Trên cơ sở đó, thấy được sự cần thiết và những vấn đề đặt ra, các giải pháp phát huy những giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái nhằm xây dựng và phát triển văn hóa, con n
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỔ TRUYỀN
CỦA TRUYỆN KỂ DÂN TỘC THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - NĂM 2018
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ NGỌC BÍCH
NGHIÊN CỨU CÁC GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỔ TRUYỀN
CỦA TRUYỆN KỂ DÂN TỘC THÁI
Ngành: Văn học Việt Nam
Mã ngành : 8.22.01.21
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Ngô Thị Thanh Quý
THÁI NGUYÊN - NĂM 2018
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này được cá nhân tôi thực hiện Mọi kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Ngọc Bích
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè, những người thân luôn động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2018
Tác giả
Trần Thị Ngọc Bích
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Lịch sử vấn đề 3
4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận văn 6
NỘI DUNG 7
Chương 1: TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1 Khái quát về dân tộc Thái 7
1.1.1 Một vài nét về dân tộc Thái 7
1.1.2 Đôi nét về những thành tựu văn học của người Thái 11
1.2 Văn học cổ truyền 14
1.2.1 Khái niệm 14
1.2.2 Một vài nét về văn học cổ truyền Thái 14
1.3 Truyện kể dân tộc Thái 15
1.3.1 Thần thoại 15
1.3.2 Truyền thuyết 20
1.3.3 Truyện cổ tích 22
1.3.4 Truyện thơ 25
1.4 Lý thuyết giá trị và giá trị của văn học cổ truyền 26
Tiểu kết chương 1 29
Trang 6Chương 2: MỘT SỐ GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỔ TRUYỀN CỦA
TRUYỆN KỂ DÂN TỘC THÁI 30
2.1 Giá trị nhận thức 30
2.1.1 Khái niệm 30
2.1.2 Biểu hiện trong những truyện kể Thái 31
2.2 Giá trị giáo dục 40
2.2.1 Khái niệm 40
2.2.2 Biểu hiện trong những truyện kể Thái 42
2.3 Giá trị thẩm mỹ 43
2.3.1 Khái niệm 43
2.3.2 Biểu hiện trong những truyện kể Thái 44
Tiểu kết chương 2 48
Chương 3: PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỔ TRUYỀN CỦA TRUYỆN KỂ DÂN TỘC THÁI TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN 49
3.1 Sự cần thiết phải phát huy các giá trị văn học cổ truyền 49
3.2 Giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái góp phần xây dựng và phát triển văn hóa và con người trong bối cảnh hội nhập hiện nay 51
3.3 Những vấn đề đặt ra trong việc giữ gìn và phát huy giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái 58
3.3.1 Dự báo xu thế biến đổi các giá trị văn học cổ truyền 58
3.3.2 Những vấn đề đặt ra trong bảo tồn 60
3.3.3 Giải pháp 64
Tiểu kết chương 3 71
KẾT LUẬN 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa văn hóa với truyền thống lịch sử lâu đời Cộng đồng các dân tộc Việt Nam cùng chung sống tạo nên một đất nước hình chữ S xinh đẹp, mang bản sắc riêng trên bản đồ thế giới
Vấn đề văn hóa dân tộc từ lâu đã nhận được rất nhiều sự quan tâm của
Đảng Trong đại hội lần thứ VI (1986), Đảng ta đã khẳng định: “Trong việc
phát triển kinh tế - xã hội ở những nơi có đồng bào các dân tộc thiểu số, cần thể hiện đầy đủ chính sách dân tộc, phát triển mối quan hệ gắn bó tốt đẹp giữa các dân tộc trên tinh thần đoàn kết, bình đẳng, giúp đỡ nhau cùng làm chủ tập thể; kết hợp phát triển kinh tế và phát triển xã hội, đẩy mạnh sản xuất và chăm
lo đời sống con người, kể cả những người từ nơi khác đến và dân tại chỗ Chống những thái độ và những biểu thị tư tưởng “dân tộc lớn” và những biểu hiện của “dân tộc hẹp hòi”” Vấn đề dân tộc còn được đề cập trong nhiều văn
kiện khác của Đảng Trong các chính sách dân tộc, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa, văn học cổ truyền là vấn đề quan trọng nhận được nhiều sự quan tâm từ các ban ngành, đoàn thể, các cấp lãnh đạo
Hình thành và phát triển trong chặng đường lịch sử văn học Việt Nam, văn học cổ truyền các dân tộc thiểu số đã có đóng góp nhất định trong việc xây dựng và làm phong phú, đa dạng nền văn học dân tộc Trong sự đóng góp của nền văn học các dân tộc thiểu số, không thể không kể đến sự góp mặt của nền văn học cổ truyền dân tộc Thái Dân tộc Thái là một dân tộc có kho tàng truyện
kể phong phú, đặc sắc với những tác phẩm ở nhiều thể loại như: truyền thuyết, thần thoại, cổ tích, truyện thơ… Những truyện kể của dân tộc Thái đã làm say đắm bao thế hệ người đọc, người nghe từ xưa đến nay Với sự phong phú về số lượng, đa dạng về nội dung, hoàn thiện về trình độ nghệ thuật, truyện kể dân tộc Thái đã góp phần làm đa dạng nền văn học của dân tộc thiểu số nói riêng và nền văn học Việt Nam theo cách riêng của mình
Trang 8Hiện nay, một số truyện kể Thái đã được đưa vào chương trình giảng dạy trong các nhà trường Đặc biệt, chương trình và sách giáo khoa phổ thông sau năm 2019 sẽ có 20% dành cho chương trình địa phương Vì vậy, cần bổ sung những tri thức vùng miền vào nội dung chương trình học Trước thực tế đó, nghiên cứu về văn học dân tộc Thái cũng như những tác phẩm truyện kể trong kho tàng văn học dân gian dân tộc này là một nhiệm vụ cần thiết, có ý nghĩa thực tiễn đối với quá trình học tập và giảng dạy chương trình Ngữ văn ở các bậc học, nhằm đáp ứng những thay đổi của chương trình và sách giáo khoa phổ thông trong thời gian tới Tuy nhiên, văn học cổ truyền, truyện kể dân tộc Thái lại chưa được nghiên cứu sâu rộng, toàn diện, điều đó tạo ra những khó khăn trong quá trình nghiên cứu, học tập về những tác phẩm có nhiều giá trị đặc sắc này
Từ những lí do trên, chúng tôi nhận thấy nghiên cứu về truyện kể dân tộc Thái là vấn đề quan trọng và có ý nghĩa thiết thực Vì vậy, chúng tôi lựa chọn
đề tài: Nghiên cứu các giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái với
mong muốn góp thêm một tài liệu cho việc học tập, nghiên cứu về nền văn học
có nhiều giá trị đặc sắc nhưng vẫn còn nhiều khoảng trống mà chúng ta chưa đặt chân đến này
Đề tài này được thực hiện sẽ cung cấp thêm những hiểu biết về giá trị của các truyện kể dân tộc Thái, từ đó góp phần vào việc nghiên cứu và giảng dạy văn học Thái ở các nhà trường nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của chúng tôi trong việc thực hiện đề tài này là thấy được các giá trị văn hóa cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái trên các phương diện nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ Trên cơ sở đó, thấy được sự cần thiết và những vấn đề đặt ra, các giải pháp phát huy những giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái nhằm xây dựng và phát triển văn hóa, con người trong cuộc sống hôm nay
Trang 93 Lịch sử vấn đề
Trong thời gian gần đây, nghiên cứu văn học cổ truyền các dân tộc thiểu
số, trong đó có văn học cổ truyền dân tộc Thái đã nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học, giới nghiên cứu trong và ngoài nước
Trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam, dân tộc Thái là dân tộc thiểu số có số dân đông thứ hai (sau dân tộc Tày) Với lịch sử phát triển lâu đời, nền văn học Thái sớm có điều kiện phát triển và đạt được nhiều thành tựu nổi bật Với nhiều tầng giá trị và ý nghĩa sâu sắc, văn học Thái nhận được rất sự quan tâm của giới nghiên cứu
Tác giả Đinh Văn Lành trong cuốn Bước đầu tìm hiểu thần thoại dân tộc
Thái đã dày công nghiên cứu về thần thoại Thái vùng Tây Bắc Đó là những
thần thoại về sự hình thành vũ trụ, thế giới tự nhiên, sự tích anh hùng… Qua
đó, tác giả đã cung cấp cho người đọc một cái nhìn mới về việc nhận thức thế giới của người Thái qua thể loại thần thoại
Nhà nghiên cứu Cầm Cường - một người con của dân tộc Thái đã dành
sự quan tâm đặc biệt cho việc bảo vệ, lưu truyền và phát triển nền văn học của
dân tộc mình Trong cuốn Tìm hiểu văn học dân tộc Thái ở Việt Nam, ông đã
chỉ ra nguồn gốc, những thành tựu và đặc sắc nghệ thuật của văn học dân tộc Thái Đồng thời, ông cũng đi sâu tìm hiểu văn học trong đời sống xã hội của cộng đồng người Thái và chỉ ra sự biến đổi, phát triển của văn học Thái từ đầu thế kỷ XX cho tới nay
Bên cạnh những tác giả trên cũng có rất nhiều các tác giả quan tâm đến các loại thể khác của dân tộc Thái Tác giả Nguyễn Văn Hòa nghiên cứu, sưu
tầm Truyện cổ và dân ca Thái vùng Tây Bắc Tác giả Ngô Thị Phượng lại tìm hiểu về văn học Thái qua công trình Nghiên cứu một số truyện thơ của dân tộc
Thái ở Việt Nam có cùng đề tài với truyện thơ Nôm của dân tộc Kinh, qua đó
thấy được những điểm tương đồng và khác biệt giữa hai đối tượng nghiên cứu, hai bộ phận văn học này
Trang 10Trong công trình Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản văn hóa hiện nay,
tác giả Nguyễn Toàn Thắng đã chỉ ra hai nhiệm vụ quan trọng là “bảo tồn” và
“phát huy” văn học cổ truyền phải luôn gắn bó chặt chẽ với nhau Bảo tồn được thì mới phát huy được Tác giả đồng thời cũng đề xuất hai dạng bảo tồn, đó là bảo tồn nguyên vẹn (bảo tồn trong dạng tĩnh) và bảo tồn phát huy (bảo tồn trong dạng động) Có thể nhận thấy đây là những nghiên cứu mang tính tổng hợp và có ý nghĩa thực tiễn, mang đến những nhận định khái quát về vấn đề bảo tồn và phát huy nền văn học các dân tộc thiểu số - một vấn đề quan trọng, cấp thiết đặt ra trong bối cảnh hiện nay
Nhằm đánh giá những thành quả cùng những hạn chế trong công tác bảo tồn văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, Hội thảo “Thực trạng và giải pháp bảo tồn, phát huy văn hóa cổ truyền các dân tộc thiểu số Việt Nam” đã được tổ chức Hơn 50 bản tham luận phản ánh về nhiều vấn đề đã được phân tích, bàn luận, đưa ra những cái nhìn mới để có những giải pháp hiệu quả trong công tác gìn giữ, bảo tồn, phát huy văn học cổ truyền của các dân tộc thiểu số Việt Nam, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, đặc biệt là việc xây dựng, phát triển văn hóa, văn học nghệ thuật trong tình hình hiện nay Qua đó, chúng tôi nhận thấy các tác giả đã đưa ra được một số biện pháp bảo tồn văn học cổ truyền Tuy nhiên, những nghiên cứu đó mới chỉ dừng ở mức độ khái quát mà chưa đi sâu khám phá được những giá trị riêng biệt của văn học
cổ truyền Thái
Qua việc tìm hiểu những công trình nghiên cứu trên, chúng tôi nhận thấy khi nghiên cứu về văn học cổ truyền Thái, các tác giả đã có những sưu tầm, tìm tòi, đem đến những hiểu biết mới mẻ cho người đọc, đồng thời đã chỉ ra được một số giá trị đặc trưng của văn học Thái, trong đó có văn học cổ truyền và các truyện kể dân tộc Thái
Kế thừa những thành tựu của những nhà nghiên cứu đi trước, ở luận văn này, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp cho việc nghiên cứu, giảng dạy và bảo tồn những giá trị của truyện kể dân tộc Thái trong bối cảnh hiện nay
Trang 114 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi trong luận văn là: Nghiên cứu các giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài Nghiên cứu các giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân
tộc Thái, chúng tôi tập trung tìm hiểu những giá trị văn học cổ truyền của
truyện kể Thái và vấn đề phát huy những giá trị đó trong cuộc sống hôm nay
Từ mục tiêu đã đề ra, trong luận văn này chúng tôi sẽ thực hiện nhiệm vụ phân tích, tổng hợp, đánh giá và nhận xét để chỉ ra những giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái (chủ yếu qua các thể loại thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ), không bao gồm các thể loại văn học viết Đồng thời, chúng tôi cũng tìm hiểu những vấn đề xoay quanh việc phát huy những giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái trong cuộc sống hôm nay
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: trên cơ sở kế thừa những thành tựu của các ngành khoa học văn hóa, lịch sử, địa lý… để nghiên cứu về điều kiện tự nhiên, con người, phong tục… có chi phối đến việc hình thành và phát triển của truyện kể dân tộc Thái
- Phương pháp phân tích: phân tích các giá trị của văn học cổ truyển Thái, từ đó phát huy được những giá trị của truyện kể dân tộc Thái trong cuộc sống hôm nay
- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại các tác phẩm truyện kể dân tộc Thái theo từng loại giá trị
- Phương pháp so sánh: đặt các truyện kể dân tộc Thái trong tương quan
so sánh để thấy rõ hơn giá trị và những nét riêng của từng tác phẩm
Trang 12- Phương pháp khái quát, tổng hợp: đánh giá khái quát về giá trị của truyện kể dân tộc Thái và ý nghĩa của việc phát huy những giá trị đó trong cuộc sống hôm nay
6 Cấu trúc của luận văn
Luận văn ôi ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được triển khai trong 3 chương:
Chương 1: Tổng quan những vấn đề nghiên cứu của đề tài
Chương 2: Một số giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái Chương 3: Phát huy những giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái trong bối cảnh hội nhập và phát triển
Trang 13NỘI DUNG Chương 1 TỔNG QUAN NHỮNG VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát về dân tộc Thái
1.1.1 Một vài nét về dân tộc Thái
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, dân tộc Thái được biết đến là một dân tộc thiểu số có lịch sử phát triển lâu đời Người Thái có số lượng dân
cư khá đông đúc, chủ yếu sống tập trung ở khu vực miền núi Người Thái sinh sống ở Việt Nam có cùng nguồn gốc với các cộng đồng ngữ hệ Thái trên thế giới (sinh sống ở Thái Lan, Lào, Trung Quốc, Miến Điện, Ấn Độ, Ma-lai-xi-a, Căm-pu-chia…) Ở từng quốc gia, từng địa phương, tùy thuộc những điều kiện
tự nhiên, kinh tế, lịch sử, xã hội… khác nhau mà người Thái bên cạnh những đặc điểm chung do cùng nguồn gốc dân tộc còn mang những nét đặc trưng riêng biệt
Theo số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Thái ở Việt Nam có số dân là 1.550.423 người Đây là dân tộc có dân số đông thứ ba tại Việt Nam và dân tộc có số dân đông thứ hai trong cộng đồng các dân tộc thiểu
số ở nước ta Đặc biệt, đây là dân tộc đông dân cư nhất ở khu vực Tây Bắc Việt Nam Đồng bào Thái sống rải rác và có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố của nước ta nhưng cư trú tập trung nhất tại khu vực miền núi ở các tỉnh: Sơn
La, Thanh Hóa, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình, Đắk Lắk, Đắk Nông… Trong đó, có thể nói Tây Bắc là một trong những cái nôi của người Thái cổ
Khác với một số dân tộc thiểu số ở Việt Nam, người Thái sống tập trung
ở các vùng thung lũng, cao nguyên hay lòng chảo, nơi có đất đai phì nhiêu, địa hình tương đối bằng phẳng Tiêu biểu như ở bốn cánh đồng lớn của vùng Tây Bắc: Mường Thanh, Mường Lò, Mường Tấc, Mường Than là nơi tập trung chủ
Trang 14yếu cư dân Thái Từ đặc điểm của địa bàn cư trú như vậy nên nền kinh tế của
họ chủ yếu là nền kinh tế tự nhiên, tự cấp, cơ bản là nền kinh tế nông nghiệp
Cũng giống như các dân tộc khác trên lãnh thổ Việt Nam, từ khi xuất hiện, con người phải lao động kiếm sống để tồn tại và phát triển Những nhu cầu bản năng hay do thực tế cuộc sống đặt ra đòi hỏi con người phải thích ứng, trải qua thời gian hình thành thói quen Những thói quen của cộng đồng được chấp nhận và trở thành một nếp sống không thể thiếu trong sinh hoạt và giao tiếp xã hội Thói quen đó còn được gọi là phong tục, tập quán Trước hết, tập
quán là “những thói quen hình thành từ lâu và đã trở thành nếp trong đời sống
xã hội của một cộng đồng dân cư, được mọi người công nhận và làm theo”
(Theo Từ điển tiếng Việt) Những thói quen đã trở thành “nếp” của cá nhân hay
cộng đồng người và được biểu hiện một cách cụ thể rõ ràng, ví dụ như nếp ăn, nếp mặc, nếp sinh hoạt là tập quán mang tính xã hội Tập quán của con người bao giờ cũng được nảy sinh trong những điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội nhất định Khi những điều kiện sống thay đổi, những tập quán không phù hợp
sẽ bị mờ đi, những tập quán mới xuất hiện Phong tục là những thói quen có
phạm vi ảnh hưởng rộng, là “thói quen đã có từ lâu đời, đã ăn sâu vào đời sống
xã hội, được mọi người công nhận và làm theo” [7]
Đối với dân tộc Thái, trải qua thời gian, những thói quen trong lao động, sản xuất, sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số nơi đây cũng được lưu truyền, cất giữ để trở thành phong tục, tập quán Những thói quen sinh hoạt ấy là những biểu hiện đặc trưng cho phong thái làm ăn, lối sống, nếp nghĩ của đồng bào Thái và trở thành những giá trị văn hóa khu biệt của người Thái đối với cộng đồng dân tộc khác Chính điều này đã tạo nên bản sắc riêng của văn hóa dân tộc Thái trong bức tranh muôn màu của văn hóa Việt Nam
Cộng đồng người Thái ở Việt Nam không theo một tôn giáo chính thống nào trên thế giới Đời sống tinh thần của người Thái dựa trên những tục có nghi thức thờ Nước và Đất Nước có biểu tượng thần chủ là con Rồng (Tô Luông)
Trang 15mang tên chủ nước (chảu nặm), và Đất có biểu tượng thần chủ là loài Chim ở núi mang tên chủ đất (chảu đin) Hai biểu tượng thần chủ Rồng, Chim cũng là
Mẹ, Cha của Mường và tục thờ này nằm trong toàn bộ nghi lễ cúng mường (xên mương)
Cũng giống như các dân tộc thiểu số Việt Nam, người Thái có nhiều phong tục tập quán tốt đẹp, có truyền thống từ lâu đời trong sinh hoạt cộng đồng Có thể kể đến những phong tục tập quán tốt đẹp như lễ mừng thọ, lễ mừng cơm mới, mừng nhà mới, hội ném còn, hạn khuống Ngoài ra, trong đời sống tinh thần của người Thái còn phải kể đến các tập tục truyền thống có từ rất lâu đời như: ma chay, cưới xin, cúng bản Mỗi phong tục tập quán mang một nét đặc trưng riêng, thể hiện sự kết tinh trong đời sống văn hóa lâu đời của một cộng đồng người, đồng thời phản ánh sự phong phú của đời sống tinh thần tình cảm, trình độ tư duy của cộng đồng dân tộc đã phát triển và đạt đến trình độ cao Có thể điểm qua một số phong tục tập quán đặc sắc, mang bản sắc riêng của người Thái dưới đây
Trước hết, phải nói đến phong tục trong những ngày lễ tết của người Thái Đây là phong tục có khá nhiều sự khác biệt so với người Kinh và nhiều dân tộc thiểu số khác Trước đây, người Thái không tổ chức Tết nguyên đán giống như đại đa số các dân tộc Việt Nam Với người Thái, ngày tết lớn nhất trong năm là tết cơm mới, được tổ chức hai lần mỗi năm vào thời điểm khi gặt hái xong vụ lúa chiêm hoặc lúa mùa Lúc đó, mỗi gia đình sẽ làm mâm cơm nấu bằng gạo mới cúng tổ tiên, vừa để báo cáo thành quả lao động, vừa thể hiện lòng biết ơn tổ tiên đã phù hộ cho mùa màng bội thu Trong tết cơm mới, trong các món ăn bao giờ cũng phải có cá và đặc biệt người Thái kiêng ăn thịt gà trong ngày tết này
Về phong tục cưới xin, mỗi dân tộc có những nét riêng biệt Tuy nhiên so với các dân tộc thiểu số khác, tập tục đám cưới của người Thái có xu hướng khá hiện đại, thoải mái Người Thái chủ động khuyến khích trai gái đến tuổi
Trang 16dựng vợ gả chồng tự do tìm hiểu, yêu đương Khi có được sự đồng điệu trong tâm hồn, đôi trẻ tâm đầu ý hợp, họ hẹn hò nhau ở các buổi chợ phiên, các lễ hội trong năm… Khi nhận được sự đồng ý từ gia đình nhà gái, chàng trai người Thái sẽ đến ở rể và chung sống với gia đình cô gái Và đến thời điểm tình yêu thực sự đến độ chín muồi, họ mới làm lễ cưới, chính thức trở thành vợ chồng
Cùng với cưới hỏi, trong phong tục của các dân tộc thiểu số Việt Nam nói chung và người Thái nói riêng còn phải nói về tập tục tang lễ Với người Thái, sự ra đi của mỗi con người được coi là một sự kiện lớn của cộng đồng Chính vì vậy, việc tổ chức tang lễ được người Thái tiến hành rất cẩn trọng Những người đến viếng sẽ mang theo gạo, rượu, thịt… tùy theo quan hệ với người đã mất Trong đám ma của người Thái có rất nhiều nghi lễ cúng bái như
lễ tắm xác, lễ nhập quan, lễ dẫn hồn, lễ đưa tang, lễ chôn cất, lễ gọi hồn… Một đám ma diễn ra trong thời gian tương đối dài, thường kéo dài khoảng ba, bốn ngày Mọi tập tục ma chay của người Thái đều thể hiện tính nhân văn sâu sắc Những phong tục, tập quán của người Thái làm nên bản sắc riêng biệt, đồng thời góp phần tạo nên bức tranh đa dạng, muôn màu của nền văn hóa các dân tộc Việt Nam
Từ nguồn gốc chung với cộng đồng ngữ hệ Thái trên thế giới, trải qua quá trình lịch sử dài lâu sinh sống trên trên lãnh thổ Việt Nam, dân tộc Thái vừa lưu giữ những nét chung của cộng đồng ngữ hệ Thái từ ngàn xưa, vừa bổ sung, phát triển những đặc điểm riêng phù hợp với từng điều kiện sinh sống cụ thể do sự chi phối của điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội
Cộng đồng ngữ hệ Thái thường được phân chia thành hai ngành lớn
là ngành phía Đông và ngành phía Tây Người Thái ở Việt Nam thuộc ngành phía Tây theo sự phân chia ngữ hệ Thái ở trên Trong cộng đồng người Thái ở Việt Nam lại được chia thành Thái đen và Thái trắng với những đặc điểm rất khác nhau:
Trang 17“Thái đen chuộng số lẻ, cho rằng số lẻ tượng trưng cho sự linh động và phát triển Điều này dẫn tới quy định số gian nhà, số bậc cầu thang lên nhà, tổng số cửa chính cửa sổ trong nhà… phải là số lẻ
Thái trắng chuộng số chẵn, coi số chẵn là thế ổn định vững chắc như đũa có đôi, người có vợ có chồng Do đó, số gian nhà, bậc cầu thang, số cửa trong nhà… là số chẵn
Ngoài ra, còn vài quy định về màu áo phụ nữ: Thái trắng có thể mặc áo màu trắng và các màu khác đen Phụ nữ Thái đen mặc áo màu đen và các màu khác trắng Áo phụ nữ Thái trắng cổ liền, hoặc chui đầu (Mai Châu, Hòa Bình), áo phụ nữ Thái đen cổ đứng Phụ nữ Thái đen có chồng búi tóc ngược đỉnh đầu, Thái trắng búi sau gáy không phân biệt có chồng hay chưa
Nhà Thái đen có mái hai trái hình khum mu rùa Nhà Thái trắng có bốn mái phẳng Cả hai bên đều chuộng nhà sàn…” [16, tr.32]
Qua những sự khác biệt trên, có thể thấy người Thái trong lịch sử phát
triển đã có những sự phân biệt ở từng nhóm, từng vùng miền Tuy nhiên, “Việc
chia đen, trắng, có lẽ, chỉ còn có ý nghĩa đối với các nhà nghiên cứu lịch sử Trong đời sống thực sự của nhân dân, sự phân biệt này không còn ý nghĩa nữa” [16, tr.32] Chính vì vậy, bên cạnh những nét riêng, về cơ bản đó vẫn là
những nét chung khái quát
Trong suốt quá trình hàng nghìn năm qua, quá trình phát triển của dân tộc Thái gắn liền với quá trình phát triển dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam cho đến hôm nay Dân tộc Thái trong quá trình phát triển của mình đã hình thành nên một nền văn hóa đặc sắc, độc đáo, mang bản sắc riêng của dân tộc mình
1.1.2 Đôi nét về những thành tựu văn học của người Thái
Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Thái là cộng đồng người
có truyền thống lịch sử lâu đời và nền văn hóa đặc sắc Cũng như mọi dân tộc, người Thái đã sớm hình thành một nền văn hóa phong phú mang màu sắc riêng
Trang 18Nền văn hóa ấy góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn hóa
đa dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Trong số những thành tựu văn hóa của người Thái phải kể đến bộ phận những tác phẩm văn học có giá trị
và mang màu sắc riêng, bao gồm cả văn học dân gian được sáng tác và lưu truyền dưới hình thức truyền miệng và văn học thành văn Trước hết có thể điểm qua một số thành tựu về văn học dân gian của người Thái
Trong kho tàng văn học dân gian dân tộc Thái, hệ thống thể loại tương đối đa dạng, từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao… đến truyền thuyết, cổ tích, truyện cười, truyện thơ… trong đó phải kể đến có rất nhiều tác phẩm văn học giá trị, phản ánh đời sống văn hóa đa dạng, phong phú và tư duy nghệ thuật đạt đến trình độ cao Người Thái có những tác phẩm truyền thuyết, truyện thơ có nội dung khá sâu sắc, có những truyện cổ tích và truyện cười thể hiện các vấn đề đấu tranh xã hội như: thiện - ác, giàu - nghèo, thông minh - ngu dốt… Đặc biệt, khắp Thái là một thể loại rất phong phú, được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong cuộc sống sinh hoạt, lao động và xuất hiện trong các ngày lễ tết cổ truyền, các phong tục, tập quán của người Thái
Những thành tựu của văn học dân tộc Thái là kết quả của quá trình lao động lao động sản xuất, của hoạt động trí tuệ và lao động trong sáng tạo trong hành trình lịch sử hàng ngàn năm của cộng đồng người Thái ở Việt Nam Văn học dân tộc Thái trước hết thể hiện sự nhận thức của người Thái về thế giới, tự nhiên, vũ trụ, về bản thân con người và đời sống xã hội… Đồng thời, văn học Thái cũng mang chức năng giáo dục Chức năng giáo dục trước hết thể hiện ở quá trình trau dồi khả năng nhận thức cho các thành viên của cộng đồng qua việc nhận thức về các hiện tượng tự nhiên, xã hội… được phản ánh trong văn học Chức năng giáo dục được coi là thành công lớn nhất, tạo nên thành tựu quan trọng nhất của văn học Thái Từ thành ngữ, tục ngữ, ca dao đến truyện dân gian (truyền thuyết, cổ tích…), truyện thơ… đều phản ánh chức năng giáo dục xã hội ở một phương diện nào đó: về hiểu biết, về lối sống, đạo lý dân tộc
Trang 19và những lý tưởng, khát vọng trong cuộc sống cần hướng đến Những thành tựu của văn học Thái có thể nhận thấy ở cả bộ phận văn học truyền miệng dân gian
và văn học thành văn
Văn học dân tộc Thái qua quá trình hình thành và phát triển đã đạt đến một trình độ nghệ thuật khá cao Nói về thơ ca, các thể loại thơ Thái rất đa dạng, từ đơn giản đến phức tạp, ít chữ đến nhiều chữ Thơ Thái cũng rất giàu nhạc điệu do đặc điểm ngôn ngữ Thái giàu thanh điệu Trong thơ Thái thường phổ biến các bài thơ có các khổ thơ gồm ba câu Chẳng hạn trong truyện thơ
Xống Chụ Xon Xao:
Áo chùm đầu xuống sàn,
Áo vắt vai xuống thang, Khoắt tay ra cổng ngoài xuống dạo
Khổ thơ có ba câu là một nét nghệ thuật rất độc đáo và điển hình trong thơ Thái Có thể bắt gặp rất nhiều khổ thơ như vậy trong các sáng tác thơ, truyện thơ của người Thái đã được sưu tầm Ngoài ra, trong sáng tác văn học, người Thái cũng rất chú ý đến cấu trúc tác phẩm, từ những thể loại ngắn gọn, dung lượng nhỏ như tục ngữ, ca dao, đồng dao, câu đố… đến những tác phẩm
tự sự dân gian có dung lượng lớn như thần thoại, truyền thuyết, truyện thơ…
Đặc biệt, “trong truyện kể dân gian Thái đã tồn tại những truyện có tầm cỡ lớn
về nội dung và kết cấu nghệ thuật” [16, tr.160] Đó là những đặc sắc nghệ
thuật, cũng là những thành tựu tiêu biểu về mặt nghệ thuật trong các sáng tác văn học dân gian của người Thái
Có thể nói, đời sống văn hóa, văn học của người Thái rất đa dạng, phong phú Cộng đồng người Thái ở Việt Nam là một dân tộc có truyền thống lịch sử, văn hóa lâu đời, có nhiều thành tựu về văn học Những thành tựu văn học của người Thái góp phần tạo nên diện mạo phong phú của văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam
Trang 201.2 Văn học cổ truyền
1.2.1 Khái niệm
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về văn học cổ truyền Thời gian qua,
nhiều nhà khoa học dùng từ cổ truyền (trong các khái niệm: văn học dân gian
cổ truyền, văn nghệ dân gian cổ truyền, văn hoá dân gian cổ truyền, văn hoá cổ
truyền) với ý nghĩa chỉ thời gian, trong tương quan so sánh với từ hiện đại (trong các khái niệm: văn học dân gian hiện đại, văn nghệ dân gian hiện đại, văn hoá dân gian hiện đại và văn hoá hiện đại) Trong cách dùng này, khái niệm văn học cổ truyền được chỉ những tác phẩm ra đời và lưu truyền từ Cách mạng tháng Tám (1945) trở về trước, hiện đại là tính từ chỉ những gì ra đời và
lưu hành sau Cách mạng tháng Tám (1945)
Từ những điều trên, trong luận văn này, chúng tôi xác định phạm vi khái niệm văn học cổ truyền Thái chỉ toàn bộ những tác phẩm văn học Thái được ra đời và lưu truyền trước Cách mạng tháng Tám năm 1945
1.2.2 Một vài nét về văn học cổ truyền Thái
Nói đến văn học cổ truyền của người Thái phải kể đến các tác phẩm truyện kể rất phong phú của cộng đồng dân tộc này Truyện dân gian Thái có nội dung rất phong phú, số lượng truyện kể cũng rất lớn, có thể kể vài trăm câu chuyện khác nhau Nghiên cứu luận văn này, chúng tôi khảo sát những truyện
kể của nền văn học cổ truyền Thái được sưu tầm, giới thiệu trong các tuyển tập
như: Truyện cổ Thái, tập 2 – quyển 1 (71 truyện); Truyện cổ Thái, tập 2 – quyển 2 (95 truyện), Truyện cổ dân gian dân tộc Thái tỉnh Điện Biên – quyển 1
(79 truyện); ngoài ra còn một số tác phẩm truyện kể được sưu tầm, giới thiệu trong các tài liệu, luận án, luận văn khác
Nhận xét về bộ phận truyện kể này, nhà nghiên cứu Cầm Cường nhận
xét: “Nội dung cũng như nghệ thuật kết cấu các truyện dân gian Thái đã khá
hoàn mỹ, đã tới một trình độ sáng tác khá cao” [16, tr.99] Những thành tựu
của truyện kể dân tộc Thái có thể thấy được qua các thể loại tiêu biểu như thần thoại, văn học sử liệu, truyện thơ, thơ ca… Trong văn học cổ truyền của người
Trang 21Thái, có những tác phẩm đạt đến độ xuất sắc như truyện thơ Xống Chụ Xon
Xao - một kiệt tác của văn học trữ tình Thái
1.3 Truyện kể dân tộc Thái
1.3.1 Thần thoại
Nhận thức về tự nhiên có lẽ là lĩnh vực nhận thức đầu tiên, là quy luật nhận thức tất yếu trong nền văn học dân gian của nhiều dân tộc trên thế giới Ngay từ khi con người sinh ra, những cảnh tượng của tự nhiên đã hiện hữu xung quanh con người, từ đó con người có nhu cầu nhận thức về những tri thức gần gũi nhất xuất hiện trong cuộc sống của họ Tri thức về tự nhiên của người Thái khá phong phú, từ việc miêu tả các cảnh tượng tự nhiên đến những nhận thức phức tạp mang tính so sánh nguyên nhân, hệ quả, dần tìm ra những quy luật hiển nhiên, đồng thời tìm ra những thế giới bao la rộng lớn của vũ trụ Đặc biệt, những quy luật tự nhiên mang tính chu kỳ như sáng tối, đêm ngày, bốn mùa, thời tiết… được con người rất quan tâm Trong thần thoại dân tộc Thái, có thể kể đến những nội dung phản ánh như: nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng
tự nhiên, nguồn gốc loài người và muôn vật, công cuộc chinh phục tự nhiên và sáng tạo của con người
Về bộ phần thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên,
có thể nói đây là nhu cầu lý giải trước tiên của con người về thế giới tự nhiên xung quanh Người Thái ngay từ buổi sơ khai đã có những nhận thức về thế giới xung quanh mà trước hết là những nhận thức về vũ trụ (Trời đất) Trong trí tưởng tượng của người Thái, trời đất hiện lên thật đơn giản: trên là trời dưới là đất và để trời không bay lên cao thì trời được nối với đất bởi một dây leo từ hồ U-VA (Mường Thanh) Đây là một quan niệm có phần khác với các dân tộc ở Việt Nam và trên thế giới Và để giải thích vì sao có Trời, vì sao có Đất thì người Thái lí giải như sau:
- Trời sinh ra từ đâu?
Trời sinh ra từ phương Đông
Trang 22- Đất sinh ra từ đâu?
Đất sinh ra từ phương Tây
Và sở dĩ tại sao lại có trời có đất như ngày nay đều không phải do vị thần
nào sinh ra mà đó là một bà góa làm nên Truyện kể rằng: “Ngày xưa, trời đất còn
ở gần nhau, người ta lên trời xuống đất một cách dễ dáng vì lúc đó ở hồ U-VA (Mường Thanh) có một dây leo mọc lên Một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng… dây leo cao cuốn vào bầu trời rồi lớn lên thành một dây leo khổng lồ gọi
là “chựa khâu cát” Và cũng chính vì trời đất gần nhau như vậy nên việc làm ăn của con người trên mặt đất này gặp rất nhiều khó khăn “giã gạo trời vướng chày, phơi thóc mây vướng cót, quay sợi trời vướng guồng”… Một hôm, người đàn bà góa nọ thấy người trần khổ cực quá, nên sinh bực tức đem dao chặt chựa khâu cát Thế là tự nhiên trời lên cao, cao lên mãi, cao đến nỗi bắn tiếp nhau mười phát tên cũng không tới, mười phát súng cũng không tận, đem đến mười thớt voi để chồng lên cũng không đến được trời nữa Nơi chựa khâu cát leo bị động mạnh, trời giật mình nên bị đẩy lên cao hơn còn các nơi khác thấp dần nên bầu trời mới
có hình thù như ngày nay” [41, tr.20]
Thế nhưng khi đi sâu vào khám phá vũ trụ lại có những điều mà họ không thể nào hiểu nổi Tại sao lại có đất đai màu mỡ? Tại sao lại có núi rừng?
Và người Thái cho rằng chính trời (then) đã xây đắp tất cả Chính trời đã sai các Chô Công tạo ra mưa gió, sấm chớp để tốt tươi cây lá, đồng bằng màu mỡ… Ở đây chúng ta thấy có nhiều điểm giống với dân tộc Kinh Ở cả thần thoại của dân tộc Kinh và dân tộc Thái đều có sự phân công lao động đồng đều Mỗi vị thần (Kinh) hay các Chô Công (Thái) được gánh vác một công việc khác nhau với đúng tên gọi của mình:
Ví dụ, ở dân tộc Kinh
Ông đếm cát Ông tát bể Ông kể sao
Trang 23Ông đào sông Ông trồng cây Ông xây rú (rừng) Ông trụ trời
Còn ở dân tộc Thái, sự phân công lao động đó là: Ông san lấp đất hồ, đào thành ruộng nương, sông suối gọi là “chẫu chục chẫu chao” (ông sới ông san); Ông đào khe sâu vực thẳm gọi là “chẫu rang dệt phăng” (ông làm việc); Ông rắc đất màu mỡ vào đồng bằng thung lũng được gọi là “chô công Đin” (ông làm đất)…
Qua cách nhìn nhận về vũ trụ của người Thái đã cho thấy quan niệm của người Thái về thuyết vạn vật biến chuyển không ngừng Tuy chưa thật khoa học nhưng bước đầu họ đã hiểu rõ sự tồn tại khách quan của thế giới Thế giới tồn tại và phát triển là do một quá trình lao động không ngừng nghỉ Sau công việc của bà góa chặt “chựa khâu cát” chính là việc của các “Chô công” phải làm Có thể nói đây là một cách nhìn tiến bộ, khoa học “lao động tạo ra thế giới” Thần thoại về nguồn gốc vũ trụ không chỉ là những ý niệm ban đầu về sự hình thành trời - đất mà trong đó còn nhằm nhấn mạnh vai trò của người phụ
nữ, phản ánh một giai đoạn mà người phụ nữ có một vị trí đặc biệt quan trọng trong gia đình - thời kỳ thị tộc mẫu hệ Đấy chính là lí do vì sao trong thần thoại Thái lại xuất hiện hình ảnh bà góa
Ngoài quan niệm về vũ trụ trong thần thoại, các hiện tượng tự nhiên do đâu mà có cũng được người Thái tìm cách lý giải Ngay từ đầu người Thái chưa
hề có khái niệm về trời Hằng ngày họ thấy có quá nhiều các hiện tượng tự nhiên: mây, mưa, sấm, chớp, ngày, đêm… Càng đi sâu vào tìm hiểu thì họ lại càng không tài nào lí giải nổi Do vậy họ cho rằng tất cả những hiện tượng đó đều do Trời (Then) làm nên Người Thái cho rằng sở dĩ có sấm chính là do tiếng trống của nhà Then, còn chớp là do những tua rồng bắn ra khi chúng
đánh nhau: “Vào những ngày hội mùa nhà Then thường có tục lăn trống,
Trang 24trống va vào nhau, phát ra những âm thanh, dưới trần gian gọi là sấm Cũng trong ngày hội mùa ấy, Then còn cho hai con rồng chầu và làm trò Hai con rồng ấy đánh nhau làm cho tua rồng ấy bắn ra, phát ra những tia sáng mà trần gian vẫn gọi là chớp” [41, tr.32]
Trong sự tích về trăng, sao, mặt trời, khi bà góa chặt “chựa khâu cát” trời đã lên cao nhưng vì trăng, sao, mặt trời quá nhiều mà mặt trăng và mặt trời lại ở gần
Có đến 12 mặt trời và 10 mặt trăng nên sinh ra hạn hán Muôn loài không thể sống được nên kéo nhau lên kiện nhà Then Then bèn cho chó sói ăn mất 11 mặt trời,
họ hàng ếch ăn mất 9 mặt trăng Như vậy qua các thần thoại Thái ta thấy được các hiện tượng tự nhiên trong suy nghĩ của người Thái là do Trời (Then) tạo ra
Ở bộ phận những thần thoại kể về nguồn gốc loài người và muôn vật, truyền thuyết người Thái kể lại rằng, sau khi vũ trụ được hình thành, muôn vật
và loài người xuất hiện trên trái đất Và trong thần thoại Thái thì cũng chính
Then đã tạo ra con người và muôn vật cùng lúc: “Khi các Chô Công dựng trần
gian xong, Then lại sai ông làm đất (chô công đin) và bà xây rừng (chô công nhả) đem mười giống Xá, năm giống Thái xuống trần gian để sinh sống Nhưng lúc đó không có ai để cai quản, loài người đi lang thang sống cùng bầy như thú rừng Họ nằm hang ngủ hốc, ăn sống nuốt tươi, không quần không áo, con đẻ ra không biết bố, không biết họ Vì vậy bản Mường không ai dựng, trần gian không người coi sóc” [41, tr.36]
Đây là giai đoạn loài người còn sống thành bầy đàn, chủ yếu sống bằng hình thức săn bắn, hái lượm, là giai đoạn bầy người nguyên thủy Bởi vậy họ cho rằng họ (loài người) có cùng một nguồn gốc với muôn thú Hay trong sự
tích quả bầu có nói: “Ở vùng Mường Thanh Then thả xuống một quả bầu
Trong quả bầu đó có đủ các loài và muôn vật: Ba trăm ba mươi giống Xá, ba trăm ba mươi giống Thái, ba trăm ba mươi giống người khác, cùng với ba trăm
ba mươi giống lúa dưới ruộng, ba trăm ba mươi giống cá dưới nước… lần lượt chui ra” [41, tr.37]
Trang 25Như vậy thì rất khó để phân biệt xã hội loài người với xã hội của các loài vật Theo thần thoại Thái, người và vật chung sống cùng nhau, thậm chí con người còn rất nặng tình với con vật Một trong số đó chính là con Rùa Thần thoại Thái kể rằng chính Rùa đã chỉ con người cách khóc Then Bởi vậy mà
con người mới được làm chủ muôn loài Truyện kể rằng: “Sau khi Then đã sinh
ra con người và muôn loài, loài nào cũng muốn làm chủ trần gian Thấy vậy, Then liền nói sẽ chỉ ban cho loài nào sống tốt bụng, không gian dối Then vờ chết để thử lòng muôn loài Rùa biết Then giả chết liền nói cho con người Trong khi đó muôn loài khác tưởng vua trời đã chết thì bàn bạc sung sướng giả
vờ khóc lóc Chỉ riêng con người biết Then chết giả nên hết lời khóc thương Then thấy con người thật thà, chất phác nên bèn giao quyền làm chủ trần gian cho con người”
Đó cũng có thể là lí do mà người Thái thường treo mai rùa lên sâu hẹ, nơi đối diện với bàn thờ tổ tiên Hoặc trong suy nghĩ của người Thái vốn coi rùa như một người bạn bởi nó có những đức tính giống như con người: Cần cù, nhẫn nại, quen chịu đựng
Để giải thích về muôn vật, người Thái cũng có cách lí giải khá thú vị Ở
Sự tích hạt gạo có kể rằng: “Ngày xưa hạt gạo to bằng quả bí đỏ Ngày ngày
nó từ trên nương rẫy bò về nhà theo ý muốn của con người Hôm ấy, nghe tiếng một bà góa gọi, gạo bảo nhau bò về nhà bà, nó tự chui vào bịch, đầy bịch nó nằm ở góc nhà rồi chất đầy ở nhà bà Vì có mình bà ăn nên mỗi lần nấu, bà lại phải chặt ra từng miếng nhỏ Gạo nằm la liệt trong nhà nên việc đi lại rất khó khăn Một hôm trong lúc nấu cơm bà gọi gạo đến bếp, gạo bảo nhau vù vù kéo đến làm vướng chân bà Bực mình, bà vừa đập hạt gạo nhỏ ra vừa nói:
- Từ nay trở đi, chúng mày phải nhỏ như thế này và không được tự bò về đây nghe chưa Khi nào cần tao sẽ ra nương đem chúng mày về” [41, tr.45]
Hay như củ mài vốn là một loài sống ở trên cao nhưng theo ý muốn của
con người mà phải sống dưới mặt đất: “Củ mài vốn sống trên những cây cao
Trang 26Nhưng bà góa vì không lấy được bèn chặt cây cho củ mài theo cây mà đổ xuống Vừa mệt vừa tức, bà liền cầm từng củ mài dúi mạnh xuống đất mà nói rằng củ mài phải sống dưới đất Họ hàng nhà mài sợ hãi chui sâu xuống lòng đất Từ đó củ mài mới ở sâu dưới lòng đất như ngày nay”
Qua thần thoại của người Thái, ta thấy các câu chuyện hết sức ngây thơ, đơn giản nhưng thực chất nó đã chứa đựng một cách nhìn rất thực tiễn của người Thái xưa Ở cả thần thoại kể về nguồn gốc vũ trụ và các hiện tượng tự nhiên hay thần thoại về nguồn gốc loài người và muôn vật đều thấy xuất hiện hình ảnh con người với tư thế chủ động Đó chính là nét đặc sắc trong thần thoại của người Thái, phản ánh quan niệm và vị thế vươn lên làm chủ của con người đối với đời sống tự nhiên
1.3.2 Truyền thuyết
Trong kho tàng văn học dân gian, tiếp nối thể loại thần thoại phải kể đến truyền thuyết Đó là thể loại văn học dân gian được nhân dân sáng tạo ra từ khi con người bước sang thời kì đời sống xã hội phức tạp hơn thời kì sơ khai của thần thoại, xã hội có đấu tranh giai cấp, con người có ý thức về lịch sử
Theo giáo sư Lê Chí Quế, “Truyền thuyết là một thể loại trong loại hình tự sự
dân gian phản ánh những sự kiện, nhân vật lịch sử hay di tích cảnh vật địa phương thông qua sự hư cấu nghệ thuật thần kỳ” [52, tr.49]
Lịch sử là nền tảng cho con người sáng tạo nên thể loại truyền thuyết, không có lịch sử thì không có truyền thuyết Trên thực tế, trong kho tàng văn học dân tộc Thái cũng như nhiều dân tộc khác, có nhiều truyền thuyết phản ánh lịch sử một cách độc đáo, không đơn thuần chỉ để thỏa mãn nhu cầu kể sử truyền đời của quần chúng nhân dân lao động, mà trong nhiều trường hợp còn có tác dụng bổ sung vào chính sử, làm nhiệm vụ của những người ghi chép sử Nhưng truyền thuyết không phải là lịch sử, con đường hình thành và phát triển của nó là sự chuyển hóa từ nội dung lịch sử được nhân
Trang 27dân lao động huyền thoại hóa, hư cấu theo quan điểm thẩm mỹ và bao hàm cả những đánh giá của dân gian về sự kiện và nhân vật lịch sử
Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, bắt nguồn từ cảm hứng tự hào và ngợi ca những anh hùng kiệt xuất có nhiều công trạng với nhân dân, với đất nước, thể loại truyền thuyết là một cách nhận thức và lý giải những sự kiện lịch sử trọng đại của quốc gia, dân tộc theo quan điểm, nhận thức, đánh giá của dân gian
Sinh thời, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng từng có những nhận xét sâu
sắc về thể loại văn học dân gian này: “Những truyền thuyết dân gian thường
có một cái lõi là sự thật lịch sử mà nhân dân qua nhiều thế hệ đã lý tưởng hóa, gửi gắm vào đó tâm tình thiết tha của mình cùng với thơ và mộng, chắp đôi cánh của sức tưởng tượng và nghệ thuật dân gian làm nên những tác phẩm văn hóa mà đời đời con người ưa thích” [28]
Nội dung phản ánh chủ yếu trong truyền thuyết của dân tộc Thái là kể về các nhân vật anh hùng lịch sử, những cuộc chiến tranh tìm đất, giữ đất của các
tộc trưởng Tiêu biểu như các truyền thuyết: Truyền thuyết ông Bá Hộ, Truyền
thuyết Vua Quán - Hoàng Ngoài… Bên cạnh đó, một bộ phận truyền thuyết kể
về các địa danh, các miền đất như: Truyền thuyết về thuyền đồng, thuyền da,
Trang 28về công cuộc khai phá những vùng đất mới, gắn với hình ảnh của những con người tiên phong mở đất Đồng thời, truyền thuyết của người Thái ca ngợi những vị thủ lĩnh có công khai phá những vùng đất mới phì nhiêu, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho cộng đồng người Thái Những con người ấy xứng đáng là những người anh hùng, được lưu danh trong truyền thuyết
Ngoài ra, truyền thuyết còn ca ngợi công lao các anh hùng có công thống nhất các bộ tộc, dẹp giặc ngoại xâm Trong lịch sử loài người, chiến tranh, tranh giành lãnh thổ, quyền lợi giữa các bộ tộc, các dân tộc là điều thường thấy Truyền thuyết của người Thái cũng phản ánh những cuộc đấu tranh trong lịch
sử của chính cộng đồng mình Do đặc trưng nghệ thuật của thể loại truyền thuyết, những hình tượng nhân vật lịch sử trong các truyền thuyết của người Thái vừa là những nhân vật có nguyên mẫu từ những con người, những sự kiện lịch sử có thật, đã từng lãnh đạo nhân dân bảo vệ quê hương, đất nước; mặt khác, đó cũng là hình tượng người anh hùng được nhân dân lao động sáng tạo nên để khắc họa cho những con người vĩ đại của cộng đồng mình, đại diện cho
ý chí chiến đấu của cả một dân tộc
1.3.3 Truyện cổ tích
Trong giáo trình Văn học dân gian Việt Nam do Đinh Gia Khánh chủ biên thì truyện cổ tích được hiểu là “bộ phận quan trọng nhất trong các thể
loại tự sự dân gian” [37, tr.294], “truyện cổ tích xuất hiện phần lớn khi công
xã thị tộc tan rã” [37, tr.296] và “truyện cổ tích một mặt phản ánh sự đấu tranh của nhân dân chống giai cấp thống trị nhưng một mặt vẫn chịu ảnh hưởng ý thức hệ chính trị của thời đại” [37, tr.296]
Trong Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam, tập II, nhà nghiên cứu
Hoàng Tiến Tựu cũng đã chỉ ra những đặc điểm cơ bản của thể loại cổ tích:
“Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ thời kì cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thủy, hình thành của gia đình phụ quyền và phân hóa giai cấp trong xã hội; nó hướng vào những vấn đề cơ
Trang 29bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc biệt là những xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình và xã hội Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng (có thể gọi là
“tưởng tượng và hư cấu cổ tích”) kết hợp với các thủ pháp nghệ thuật đặc thù khác để phản ánh đời sống và mơ ước của nhân dân đáp ứng nhu cầu nhận thức, thẩm mĩ, giáo dục và giải trí của nhân dân trong những thời kì, những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp (ở nước ta chủ yếu là xã hội phong kiến)” [57, tr.42]
Khi đời sống xã hội phát triển đến một trình độ nhất định, xã hội hình thành và phân hóa giai cấp, đời sống có sự phân chia giàu nghèo thì tất yếu sẽ xuất hiện những mâu thuẫn, xung đột Song hành với đó, khi trình độ tư duy duy lý của con người phát triển đến một mức độ cao hơn, con người có nhu cầu hướng vào giải quyết các vấn đề của đời sống xã hội, lí giải mối quan hệ giữa con người với con người Trong xã hội có phân hóa giai cấp, con người nhận thức được những bất công trong đời sống, muốn tìm đến sự công bằng và ước
mơ hạnh phúc giản đơn nhưng logic của cuộc đời thực chưa thể giải quyết thì
họ tìm đến cổ tích để gửi gắm niềm tin, ước mơ và quan niệm của mình về một
xã hội công bằng hơn
Trong truyện cổ tích của người Thái, các tác giả dân gian Thái đã tạo ra một thế giới không có trong cuộc sống thực tại nhưng lại có sự tương đồng với thế giới thực tại nhằm phản ánh những điều bất công, bất hạnh đang diễn ra trong cuộc sống và thể hiện ước mơ của quần chúng nhân dân lao Đó là bộ phận truyện cổ tích thần kỳ hình thành và phát triển trong thời kỳ đầu, còn bộ phận truyện cổ tích sinh hoạt chủ yếu phát triển ở thời kỳ sau, bên cạnh đó, còn phải kể đến bộ phận truyện cổ tích loài vật
Truyện cổ tích về loài vật kể về những loài vật của thế giới tự nhiên, thể hiện một sự nhận thức và lý giải đặc điểm của loài vật theo quan niệm của nhân dân lao động Trong truyện cổ tích loài vật của người Thái, nhân vật là những
Trang 30loài vật gần gũi như những con khỉ ranh mãnh, con hổ hung bạo nhưng dốt nát, con rùa thông thái, con cóc gan dạ… được miêu tả sinh động hoặc lí giải những đặc điểm sinh học của mỗi loài vật: Tại sao ve sầu không có ruột? Tại sao lông
hổ lại vằn vện? Tại sao có loại ốc suối đít bằng?… Nét đặc trưng trong bộ phận truyện kể này đó là chủ yếu kể về những loài vật sống trên rừng, điều này do đặc điểm địa bàn cư trú của người Thái chi phối Tiêu biểu cho các truyện cổ
tích về loài vật của người Thái như: Khỉ và Cào Cào, Án Nhà Khàm Khạc,
Rùa khóc Then, Khỉ và Hổ, Mành Khẳm không có ruột
Truyện cổ tích thần kỳ là một bộ phận quan trọng và có nhiều giá trị của thể loại truyện cổ tích Trong truyện có sự chi phối của yếu tố thần kỳ đối với quá trình phát triển hệ thống tình tiết trong câu chuyện Đối tượng phản ánh của truyện cổ tích thần kỳ là con người, nhưng khi con người bất lực trước những khó khăn thì lực lượng thần kỳ xuất hiện và giúp giúp nhân vật vượt qua thử thách Truyện cổ tích thần kỳ thường kết thúc có hậu Đó là những truyện cổ tích về đứa trẻ mồ côi, người con riêng, người em út hay những nhân vật nhỏ
bé đầy bất hạnh… Một số truyện cổ tích thần kì tiêu biểu như: Chàng Voi nhỏ
và ông Xù Xì bốn mắt năm mồm, Người hóa khỉ, Cô gái chăn vịt, Nàng Trăng - nàng Sao…
Truyện cổ tích sinh hoạt là những truyện kể về những sinh hoạt gia đình như quan hệ vợ chồng, bố mẹ, anh em, con cái và các quan hệ xã hội như quan
hệ chủ tớ, quan hệ giữa người làm thuê và ông chủ, giữa người nông dân và kẻ trọc phú… Nội dung phản ánh của truyện cổ tích sinh hoạt thường thể hiện những vấn đề đạo lý, đồng thời phê phán những lệch lạc trong quan niệm về đạo đức, trong ứng xử Tác phẩm hướng đến những chuẩn mực đạo đức trong gia đình và trong đời sống cộng đồng Tiêu biểu cho bộ phận này là những
truyện: Kế của mẹ vợ, Kẻ trộm, Chàng Thoi mường Trời và chàng Thoi hạ giới,
Con ông thợ săn…
Trang 31Như vậy, truyện cổ tích của người Thái là một kho tri thức phong phú trong đời sống lịch sử của người Thái được tích lũy qua quá trình lâu dài Truyện cổ tích của người Thái đã giải thích nguồn gốc, đặc điểm, tên gọi của sự việc, sự vật, loài vật; phản ánh cuộc đấu tranh chống lại các thế lực tàn ác và ước mơ về một xã hội công bằng, một cuộc sống ấm no, hạnh phúc; lý giải những xung đột cơ bản trong gia đình và ngoài xã hội; đồng thời đề cao trí tuệ dân gian, ca ngợi cách ứng xử thông minh, khéo léo của người Thái trong lịch
sử phát triển của đời sống cộng đồng
1.3.4 Truyện thơ
Truyện thơ là một thể loại độc đáo, thuần túy dân tộc trong kho tàng văn học Việt Nam Đây cũng là thể loại có nhiều giá trị, có những tác phẩm đạt đến
đỉnh cao Theo Từ điển thuật ngữ văn học, có thể hiểu truyện thơ là “Thể loại
tự sự bằng thơ dài rất tiêu biểu cho văn học cổ điển Việt Nam, nở rộ vào cuối thế kỷ XVIII, đầu thề kỷ XIX, do viết bằng tiếng Việt, ghi bằng chữ Nôm nên được gọi là truyện Nôm” [29, tr.372]
Đối với văn học dân tộc Thái, truyện thơ là sự khẳng định trình độ sáng tạo nghệ thuật đạt đến đỉnh cao trong kho tàng văn học Nhà nghiên cứu Cầm
Cường nhận xét: “Nếu hệ thống thần thoại, truyền thuyết là mầm mống, văn
học sử liệu là sự khẳng định thì truyện thơ và thơ ca nói chung là sự nở rộ của văn học viết, văn học thành văn của dân tộc này” [16, tr.115] Truyện thơ là
đỉnh cao văn học trong giai đoạn củng cố và giữ gìn hòa bình giữa các bản của
người dân tộc Thái: “Các truyện thơ Thái thực chất là các tiểu thuyết bằng thơ
Chưa thống kê đầy đủ, nhưng đã có thể kể đếm vài chục truyện thơ trong văn học dân tộc này” [16, tr.116] Những nội dung chủ yếu được phản ánh trong
truyện thơ Thái là đề tài tình yêu đôi lứa, quá trình đấu tranh chinh phục tự nhiên và đề tài gia đình, xã hội
Những truyện thơ Thái tiêu biểu có thể kể đến như: Anh hùng ca Chương
Han - thiên anh hùng ca xuất sắc dựa trên huyền thoại về người anh hùng
Trang 32Chương Han có tính chất chung của “Thế giới Thái” Truyện thơ này phản ánh quá trình đấu tranh ở thời kì lịch sử xa xưa, trong giai đoạn phân chia đất đai dựng mường của các tộc người Thái Đây là câu chuyện từ xa xưa, đi vào lòng
nhiều thế hệ người Thái nói chung Nếu như Anh hùng ca Chương Han được
coi là thiên anh hùng ca của người Thái thì một thiên tình sử lâm ly và bi ai của
người Thái phải kể đến Khun Lũ - Năng Ủa: “Tác phẩm dài hơn hai nghìn câu
thơ Văn hay, nội dung khúc triết, kết cấu đẹp, nhân vật phân vai và tính cách
rõ ràng làm cho tác phẩm trở nên một trong những kiệt tác trong văn học Thái” [16, tr.122] Khi nói đến truyện thơ Thái tiêu biểu còn phải kể đến bộ ba Khun Tỡng - Khun Tĩnh - Khun Ní Đây là bộ truyện thơ ba khúc, mỗi khúc
được coi là một truyện riêng Khun Tỡng là nhân vật anh hùng, làm chủ cả một mường lớn trên mặt đất, nhưng chưa hài lòng, Khun Tỡng còn muốn làm chủ
cả mường Nước Từ khi xuống tới mường Nước, bắt đầu câu chuyện của Khun Tĩnh Trong một lần chàng gặp được nàng Ni, từ đó bắt đầu khúc thơ thứ ba về Nàng Ni Tuy nhiên, tiêu biểu nhất, được nhiều người biết đến nhất trong kho
tàng truyện thơ của người Thái phải nói đến truyện thơ Xống Chụ Xon Xao Tác
phẩm là cuộc đấu tranh đến cùng để bảo vệ tình yêu của người phụ nữ Tác
phẩm được so sánh như Truyện Kiều đối với người Thái Đây được coi là kiệt
tác của văn học trữ tình Thái Các tác phẩm truyện thơ của người Thái là sự khẳng định vững chắc của bộ phận văn học thành văn cũng như toàn bộ nền văn học Thái nói chung
1.4 Lý thuyết giá trị và giá trị của văn học cổ truyền
Để nghiên cứu về giá trị của văn học cổ truyền trước hết cần làm sáng tỏ khái niệm giá trị Đây là một khái niệm có nội hàm rất rộng, và việc tìm ra một định nghĩa chính xác còn là vấn đề đang đặt ra đối với các nhà nghiên cứu Tuy
nhiên, quan niệm được chấp nhận nhiều đó là coi “giá trị như những quan niệm
về cái đáng mong muốn ảnh hưởng tới hành vi lựa chọn” [61]
Trang 33Văn học cổ truyền của người Thái là một bộ phận quan trọng trong nền văn học cổ truyền Việt Nam Văn học cổ truyền Thái vừa phản ánh quá trình nhận thức về tự nhiên qua thể loại thần thoại, vừa phản ánh quá trình nhận thức
về con người, xã hội và phản ánh những quan hệ xã hội (qua thể loại truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện thơ) Những tác phẩm truyện kể của người Thái phản ánh đời sống phong phú nhiều mặt của dân tộc Thái Những tác phẩm văn học cổ truyền vừa phản ánh công cuộc khai phá những miền đất mới, đấu tranh bảo vệ bộ tộc, bảo vệ bản mường của người Thái Đồng thời, phản ánh đời sống sinh hoạt, đời sống tinh thần phong phú, đa sắc màu trong tình yêu, hôn nhân, những phong tục tập quán… Những tác phẩm văn học Thái còn thể hiện truyền thống yêu quê hương đất nước, truyền thống đoàn kết gắn bó, chiến đấu
và chiến thắng giặc của người Thái trong lịch sử đấu tranh và bảo vệ bản mường, thể hiện ước mơ về một xã hội công bằng, hạnh phúc
Trong quá trình nghiên cứu, để thấy rõ hơn được những giá trị của văn học cổ truyển Thái, chúng tôi chú ý vận dụng lý thuyết mỹ học tiếp nhận như một hướng tiếp cận và nghiên cứu văn học Có thể hiểu mỹ học tiếp nhận là
“Trường phái mỹ học đòi hỏi cách tân đối tượng, phương pháp văn học sử và nghiên cứu văn học, chống lại việc thuần túy xem tác phẩm văn học là đối tượng nghiên cứu, mà phải mở rộng phạm vi nghiên cứu sang lĩnh vực tiếp nhận, khám phá mối quan hệ qua lại và tác động lẫn nhau giữa sáng tác và tiếp nhận, nhà văn và người đọc, khảo sát điều kiện, phương thức, quá trình và kết quả của hoạt động tiếp nhận đối với văn học và nhấn mạnh vai trò năng động của tiếp nhận văn học trong đời sống và lịch sử văn học” [29, tr.194-195]
Cùng với đó, nghiên cứu văn học dân gian trong bối cảnh cũng là một lý thuyết được vận dụng, đặt văn học cổ truyền trong tổng hoà các mối quan hệ của đời sống xã hội - văn hoá, từ đó xác định được giá trị của bộ phận văn học này đối với việc lưu giữ những giá trị quý báu và phát huy những giá trị đó trong bối
Trang 34cảnh hiện nay Qua đó, giá trị của văn học cổ truyền Thái sẽ được khai thác, phát hiện và nhìn nhận một cách phong phú, sâu sắc và toàn diện hơn
Có thể nói, văn học cổ truyền của người Thái bao gồm những tác phẩm văn học có nhiều giá trị đặc sắc, không chỉ giá trị nghệ thuật mà còn có giá trị lịch sử, văn hóa, là những tài liệu quan trọng góp phần khắc họa đời sống xã hội của người Thái ở Việt Nam Vì vậy, xác định đúng đắn và nghiên cứu văn học cổ truyền Thái là một việc làm cần thiết, có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay
Trang 35Tiểu kết chương 1
Dân tộc Thái ở Việt Nam thuộc cộng đồng ngữ hệ Thái trên thế giới Đây là một dân tộc có lịch sử phát triển lâu đời, có dân số đông và có một nền văn hóa đặc sắc, phong phú, những phong tục tập quán mang màu sắc riêng
Người Thái ở Việt Nam đã sớm hình thành một nền văn học từ lâu đời và đạt đến trình độ nghệ thuật cao trong cộng đồng các dân tộc thiểu số Việt Nam Văn học của người Thái được biết đến với những tác phẩm tiêu biểu thuộc các thể loại như thần thoại, truyền thuyết, cổ tích, truyện thơ Ở mỗi thể loại, văn học Thái đều có những tác phẩm tiêu biểu, có giá trị nghệ thuật độc đáo, phản ánh tâm tư, tình cảm và đời sống xã hội của cộng đồng người Thái từ thuở sơ khai của lịch sử cho đến từng bước phát triển trong chặng đường lịch sử dân tộc Nền văn học ấy góp phần làm phong phú thêm những giá trị cho nền văn học đa dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam Những tiền đề lý thuyết trên là cơ sở để nghiên cứu về những giá trị văn học cổ truyền của truyện kể dân tộc Thái và phương hướng phát huy những giá trị quý giá ấy trong cuộc sống hôm nay
Trang 36Chương 2 MỘT SỐ GIÁ TRỊ VĂN HỌC CỔ TRUYỀN CỦA TRUYỆN KỂ DÂN TỘC THÁI 2.1 Giá trị nhận thức
2.1.1 Khái niệm
Trong văn học dân gian, khi tìm hiểu về các chức năng, giá trị của bộ phận văn học này thì nhận thức được coi là chức năng đầu tiên Có thể nói
rằng: “Nhận thức là chức năng đầu tiên của văn học dân gian, ở xã hội sơ khai
nó gần như là độc tôn của quá trình nhận thức và biểu đạt tư duy và cảm xúc của con người” [16 tr.59] Cơ sở xuất hiện sự nhận thức của con người là khi
văn học có đủ khả năng ngôn ngữ để phản ánh, lí giải hiện thực và con người
có nhu cầu nhận thức, lí giải một vấn đề cụ thể ở từng thời điểm lịch sử nhất định Giá trị nhận thức trong truyện kể dân gian dân tộc Thái là kết quả của quá trình tác giả dân gian khám phá, lí giải hiện thực đời sống, thế giới xung quanh mình rồi chuyển hoá những hiểu biết đó vào nội dung tác phẩm văn học
Quá trình nhận thức của con người bằng văn học bao gồm quá trình nhận thức về cuộc sống và quá trình tự nhận thức Quá trình nhận thức cuộc sống giúp con người có những hiểu biết, nhận thức nhiều mặt về tự nhiên, vũ trụ, thế giới Quá trình con người tự nhận thức về chính con người và thế giới loài người, đời sống xã hội của con người giúp ta hiểu được bản chất của con người cũng như những điều sâu sắc về nhân sinh, xã hội loài người
Văn học dân gian trước hết phản ánh nhu cầu nhận thức của con người thời đại đó về thế giới, ban đầu là các vấn đề của tự nhiên và sau nữa là những vấn đề thuộc về con người và đời sống xã hội Chức năng nhận thức đáp ứng được yêu cầu của con người muốn hiểu biết được một cách rõ ràng hơn, sâu sắc hơn về cuộc sống xung quanh mình và chính bản thân mình để từ đó tác động vào cuộc sống có hiệu quả hơn Chức năng nhận thức - chức năng đầu tiên, từ buổi sơ khai của văn học dân gian đó đồng thời xác lập, hình thành một hệ giá
Trang 37trị đầu tiên của văn học dân gian nói chung, đó là giá trị nhận thức Trong văn học dân tộc Thái ở Việt Nam, nhu cầu nhận thức đó cũng tạo nên giá trị đầu tiên của văn học Thái là giá trị nhận thức
Chức năng nhận thức trong văn học đem đến cho người đọc những hiểu biết, khám phá mới mẻ, sâu rộng về nhiều mặt của cuộc sống Quá trình nhận thức bao gồm nhận thức về thế giới tự nhiên, xã hội bên ngoài và nhận thức về chính mình của con người Đối tượng của nhận thức rất đa dạng, từ tự nhiên, thế giới, vũ trị đến nhận thức về con người, xã hội, tổ chức và các mối quan hệ Nhờ có nhận thức mà văn học đáp ứng được yêu cầu của cuộc sống, đáp ứng nhu cầu muốn hiểu biết về cuộc sống và chính bản thân con người, xã hội loài người, từ đó tác động vào cuộc sống một cách có hiệu quả Giá trị nhận thức được biểu hiện rõ nét trong các truyện kể dân tộc Thái
2.1.2 Biểu hiện trong những truyện kể Thái
2.1.2.1 Tri thức về tự nhiên, thế giới, vũ trụ
Trong sự nhận thức của con người thời cổ đại, nhận thức về tự nhiên, thế giới, vũ trụ luôn là những nhận thức ở buổi đầu sơ khai, những nhu cầu tất yếu trước tiên trong quá trình con người muốn khám phá về thế giới xung quanh mình Những quan niệm, nhận thức về thế giới tự nhiên, vũ trụ của người Thái được phản ánh trước hết trong thể loại thần thoại
Người Thái từ xa xưa đã tìm cách lý giải về thế giới xung quanh mình một cách đầy biện chứng Họ đã hình thành một quan niệm triết học từ thời cổ đại để phản ánh những nhận thức về thế giới xung quanh Người Thái nhìn nhận thế giới với hai mặt âm - dương như hai mặt đối lập trong một thể thống nhất cấu thành thế giới, vũ trụ và cả xã hội loài người Trong thế giới tự nhiên, không khó để nhận ra những cặp quan hệ tương phản đối lập mà thống nhất như: trời - đất, nắng - mưa, lửa - nước… Những quan điểm triết học ấy được người Thái nhận thức và phản ánh trong các truyện kể dân gian, chủ yếu bằng
thể loại thần thoại Ở đây có thể thấy rằng: “Các quan điểm triết học sơ khai
Trang 38này đã làm nên các tác phẩm văn học dài hơi của dân tộc và ngược lại các tác phẩm văn học đã chứa đựng đầy đủ các quan điểm triết học cổ xưa của dân tộc này Nghĩa là, trí tuệ dân tộc này đã mạnh dạn thử sức nhận thức cả các vấn đề rộng lớn đó Cuộc thử sức này cho phép các nhà sáng tác văn học dân tộc đạt tới những sáng tạo nghệ thuật mới có tầm cao hơn về mọi mặt” [16, tr.101]
Từ giai đoạn khởi thủy, vũ trụ đã được người Thái cố gắng lý giải bằng quan niệm của mình và phản ánh quan niệm ấy trong văn học Trong con mắt của người Thái cổ, trời đất ban đầu khi mới sinh ra được hình dung như cây nấm còn liền nhau: gốc của cây nấm là mặt đất, tán tròn như hình ảnh về bầu trời và thân cây chính là cái dây nối liền trời và đất Và trời đất có như ngày hôm nay là do một bà góa tạo nên Truyện kể rằng:
“Ngày xưa, trời đất còn liền nhau, người ta lên trời xuống đất một cách
dễ dàng vì lúc đó ở hồ U-va (Mường Thanh) có một dây leo mọc lên Một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng… dây leo cao cuốn vào bầu trời rồi lớn lên thành một dây leo khổng lồ gọi là “chựa khâu cát” Và cũng chính vì trời đất gần nhau như vậy nên việc làm ăn của con người trên mặt đất gặp rất nhiều khó khăn: “giã gạo trời vướng chày, phơi thóc mây vướng cót, quay sợi trời vướng guồng” Một hôm, người đàn bà góa nọ thấy người trần khổ cực quá, nên sinh bực tức, đem dao chặt chựa khâu cát Thế là tự nhiên trời cao lên, cao lên mãi, cao đến nỗi bắn tiếp nhau mười phát tên cũng không tới, mười phát súng cũng không tận, đem đến mười thớt voi để chồng lên cũng không đến được trời nữa Nơi chựa khâu cát leo bị động mạnh, trời giật mình nên bị đẩy lên cao hơn còn các nơi khác thấp dần nên bầu trời mới có hình thù như ngày nay” [41, tr.20,21]
Người Thái cố gắng nhận thức và lý giải về thế giới xung quanh mình bằng những hình ảnh có sẵn trong chính thế giới tự nhiên bao quanh, gần gũi mật thiết với đời sống con người Cuộc sống của người Thái thường sống ở miền núi, hình ảnh cây nấm vô cùng quen thuộc trong đời sống hàng ngày,
Trang 39quen thuộc với từng bữa ăn của người Thái Chính vì vậy, họ hình dung trời đất như cây nấm và cố gắng nhận thức về thế giới xung quanh bằng hình ảnh quen thuộc trong đời sống của dân tộc mình
Trong nhận thức của người Thái, việc trời đất hình thành như ngày hôm nay là do một bà góa tạo nên Tuy nhiên, vì thần thoại cũng như văn học dân gian là sản phẩm sáng tạo của nhân dân chịu sự chi phối của quá trình lưu truyền và diễn xướng tập thể nên tính dị bản là điều tất yếu Có những bản kể
khác kể lại rằng: “Một hôm, một bà góa giã gạo, vô ý để chày đụng phải trời,
nên trời giật mình vụt lên cao Chỗ chày đụng phải lên cao nhất, còn xung quanh thấp dần nên trời mới có hình thù như ngày nay” [41, tr.21]
Như vậy, sự lý giải về việc hình thành trời đất như ngày hôm nay ở từng câu chuyện kể của người Thái có đôi chút khác biệt Tuy nhiên, điểm giống nhau ở đây đó chính là việc hình thành trời đất từ thuở ban đầu đều do một bà góa tạo nên Qua đây, ta lại càng thấy được sự khác biệt trong quan niệm của người Kinh và người Thái trong việc lý giải nguồn gốc khởi thủy của vũ trụ Ở thần thoại của người Kinh, người đảm đương sứ mệnh xây cột chống trời là thần trụ trời nhưng ở thần thoại của người Thái, đó lại là một người đàn bà góa Dường như trong văn học của người Thái, hình ảnh những người phụ nữ có một vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc sống và trong quá trình kiến tạo vũ trụ như ngày hôm nay Qua những thần thoại này, người Thái cũng muốn khẳng định rõ hơn về vai trò của những người phụ nữ trong chế độ thị tộc mẫu hệ, khi đó người đàn bà có một vị trí quan trọng trong gia đình và xã hội
Người Thái đã tìm cách lý giải cho mình về sự hình thành của vũ trụ, trời đất Nhưng thế giới xung quanh con người còn vô vàn những điều họ chưa hiểu hết, chưa biết phải lý giải ra sao Trong quan niệm của người Thái, trời có sức
Trang 40mạnh siêu nhiên, vạn năng, làm nên tất cả Người Thái lý giải thế giới xung quanh bằng quan niệm tất cả do trời tạo nên:
“Lúc đầu, trời đất còn buồn tẻ hoang vu, Then (trời) liền sai “Chô công” xuống xây dựng trần gian Ông thứ nhất san đất lấp hồ, đào thành ruộng nương, sông suối gọi là chẫu chục chẫu chao (ông sới ông san) Ông thứ hai đào khe sâu vực thẳm gọi là chẫu răng dệt phăng (ông làm việc) Ông thứ
ba dựng núi làm đồi gọi là chẫu răng dệt pú (ông làm núi) Ông thứ tư rắc đất màu mỡ vào đồng bằng thung lũng, rải đá muôn màu vào miền núi cao gọi là chô công đin (ông làm đất) Vợ ông phủ cây cỏ xanh tươi lên trái đất gọi là chô công nhả (bà gây rừng) Ông thứ năm làm ra mưa nắng, gió bão, sấm sét gọi là chô công pha (ông làm trời) Vợ ông tô vẽ bầu trời bằng những đám mây lơ lửng gọi là chô công mó (bà làm mây)” [41, tr.22]
Trong quan niệm và sự lý giải của người Thái, Chô công chính là những cặp khổng lồ vũ trụ, dựng nên tổng thể vũ trụ như chúng ta thấy ngày hôm nay Trời thông qua các Chô công như những lực lượng siêu nhiên khổng lồ kiến tạo nên toàn bộ thế giới, vũ trụ Mỗi Chô công làm một công việc khác nhau theo
sự phân công lao động công bằng, người làm nên núi non hùng vĩ, người tạo nên đất đai màu mỡ cho các bản mường, người lại tạo nên bầu trời với những đám mây lơ lửng Thế giới như ngày hôm nay không phải tự nhiên mà có mà
do chính bàn tay lao động của các Chô công tạo nên Đó là một quan niệm biện chứng về thế giới, phản ánh quá trình tư duy và nhận thức của người Thái cổ về
sự hình thành thế giới, mặc dù những lý giải của họ chưa có cơ sở khoa học
Cùng với quan niệm vạn vật do Trời tạo nên, người Thái đồng thời cũng tìm cách lý giải cụ thể về các hiện tượng tự nhiên xung quanh mình Về hiện tượng mưa được lý giải trong thần thoại như sau:
“Ở trên trời có một con sông lớn nằm vắt ngang bầu trời gọi là sông Ngân Hà Con sông này thường xuyên cho nước chảy vào ruộng đồng, nương rẫy của Then Khi nước nhiều, Then cho tháo xuống trần gian, sinh ra mưa