1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nghiên cứu đa dạng về tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc ở đảo ba mùn thuộc vườn quốc gia bái tử long, tỉnh quảng ninh​

83 50 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 1,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa dạng các yếu tố địa lý của các loài thực vật có giá trị làm thuốc .... Đa dạng về giá trị sử dụng của các loài thực vật có gí trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu ..... Cho đến nay, các

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ HẰNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VỀ TÀI NGUYÊN THỰC VẬT

CÓ GIÁ TRỊ LÀM THUỐC Ở ĐẢO BA MÙN

THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG,

TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ THỊ HẰNG

NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG VỀ TÀI NGUYÊN THỰC VẬT

CÓ GIÁ TRỊ LÀM THUỐC Ở ĐẢO BA MÙN

THUỘC VƯỜN QUỐC GIA BÁI TỬ LONG,

TỈNH QUẢNG NINH

Ngành: SINH THÁI HỌC

Mã ngành: 8.42.01.20

LUẬN VĂN THẠC SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học: TS ĐINH THỊ PHƯỢNG

THÁI NGUYÊN - 2018

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng cá nhân tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và chưa được

ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác Nếu sai tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Tác giả

Lê Thị Hằng

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Hoàn thành luận văn này, trước hết em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Đinh Thị Phượng, người đã tận tình chỉ bảo giúp đỡ em trong suốt thời gian nghiên cứu và thực hiện đề tài cho đến khi em hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Em xin cảm ơn toàn thể cán bộ, giảng viên khoa Sinh học trường ĐHSP Thái Nguyên đã hết sức tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu

Trong quá trình điều tra, khảo sát em đã nhận được sự giúp đỡ, tạo điều kiện về nhiều mặt của BQL Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh

Cuối cùng, trong quá trình nghiên cứu, vẫn còn gặp nhiều khó khăn nên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô để luận văn của em được hoàn thiện hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 4 năm 2018

Học viên

Lê Thị Hằng

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Thời gian và phạm vi nghiên cứu 3

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 3

6 Đóng góp mới của luận văn 3

Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật 5

1.1.1 Trên thế giới 5

1.1.2 Ở Việt Nam 5

1.2 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật 6

1.3 Những nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật 8

1.4 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc 13

1.4.1 Trên thế giới 13

1.4.2 Ở Việt Nam 14

1.5 Tiềm năng, tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam 18

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.2 Phương pháp nghiên cứu 21

Trang 6

2.2.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC) 21

2.2.2 Phương pháp thu mẫu thực vật 22

2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu vật 22

2.2.4 Phương pháp xác định đa dạng các yếu tố địa lý 22

Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 24

3.1 Điều kiện tự nhiên 24

3.1.1 Vị trí địa lý 24

3.1.2 Địa hình 25

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 26

3.1.4 Khí hậu 26

3.1.5 Thủy Văn 27

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 28

3.3 Nhận xét về điều kiện tự nhiên, xã hội vùng nghiên cứu 28

3.3.1 Thuận lợi 28

3.3.2 Khó khăn 28

Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

4.1 Đa dạng về các taxon thực vật có giá trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu 29

4.1.1 Đa dạng ở bậc ngành 29

4.1.2 Đa dạng ở bậc họ 30

4.1.3 Đa dạng ở bậc chi 32

4.2 Đa dạng về thành phần thực vật có giá trị làm thuốc ở KVNC 33

4.2.1 Đa dạng về thành phần loài thực vật có giá trị làm thuốc ở KVNC 33

4.2.2 Đa dạng thành phần dạng sống của thực vật có giá trị làm thuốc tại các quần xã nghiên cứu 37

4.3 Đa dạng các yếu tố địa lý của các loài thực vật có giá trị làm thuốc 41

4.4 Đa dạng về giá trị sử dụng của các loài thực vật có gí trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu 42

Trang 7

4.4.1 Nhóm cây chữa bệnh ngoài da 42

4.4.2 Nhóm cây chữa bệnh ho, cảm, hạ sốt 45

4.4.3 Nhóm cây chữa bệnh xương, dạ dày, tiêu hóa, thần kinh 49

4.4.4 Nhóm cây chữa bệnh phụ nữ 51

4.5 Các loài cây thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu 52

4.6 Đề xuất một số biện pháp bảo tồn tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc 53

4.6.1 Các giải pháp về chính sách 53

4.6.2 Các giải pháp lâm sinh 54

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 56

1 Kết luận 55

2 Đề nghị 56

TÀI LIỆU THAM KHẢO 57 PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Đa dạng yếu tố địa lý thực vật ở một số vườn quốc giavà Khu bảo

tồn thiên nhiên 12

Bảng 3.1 Khí tượng bình quân các tháng trong năm 2016tại vịnh Bái Tử Long 27

Bảng 4.1 Sự phân bố các bậc taxon thực vật tại KVNC 29

Bảng 4.2 Sự phân bố các bậc taxon trong ngành Hạt kín tại KVNC 30

Bảng 4.3 Các họ giàu loài (từ 4 loài trở lên) của hệ thực vật tại KVNC 31

Bảng 4.4 Các chi giàu loài (từ 3 loài trở lên) của hệ thực vật tại KVNC 33

Bảng 4.5 Sự phân bố các họ, chi, loài thực vật có giá trị làm thuốcở quần xã rừng 33

Bảng 4.6 Số lượng loài thực vật có giá trị làm thuốc trong các họ thực vật ở quần xã rừng ngập mặn 36

Bảng 4.7 Đa dạng về dạng sống các loài thực vật có giá trị làm thuốccủa các quần xã nghiên cứu 37

Bảng 4.8 Thành phần dạng sống loài thực vật có giá trị làm thuốctại quần xã rừng 38

Bảng 4.9 Thành phần dạng sống loài thực vật có giá trị làm thuốctại quần xã rừng ngập mặn 39

Bảng 4.10 Đa dạng về yếu tố địa lý thực vật làm thuốc tại KVNC 41

Bảng 4.11 Tổng hợp nhóm cây chữa bệnh ngoài da 43

Bảng 4.12 Tổng hợp nhóm cây chữa bệnh ho, cảm, hạ sốt 46

Bảng 4.13.Tổng hợp nhóm cây chữa bệnh xương, dạ dày, tiêu hóa, thân kinh 49

Bảng 4.14 Tổng hợp nhóm cây chữa bệnh phụ nữ 51

Bảng 4.15 Danh lục các loài thực vật quý hiếm ở KVNC 52

Trang 10

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 2.1: Sơ đồ bố trí OTC và ODB trong quần xã rừng 21 Hình 4.1 Biểu đồ tỷ lệ các nhóm dạng sống ở quần xã rừng 39 Hình 4.2 Biểu đồ tỷ lệ% các nhóm dạng sống ở quần xã rừng ngập mặn 40

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Việt Nam là nước có hệ thực vật vô cùng phong phú và đa dạng Như chúng ta đã biết vai trò của hệ thực vật là rất to lớn, rừng là lá phổi xanh điều hòa khí hậu, là khâu quan trọng trong chu trình tuần hoàn vật chất trong tự nhiên, là nguồn tài nguyên cung cấp nguyên liệu cho các ngành công nghiệp chế biến, là nguồn thức ăn cho động vật và cảnh quan thiên nhiên tươi đẹp Trong đó, phải

kể đến vai trò cung cấp nguồn dược liệu quý giá, nguồn gốc bảo vệ sức khỏe con người Theo thống kê của Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) thì khu hệ thực vật Việt nam có khoảng 13.766 loài, trong đó có 2.393 loài thực vật bậc thấp và 11.373 loài thực vật bậc cao thuộc 2.524 chi và 378 họ khác nhau Trong số đó có tới 30% nguồn tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc [31] Quá trình điều tra nguồn tài nguyên dược liệu Việt Nam giai đoạn 2001-2005 của Viện Dược liệu (2006)

đã cho biết ở Việt Nam có 3948 loài thực vật bậc cao có mạch, thực vật bậc thấp

và nấm lớn được dùng làm thuốc Trong đó nhóm thực vật bậc cao có mạch có

3870 loài Những cây thuốc có giá trị cao, có khả năng khai thác tự nhiên là những cây thuốc nằm trong danh mục 185 loài cây thuốc và vị thuốc thiết yếu của Bộ Y Tế, cũng như cây thuốc được thị trường quan tâm gồm 206 loài cây có khả năng khai thác được [38]

Từ xa xưa dân ta đã có truyền thống sử dụng cây thuốc trong chữa bệnh hằng ngày cũng như trong việc cứu chữa những người bị thương trong chiến tranh Nhiều cộng đồng các dân tộc ít người cho tới nay vẫn sử dụng cây rừng và các loài thuốc gia truyền để chữa trị Hiện nay con người có xu hướng quay trở

về với cây thuốc và thuốc có nguồn gốc thiên nhiên tạo ra hơn là hóa chất làm thuốc vì việc sự dụng mang lại tính năng ưu việt như an toàn, ít gây tác dụng phụ, việc sử dụng tương đối dễ dàng, giá thành thấp, tác dụng chữa bệnh cao, có cây thuốc chữa được bách bệnh, hơn nữa nó lại phổ biến trong thiên nhiên Chính

vì vậy, chúng ta cần coi trọng việc bảo vệ giữ gìn và phát triển nguồn dược liệu quý giá này

Trang 12

Tiềm năng tác dụng của cây thuốc to lớn là vậy nhưng chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng suy giảm trầm trọng nguồn dược liệu do hoạt động khai thác và buôn bán tự phát tại nhiều địa phương Trước năm 1945, độ che phủ rừng của cả nước khoảng 15,6 triệu ha, chiếm 43,8% diện tích đất đai với 7000 loài thực vật có hoa Đến năm 1993 diện tích rừng đã giảm xuống 8,5 triệu ha chiếm 23,8% Tốc độ mất rừng ước tính khoảng 200.000 ha/năm, trong đó rừng trồng mới chỉ đạt 80.000 - 100.000 ha/năm, không đủ bù đắp lại diện tích rừng bị mất [16] Đây là thực tế đặt chúng ta trước tình trạng báo động về nguy cơ tuyệt chủng của những loài thực vật, trong đó có cả những loài dược liệu quý Đặc biệt những năm trở lại đây, việc buôn bán qua biên giới được mở rộng các cây con làm thuốc bị săn lùng và khai thác cạn kiệt

Đảo Ba Mùn thuộc Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh là một trong những cụm đảo lớn, đẹp nhất và có hệ thực vật vô cùng phong phú, đa dạng, trong đó có chứa rất nhiều loài cây có giá trị làm thuốc Có nhiều loài cây thuốc đã được con người biết đến và sử dụng, nhưng vẫn còn nhiều loài chưa được biết đến về công dụng chữa bệnh Sự tác động mạnh mẽ của con người đã làm cho nhiều loài thực vật bị ảnh hưởng và suy giảm về thành phần và số lượng, trong đó có cả những loài cây có giá trị làm thuốc Cho đến nay, các công trình nghiên cứu về đa dạng thực vật nói chung và đa dạng tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc ở đây còn rất ít

Nhằm góp phần tìm hiểu các loài thực vật có giá trị làm thuốc và bảo vệ nguồn

tài nguyên quý giá này, tôi đã lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu đa dạng về tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc ở đảo Ba Mùn thuộc Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh”

2 Mục tiêu nghiên cứu

- Xác định được tính đa dạng về tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc ở đảo Ba Mùn thuộc Vườn Quốc gia Bái Tử Long, làm cơ sở khoa học cho công tác quản lí và bổ sung tư liệu về nguồn gen cây thuốc tại địa phương

- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc

Trang 13

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu đa dạng về các bậc taxon thực vật có giá trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu đa dạng thành phần thực vật có giá trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu đa dạng các yếu tố địa lý của các loài thực vật có giá trị làm thuốc

- Nghiên cứu đa dạng về giá trị sưu dụng của các loài thực vật có giá trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu

- Nghiên cứu các loài thực vật có giá trị làm thuốc quý hiếm ở khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số biện pháp bảo tồn tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc

4 Thời gian và phạm vi nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Đề tài được thực hiện từ tháng 3 năm 2017 đến tháng 4 năm 2018

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về tài nguyên thực vật có giá trị làm thuốc ở đảo Ba Mùn thuộc Vườn Quốc Gia Bái Tử Long, tỉnh Quảng Ninh Đề tài không nghiên cứu các bài thuốc chữa bệnh cụ thể

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Trang 14

6 Đóng góp mới của luận văn

- Đã xác định được tính đa dạng thực vật bậc cao có mạch nói chung và nguồn tài nguyên thực vật làm thuốc nói riêng trong 2 kiểu thảm thực vật ở KVNC

- Đã xác định được 15 loài thực vật quý hiếm theo Sách đỏ Việt Nam (2007)

Trang 15

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu về hệ thực vật và thảm thực vật

1.1.1 Trên thế giới

Trên thế giới, những nghiên cứu về khu hệ thực vật đã được tiến hành từ khá lâu, thông thường là nghiên cứu thành phần thực vật của từng vùng trên từng loại thảm thực vật khác nhau

Ở Liên Xô, có các công trình nghiên cứu với loại hình thảo nguyên, đồng

cỏ của tác giả như: Aleokhin (1904), Graxits (1927), sennhicop (1983)

Đã từ lâu người ta đã nhận thức được rằng khu hệ thực vật gồm các loài cây cỏ phân bố ở một địa phương và sắp xếp trong hệ thống phân loại tự nhiên

1.1.2 Ở Việt Nam

Nghiên cứu về khu hệ thực vật được tiến hành khá muộn so với thế giới Tuy nhiên kể từ đó cho đến nay, các nhà nghiên cứu đã công bố một số công trình về thảm thực vật

Từ năm 1905 - 1952, trong bộ Thực vật chí tổng quát của Đông Dương

đã liệt kê được 7.004 loài thực vật bậc cao thuộc 1.850 chi, 289 họ Năm 1962, Thomasius khi nghiên cứu thảm thực vật vùng Quảng Ninh đã phân loại và đề cập tới kiểu rừng thứ sinh hình thành do tác động của con người và động vật Các tác giả Nguyễn Đình Ngỗi và Võ Văn Chi (1964) đã nghiên cứu về thàn phần loài của thảm cỏ vùng Hữu Lũng (Lạng Sơn) và gọi loại hình này là savan

cỏ [8]

Phan Nguyên Hồng (1970) nghiên cứu đặc điểm phân bố sinh thái của thực vật vùng ven biển miền Bắc Việt Nam đã chia thảm thực vật này thành rừng ngập mặn, rừng gỗ bờ biển và thảm thực vật trên bãi cát trống ở bờ biển [22]

Hoàng Chung (1980) đã công bố thành phần loài thu được là 233 loài thuộc

54 họ và 44 bộ khi nhiên cứu đồng cỏ vùng núi phía Bắc Việt Nam Trong công trình này, tác giả đã đưa ra 18 kiểu dạng sống cơ bản và bảng phân loại kiểu đồng

Trang 16

cỏ, savan, thảo nguyên và đề ra những biện pháp sử dụng hợp lý đồng cỏ [12]

Nguyễn Tiến Bân (1984) cùng tập thể tác giả đã công bố kết quả nghiên cứu hệ thực vật ở Tây Nguyên trong công trình “Danh mục thực vật Tây Nguyên” với 3000 loài, chiếm gần ½ số loài đã chết ở Đông Dương [2]

Lê Ngọc Công và Hoàng Chung (1994) nghiên cứu về quần hệ savan cây bụi trên vùng đồi trung du Bắc Thái (cũ), về một số mô hình rừng khoanh nuôi phục hồi, một số mô hình rừng trồng và đề xuất các mô hình có khả năng phục nhanh và cải tạo môi trường tốt [14]

Lê Ngọc Công (1998) khi nghiên cứu tác dụng cải tao môi trường của một

số mô hình rừng trồng trên vùng đồi núi trung du ở một số tỉnh phía Bắc nước ta

đã thống kê được 211 loài thuộc 64 họ [15]

Lương Thị Thanh Huyền (2009) đã thống kê được 109 loài cây tái sinh trong một số trạng thái thảm thực vật thứ sinh tại xã Xuân Long, huyện yên Bình, tỉnh Yên Bái [23]

Ma Thị Ngọc Mai, Lê Đồng Tấn (2009) khi nghiên cứu thành phần cây tái sinh dưới tán rừng thứ sinh ở trạm Đạ dạng sinh học Mê Linh, Vĩnh Phúc đã thống

kê được 33 loài cây tái sinh, trong đó có 7 loài đạt hệ số tổ thành trên 5% [28]

Sỹ Danh Thường (2009) đã có nhận định rằng họ Màn màn ở Việt Nam

là họ không lớn, chỉ có khoảng 55 loài nhưng lại có giá trị kinh tế về nhiều mặt như: làm thuốc, làm rau ăn, lấy gỗ, làm cảnh , mặt khác họ này còn có giá trị khoa học như được sử dụng nhiều trong nghiên cứu di truyền học, tế bào học [36]

1.2 Những nghiên cứu về dạng sống thực vật

Dạng sống là kết quả thích nghi lâu dài của thực vật với môi trường sống Nó liên quan chặt chẽ với các điều kiện khí hậu và các nhân tố sinh thái của từng vùng Cùng với sự nghiên cứu về thảm thực vật và phân loại thảm thực vât, các nghiên cứu về dạng sống thực vật cũng được tiến hành đồng thời

từ rất sớm Mỗi tác giả đều có các công trình nghiên cứu ở các địa phương

Trang 17

- Thực vật rụng lá vào thời kỳ bất lợi trong năm

- Thực vật tàn lụi vào thời kỳ bất lợi

- Thực vật có thời kỳ sinh trưởng, phát triển ngắn

- Thực vật có thời kỳ sinh trưởng, phát triển lâu năm

K Raunkiaer (1934) chia thực vật thành 5 nhóm phụ thuộc vào vị trí của chồi cây:

- Cây có chồi trên mặt đất (Phanerophytes - Ph)

- Cây có chồi sát mặt đất (Chanmaetophytes - Ch)

- Cây có chồi nửa ẩn (Hemicryptophytes - He)

- Cây chồi ẩn (Cryptophytes - Cr)

- Cây sống một năm (Therophytes - Th)

Ở Việt Nam, dạng sống được nghiên cứu muộn hơn so với thế giới và cũng

có không nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả

Hoàng Chung (1980) thống kê thành phần dạng sống của loại hình đồng

cỏ phía Bắc Việt Nam gồm 11 kiểu dạng sống cơ bản [12]

Phan Nguyên Hồng (1991) đã chia ra 7 dạng sống cơ bản khi nghiên cứu thành phần loài cây ngập mặn: cây gỗ, cây bụi, cây thân cỏ, cây leo, gỗ thấp hoặc dạng bụi, ký sinh, bì sinh [22]

Nhiều tác giả khác đã chia thành 4 dạng sống cơ bản là: Thân gỗ, thân thảo, thân bụi, thân leo Lê Ngọc Công, 2004 [16])

Vũ Thị Liên (2005) [27] khi phân chia dạng sống thực vật trong thảm thực

Trang 18

vật sau nương rẫy ở Sơn La đã lập được công thức phổ dạng sống:

SB = 69,69Ph + 3,76Ch + 9,29He + 10,84Cr + 6,42Th

1.3 Những nghiên cứu về yếu tố địa lý cấu thành hệ thực vật

Những nghiên cứu đầu tiên về yếu tố cấu thành hệ thực vật Việt Nam về mặt địa lý, trước tiên phải kể đến công trình của Gagnepain (1926) (dẫn theo Thái Văn Trừng [37]): “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Đông Dương” bao gồm các yếu tố:

Yếu tố Xích kim- Himalaya 18,5%

Yếu tố Malaysia và nhiệt đới khác 15%

Yếu tố đặc hữu bán đảo Đông Dương 11,9%

Yếu tố nhập nội và phân bố rộng 20,8%

Theo Pócs Tamás (1965) (dẫn theo Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [31]) khi nghiên cứu hệ thực vật miền Bắc Việt Nam đã phân tích về phương diện địa lý thực vật và phân biệt các yếu tố như sau:

+ Nhân tố di cư từ các vùng nhiệt đới 55,27%

Trang 19

vật Bắc Việt Nam và cho rằng, ở Việt Nam có 3% số chi và 27,5% số loài đặc hữu

Tác giả đã gộp các nhân tố di cư từ Nam Trung Hoa và nhân tố đặc hữu bản địa Việt Nam làm một và căn cứ vào khu phân bố hiện tại, nguồn gốc phát sinh thì loài đặc hữu bản địa lên 50%, còn yếu tố di cư chiếm tỉ lệ 39% trong đó yếu tố từ Malaysia- Indonesia là 15%, từ Malaysia - Vân Nam - Quí Châu là 10%

và từ Ấn Độ- Miến Điện là 14% Các nhân tố khác theo tác giả chỉ chiếm 11% (7% nhiệt đới, 3% ôn đới, 1% thế giới), nhân tố nhập nội vẫn là 3,08%

Theo nguyên tắc do Pócs T đề ra, Lê Trần Chấn và nhóm cộng sự (1999) [11] đã đưa ra hệ thống phân loại về yếu tố địa lý đã sắp xếp 10.193 loài trong

hệ thực vật Việt Nam vào 20 yếu tố địa lý Những loài chưa xếp được do chỉ xác định đến chi hoặc là những loài chỉ mới ghi nhận là gần đúng Cụ thể hệ thống phân loại như sau:

1 Yếu tố đặc hữu Bắc Bộ: có 768 loài chiếm 7,5% tổng số loài hệ thực vật Việt Nam Khu phân bố nằm trong ranh giới các tỉnh Bắc Bộ

2 Yếu tố đặc hữu Trung Bộ: 902 loài chiếm 8,8% tổng số loài Khu phân

bố nằm trong phạm vi ranh giới hành chính Trung Bộ cũ

3 Yếu tố đặc hữu Nam Bộ: gồm 272 loài chiếm tỉ lệ 2,6% tổng số loài Khu phân bố nằm trong ranh giới hành chính Nam Bộ cũ

4 Yếu tố đặc hữu Việt Nam: có 280 loài chiếm tỉ lệ 2,7% tổng số loài Khu phân bố nằm trong phạm vi nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam

5 Yếu tố Đông Dương (Theo nghĩa rộng): có 2686 loài chiếm tỉ lệ 26,3% tổng số loài Khu phân bố: Việt Nam, Lào, Campuchia, toàn bộ phần nhiệt đới của Myanma, Thái Lan (trừ phần cực nam)

6 Yếu tố Nam Trung Quốc: có 747 loài chiếm tỉ lệ 7,3% bao gồm các loài phân bố ở Việt Nam và phần Tây Nam và Nam Trung Quốc

7 Yếu tố Hải Nam, Đài Loan, Philippin: có 262 loài chiếm 2,5% Bao gồm các loài phân bố ở Việt Nam, Hải Nam, Đài Loan, Philippin

8.Yếu tố Hymalaya: gồm 79 loài phân bố ở phần trước núi nhiệt đới của dãy

Trang 20

Hymalaya Các loài này còn có thể phân bố ở Lào, Camphuchia, Thái lan, Myanma

9 Yếu tố Ấn Độ: 1289 loài chiếm 12,6% tổng số loài bao gồm loài phân

bố ở cả Đông Dương và Ấn Độ

10 Yếu tố Malaysia: gồm 247 loài chiếm 2,4% bao gồm các loài phân bố

ở Việt Nam, bán đảo Malaysia và các đảo thuộc Malaysia

11.Yếu tố Malaysia - Indonesia: có 152 loài chiếm 1,4%, phân bố ở Việt Nam, Malaysia và Indonesia

12 Yếu tố Malaysia - Indonesia - Châu Úc: có 46 loài phân bố ở Việt Nam, Malaysia, Indonesia và Châu Úc

13 Yếu tố Châu Á nhiệt đới: 1178 loài chiếm tỉ lệ 11,6% Phân bố ở Ấn

Độ, Đông Dương, Malaysia, Indonesia, Philippin và các đảo Thái Bình Dương

14 Yếu tố cổ nhiệt đới: 189 loài, phân bố vùng nhiệt đới châu Á và châu Phi

15 Yếu tố tân nhiệt đới và liên nhiệt đới: có 139 loài chiếm tỉ lệ 1,4% Phân bố ở nhiệt đới Châu Mỹ, nhiệt đới Châu Á, nhiệt đới Châu Phi

16 Yếu tố Đông Á: có 206 loài chiếm tỉ lệ 2% Phân bố Triều Tiên, Nhật Bản, đông Trung Quốc, Đài Loan và cực bắc Việt Nam

17 Yếu tố châu Á: 239 loài chiếm tỉ lệ 2,3% Bao gồm các loài phân bố ở phạm vi lãnh thổ toàn châu Á

18 Yếu tố ôn đới bắc: có 15 loài trong hệ thực vật Việt Nam Bao gồm các loài phân bố chủ yếu ở vùng ôn đới châu Á, châu Âu và có mặt ở Việt Nam

19 Yếu tố phân bố rộng: có 294 loài chiếm tỉ lệ 2,8%, bao gồm các loài phân bố rộng trên phạm vi toàn thế giới

20 Yếu tố di cư và nhập nội hiện đại: có 450 loài chiếm tỉ lệ 4,4%, bao gồm các loài có nguồn gốc di cư, xâm nhập vào hệ thực vật Việt Nam bằng nhiều con đường

Nguyễn Nghĩa Thìn (2004) [31] căn cứ vào khung phân loại của Pócs T

Trang 21

đã xây dựng thang phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam

và áp dụng vào việc sắp xếp các chi thực vật Việt Nam vào các yếu tố địa lý như sau:

1 Yếu tố Toàn cầu

2 Yếu tố Liên nhiệt đới

4.1 Yếu tố Đông Dương- Malêzi

4.2 Yếu tố Đông Dương- Ấn Độ

4.3 Yếu tố Đông Dương - Himalaya

4.4 Yếu tố Đông Dương- Nam Trung Hoa

4.5 Yếu tố Đông Dương

5 Yếu tố ôn đới

5.1 Yếu tố Đông Á- Nam Mỹ

5.2 Yếu tố ôn đới Cổ thế giới

5.3 Yếu tố ôn đới Địa Trung Hải

5.4 Yếu tố Đông Nam Á

6 Yếu tố đặc hữu Việt Nam

Trang 22

thiên nhiên Na Hang (2006) [32] Đỗ Ngọc Đài (2009) [19] khi nghiên cứu về hệ thực vật trên núi đá vôi Vườn Quốc gia Bến En - Thanh Hóa đã phân loại và so sánh các yếu tố địa lý với các Vườn Quốc gia khác Số liệu ở bảng 1.1:

Bảng 1.1 Đa dạng yếu tố địa lý thực vật ở một số vườn quốc gia

và Khu bảo tồn thiên nhiên

Vườn quốc gia

Các yếu tố địa lý Yếu tố

toàn cầu

Yếu tố nhiệt đới

Yếu tố

ôn đới

Yếu tố đặc hữu

Yếu tố cây trồng

454 loài đã được xác định và sắp xếp vào các yếu tố địa lý: yếu tố đặc hữu Đông Dương có số lượng nhiều nhất 121 loài chiếm 26,65%, sau đó là yếu tố Châu Á nhiệt đới có 97 loài chiếm 21,37%, tiếp đến là yếu tố Nam Hymalaya với 81 loài chiếm 17,84%, yếu tố đặc hữu Nam Xuân Lạc chỉ có 1 loài chiếm 0,22% Yếu

tố ôn đới Bắc không có trong hệ thực vật Nam Xuân Lạc

Lê Thị Thanh Hương (2013) [21], đã xác định đa dạng yếu tố địa lý của thực vật làm thuốc được sử dụng trong cộng đồng dân tộc Dao ở huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên như sau: Yếu tố Thế giới có 1 loài chiếm tỉ lệ 0,45%; yếu tố Liên nhiệt đới có 12 loài chiếm tỉ lệ 5,36%; yếu tố Cổ nhiệt đới có 22 loài chiếm

tỉ lệ 9,82%; Yếu tố nhiệt đới Châu Á có 131 loài chiếm tỉ lệ 58,48%; yếu tố Ôn đới có 10 loài chiếm tỉ lệ 4,46%; yếu tố đặc hữu Việt Nam có 42 loài chiếm tỉ lệ 18,75%; yếu tố các loài cây trồng có 1 loài chiếm tỉ lệ 0,45%; có 5 loài không

Trang 23

xác định được chiếm tỉ lệ 2,23%

Đậu Bá Thìn, Phạm Hồng Ban, Nguyễn Nghĩa Thìn (2013) [34] đã xác định được đa dạng yếu tố địa lý của thực vật bậc cao có mạch ở Khu bảo tồn thiên nhiên Pú Luông, Thanh Hoá thì yếu tố nhiệt đới chiếm tỉ lệ cao nhất với 68,40%; yếu tố đặc hữu chiếm 23,65%; yếu tố ôn đới chiếm 3,65%; yếu tố cây trồng chiếm 1,3%

Lê Văn Phúc, Lê Đồng Tấn (2013) [30] đã ghi nhận ở Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ tỉnh Bắc Kạn có 865 loài đã xác định được yếu tố địa lý, còn 26 loài chưa xác định được do chưa đủ tài liệu Trong đó, yếu tố Đông Dương có nhiều nhất với 268 loài chiếm 30,98% tổng số loài; sau đó là yếu tố địa lý Nam Hymalaya 191 loài, chiếm 22,09%; tiếp theo là yếu tố địa lý Châu Á nhiệt đới với 131 loài, chiếm 15,14%; yếu tố địa lý Châu Á có 51 loài chiếm 5,9%; yếu tố địa lý Bắc Bộ với 47 loài chiếm; các yếu tố còn lại đều ít hơn 20 loài, trong đó ít nhất là yếu tố đặc hữu Bắc Bộ có 1 loài chiếm 0,12%

1.4 Những nghiên cứu về cây thuốc và vị thuốc

1.4.1 Trên thế giới

Lịch sử nghiên cứu cây thuốc và vị thuốc đã có từ lâu đời Nhiều quốc gia trên thế giới (Việt Nam, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản) đã chú ý tới việc sử dụng cây thuốc trong phòng và chữa bệnh Trong lịch sử đã xuất hiện nhiều danh

y kiệt xuất với những nghiên cứu về đa dạng cũng như tính năng chữa bệnh của cây thuốc Tuy nhiên những tài liệu cổ về cây thuốc hiện còn lại không nhiều Năm 2838 trước công nguyên (TCN) có thể coi là năm hình thành bộ môn nhiên cứu cây thuốc và dược liệu dẫn theo Lã Đình Mỡi, Lưu Đàm Cư, Trần Minh Hợi [29]

Cuốn “Kinh Thần Nông” đã ghi chép 364 vị thuốc Đây là cuốn sách tạo nền tảng cho sự phát triển liên tục của nền y học dược thảo Trung Quốc cho đến ngày nay [24]

Năm 1595 (TCN) Lý Thời Trân (Trung Quốc) viết quyển “Bản thảo

Trang 24

cương mục”, đây là bộ sách vĩ đại nhất của Trung Quốc về cây thuốc Ông đã

mô tả và giới thiệu 1094 cây thuốc và vị thuốc từ cây cỏ [29]

Năm 184 - 322 (TCN) Aristote (Hy Lạp) là người đầu tiên có những ghi chép kiến thức về cây cỏ ở nước này Sau đó, Theophraste 340 (TCN) với tác phẩm “Lịch sử thực vật” đã giới thiệu 500 loài cây cỏ và công dụng của chúng Mặc dù chỉ mới dừng lại ở mức mô tả, thống kê, song công trình của ông đã mở đầu cho một giai đoạn tìm tòi nghiên cứu sâu về lĩnh vực này dẫn theo Võ Văn Chi (1996)[9]

Thầy thuốc người Hi Lạp Dioscorides 60 - 20 (TCN) đã giới thiệu 600 loài cây cỏ chủ yếu để chữa bệnh Đồng thời ông cũng là người đặt nền móng cho nền y dược học [9]

Năm 79-24 (TCN) Plinus - nhà tự nhiên học người La Mã đã soạn thảo bộ sách “Vạn vật học” gồm 37 tập giới thiệu 1000 loài cây cỏ có ích [10]

Nhà thực vật học người Thụy Sỹ: Alphonse decadoue với tác phẩm “Địa

lý học tự nhiên” (1855) và “Nguồn gốc cây trồng” (1883) đã thống kê các loài cây cỏ có ích [9]

Năm 1952, hai tác giả người Pháp là Ch.Crevost và A.Petelot đã có công trình nghiên cứu về cây thuốc và sản phẩm làm thuốc từ thực vật ở Đông Dương [29]

Như vậy, có thể nói những công trình về cây thuốc đã có quá trình hình thành, phát triển cùng với tiến trình lịch sử của nhân loại Từ mức độ tìm tòi, thống kê, mô tả, chỉ ra công dụng của chúng, tuy việc nghiên cứu còn bị hạn chế bởi trình độ khoa học chưa phát triển nhưng các công trình nghiên cứu sâu về thành phần hóa dược liệu đã có được những thành tựu lớn, tương ứng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật đương thời Qua đó đã làm tăng hiệu quả sử dụng cũng như sự tin dùng của người bệnh với nguồn gốc dược liệu

1.4.2 Ở Việt Nam

Trang 25

Ở Việt Nam ngay từ buổi đầu sơ khai con người đã biết sử dụng cây thuốc

Từ thực tiễn cuộc sống săn bắt hái lượm, con người đã vô tình phát hiện ra được công dụng chữa bệnh của cây rừng, rồi được tích lũy qua nhiều thế hệ, cùng với

sự phát triển của xã hội loài người, những kinh nghiệm đó được tính lũy, ghi chép lại bởi những nhà y học nổi tiếng của từng thế hệ

Lược sử y học cổ truyền chính thống ở Việt Nam đã ghi nhận nhiều danh

y như: Dưới triều vua lý (1010 - 1244) có nhà sư Minh Không (Nguyễn Chí Thành) đã có công chữa bệnh cho Lý Thần Tông Nhà Lý đã đặt quan hệ với Tống Huy Tông (Trung Quốc) trao đổi thuốc Nam lấy thuốc Bắc Lê Trần Đức (1995) [18]

Dưới triều Trần (1244 - 1399) đã có kế hoạch tự túc thuốc Nam kháng chiến Tướng Phạm Ngũ Lão đã trồng thuốc ở Vạn An và Dược Sơn (xã Hưng Đạo - Chí Linh - Hải Dương) để cung cấp cho quân y dẫn theo Lê Trần Đức (1995) [18]

Đặc biệt trong thời kỳ này có nhà sư Tuệ Tĩnh (Nguyễn Bá Tĩnh), ông được phong làm ông tổ ngành dược Việt Nam Với việc gây phong trào trồng thuốc ở gia đình và phương châm: “Thuốc nam chữa bệnh người Nam”, sát với thực tế Việt Nam, đồng thời nó cũng tiêu biểu cho ý thức độc lập tự chủ Trong việc nghiên cứu dược liệu, ông đi ngược lại với cách sắp xếp của nước ngoài, đặt cây cỏ lên trước Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ Ông đã truyền bá y học cổ truyền cho nhân dân qua các tác phẩm: “Nam dược thần hiệu” gồm 499 vị và 3932 phương thuốc trị 184 loại bệnh, chia làm 10 khoa (1725) Tập sách này ra đời sau cuốn “Bản thảo thực vật toàn yếu” do Phan Chu Tiên biên soạn (1429) là tập cây thuốc và dược liệu đầu tiên của Việt Nam

“Các bài thuốc nam và thập tam phương gia giảm”: chép 13 cổ phương với bổ âm đơn do ông sáng chế để chữa các bệnh gia giảm theo chứng Các tài liệu này được in trong cuốn “Nam dược chính bản” Sau được triều hậu Lê in lại

Trang 26

trong cuốn “Hồng nghĩa giác y thư” (1717 và 1723) và được lưu truyền cho đến nay [18]

“Tuệ Tĩnh y thư”; “Thương hàn tam thập trùng pháp”

Thế kỷ thứ XVIII có Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1729 - 1791) đã thừa kế dược học của Tuệ Tĩnh chép vào tập “Lĩnh Nam bản thảo”, nội dung gồm 496 vị thuốc Nam của “Nam dược thần hiệu” và phát hiện thêm hơn 300 vị nữa Tư liệu vĩ đại nhất của ông là:”Hải thương y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển, viết về lý luận cơ bản, phương pháp chuẩn đoán, trị bệnh [1]

Triều Tây Sơn (1788 - 1808” Nguyễn Hoành đã để lại tập “Nam dược” với 620 vị thuốc, với các phương thuốc kinh nghiệm gia truyền Lê Trần Đức (1995) [18]

Triều Nguyễn (1802 - 1845) có quyển “Nam dược tập nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng về phương thuốc dân gian

Vào thời Pháp thuộc (1848 - 1945) đã có những công trình nghiên cứu cây thuốc Việt Nam của nhiều nhà thực vật học Việt Nam và Pháp Trong đó tiêu biểu là: bộ “Trung Việt dược tích hợp biên” của Đinh Nho Chân với 1600 vị thuốc Nam Bắc Công trình nghiên cứu của Ch.Crevost và A.Petelote (1917) đã nghiên cứu và công bố kết quả điều tra về tài nguyên thực vật ở Việt Nam và Đông Dương Năm 1954, A.Petelote đã xuất bản bộ sách: “Những cây thuốc của Campuchia, Lào, Việt Nam” gồm bốn tập [18]

Sau cách mạng tháng 8 - 1945 thành công, chúng ta có thêm điều kiện để đẩy mạnh việc nghiên cứu cây thuốc Chỉ thị số 210 TTG/VG ngày 6/12/1996 của thủ tướng chính phủ đã nhận định: “Dược liệu nước ta rất nhiều, gồm các loài cây thuốc và một số động vật, có nhiều loài quý hiếm ở trên thế giới Dược liệu ở nước ta chẳng những là cơ sở cho nền y học dân tộc mà còn có một vị trí quan trọng trong nền y học hiện đại, chẳng những là nguồn tự cung tự cấp cây thuốc nam, thuốc bắc, thuốc tây mà còn là loại hàng xuất khẩu có giá trị Phải coi trọng dược liệu như cây công nghiệp cao cấp” [10] Chính vì vậy, đã có

Trang 27

nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu, tìm tòi và phát hiện thêm nhiều loài cây thuốc mới

Lương y lão thành, thầy thuốc ưu tú Lê Trần Đức với tác phẩm: “Cây thuốc Việt Nam - trồng hái chế biến, trị bệnh ban đầu “(1966 - 1995) đã giới thiệu hơn

830 cây thuốc chính, phụ [18]

Dược điển Việt Nam tập 2 (1983) của nhà xuất bản y học do nhiều thành viên cơ quan tham gia xây dựng, đã mô tả và nêu công dụng của hơn 430 loài cây thuốc [18]

Đỗ Tất Lợi (1986) khi nhiên cứu cây thuốc đã công bố 793 loài thuộc 164

họ có ở hầu hết các tỉnh nước ta [26]

Giáo sư Nguyễn Văn Đàn với cuốc sách “Cây thuốc Việt Nam” giới thiệu

200 loài cây thuốc kèm theo tranh màu minh họa sống động rất thuận tiện cho việc nghiên cứu

Lương y Lê Trần Đức (1995) có ghi 830 cây thuốc trong cuốn sách “Cây thuốc Việt Nam” [18]

Võ Văn Chi (1996) đã thống kê khoảng 3200 loài cây làm thuốc nhưng

trong đó có cả những cây nhập nội như Bạch chỉ (Angelica dahurica), Đương quy (Angelica sinensis) trong cuốn “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [10]

Đỗ Tất Lợi (1999) đã giới thiệu 800 cây con và vị thuốc trong cuốn sách

“Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” [26]

Đặng Bá Châu (2001) đã công bố một số dẫn liệu về cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Nghĩa Đàn (Nghệ An) gồm 177 loài, thuộc 149 chi, thuộc 71 họ khác nhau [6]

Đặng Quang Châu, Bùi Hồng Hải (2003) khi điều tra các loài cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Quỳnh Châu (Nghệ An) đã thu được 93 loài thuộc 7 chi, 42 họ [7]

Các tác giả đã phân loại cây sử dụng theo các nhóm bệnh: bệnh ngoài da, bệnh về xương, bệnh về tiêu hóa

Lưu Đàm Cư, Hà Tuấn Anh, Trương Anh Thư (2004) khi điều tra các loài

Trang 28

cây có ích của dân tộc H’mông ở vùng cao phía Bắc đã phân loại được 4 nhóm theo công dụng: cây lương thực thực phẩm, cây làm thuốc, cây làm nguyên liệu Các tác giả đã thống kê được 657 loài thuộc 188 họ mà người H’mông sử dụng làm thuốc chữa bệnh cho người và gia súc [17]

Nguyễn Thị Thủy, Phạm Văn Thính (2004) đã xây dựng các mô hình vườn bảo tồn cây thuốc ở vùng cao Sapa như: Vườn rừng, trang trại, vườn các hộ gia đình Bước đầu đã bảo tồn được 52 loài cây thuộc 28 họ, trong đó có nhiều loài

có nguy cơ bị tuyệt chủng [35]

Đồng thời, trong thời gian gần đây đã có nhiều tổ chức về y học dân tộc được thành lập với những đóng góp về mặt điều tra, sưu tầm dược liệu: Đã sưu tầm được 1863 loài cây làm thuốc thuộc 238 họ thực vật, thu thập 8000 tiêu bản của 1296 loài [6] Theo số liệu của Viện dược liệu (2006) ở Việt Nam có 3870 loài cây thuốc [38] Thực tế con số này còn cao hơn nữa

Tất cả các công trình trên đều có chung một hướng nghiên cứu: mô tả các loài, đặc biệt nói đến công dụng, cách chế biến và liều lượng giúp cho người đọc có những hiểu biết cơ bản về công dụng và loại dược liệu mình sử dụng

1.5 Tiềm năng, tình hình khai thác và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Ở nước ta, tài nguyên cây thuốc là rất lớn do nước ta nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa với hệ thống động thực vật phong phú và đa dạng Theo tài liệu thống kê của Hội nghị châu Á về cây thuốc và tinh dầu ở Băng Cốc (12/1996), Việt Nam có khoảng 3200 loài cây làm thuốc, con số này sẽ không ngừng tăng lên trong những năm tới đây do còn nhiều loài cây thuốc Việt Nam được sử dụng trong y học cổ truyền của các dân tộc chưa được điều tra nghiên cứu

Về phân bố, câynằm tập trung chủ yếu ở vùng trung du và miền núi (70%) Đặc biệt là ở những khu bảo tồn thiên nhiên, rừng quốc gia, rừng rậm nguyên sinh (Cúc Phương, Cát Bà, Ba Vì ) Tại đây, thảm thực vật được bảo vệ tương đối tốt thuận lợi cho sự phát triển của nguồn cây thuốc cũng như thuận lợi trong

Trang 29

công tác điều tra nghiên cứu, thống kê của các nhà khoa học và trong việc khám phá những loài mới

Thấy được tiềm năng to lớn của cây thuốc Việt Nam, trong những năm 60,

70 của thế kỷ XX phong trào phát triển và sử dụng cây thuốc Nam được khuyến khích phát triển rầm rộ Vào thời gian này, 60% số xã ở miền Bắc có vườn thuốc Nam, các cơ sở y tế địa phương và trong dân gian sử dụng cây thuốc để phòng

và chữa bệnh chính và đạt nhiều kết quả tốt

Trong sử dụng cây thuốc chữa bệnh, các dân tộc khác nhau có những kinh nghiệm, những bài thuốc gia truyền khác nhau, đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong kinh nghiệm sự dụng thuốc gia truyền của nhân dân Nhiều bài thuốc đã được truyền lại cho thế hệ sau, nhưng cũng có những bài thuốc bị thất lạc trong dân gian

Ngày nay, trước sự xâm nhập ồ ạt của thị trường thuốc tây với những hình thức tiện lợi, dễ sử dụng và phổ biến đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc sử dụng thuốc Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ Việc sử dụng phổ biến thuốc tây đã làm họ xa rời truyền thống dân tộc, xem nhẹ những kinh nghiệm của ông bà, cha mẹ Đó là vấn đề cần lưu ý cho sự phát triển của việc sử dụng, phát triển tài nguyên cây thuốc sau này

Trong công tác trị liệu bằng y học cổ truyền, mặc dù bị ảnh hưởng nặng

nề của y học Trung Quốc (thuốc Bắc) nhưng các vị thuốc trong nước vẫn chiếm

vị trí quan trọng Nhiều loài hoàn toàn trồng ở Việt Nam, chưa từng nhập ở Trung Quốc (Bồ công anh, Sài đất, Kim ngân ), nhiều loài có thể thay thế cho dược liệu nhập nội, mặc dù chất lượng chưa cao (Đẳng sâm, Bạch truật, Cảnh Kiến ), nhiều loài thuốc khai thác ở Việt Nam lại có chất lượng cao hơn ở Trung Quốc Qua đó thấy rõ cây thuốc đã có khả năng đáp ứng nhu cầu phòng chữa bệnh bằng

y học cổ truyền

Những thành tựu quan trọng thu được trong công nghiệp dược liệu hiện

Trang 30

đại là:

- Chiết xuất Berberin từ cây Vàng đắng

- Sản xuất nhiều loại tinh dầu thực vật

- Sản xuất Rotundin, Stihox từ củ Bình vôi

- Chiết xuất Rutin từ hoa Hòe

Chúng ta cũng đã thu được những thành tựu trong việc sử dụng thuốc Nam

để chữa những bệnh hiểm nghèo và bệnh xã hội, trong đó phải kể đến việc sử dụng cây thuốc để chữa bệnh ung thư tuyến tiền liệt hạn chế sự phát triển của khối u sau giải phẫu Đồng thời, các loài thuốc Đông y đang có triển vọng trong điều trị và cắt cơn nghiện ma túy

Hiện nay, với những giá trị to lớn mà cây thuốc mang lại thì nhiều loài đang bị khai thác quá mức, nhiều loại trở nên khan hiếm và có nguy cơ bị tuyệt chủng như: Hoàng đằng, Hoàng liên, Trầm hương [25]

Trang 31

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là toàn bộ các loài thực vật có giá trị làm

thuốc trong một số quần xã thực vật tại đảo Ba Mùn thuộc Vườn Quốc Gia Bái

Tử Long, tỉnh Quảng Ninh

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp điều tra theo tuyến và ô tiêu chuẩn (OTC)

Ở đề tài này chúng tôi sư dụng phương pháp ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra của Nguyễn Nghĩa Thìn (2007) [33] và Hoàng Chung (2008) [13]

- Tuyến điều tra: Căn cứ vào địa hình cụ thể của khu vực nghiên cứu lập

các tuyến điều tra Tuyến điều tra có hướng vuông góc với đường đồng mức, các tuyến sau song song với tuyến đầu, khoảng cách giữa các tuyến điều tra là 50-100m tùy vào loại hình cụ thể của từng quần xã, chiều rộng của mỗi tuyến là 2m Dọc tuyến điều tra bố trí các ô tiêu chuẩn (OTC) và các ô dạng bản (ODB) để thu thập số liệu

- Ô tiêu chuẩn (OTC): Áp dụng ô tiêu chuẩn có diện tích 400m2 (20m x 20m) cho các trạng thái rừng Trong OTC lập các ODB có diện tích 25m2 (5m x 5m) thu thập số liệu về thành phần của thực vật Trong các OTC và ODB tiến hành xác định tên khoa học của các loài cây

OTC, ODB được bố trí như hình sau:

Hình 2.1: Sơ đồ bố trí OTC và ODB trong quần xã rừng

Trang 32

Ranh giới các OTC và ODB được đánh dấu bằng các dây nilon màu đỏ Trong OTC và ODB thống kê toàn bộ các cây và dạng sống của chúng

2.2.2 Phương pháp thu mẫu thực vật

- Đối với tuyến điều tra, tiến hành ghi chép các thông tin về từng loài cây

bắt gặp trên tuyến như: tên Việt Nam (hoặc tên Latinh), dạng sống (cây thân gỗ, thân bụi, thân thảo, thân leo) Những loài cây chưa xác định được tên thì thu thập mẫu về phân loại sau

- Đối với ô tiêu chuẩn, tiến hành thu thập mẫu trong các ô nhỏ (ô dạng bản), cách thu mẫu cũng giống như ở tuyến điều tra

2.2.3 Phương pháp phân tích mẫu vật

Sau khi thu thập mẫu tại các điểm nghiên cứu, chúng tôi tiến hành xác định tên loài, tên họ thực vật theo các tài liệu của Lê Khả Kế và cộng sự (1969) [24], Nguyễn Tiến Bân (1997) [1], Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000) [4]

- Tên các họ và tên loài được xếp theo vần ABC (theo tên latinh) và xếp theo hệ thống tiến hóa của Takhtajan (1981)

- Xác định các loài thực vật làm thuốc theo Cây thuốc Việt Nam (Lê Trần

Đức, 1995) [18], Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1986) [26]

- Xác định dạng sống của thực vật theo tài liệu: “Tên cây rừng Việt Nam” của Bộ Nông nghiệp và PTNT(2000) [4]

-Xác định thực vật quí hiếm theo Sách đỏ Việt Nam(phần thực vật) (2007) [5]

2.2.4 Phương pháp xác định đa dạng các yếu tố địa lí của thực vật có giá trị làm thuốc

Sử dụng phương pháp phân loại các yếu tố địa lý thực vật cho hệ thực vật Việt Nam của Lê Trần Chấn (1999) [ 11], tác giả đã xác định yếu tố địa

lí của 10.139 loài thực vật ở Việt Nam Đó là cơ sở thuận lợi để chúng tôi áp

Trang 33

dụng cách phân loại này Cụ thể và gồm 20 yếu tố cấu thành:

1 Yếu tố đặc hữu Bắc bộ

2 Yếu tố đặc hữu Trung bộ

3 Yếu tố đặc hữu Nam bộ

4 Yếu tố đặc hữu Việt Nam

5 Yếu tố Đông Dương

6 Yếu tố nam Trung Quốc

7 Yếu tố Hải Nam, Đài loan, Philippin

8 Yếu tố Hymalaya

9 Yếu tố Ấn Độ

10 Yếu tố Malaysia

11 Yếu tố Malaysia – Indonesia

12 Yếu tố Malaysia – Indonesia- châu Úc

13 Yếu tố châu Á nhiệt đới

14 Yếu tố cổ nhiệt đới

15 Yếu tố tân nhiệt đới và liên nhiệt đới

16 Yếu tố Đông Á

17 Yếu tố Châu Á

18 Yếu tố ôn đới bắc

19 Yếu tố phân bố rộng

20 Yếu tố di cư và nhập nội hiện tại

Xây dựng đa dạng yếu tố địa lý thực vật: Khi đã phân chia được yếu tố địa lý của các loài thực vật, tiến hành lập phổ các yếu tố địa lý thực vật

ở khu vực nghiên cứu để đánh giá được sự đa dạng về nguồn gốc thực vật và

có biện pháp bảo tồn cho khu vực nghiên cứu

Trang 34

Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI

KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1 Vị trí địa lý

Quảng Ninh là tỉnh ven biển thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam, Quảng Ninh được ví như một Việt Nam thu nhỏ, vì có cả biển, đảo, đồng bằng, trung du, đồi núi, biên giới Trong quy hoạch phát triển kinh tế, Quảng Ninh vừa thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc vừa thuộc vùng duyên hải Bắc Bộ Đây là tỉnh khai thác than đá chính của Việt Nam và có vịnh Hạ Long là di sản, kỳ quan thiên nhiên thế giới

Quảng Ninh nằm ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam, có dáng một con cá sấu nằm chếch theo hướng đông bắc - tây nam Phía đông nghiêng xuống nửa phần đầu Vịnh Bắc bộ, phía tây tựa lưng vào núi rừng trùng điệp Toạ độ địa lý khoảng 106o26' đến 108o31' kinh độ đông và từ 20o40' đến 21o40' vĩ độ bắc Bề ngang từ đông sang tây, nơi rộng nhất là 102 km Bề dọc từ bắc xuống nam khoảng 195 km Phía đông bắc của tỉnh giáp với Trung Quốc, phía nam giáp vịnh Bắc Bộ, phía tây nam giáp tỉnh Hải Dương và thành phố Hải Phòng, đồng thời phía tây bắc giáp các tỉnh Lạng Sơn, Bắc Giang và Hải Dương

Điểm cực đông trên đất liền là mũi Gót ở đông bắc phường Trà Cổ, thành phố Móng Cái, ngoài khơi là mũi Sa Vĩ

Điểm cực tây là sông Vàng Chua, xã Bình Dương và xã Nguyễn Huệ, thị

xã Đông Triều

Điểm cực nam ở đảo Hạ Mai thuộc xã Ngọc Vừng, huyện Vân Đồn Điểm cực bắc thuộc thôn Mỏ Toòng, xã Hoành Mô, huyện Bình Liêu Quảng Ninh là một trong 25 tỉnh, thành phố có biên giới, tuy nhiên lại là tỉnh duy nhất có đường biên giới trên bộ và trên biển với Trung Quốc, với đường biên giới trên bộ dài 118,825 km và đường phân định Vịnh Bắc Bộ trên biển dài

Trang 35

trên 191 km Mặc khác, Quảng Ninh là một trong 28 tỉnh, thành có biển, với đường bờ biển dài 250 km, trong đó có 40.000 hecta bãi triều và trên 20.000 ha

eo vịnh, có 2/12 huyện đảo của cả nước

Vườn quốc gia Bái Tử Long được thành lập ngày 01/06/2001 theo quyết định số 85/2001/QĐ-TT, nằm trong khung tọa độ địa lý: 20°55’05’’ - 21°15’10’’

vĩ độ Bắc, 107°30’10’’ - 107°46’20’’ kinh độ Đông, nằm trong địa giới hành chính của 3 xã: Minh Châu, Vạn Yên và Hạ Long của huyện Vân Đồn, với tổng diện tích 15.783 ha Phía Tây Nam giáp Vịnh Hạ Long, phía Đông giáp biển, phía Tây giáp đất liền với thành phố Cẩm Phả và phía đông bắc giáp huyện đảo Cô Tô

Đảo Ba Mùn thuộc địa phận xã Minh Châu, huyện Vân Đồn, nằm song song với đảo Quan Lạn, cách bờ khoảng 15km, thuộc vùng biển và hải đảo của Quảng Ninh là một vùng địa hình độc đáo Hơn hai nghìn hòn đảo chiếm hơn 2/3 số đảo cả nước (2078/ 2779), đảo trải dài theo đường ven biển hơn

250 km chia thành nhiều lớp và diện tích các đảo chiếm 11,5% diện tích đất

tự nhiên Có những đảo rất lớn như đảo Cái Bầu, Bản Sen, lại có đảo chỉ như một hòn non bộ Có hai huyện hoàn toàn là đảo là huyện Vân Đồn và huyện Cô

Tô Trên vịnh Hạ Long và Bái Tử Long có hàng ngàn đảo đá vôi nguyên là vùng địa hình karst bị nước bào mòn tạo nên muôn nghìn hình dáng bên ngoài

và trong lòng là những hang động kỳ thú Vùng ven biển và hải đảo Quảng Ninh ngoài những bãi bồi phù sa còn những bãi cát trắng táp lên từ sóng biển

Có nơi thành mỏ cát trắng làm nguyên liệu cho công nghệ thuỷ tinh (Vân Hải),

có nơi thành bãi tắm tuyệt vời (như Trà Cổ, Quan Lạn, Minh Châu, Ngọc Vừng )

3.1.2 Địa hình

Đảo Ba Mùn là kiểu địa hình đồi thấp (cao 314m), hình thể của đảo là hẹp về chiều ngang, phân bố thành dải daiftheo hướng Đông Bắc - Tây Nam trùng với phương của cấu trúc địa chất, nằm song song với bờ biển của đất liền

Trang 36

3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng

Cấu tạo địa chất của vườn quốc gia Bái Tử Long bao gồm các đảo đất như:

Ba Mùn, Trà Ngọ Nhỏ nằm xen kẽ với các đảo đá vôi như: Trà Ngọ Lớn, Đông

Ma, Hòn Chính, Nhiều đảo đá vôi có hình thù đa dạng, trông giống con công hay thiên nga đang bơi lội hoặc một con ngựa đá khổng lồ Cùng với đó là những quần thể thực vật tươi tốt, quanh năm che phủ trên núi đá; những lạch biển trong xanh chạy dài; những bãi cát vàng với vẻ đẹp tinh khôi, ẩn mình tĩnh lặng dưới chân các đảo nhỏ… Đặc biệt, khi thủy triều xuống thấp, những ngấn đá hằn sâu dưới chân đảo - biểu hiện của các vận động địa chất - cũng là một cảnh đẹp

có sức cuốn hút mạnh mẽ đối với du khách khi đến thăm vườn quốc gia Bái Tử

độ trung bình trong năm từ 21 - 23oC, lượng mưa trung bình hàng năm 1.995 m,

độ ẩm trung bình 82 - 85% Mùa lạnh thường bắt đầu từ hạ tuần tháng 11 và kết thúc vào cuối tháng 3 năm sau, trong khi đó mùa nóng bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng Mùa ít mưa bắt đầu từ tháng 11 cho đến tháng 4 năm sau, mùa mưa nhiều bắt đầu từ tháng 5 và kết thúc vào đầu tháng 10 Giữa hai mùa lạnh và mùa nóng, hai mùa khô và mùa mưa là hai thời kỳ chuyển tiếp khí hậu, mỗi thời kỳ khoảng một tháng (tháng 4 và tháng 10) Sự chênh lệch về nhiệt

độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa đông (tháng 1) thấp hơn nhiệt độ trung bình của tháng tiêu biểu cho mùa hạ (tháng 7) là 12oC và thấp hơn nhiệt độ trung

Trang 37

bình của tháng 1 theo tiêu chuẩn nhiệt độ cùng vĩ tuyến là 5,1oC Ngoài ra, do tác động của biển nên khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi đối với phát triển nông nghiệp, lâm nghiệp và nhiều hoạt động kinh tế khác.

Vịnh Bái Tử Long là vùng đảo có khí hậu phân hóa 2 mùa rõ rệt: mùa hạ nóng ẩm và mùa đông khô lạnh Nhiệt độ trung bình năm từ 15°C- 25°C; lượng mưa vào khoảng từ 2000mm - 2000mm / năm Vịnh Bái Tử Long còn có hệ thống thủy triều với mức triều vào khoảng 3.5- 4m/ngày.Độ mặn vào khoảng từ

31 đến 34.5 MT vào mùa khô và thấp hơn trong mùa hè

Bảng 3.1 Khí tượng bình quân các tháng trong năm 2016

tại vịnh Bái Tử Long Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 TB

Nhiệt độ

(độ C) 12.45 16.31 18.91 24.67 27.15 29.4 30.02 30.14 28.24 25.13 19.22 14.13 22.98 Lượng mưa

(mm) 21.8 45.3 66.8 73.7 118.5 226.6 255.3 515.5 448.9 305.3 138.6 33.6 2,249.90 Lượng bốc

Cũ có dạng lông chim

Lượng nước các sông khá phong phú, ước tính 8.777 tỷ m3 phát sinh trên toàn lưu vực Dòng chảy lên tới 118 l/s/km2 ở những nơi có mưa lớn Vào mùa mưa (tháng 5 - tháng 9), chiếm 75-80% tổng lượng nước trong năm; mùa khô (tháng 10 - tháng 4), chiếm 20-25% tổng lượng nước trong năm

Trang 38

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng

4 năm 2009, toàn tỉnh Quảng Ninh có 34 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống Trong đó, người Kinh đông nhất với 1.011.794 người, tiếp sau đó là người Dao với 59.156 người, người Tày 35.010 người, Sán Dìu có 17.946 người, người Sán Chay có 13.786 người, người Hoa có 4.375 người Ngoài ra còn có các dân tộc ít người như người Nùng, người Mường, người Thái

Đảo Ba Mùn thuộc xã Minh Châu, huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Việt Nam Xã Minh Châu có diện tích 272,94 km², dân số năm 1999 là

923 người, mật độ dân số đạt 3 người/km²

3.3 Nhận xét về điều kiện tự nhiên, xã hội vùng nghiên cứu

3.3.1 Thuận lợi

Quảng Ninh là tỉnh ven biển, biên giới thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam Khí hậu của Quảng Ninh nhìn chung mát mẻ, ấm áp, thuận lợi cho thảm thực vật phát triển

3.3.2 Khó khăn

Suy thoái về môi trường ngày càng gay gắt và cùng với tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu đã và đang gây khó khăn cho nhiều loài thực vật đặc biệt bao gồm cả những thực vật có giá trị làm thuốc

Trình độ dân trí nhìn chung còn hạn chế nên việc áp dụng các tiến bộ khoa học phục vụ đời sống và sản xuất gặp nhiều khó khăn

Trang 39

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đa dạng về các taxon thực vật có giá trị làm thuốc ở khu vực nghiên cứu

Qua số liệu thống kê ở phụ lục 1, chúng tôi nhận thấy thực vật có giá trị làm thuốc ở đây khá phong phú và phân bố không đồng đều trong các ngành thực vật khác nhau, nhưng chủ yếu là ngành hạt kín, bảng 4.1

Bảng 4.1 Sự phân bố các bậc taxon thực vật tại KVNC

STT Tên ngành

Số lượng Tỷ lệ (%)

Số lượng Tỷ lệ (%)

Số lượng Tỷ lệ (%)

Trang 40

Ngành Thông Đất (Lycopodiophyta) có 2 họ (chiếm 3,39%), 2 chi (chiếm

Bảng 4.2 Sự phân bố các bậc taxon trong ngành Hạt kín tại KVNC

Lớp

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Số lượng

Tỷ lệ (%)

Kết quả của bảng 4.2, tại KVNC lớp Hai lá mầm (Dicotyledones) có số

họ, chi, loài chiếm ưu thế nhất thể hiện như sau: 45 họ (chiếm 88,2%), 112 chi (chiếm 89,5%), 142 loài (chiếm 90,8%) Các loài cây có giá trị tài nguyên thực

vật như lấy tinh dầu có Long não (Cinnamomum camphora),…; lấy gỗ có Thầu tấu (Aporosa dioica), Me rừng (Phyllanthus emblica) ; làm thuốc có Trọng đũa (Ardisia crispa), Rau sắng (Melientha suavis),…

Lớp Một lá mầm có số lượng họ, chi, loài ít hơn với 6 họ (chiếm 11,8%),

13 chi (chiếm 10,5 %), 13 loài (chiếm 9,15 %) hủ yếu là các loài thực vật làm

thuốc, những cây thuốc phổ biến như Nghệ (Curcuma longa), Gừng gió (Zingiber zerumbet),…

4.1.2 Đa dạng ở bậc họ

Mức độ giàu loài của hệ thực vật còn được đánh giá bằng họ có nhiều loài nhất Bằng cách thống kê số loài trong họ đã thu được số liệu cụ thể ở bảng 4.3 như

Ngày đăng: 28/08/2020, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w