ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM ------ NGUYỄN PHƯƠNG THẢO Tên đề tài: “THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON THEO MẸ, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ S
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẦN DINH DƯỠNG HẢI THỊNH”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Dược thú y
Khóa học : 2014 - 2018
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM - -
NGUYỄN PHƯƠNG THẢO
Tên đề tài:
“THỰC HIỆN QUY TRÌNH CHĂM SÓC, NUÔI DƯỠNG VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH CHO LỢN CON THEO MẸ, GIAI ĐOẠN TỪ SƠ SINH ĐẾN CAI SỮA TẠI TRẠI LỢN GIỐNG CAO SẢN CÔNG TY CỔ
PHẦN DINH DƯỠNG HẢI THỊNH”
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Dược thú y
Gỉang viên hướng dẫn : ThS Lê Minh Toàn
Thái Nguyên, năm 2018
Trang 3cổ vũ động viên của bạn bè, người thân Nhờ vậy, tôi đã hoàn thành tốt đợt thực tập tốt nghiệp
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo
Th.s Lê Minh Toàn đã rất tận tình và trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện
đề tài và hoàn thành khóa luận này
Tôi xin cảm ơn BCN khoa Chăn nuôi Thú y đã tạo điều kiện thuận lợi và cho phép tôi thực hiện đề tài tốt nghiệp đại học
Tôi xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ công nhân viên tại Công ty Hải Thịnh , đặc biệt là quản lý trại lợn giống Hải Thịnh trú tại thôn Đồng Tâm - xã Thường Thắng - huyện Hiệp Hòa - tỉnh Bắc Giang, cùng toàn thể anh chị em công nhân trong trang trại về
sự hợp tác giúp đỡ theo dõi các chỉ tiêu và thu thập số liệu làm cơ sở cho khóa luận này
Xin cảm ơn gia đình, bạn bè đã luôn động viên giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi để em hoàn thành tốt quá trình thực tập tốt nghiệp
Khóa luận tốt nghiệp của em không thể tránh khỏi những thiếu sót,
em kính mong qúy thầy cô xem xét, góp ý và bổ sung, để bài khóa luận của em được hoàn thiện hơn
Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày tháng năm 2018
Sinh viên
Nguyễn Phương Thảo
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của lợn con 18 Bảng 4.1 Cơ cấu đàn lợn của trại Lợn giống cao sản, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang từ năm 2016 đến tháng 11 - năm 2018 31 Bảng 4.2 Tỷ lệ nuôi sống lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 33 Bảng 4.3 Kết quả thực hiện vệ sinh, sát trùng tại trại 34 Bảng 4.4 Kết quả tiêm phòng thuốc và vắc xin cho lợn con theo mẹ từ sơ sinh đến cai sữa 35 Bảng 4.5 Kết quả chẩn đoán bệnh cho lợn con từ sơ sinh đến cai sữa 36 Bảng 4.6 Kết quả điều trị bệnh bệnh cho đàn lợn giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa trong thời gian thực tại cơ sở 37 Bảng 4.7 Kết quả thực hiện những công việc khác trong thời gian thực tập tại
cơ sở 38
Trang 6
MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề 2
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề 2
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề 2
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập 3
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại 3
2.1.2 Đánh giá chung 6
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài 7
2.2.1 Một số hiểu biết về lợn con 7
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con 13
2.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con 16
2.2.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ 17
2.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 19
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 19
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 21
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23 3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 23
3.3 Nội dung thực hiện 23
Trang 73.3.1 Thực hiện quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng lợn con sơ sinh đến 21 ngày
tuổi 23
3.3.2 Chẩn đoán và điều trị bệnh cho đàn lợn con theo mẹ tại trại 28
3.4 Nội dung tiến hành và các chỉ tiêu theo dõi 30
3.4.1 Nội dung tiến hành 30
3.5 Phương pháp xử lý số liệu 30
PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 31
4.1 Tình hình chăn nuôi tại trại 31
Cơ cấu đàn lợn nuôi tại cơ sở trong 3 năm gần đây 31
4.2 Kết quả thực hiện quá trình chăm sóc, nuôi dưỡng cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến cai sữa tại cơ sở 32
4.3 Kết quả thực hiện các biện pháp vệ sinh phòng bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến cai sữa trong thời gian thực tập tại cơ sở 34
4.3.1 Thực hiện biện pháp vệ sinh phòng bệnh 34
4.3.2 Kết quả tiêm vắc xin phòng bệnh cho lợn sơ sinh đến cai sữa 35
4.4 Kết quả chẩn đoán bệnh 36
4.5 Kết quả điều trị bệnh cho đàn lợn giai đọan từ sơ sinh đến cai sữa tại cơ sở trong thời gian thực tập 37
4.6 Kết quả thực hiện các công tác khác tại cơ sở thực tập 38
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 40
5.1 Kết luận 40
5.2 Đề nghị 41
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
PHỤ LỤC
Trang 8lẽ đó, ngành chăn nuôi nước ta cũng tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Nhiều giống gia súc, gia cầm được lai tạo, du nhập vào sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận Chăn nuôi đã thực sự trở thành nguồn thu nhập chính cho nhiều hộ gia đình đồng thời đã thúc đẩy sự phát triển của một số ngành công nghiệp liên quan như chế biến thực phẩm, sản xuất thức ăn chăn nuôi, thuốc thú y, công nghiệp thuộc da, lông vũ…
Chăn nuôi lợn là một trong những mũi nhọn của ngành chăn nuôi nước
ta, đóng một vị trí quan trọng và đem lại hiệu quả kinh tế cao Thịt lợn là nguồn protein động vật có giá trị phục vụ cho nhu cầu của con người, nó không chỉ cung cấp thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, đáp ứng nhu cầu thực phẩm cho
xã hội mà còn là nguồn thu nhập đáng kể cho người chăn nuôi Ngoài ra, chăn nuôi lợn còn cung cấp một lượng lớn phân bón cho trồng trọt và thủy sản Có thể nói ngành chăn nuôi lợn đã đóng góp một phần đáng kể vào công tác xóa đói giảm nghèo, ổn định đời sống xã hội và thúc đẩy sự phát triển kinh tế chung của đất nước
Theo Cục Chăn nuôi, hiện nước ta có đàn lợn khoảng 29 triệu con, đứng đầu ASEAN, đứng thứ 2 ở châu Á, nằm trong top 15 nước có đàn lợn lớn nhất thế giới Tốc độ tăng trưởng đàn lợn; giai đoạn 2007 – 2017 đạt 0,91%/năm Sản lượng thịt lợn trong năm 2016 đã đạt mức kỷ lục với 3,36 tấn, tăng 5% so với
Trang 9năm 2015 và đứng thứ 7 trên thế giới sau Trung Quốc, Mỹ, Đức, Tây Ban Nha, Braxin và Nga (Hà Ngân, 2017) [14]
Để có được kết quả trên ngoài việc tăng nhanh số đầu lợn, ngành chăn nuôi lợn nước ta đã và đang từng bước đưa các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào thực tế sản xuất, từ khâu cải tạo con giống, nâng cao chất lượng thức ăn đến việc hoàn thiện quy trình chăm sóc và nuôi dưỡng
Tuy nhiên để thịt lợn có thể nâng cao sức khỏe cho con người, điều quan trọng là quá trình chọn giống, nuôi dưỡng, chăm sóc và phòng trị bệnh cho lợn từ lúc sơ sinh đến lúc xuất bán, đàn lợn phải khỏe mạnh, sức đề kháng cao, các thành phần dinh dưỡng tích lũy vào thịt có chất lượng và có giá trị sinh học cao
Em tiến hành thực hiện chuyên đề “Thực hiện quy trình chăm sóc nuôi dưỡng
và phòng trị bệnh cho lợn con theo mẹ, giai đoạn từ sơ sinh đến cai sữa tại trang trại lợn giống cao sản công ty cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của chuyên đề
1.2.1 Mục tiêu của chuyên đề
- Nắm được tình hình chăn nuôi tại trang trại
- Tìm hiểu quy trình chăm sóc nuôi dưỡng cho lợn con nuôi tại trại
- Biết được các loại thức ăn dành cho lợn con, khẩu phần ăn và cách cho lợn con ăn qua từng giai đoạn
- Biết được các bệnh hay xảy ra đối với lợn con và phương pháp phòng trị bệnh hiệu quả nhất
- Hoàn thiện thêm kỹ năng, tay nghề trong thời gian thực tập
1.2.2 Yêu cầu của chuyên đề
- Thực hiện tốt các nội quy, quy định của cơ sở, của khoa và nhà trường
- Vận dụng kiến thức lí thuyết đã học vào thực tiễn sản xuất
- Tích cực tham gia các công việc khác được phân công
Trang 10PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Điều kiện cơ sở nơi thực tập
2.1.1 Quá trình thành lập và phát triển của trại
2.1.1.1 Quá trình thành lập
Trại lợn giống cao sản nằm trên địa phận thôn Đống Vòng, xã Thường Thắng, huyện Hiệp Hòa, tỉnh Bắc Giang Là trại lợn gia công của Công ty cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh, hoạt động theo phương thức: thuê công nhân, công
ty cung cấp giống lợn, thức ăn, thuốc thú y, cán bộ kỹ thuật Hiện nay, trang trại
do ông Nguyễn Văn Chuyền làm quản lí, cán bộ kỹ thuật chịu trách nhiệm giám sát mọi hoạt động của trại
2.1.1.2 Cơ cấu tổ chức của trang trại
Cơ cấu tổ chức: gồm 3 nhóm
+ Nhóm quản lý: 1 quản lí giám sát mọi hoạt động của trại
+ Nhóm kỹ thuật: 1 kỹ sư
+ Nhóm công nhân: 4 công nhân, 2 sinh viên thực tập
Với đội ngũ công nhân trên, trại phân ra làm các tổ khác nhau như tổ chuồng đẻ, tổ chuồng bầu Có bảng chấm công riêng cho từng công nhân trong tổ, ngoài ra các tổ trưởng có nhiệm vụ đôn đốc quản lý chung các thành viên trong tổ nhằm nâng cao tinh thần trách nhiệm, thúc đẩy sự phát triển của trang trại
2.1.1.3 Cơ sở vật chất của trại
Trại Lợn giống cao sản được xây dựng trên diện tích 13.000m2 quy hoạch như sau:
+ Diện tích đất nhà: 60m2
+ Diện tích chuồng nuôi: 2300m2
Trang 11+ Diện tích kho chứa thức ăn, dụng cụ, bể nước: 200m2
+ Còn lại là diện tích đất trồng cây và lối đi vào, đi ra khu vực chăn nuôi
Trong đó khu vực chăn nuôi được quy hoạch, bố trí hệ thống chuồng cho 300 nái gồm:
2 chuồng bầu: gồm chuồng bầu 1 và chuồng bầu 2(mỗi chuồng có 110 ô kích thước 2,4m × 0,65m/ô)
Bầu 1: Được thiết kế cho lợn nái chờ phối, có khu thử lợn, ép lợn và có 1
1 chuồng cai kín: có 12 ô kích thước 5m × 6m
1 chuồng cai hở: có 9 ô nuôi nái hậu bị kích thước 5m × 6m/ô + 12 ô nuôi lợn đực kích thước 2,4m × 1,6m/ô+ 1 ô khai thác tinh
1 kho cám, 1 kho thuốc
2 nhà sát trùng,1 nhà thay đồ cho công nhân, 1phòng tinh
Hệ thống chuồng xây dựng khép kín hoàn toàn Phía đầu chuồng là hệ thống giàn mát, cuối mỗi chuồng có 3 quạt thông gió Có hệ thống điện chiếu sáng và bóng đèn hồng ngoại để sưởi ấm và úm lợn con Hai bên tường có dãy cửa sổ lắp kính, mỗi cửa sổ có diện tích 1,2m², cách nền 1,2m, mỗi cửa sổ cách nhau 50cm Trên trần đươc lắp hệ thống chống nóng bằng thép.Tất cả đảm bảo thoáng mát vào mùa hè, ấm áp vào mùa đông Ngoài ra, mỗi chuồng được lắp đặt máy bơm nước để tắm cho lợn và vệ sinh chuồng hàng ngày Có hệ thống cống thoát nước từ đầu chuồng đến cuối chuồng
Phòng pha tinh của trại được trang bị các dụng cụ hiện đại như: kính hiển
vi, các dụng cụ đóng liều tinh, máy trưng nước cất, nồi hấp cách thủy dụng cụ,
tủ bảo quản tinh và một số thiết bị khác
Trang 12Trong khu chăn nuôi, đường đi lại giữa các ô chuồng, các khu khác đều được đổ bê tông và có các hố sát trùng trước cửa ra vào chuồng
Hệ thống nước trong trại chăn nuôi là nước giếng khoan được bơm lên bể
chứa và theo hệ thống ống nước dẫn tới các chuồng khác nhau
2.1.1.4 Tình hình sản xuất chăn nuôi của trang trại
* Công tác chăn nuôi
Nhiệm vụ chính của trang trại là sản xuất con giống và chuyển giao tiến
bộ khoa học kỹ thuật Ngoài ra trại còn khai thác tinh bán cho các hộ chăn nuôi nhỏ quanh khu vựa trại
Hiện nay, trung bình lợn nái của trại sản xuất được 2,25 - 2,3 lứa/năm Số con sơ sinh là 12con/đàn; số con cai sữa là 10,5 con/đàn; lợn con theo mẹ được nuôi đến cai sữa( sớm nhất là 18 ngày, chậm nhất là 26 ngày thì tiến hành cai sữa và chuyển sang chuồng úm) Sau đó chuyển sang các trại chăn nuôi thương phẩm
Trong trại còn nuôi 19 con lợn đực giống với mục đích kích thích động dục cho lợn nái và khai thác tinh để thụ tinh nhân tạo Tinh lợn được khai thác
từ giống lợn Duroc, Landrace, Yorkshire nhưng chủ yếu là Duroc
Lợn nái được phối 3 làn và được luân chuyển giống như lợn đực
Thức ăn cho lợn là thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh có chất lượng cao, được Công ty Cổ phần Dinh dưỡng Hải Thịnh cấp cho từng đối tượng lợn của trại
* Công tác phòng và trị bệnh của trại
Quy trình phòng bệnh cho đàn lợn tại trại được thực hiện nghiêm ngặt, chặt chẽ Trong chăn nuôi việc phòng bệnh là rất quan trọng nhằm nâng cao sức
đề kháng không đặc hiệu cho đàn lợn
- Công tác vệ sinh: Vệ sinh phòng bệnh là công tác rất quan trọng Nó có
tác dụng tăng sức đề kháng cho vật nuôi, giảm nguy cơ xảy ra dịch bệnh, hạn chế những bệnh có tính chất lây lan từ đó phát huy tốt tiềm năng của giống Chính vì vậy hệ thống chuồng trại được xây dựng thoáng mát về mùa Hè, mùa
Trang 13Đông được che chắn cẩn thận, xung quanh các dãy chuồng nuôi đều trồng cây xanh tạo độ thông thoáng và mát tự nhiên Trước cửa vào các khu có rắc vôi bột
từ đó hạn chế được rất nhiều tác động của mầm bệnh bên ngoài sinh chuồng trại, thu gom phân, nước tiểu, khơi thông cống rãnh, phun thuốc sát trùng và rắc vôi theo quy định Công nhân, kỹ sư, khách tham quan trước khi vào khu chăn nuôi đều phải sát trùng, tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo bảo hộ lao động
Việc dọn vệ sinh ở chuồng hở cũng được thực hiện hai lần mỗi ngày vào đầu buổi sáng và cuối buổi chiều Việc quét dọn hành lang trong chuồng cũng được vệ sinh thường xuyên và rắc vôi bột hoặc quét vôi định kì 1 tuần 1 lần, kết hợp với dọn vệ sinh xung quanh chuồng trại và tiêu diệt chuột Các chuồng lợn
đã bán hết và chờ nhập lứa mới cũng được rửa sạch, để khô rồi phun thuốc sát trùng tiêu độc, quét vôi và để trống chuồng 1 tuần rồi mới cho lứa khác vào
- Công tác phòng bệnh: Trong khu vực chăn nuôi hạn chế đi lại giữa các
chuồng, hành lang giữa các chuồng và bên ngoài chuồng đều được rắc vôi bột, các phương tiện vào trại được sát trùng một cách nghiêm ngặt ngay tại cổng vào Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin luôn được trại thực hiện nghiêm túc, đầy đủ và đúng
kỹ thuật Đối với từng loại lợn có quy trình tiêm riêng Lợn được tiêm vắc xin phòng phải ở trạng thái khỏe mạnh, được chăm sóc nuôi dưỡng tốt, không mắc các bệnh truyền nhiễm và các bệnh mãn tính khác để tạo được trạng thái miễn dịch tốt nhất cho đàn lợn Tỷ lệ tiêm phòng vắc xin cho đàn lợn luôn đạt 100%
- Công tác trị bệnh: Cán bộ kỹ thuật có nhiệm vụ theo dõi, kiểm tra đàn
lợn thường xuyên, các bệnh xảy ra ở lợn nuôi tại trại luôn được phát hiện sớm, cách ly, điều trị ở ngay giai đoạn đầu, nên điều trị đạt hiệu quả từ 80 - 90% trong một thời gian ngắn Vì vậy, không gây thiệt hại lớn về số lượng đàn gia súc
2.1.2 Đánh giá chung
2.1.2.1 Thuận lợi
Được sự quan tâm tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ đúng đắn của các ngành, các cấp có liên quan như UBND huyện Hiệp Hòa, Trạm thú y huyện Hiệp Hòa tạo điều kiện cho sự phát triển của trại
Trang 14Được Công ty cổ phần dinh dưỡng Hải Thịnh cung cấp về con giống, thức
ăn, thuốc thú y có chất lượng tốt
Chuồng trại được trang thiết bị hiện đại, điện lưới và hệ thống nước sạch luôn cung cấp đầy đủ cho sinh hoạt và chăn nuôi
Quản lí trại có năng lực, năng động, nắm bắt được tình hình xã hội, luôn quan tâm đến đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ kỹ thuật và công nhân
Đội ngũ kỹ thuật với chuyên môn vững vàng, đội ngũ công nhân nhiệt tình, năng động và có tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
2.2 Cơ sở khoa học của đề tài
2.2.1 Một số hiểu biết về lợn con
2.2.1.1 Các thời kỳ quan trọng của lợn con
+ Thời kỳ từ sơ sinh đến 1 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng đầu tiên của lợn con do sự thay đổi hoàn toàn về môi trường sống, bởi vì lợn con chuyển từ điều kiện sống ổn định trong cơ thể lợn mẹ, chuyển sang điều kiện tiếp xúc trực tiếp với môi trường bên ngoài Do vậy, nếu nuôi dưỡng chăm sóc không tốt lợn con dễ bị mắc bệnh, còi cọc, tỷ lệ nuôi sống thấp
Mặt khác lúc này lợn con mới đẻ còn yếu ớt, chưa nhanh nhẹn Lợn mẹ vừa đẻ xong, cơ thể còn mệt mỏi, đi đứng còn nặng nề vì sức khỏe chưa hồi phục, nên dễ đè chết lợn con Cần nuôi dưỡng chăm sóc chu đáo lợn con ở giai đoạn này
+ Thời kỳ 3 tuần tuổi: là thời kỳ khủng hoảng thứ 2 của lợn con, do quy luật tiết sữa của lợn mẹ gây nên Sản lượng sữa của lợn nái tăng dần từ sau đẻ và
Trang 15đạt cao nhất ở giai đoạn 3 tuần tuổi, sau đó sản lượng sữa của lợn mẹ giảm nhanh, trong khi đó, nhu cầu dinh dưỡng của lợn con ngày càng tăng do lợn con sinh trưởng và phát dục nhanh, đây là mâu thuẫn giữa cung và cầu Để giải quyết mâu thuẫn này, cần tập cho lợn con ăn sớm vào 7 - 10 ngày tuổi
+ Thời kỳ ngay sau khi cai sữa: là thời kỳ khủng hoảng thứ 3 do môi trường sống thay đổi hoàn toàn, do yếu tố cai sữa gây nên Mặt khác, thức ăn thay đổi, chuyển từ thức ăn chủ yếu là sữa lợn mẹ sang thức ăn hoàn toàn do con người cung cấp Nên giai đoạn này, nếu nuôi dưỡng, chăm sóc không chu đáo, lợn con rất dễ bị còi cọc, mắc bệnh đường hô hấp, tiêu hóa
Trong chăn nuôi lợn nái ngoại, cai sữa bắt đầu lúc 21 ngày, kết thúc lúc
23 ngày thì thời kỳ khủng hoảng 2 và 3 trùng nhau, hay nói cách khác ta đã làm giảm được 1 thời kỳ khủng hoảng của lợn con
2.2.1.2 Đặc điểm sinh lý của lợn con
Sinh lý của lợn con theo mẹ là khả năng thích ứng của cơ thể từ môi trường trong bụng mẹ có nhiệt độ từ 38 - 400C ra môi trường bên ngoài có nhiệt độ thấp hơn, làm ảnh hưởng đến sự thành thục và hoàn thiện về chức năng của các cơ quan bên trong cơ thể lợn sơ sinh
+ Đặc điểm tiêu hóa của lợn con
Sau khi sinh ra, chức năng của các cơ quan trong cơ thể lợn con nhất
là cơ quan tiêu hoá chưa thành thục Hàm lượng HCl và các men tiêu hoá chưa hoàn thiện Thời gian đầu, dịch tiêu hoá ở lợn con thiếu cả về chất và lượng Lợn con trước một tháng tuổi hoàn toàn không có HCl tự do vì lúc này lượng HCl tiết ra rất ít và nhanh chúng liên kết với niêm dịch
+ Cơ năng điều tiết thân nhiệt
Cơ năng điều tiết thân nhiệt của lợn con còn kém do:
- Hệ thần kinh của lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh Trung khu điều tiết thân nhiệt ở vỏ não mà não của gia súc là cơ quan phát triển muộn nhất
ở cả hai giai đoạn trong và ngoài thai
Trang 16- Diện tích bề mặt của cơ thể lợn con so với khối lượng cơ thể cao hơn lợn trưởng thành nên lợn con dễ bị nhiễm lạnh (Đào Trọng Đạt và cs, 1996) [7]
- Tốc độ sinh trưởng của gia súc non rất cao, nếu sữa mẹ không đảm bảo chất lượng, khẩu phần thức ăn thiếu đạm sẽ làm cho sự sinh trưởng chậm lại và tăng trọng theo tuổi giảm xuống, điều trị làm cho khả năng chống đỡ bệnh tật của lợn con kém (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2003) [10]
+ Hệ miễn dịch của lợn con
Ở cơ thể lợn con, hệ thống miễn dịch chưa hoàn thiện, chúng chưa có khả năng tạo kháng thể chủ động mà chỉ có được kháng thể từ mẹ truyền sang qua nhau thai hay sữa đầu Bộ máy tiêu hóa và các dịch tiêu hóa ở gia súc non hoạt động rất yếu Lượng enzym tiêu hóa và HCl tiết ra chưa đủ nên
dễ gây rối loạn tiêu hóa, vì vậy mầm bệnh (Salmonella, E coli, C perfringens…) dễ dàng xâm nhập vào cơ thể qua đường tiêu hóa
Theo Trần Thị Dân (2008) [5]: Lợn con mới đẻ trong máu không có globulin nhưng sau khi bú sữa đầu lại tăng lên nhanh chóng do truyền từ mẹ sang qua sữa đầu Lượng globulin sẽ giảm sau 3 - 4 tuần, rồi đến tuần thứ 5
- 6 lại tăng lên và đạt giá trị bình thường 65 mg/100ml máu Các yếu tố miễn dịch như bổ thể, lyzozyme, bạch cầu… được tổng hợp còn ít, khả năng miễn dịch đặc hiệu của lợn con kém Vì vậy cho lợn con bú sữa đầu rất cần thiết để tăng khả năng bảo vệ cơ thể chống lại mầm bệnh nhất là bệnh LCPT
+ Hệ vi sinh vật đường ruột
Theo Nguyễn Như Thanh và cs (2001) [17], hệ vi sinh vật đường ruột gồm hai nhóm:
- Nhóm vi khuẩn đường ruột - vi khuẩn bắt buộc gồm: E coli, Salmonella, Shigella, Klesiella, Proteus… Trong nhóm vi khuẩn này, người
ta quan tâm nhiều nhất đến trực khuẩn E coli Đây là vi khuẩn phổ biến
nhất hành tinh, chúng có mặt ở mọi nơi và khi gặp điều kiện thuận lợi, các
Trang 17chủng E coli trở lên cường độc gây bệnh Cấu trúc kháng nguyên của E coli rất phức tạp Người ta đã phát hiện có ít nhất 170 kháng nguyên O, 80
kháng nguyên K, 86 kháng nguyên H và kháng nguyên F
- Nhóm vi khuẩn vãng lai: chúng là bạn đồng hành của thức ăn, nước
uống vào hệ tiêu hoá gồm: Staphylococcus spp, Streptococcus spp, Bacillus subtilis… Ngoài ra, trong đường tiêu hóa của lợn con có các trực khuẩn yếm khí gây thối rữa: Clostridium perfringens, Bacillus sporogenes, Bacillus fasobacterium, Bacillus puticfus…
2.2.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng trong từng giai đoạn của lợn con
Chăm sóc là khâu quan trọng nhất trong việc nuôi dưỡng lợn con ở thời kỳ
bú sữa vì đây là thời kỳ lợn con chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện ngoại cảnh Nếu điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ rất dễ gây ra tỷ lệ hao hụt lớn ở lợn con
+ Chuồng nuôi: Chuồng nuôi phải được vệ sinh trước khi lợn mẹ đẻ Nền chuồng phải luôn sạch sẽ và khô ráo, ấm về mùa đông, mát về mùa hè, đảm bảo nhiệt độ và độ ẩm thích hợp cho lợn con, vào ban đêm cần phải có đèn sưởi để đảm bảo chống lạnh cho lợn con Ngoài ra chuồng nuôi phải có máng tập ăn và máng uống cho lợn con riêng
Nền cứng hoặc sàn thưa , khu vực cho lợn con mới sinh cần giữ ấm ở 32 -
35oC trong mấy ngày đầu, sau đó giữ 21 - 27oC cho đến lúc cai sữa 3 - 6 tuần tuổi Nhiệt độ, độ ẩm và tốc độ gió làm thành một hệ thống tác nhân stress đối với gia súc
Theo Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [9], nhiệt độ môi trường ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và tăng trưởng của lợn Nhu cầu nhiệt độ của lợn tùy vào từng giai đoạn sinh trưởng, lợn sữa giai đoạn 1 - 7 ngày tuổi cần nhiệt độ 30 – 31oC, lợn trên 20 ngày tuổi cần nhiệt độ 20 - 24oC Trong mùa đông ở các tỉnh phía Bắc nhiều ngày giá lạnh, nhiệt độ có thể hạ xuống dưới 10oC ảnh hưởng không tốt đến tỷ lệ sống và khả năng tăng trưởng của lợn con
Trang 18Theo Hồ Văn Nam và cs (1997) [13], khi gia súc bị lạnh ẩm kéo dài sẽ làm giảm phản ứng miễn dịch, giảm tác động thực bào, do đó gia súc dễ bị vi khuẩn cường độc gây bệnh
+ Cắt đuôi, mài răng nanh, thiến:
Thường thì trong chăn nuôi công nghiệp cần phải tiến hành cắt đuôi cho lợn nuôi thịt Vì lợn nuôi thịt thường được nuôi thành các đàn lớn và có mật độ cao cho nên lợn thường tấn công nhau gây mất ổn định, giảm năng suất chăn nuôi Vị trí tấn công thường là đuôi.Việc cắt đuôi thường tiến hành ngay sau đẻ hoặc trong tuần đầu sau đẻ
Ngoài ra lợn con mới đẻ đã có răng nanh, nên việc mài răng nanh cũng tiến hành ngay sau đẻ để tránh tình trạng gây đau cho lợn mẹ khi bú, giảm tỷ lệ gây viêm vú cho lợn mẹ, tỷ lệ lợn con chết do lợn mẹ đè (lợn mẹ đau đứng ngồi không yên) Khi mài răng nanh tránh không phạm vào nướu hoặc lưỡi lợn con, ngoài ra người mài cũng nên chú ý không mài ngắn quá tránh vào tủy răng dẫn đến viêm khớp
Trong thời kỳ này cũng phải thực hiện thiến cho những lợn đực không dùng làm giống Có thể thiến trong khoảng từ 5 - 10 ngày tuổi Cần sát trùng bằng cồn iod trước và sau thiến
+ Tiêm phòng:
- Khi lợn con được 7 ngày tuổi tiêm vắc xin Suyễn
- Giai đoạn lợn con được 14 ngày tuổi tiêm vắc xin Circo
- Giai đoạn lợn con được 30 ngày tiêm vắc xin Tai xanh
- Giai đoạn lợn được 45 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin dịch tả
- Giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi nên tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng và đóng dấu
+ Quản lý lợn con: Đối với những lợn con có dự định chọn làm giống thì cần phải có kế hoạch quản lý tốt Những con này sẽ được cân và đánh số ở các
Trang 19giai đoạn sơ sinh, lúc cai sữa, lúc 50, 60 hay 70 ngày tuổi Đây chính là cơ sở giúp cho việc lựa chọn để làm giống sau này
* Giai đoạn từ sơ sinh đến 3 ngày tuổi
Bình thường khoảng thời gian giữa lợn con đẻ trước và lợn con đẻ liền kề 15
- 20 phút, cũng có khoảng cách nái đẻ kéo dài hơn Lợn con đẻ ra phải được lau khô bằng vải màn xô mềm sạch theo trình tự miệng - mũi - đầu - mình - bốn chân, sau đó buộc dây rốn, cắt dây rốn rồi cho vào chuồng úm với nhiệt độ môi trường nhỏ hơn 35oC Lợn nái đẻ xong con cuối cùng tiến hành mài nanh, bấm tai, cắt đuôi
* Giai đoạn 3 ngày tuổi đến 3 tuần tuổi
Trong thời gian này nói chung ổ lợn con đã bú thành thạo và rõ ràng đã bước vào giai đoạn khởi động tốt trong thời gian này việc chăm sóc quản lý rất quan trọng bao gồm cả phòng chống thiếu máu khống chế tiêu chảy, thiến lợn Trong giai đoạn này sữa lợn mẹ đủ đáp ứng nhu cầu của lợn con trong mọi vấn
đề, trừ sắt Sắt cần thiết cho việc hình thành hemoglobin trong máu nó vận chuyển oxygen đến các bộ phận cơ thể Thiếu sắt sẽ gây thiếu máu nhưng có thể phòng ngừa bằng cách tiêm sắt
Theo Đào Trọng Đạt và cs (1996) [7], một trong các yếu tố làm cho lợn con dễ mắc bệnh đường tiêu hóa là do thiếu sắt Nhiều thực nghiệm đã chứng minh, trong cơ thể sơ sinh phải cần 40 - 50mg sắt nhưng lợn con chỉ nhận được lượng sắt qua sữa mẹ là 1mg Vì vậy phải bổ sung sắt bằng cách tiêm 1 - 2ml/con, vào khoảng thời gian từ 3 - 4 ngày tuổi Khi thiếu sắt, lợn con dễ sinh bần huyết, cơ thể suy yếu, sức đề kháng giảm nên dễ mắc hội chứng tiêu chảy
Lượng sắt trong sữa mẹ không đủ cho nhu cầu sắt của nhu cầu lợn con, triệu chứng điển hình của thiếu sắt ở lợn con là thiếu máu, hàm lượng hemoglobin giảm, da lợn con màu trắng xanh, đôi khi tiêu chảy, phân trắng, chậm lớn, có khi chết
Trang 20* Từ 3 tuần tuổi đến cai sữa
Thời gian này lợn con đã lớn nhanh hơn, nó trở thành dẻo dai và có khả năng đương đầu tốt hơn với môi trường ngoại cảnh của nó Vào thời gian này, chúng bắt đầu ăn thức ăn và lớn nhanh, sự tăng khối lượng này là tăng khối lượng có hiệu quả, do đó ta cần cố gắng giảm thấp yếu tố stress cho lợn con
Một cách để đạt năng suất tối đa là lợn con bắt đầu ăn càng sớm càng tốt Nói chung sự tiết sữa của lợn mẹ đạt đến đỉnh cao lúc 3 - 4 tuần tuổi và bắt đầu giảm, lợn con bắt đầu sinh trưởng nhanh ở tuổi này và cần nhận được thức ăn bổ sung nếu nó sinh trưởng với tiềm năng di truyền của nó, trong giai đoạn này nội ký sinh trùng là vấn đề ở phần lớn các trại lợn và sự phá hoại do ký sinh trùng gây ra có thể bắt đầu
từ rất bé Yếu tố chăm sóc, quản lý chủ yếu cuối cùng của việc nuôi lợn con theo mẹ
là cai sữa, tuổi cai sữa lợn con có thể thay đổi tùy theo đàn, tùy theo chuồng trại có sẵn Nói chung lợn con có thể cai sữa bất cứ khi nào những lợn con càng bé càng đòi hỏi sự quản lý nhiều hơn Để thực hiện cai sữa được đảm bảo và đạt hiệu quả cao ta cần chú ý những điểm sau để giảm stress khi cai sữa lợn con:
+ Chỉ cai sữa cho những lợn cân nặng trên 5,5 kg
+ Cai sữa trong thời gian trên 2 - 3 ngày, cai sữa trước cho những ổ đông con
+ Ghép nhóm lợn con theo tầm vóc cơ thể
+ Hạn chế số lượng trong 1 ngăn là 30 con hoặc ít hơn, nếu được
+ Hạn chế mức ăn vào trong vòng 48 giờ nếu có xảy ra tiêu chảy sau cai sữa
+ Cứ 10 - 15 lợn con thì đặt 1 máng ăn và cứ 20 - 25 lợn con thì lắp đặt 2 vòi nước uống
+ Cho thuốc vào nước uống nếu tiêu chảy
2.2.2 Một số bệnh thường gặp ở lợn con
* Bệnh phân trắng lợn con
Trang 21Bệnh lợn con ỉa phân trắng là hội chứng hoặc là một trạng thái lâm sàng rất đa dạng, đặc điểm là viêm dạ dày - ruột, đi tả, gầy sút rất nhanh Tác nhân gây bệnh chủ
yếu là E coli, nhiều loại Salmonella (S choleraesuis, S typhisuis ) và đóng vai trò phụ là: Proteus, trực trùng sinh mủ, song liên cầu khuẩn Bệnh xuất hiện những ngày đầu sau khi sinh do E coli hoặc khi cai sữa (Salmonella)
Bệnh lợn con ỉa phân trắng có tên khoa học là: "Neonatal di ar hoea" theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [12], bệnh này là bệnh
đặc trưng đối với lợn con ở giai đoạn từ 1- 3 tuần tuổi, bệnh phát triển mạnh
mẽ và gây thiệt hại nghiêm trọng nhất khi lợn con ở độ tuổi 10-20 ngày tuổi Bệnh này xảy ra ở hầu hết các nước trên thế giới Đối với Việt Nam từ những năm trước cho tới hiện nay bệnh lợn con ỉa phân trắng vẫn phổ biến
và xảy ra nhiều
Là đất nước có kiểu khí hậu nhiệt đới cận nhiệt đới gió mùa (nóng ẩm, mưa nhiều, nhiệt độ chênh lệch giữa các thời gian trong năm cao ) Đây là điều kiện lý tưởng cho các nguyên nhân gây bệnh phát triển làm bùng phát bệnh dịch và sự kiểm soát bệnh này theo đó cũng khó khăn hơn Đặc điểm
dễ nhận thấy khi lợn con mắc bệnh này là lợn đi ỉa phân có màu đặc trưng trắng đục, xám, vàng lẫn bọt khí lượng phân nhiều rơi vãi khắp chuồng, phân dính ở hậu môn chân sau lợn bệnh Lợn bệnh biểu hiện giảm bú, gầy sút, lông xù thể nặng dẫn đến tử vong, nếu qua khỏi thì cũng để lại hậu quả thiệt hại về kinh tế, sức khoẻ ảnh hưởng đến năng xuất chất lượng đàn lợn sau này
- Theo Glawisching E, (1992) [22], nguyên nhân gây bệnh phân trắng lợn con chủ yếu là do vệ sinh chuồng trại kém, thức ăn thiếu dinh dưỡng, chăm sóc quản lý không tốt
- Lợn mẹ bị viêm vú, viêm tử cung
- Lợn mẹ ăn không đúng khẩu phần
Trang 22- Bệnh tiêu chảy trên heo con E.coli có hể xảy ra ở bất kì độ tuổi theo mẹ nào nhưng hường ở 2 thời kỳ cao điểm là 0-5 ngày tuổi và 7-14 ngày tuổi
* Hội chứng hô hấp
Tìm hiểu nguyên nhân lợn triệu chứng và kinh nghiệm chăm sóc ta phân lập hội chứng hô hấp của lợn do đâu và nguyên nhân gì, kiểm tra lại hệ thống thức ăn, cách vận hành: quạt, giàn mát, nhiệt độ, vệ sinh, độ đồng đều Nhằm đưa ra biện pháp điều trị đúng bệnh, đúng thuốc, khắc phục kịp thời, tránh tình trạng bệnh của lợn kéo dài làm nặng thêm đi đến nhờn thuốc khó điều trị Khống chế, cách ly khoanh vùng từ công nhân giữa các chuồng, dụng cụ chăm sóc giữa các chuồng tránh lây lan bệnh trong trại và giữa các trại Tìm mọi biện pháp nâng cao sức đề kháng của lợn kích ăn cho lợn
Nguyên nhân là do Mycoplasma hyopneumoniae gây ra, bệnh xảy ra trên
lợn con ngay từ khi mới sinh ra, bệnh xâm nhập chủ yếu qua đường hô hấp Bệnh cũng có thể do điều kiện chăn nuôi vệ sinh chuồng trại kém, thời tiết thay đổi…, do sức đề kháng của lợn giảm Bệnh thường lây lan do nhốt chung với con nhiễm bệnh
* Viêm khớp
Nguyên nhân: Streptococcus suis là vi khuẩn gram (+), Streptococcus suis
gây viêm khớp lợn cấp và mãn tính ở mọi lứa tuổi Bệnh này thường gây ra trên lợn con 1 - 6 tuần tuổi Vi khuẩn xâm nhập qua đường miệng, cuống rốn, vết thương khi cắt đuôi, bấm nanh, các vết thương trên da, đầu gối khi chà sát trên
nền chuồng, qua vết thiến
Triệu chứng: Lợn con đi khập khiễng từ 3 - 4 ngày tuổi, khớp chân sưng lên vào ngày 7 - 15 sau khi sinh nhưng tử vong thường xảy ra lúc 2 - 5 tuần tuổi Thường thấy viêm khớp cổ chân, khớp háng và khớp bàn chân Lợn ăn ít, hơi sốt, chân lợn có hiện tượng què, đi đứng khó khăn, chỗ khớp viêm tấy đỏ, sưng,
sờ nắn vào có phản xạ đau (Nguyễn Ánh Tuyết, 2015) [20]
Trang 232.2.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn con
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát dục của lợn gồm hai nhóm: các yếu tố bên trong và các yếu tố bên ngoài
* Yếu tố bên trong:
Yếu tố di truyền là một trong những yếu tố có ý nghĩa quan trọng nhất ảnh hưởng đến sinh trưởng phát dục của lợn Quá trình sinh trưởng của lợn tuân theo các quy luật sinh học, nhưng chịu ảnh hưởng của các giống lợn khác nhau
Yếu tố thứ hai ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn là quá trình trao đổi chất trong cơ thể Quá trình trao đổi chất xảy ra dưới sự điều khiển của các hormon Hormon tham gia vào tất cả các quá trình trao đổi chất của tế bào
và giữ cân bằng các chất trong máu
* Yếu tố bên ngoài:
Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển cơ thể lợn bao gồm dinh dưỡng, nhiệt độ, môi trường, ánh sáng và các yếu tố khác
+ Dinh dưỡng: Các yếu tố di truyền không thể phát huy tối đa nếu không
có một môi trường dinh dưỡng và thức ăn hoàn chỉnh Khi chúng ta đảm bảo đầy
đủ về thức ăn bao gồm cả số lượng và chất lượng thức ăn thì sẽ góp phần thúc đẩy quá trình sinh trưởng và phát triển của các cơ quan trong cơ thể
+ Nhiệt độ và độ ẩm môi trường: Nhiệt độ môi trường không chỉ ảnh hưởng đến tình trạng sức khỏe mà còn ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể Nếu nhiệt độ môi trường không thích hợp thì sẽ không thể đảm bảo quá trình trao đổi chất diễn ra bình thường cũng như cân bằng nhiệt của cơ thể lợn
Theo Đoàn Thị Kim Dung (2004) [6], các yếu tố nóng, lạnh, mưa, nắng, hanh, ẩm thay đổi thất thường và điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng ảnh hưởng trực tiếp đến cơ thể lợn, nhất là cơ thể lợn con chưa phát triển hoàn chỉnh, các phản ứng thích nghi của cơ thể còn rất yếu
Theo Phạm Khắc Hiếu và cs (1998) [8], lợn con sinh ra phải được sưởi ấm
ở nhiệt độ 34oC trong suốt tuần lễ đầu tiên, sau đó giảm dần xuống nhưng không được thấp hơn 30oC, như vậy lợn sẽ tránh được những stress lạnh ẩm
Trang 24Khi nhiệt độ chuồng nuôi thấp lợn sẽ thất thoát nhiệt rất nhiều, lợn sẽ giảm khả năng tăng khối lượng và tăng tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng
Nhiệt độ chuồng nuôi có liên quan mật thiết với ẩm độ không khí, ẩm độ không khí thích hợp cho lợn ở vào khoảng 70%
* Ánh sáng: Ánh sáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của lợn Khi nghiên cứu về ảnh hưởng của ánh sáng đối với lợn người ta thấy rằng ánh sáng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của lợn con, lợn hậu
bị và lợn sinh sản hơn là lợn vỗ béo Khi không đủ ánh sáng sẽ làm ảnh hưởng đến quá trình trao đổi chất của lợn, đặc biệt là quá trình trao đổi khoáng Đối với lợn con từ sơ sinh đến 70 ngày tuổi, nếu không đủ ánh sáng thì tốc độ tăng khối lượng sẽ giảm từ 9,5 - 12%, tiêu tốn thức ăn giảm 8 - 9% so với lợn con được vận động dưới ánh sáng mặt trời
* Các yếu tố khác: Ngoài các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển lợn đã nêu trên còn có các yếu tố khác như vấn đề về chuồng trại, chăm sóc, nuôi dưỡng, tiểu khí hậu chuồng nuôi như không khí, tốc độ gió lùa, nồng độ các khí thải Nếu chúng ta cung cấp cho lợn các yếu tố đủ theo yêu cầu của từng loại lợn
sẽ giúp cho cơ thể lợn sinh trưởng phát triển đạt mức tối đa
2.2.6 Một số biện pháp phòng bệnh cho lợn con theo mẹ
* Vệ sinh phòng bệnh:
- Vệ sinh chuồng trại:
+ Ngăn cách khu vực chăn nuôi lợn với các súc vật khác như: Chó, mèo… + Rửa và phun thuốc sát trùng chuồng trại sạch sẽ ít nhất 3 - 7 ngày trước khi thả lợn vào chuồng
+ Hàng ngày phải quét phân trong chuồng, giữ cho chuồng luôn khô ráo, sạch
sẽ
+ Xử lý xác chết gia súc nghiêm ngặt: Chôn sâu, rắc vôi, đốt
+ Nên có kế hoạch rửa chuồng, phun thuốc sát trùng và diệt ruồi, muỗi mỗi tuần 2 lần
- Vệ sinh thức ăn và nước uống:
Trang 25+ Thường xuyên kiểm tra thức ăn trước khi cho lợn ăn, thức ăn phải đảm bảo chất lượng, không bị mốc
+ Nếu sử dụng thức ăn trộn thì định kỳ phải trộn kháng sinh để phòng bệnh cho lợn
+ Nước uống phải đủ, sạch, không bị nhiễm bẩn
* Tiêm vắc xin phòng bệnh:
Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh, cần phòng những bệnh thông thường như dịch tả, cầu trùng, khô thai, giả dại … lịch tiêm phòng cụ thể như sau:
Bảng 2.1 Lịch tiêm vắc xin phòng bệnh của lợn con
Loại lợn Tuần tuổi Phòng
bệnh
Vắc xin/Thuốc /chế phẩm
Đường đưa thuốc
Liều lượng (ml/con)
Lợn con
theo mẹ
3 - 4 ngày Thiếu sắt Prolongal Tiêm 1 - 2
Cầu trùng Baycox 5% Uống 1
7 - 14 ngày Suyễn MycoGuard Tiêm bắp 1
14 - 17 ngày Hội chứng
còi cọc
Porcine Circovirus Vaccine
Trang 262.3 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
2.3.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Việc nghiên cứu về giai đoạn lợn con theo mẹ và sau cai sữa được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm, giai đoạn lợn con theo mẹ có đặc điểm
là lợn con sinh ra không được cung cấp nguồn dinh dưỡng trực tiếp như khi còn là bào thai Bộ máy tiêu hóa chưa hoàn thiện, môi trường sống thay đổi, lượng sắt do mẹ cung cấp giảm dần, lợn con dễ mắc bệnh đặc biệt là bệnh đường tiêu hóa
Theo Trần Cừ (1996) [4], cần tập cho lợn con ăn sớm, vừa bổ sung thêm chất dinh dưỡng vừa có tác dụng bổ sung thêm chất tiết dịch vị, tăng hàm lượng HCl và enzyme vừa kích thích sự phát triển của dạ dày và ruột để thích ứng kịp thời với chế độ ăn sau cai sữa
Theo Nguyễn Quang Linh (2005) [11], lợn con trong giai đoạn bú sữa có khả năng sinh trưởng và phát dục rất nhanh Từ lúc sơ sinh đến khi cai sữa trọng lượng của lợn con tăng 10 - 12 lần So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần
Tốc độ sinh trưởng của lợn con là không đồng đều Lợn sinh trưởng nhanh nhất trong 21 ngày đầu sau đó tốc độ sinh trưởng giảm dần Sở dĩ như vậy là do nhiều nguyên nhân nhưng chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm Sản lượng sữa mẹ tăng dần từ khi mới đẻ ra cho tới khi lợn con 15 ngày tuổi, lúc này hàm lượng sữa mẹ đạt cao nhất và ổn định cho tới ngày thứ
20, sau đó thì giảm dần Lợn con trong giai đoạn này sinh trưởng và phát dục nhanh nhất do đó nhu cầu dinh dưỡng yêu cầu ngày càng cao trong khi hàm lượng sữa mẹ thì giảm dần dẫn tới lợn con thiếu dinh dưỡng nếu không có thức
ăn bổ sung
Theo Trần Cừ (1992) [4], sự phát triển của cơ thể thì các cơ quan bộ phận, hàm lượng các chất dinh dưỡng, các thành phần của cơ thể cũng có sự
Trang 27thay đổi nhanh chóng Hàm lượng nước trong cơ thể giảm dần, biểu thị bằng tỷ
lệ giữa nước so với trọng lượng sống như sau: Lúc sơ sinh tỷ lệ này là 77,88%, lúc 7 ngày tuổi là 68,52%, lúc 14 ngày tuổi là 63,94% Tỷ lệ nước giảm nhưng
tỷ lệ các chất dinh dưỡng so với trọng lượng cơ thể lại tăng Tỷ lệ Protein với trọng lượng cơ thể sống lúc mới sinh là 11,2%, đến lúc 7 ngày tuổi là 13,57%, đến 14 ngày tuổi là 14,37%
Theo Trần Văn Phùng và cs (2004) [15], lợn con cho bú sữa có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh nhưng không đều qua các giai đoạn, tốc độ nhanh nhất là 21 ngày đầu, sau 21 ngày tốc độ giảm xuống có sự giảm này là do nhiều nguyên nhân song chủ yếu là do lượng sữa của lợn mẹ bắt đầu giảm xuống, hàm lượng trong máu của lợn con bị giảm Bị giảm tốc độ phát triển thường kéo dài 2 tuần và còn là giai đoạn khủng hoảng của lợn con tập ăn sớm để bổ sung thức ăn cho lợn con trong giai đoạn này
Lê Văn Thọ (2007) [19], đã sử dụng kích tố kích thích quá trình tạo máu
để duy trì và thúc đẩy quá trình phát triển của gia súc
Theo Đặng Minh Phước và cs (2006) [16], bổ sung chế phẩm axit hữu cơ
có thành phần axit lactic, formic, photphoric với tỷ lệ 0,3 - 0,5% vào thức ăn lợn con sau cai sữa ở giai đoạn 42 - 56 ngày tuổi đã có tác dụng cải thiện tăng khối lượng từ 4,75% - 10,29% Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng giảm từ 7,57% - 8,11% Tỷ lệ tiêu chảy giảm từ 33,78% - 49,23% so với đối chứng
Công ty Pig Việt Nam (1998) [3], đã khẳng định rằng: Dù cho lợn nái ăn tốt và nhiều sữa vẫn nên cho lợn con dùng thức ăn tập ăn sớm để tăng khối lượng sau cai sữa, thêm vào đó giúp lợn con làm quen với thức ăn khô sau khi cai sữa 3 - 4 tuần tuổi, cho lợn con tập ăn sớm ở 7 ngày tuổi, dùng loại máng ăn nhỏ, nhẹ, dễ cọ rửa, cho lợn con ăn bằng cách rải một ít thức ăn phía trước, tạo cho chúng niềm vui thích và mong muốn được ăn, không để máng ăn trực tiếp dưới bóng đèn sưởi và gần vòi uống
Trang 28Cho lợn tập ăn 3 - 4 lần/ngày, dần tăng lượng cám lên, cung cấp nước uống thường xuyên cho lợn con
Công ty Cargill Việt Nam (2003) [1], đưa ra lý do mà các nhà chăn nuôi cần phải cho lợn tập ăn sớm từ 7 - 10 ngày là:
+ Sau 21 ngày tiết sữa, lượng sữa mẹ bắt đầu giảm dần Nên chỉ đáp ứng được 95% nhu cầu dinh dưỡng cho lợn con
+ Cho lợn tập ăn sớm, thức ăn tập ăn sớm sẽ kích thích hệ tiêu hóa lợn con sớm phát triển Điều đó giúp lợn con khi cai sữa sẽ ăn, tiêu hóa và hấp thu tốt thức ăn và làm giảm được sự hao hụt lợn mẹ
+ Tránh được nguy cơ lợn mẹ bị yếu chân, bại liệt và giảm số con đẻ ở những lứa đẻ tiếp theo
+ Rút ngắn được thời gian chờ phối của lợn nái, làm giảm chi phí thức ăn cho lợn nái trong thời gian này
+ Tăng nhanh lứa đẻ, số lợn con thu được của một nái trên năm
Công ty liên doanh Việt Pháp Guyo mare (2003) [2], đã đưa ra những lời khuyến cáo: Sự tiết sữa của lợn nái chỉ tăng lên đến ngày thứ 21 kể từ khi sinh, sau đó giảm dần Ngược lại, khối lượng lợn con tăng dần theo thời gian
Vì vậy, trong thời gian lợn con theo mẹ cần phải tập ăn sớm cho chúng trước khi lượng sữa của lợn mẹ cung cấp thiếu bằng cách cho lợn tập ăn sớm từ
7 ngày tuổi
2.3.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Sokol (1981) [24], cho rằng, vi khuẩn E.coli cộng sinh có mặt thường trực
trong đường ruột của người và động vật, trong quá trình sống vi khuẩn có khả năng tiếp nhận các yếu tố gây bệnh như: yếu tố bám dính (K88, K99), yếu tố dung huyết (Hly), yếu tố cạnh tranh (Colv), yếu tố kháng kháng sinh (R) và các độc tố đường ruột Các yếu tố gây bệnh này không được di truyền qua DNA của
chromosome mà được di truyền qua DNA nằm ngoài chromosome gọi là plasmid