuối tháng 9, đầu tháng 10 âm lịch nên người ta còn gọi là Hồng
không hạt tháng 9- 10 Hiện nay thị hiếu người tiêu dùng và người dân trồng hồng
tại Bắc Kạn đang ưa chuộng loại Hồng không hạt dạng thuôn dài, thu hoạch vào tháng 8-9 để cung cấp hồng vào dịp tết Trung thu hàng năm
Ngày 11/11/2009, UBND tỉnh Bắc Kạn đã có Quyết định số UBND về việc phê duyệt dự án Quy hoạch cây trồng chính trong sản xuất nông nghiệp tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2008-2015, tầm nhìn đến năm 2020, trong đó quy hoạch diện tích trồng hồng không hạt là 1.200 ha; Đây là cơ sở quan trọng cho sự phát triển của loại cây trồng này trên địa bàn tỉnh trong những năm qua
3483/QĐ-Bảng 1.7: Tình hình phát triển cây hồng không hạt tỉnh Bắc Kạn từ 2000-2015
Diện tích (ha)
Năng suất (Tạ/ha)
Sản lượng (Tấn) Diện tích
Diện tích cho sản phẩm
Trang 36Qua điều tra tại các hộ sản xuất hồng cho thấy: Diện tích trồng cây hồng không hạt tăng theo từng năm, nhất là giai đoạn từ 2008 đến 2017 Diện tích hồng cho thu hoạch cũng tăng từ 98 ha năm 2008 lên khoảng 430 ha vào năm 2017 Năng suất hồng thấp và không tăng đáng kể tư 20 - 23 tạ/ha, nguyên nhân là do thời tiết của từng năm
Sản lượng hồng năm 2017 đạt khoảng 1.800 tấn tăng 1.604 tấn so với năm 2008
1.3.3 Bài học kinh nghiệm trong sản xuất và nâng cao hiệu quả sản xuất hồng không hạt
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn trong phát triển sản xuất hồng như đã
đề cập ở trên, có thể thấy rằng:
- Phát triển sản xuất hồng không hạt là sự gia tăng về diện tích, sản lượng, số
hộ trồng và đầu tư khoa học công nghệ tiên tiến để sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái
- Phát triển sản xuất Hồng không hạt giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống của hộ nông dân miền núi nói chung, tỉnh Bắc Kạn nói riêng Hồng không hạt là cây trồng lâu năm đồng thời phát triển cây hồng cùng một lúc có thể đạt được
ba mục tiêu kinh tế - xã hội - môi trường Phát triển trồng hồng không hạt đem lại lợi ích kinh tế cao cho các hộ nông dân trên địa bàn tỉnh, đặc biệt là các hộ dân ở vùng sâu, vùng xa sống chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp và kinh tế đồi rừng, tuy nhiên cây hồng không hạt vẫn chưa được chú trọng và đầu tư đúng mức
- Phát triển sản xuất hồng không hạt cũng phụ thuộc một số yếu tố, trong đó quan trọng nhất là quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và thị trường tiêu thụ
- Cùng với sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, chế biến, bảo quản ngày càng quan trọng với các ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm, những năm gần đây hồng không hạt còn được quan tâm hơn như là nguyên liệu chính để sản xuất dược liệu chữa các loại bệnh … Vì vậy, nhu cầu tiêu dùng sản phẩm hồng không hạt vẫn đang có xu hướng ngày càng tăng về số lượng và chất lượng
- Trên thế giới hồng được sản xuất ở một số nước như Nhật Bản, Trung Quốc Tại Việt Nam, diện tích hồng không hạt phân bố chủ yếu tại một số tỉnh phía Bắc Việt Nam như Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn Diện tích hồng không hạt tập
Trang 37trung nhiều nhất ở tỉnh Lạng Sơn, hiện nay diện tích hồng toàn tỉnh lên tới trên 2.338,4 ha
- Cùng với sự phát triển của các ngành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, một vài năm gần dây các cấp chính quyền từ tỉnh, huyện, xã ngày càng chú trọng hơn việc phát triển trồng cây hồng không hạt, hỗ trợ các hộ gia đình trồng hồng không hạt về quy trình kỹ thuật trồng, chăm sóc và chế biến sau thu hoạch; xây dựng chỉ dẫn địa lý sản phẩm hồng cho cả tỉnh nhằm quảng bá và tìm được thị trường tiêu thụ ổn định, giúp cho các hộ nông dân yên tâm sản xuất
Trang 38Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật, những can thiệp chính sách nhằm cải thiện hiệu quả
kỹ thuật trồng hồng không hạt quy mô hộ tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.2 Nội dung nghiên cứu
Những vấn đề về lý luận và thực tiễn về năng suất, hiệu quả trong sản xuất nông nghiệp
Thực trạng phát triển cây Hồng không hạt tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn: Diện tích, năng suất, sản lượng, mô hình sản xuất, vấn đề về liên kết sản xuất, thị trường tiêu thụ sản phẩm của các hộ dân trong vùng
Hiệu quả và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật trồng hồng không hạt tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Định hướng, mục tiêu và giải pháp nâng cao hiệu quả cây Hồng không hạt trên địa bàn huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Thu thập số liệu
2.3.1.1 Số liệu sơ cấp
Theo Báo cáo của Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Bắc Kạn tại Báo cáo số 399/BC-UBND ngày 21/11/2016, cây hồng không hạt đang được trồng tại hầu hết các huyện với tổng diện tích 850 ha, trong đó có 430 ha cho thu hoạch, sản lượng khoảng 1.800 tấn Trong đó, riêng huyện Ba Bể trồng 233 ha, chiếm 27,4% tổng diện tích toàn tỉnh Đây là loại quả có đặc điểm là quả không có hạt, vỏ quả màu vàng đỏ khi chín, tai quả to, quả không cứng và không chát, vị ngọt dịu, quả nhiều cát đường
và rất giòn
Để phục vụ cho mục đích nghiên cứu, số liệu sơ cấp được thu thập thông qua phỏng vấn trực tiếp các hộ trồng hồng không hạt trên địa bàn, sử dụng phiếu khảo sát đã được thiết kế sẵn Phiếu có 3 nội dung chính: (i) Đặc điểm chung về hộ khảo sát; (ii) Đặc điểm kỹ thuật của sản xuất hồng không hạt: sản lượng, năng suất, diện
Trang 39tích và các yếu tố đầu vào trực tiếp khác như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, công lao động…(iii) Tiếp cận các nguồn lực để nâng cao hiệu quả sản xuất như nguồn vốn vay, tham gia các khóa đào tạo, tập huấn về kỹ thuật sản xuất hồng không hạt
Bảng 2.1: Sản lượng Hồng không hạt ở một số vùng trồng tập trung
tại tỉnh Bắc Kạn
Diện tích cho thu hoạch (ha)
Tỷ trọng diện tích (%)
để phân tích thống kê, theo đó số mẫu tối thiểu là 30 để đảm bảo các biến trong phân tích thống kê tiệm cận phân phối chuẩn (ii) Dựa trên tham vấn cán bộ địa phương, những người am hiểu về đặc điểm kinh tế kỹ thuật của trồng hồng không hạt tại địa bàn nghiên cứu
Cỡ mẫu sẽ được phân bổ nhiều hơn cho các xã, thôn mà có sự khác biệt lớn hơn về quỹ mô và hình thức sản xuất giữa các nông hộ trồng hồng không hạt trên cùng một thôn, xã Dựa trên những căn cứ cơ bản đã nêu, nghiên cứu này xác định
cỡ mẫu là 90 hộ trồng hồng không hạt và được phân bổ theo Bảng 2 Theo đó,
Trang 40nghiên cứu này lựa chọn 02 xã và 8 thôn đại diện cho huyện Ba Bể để khảo sát Việc khảo sát hộ trồng hồng không hạt được tiến hành trực tiếp sử dụng bảng câu hỏi soạn sẵn
Bảng 2.2: Cỡ mẫu và phân bổ cỡ mẫu nghiên cứu
Tên xã Tên thôn Số hộ khảo sát Tỷ trọng trong
- Công cụ tổng hợp: Excel, ems
- Phương pháp trình bày số liệu tổng hợp: Bảng, đồ thị
2.3.3 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp phân tích định tính: Phỏng vấn chuyên gia, phỏng vấn bán cấu trúc, phân tích Swot…
- Phương pháp phân tích định lượng: Thống kê mô tả, phân tích hồi quy (Phân tích DEA, mô hình Tobit…)