Một trong số những nội dung đó là doanh nghiệp được ưu tiên, ngoài các biệnpháp tạo thuận lợi cho thương mại áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp như quyđịnh trong nhiều văn bản, các
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, để giảm chi phí và nâng cao năng lực cạnh tranh,việc đầu tiên là thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại Thuận lợi hoá thương mại hiện nayđang là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chương trình hành động của các thànhviên WTO nói chung và của các cơ quan hải quan ở những thành viên này nói riêng.Đây là nội dung được đề cập nhiều tại các cuộc hội nghị, diễn đàn của WTO, WCO vàcác tổ chức quốc tế khác Muốn làm được cần phải thúc đẩy sự cải cách của ngành Hảiquan và khâu kiểm tra chuyên ngành muốn thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại, cần dựavào 4 trụ cột chính Cụ thể là:
Trụ cột thứ nhất là ưu tiên thúc đẩy tạo thuận lợi thương mại Tiếp theo, là ưutiên cải cách cải thiện hạ tầng kết nối Trụ cột thứ 3 là cải cách cải thiện chất lượngdịch vụ logistics Cần xây dựng một hệ thống thống kê logistics đáng tin cậy để hỗ trợcác cơ quan chính phủ xây dựng chính sách và doanh nghiệp phát triển chiến lược kinhdoanh thích hợp Trụ cột cuối cùng là cải cách tăng cường phối hợp liên ngành
Một trong số những nội dung đó là doanh nghiệp được ưu tiên, ngoài các biệnpháp tạo thuận lợi cho thương mại áp dụng đối với tất cả các doanh nghiệp như quyđịnh trong nhiều văn bản, các thành viên sẽ đơn giản hoá hơn nữa các thủ tục xuất nhậpkhẩu đối với các doanh nghiệp đáp ứng tốt các tiêu chí về tuân thủ pháp luật hải quan
kể cả với các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Để hiểu sâu hơn về vấn đề này, nhóm chúng tôi đã học tập và nghiên cứu vềMục 7 điều 7 hiệp định TFA về các biện pháp thuận lợi hóa thương mại đối với doanhnghiệp ưu tiên Bài tiểu luận bao gồm những nội dung chính như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận
1.1. Tổng quan về hiệp định FTA1.2. Giới thiệu điều 7 mục 7 trong hiệp định thuận lợi hóa thương mạiFTA
Chương 2: Chương trình ưu tiên doanh nghiệp tại Việt Nam
2.1 Các vấn đề liên quan đến khung pháp lý2.2 Kết quả thực hiện chương trình doanh nghiệp ưu tiên2.3 Các vấn đề liên quan đến công nhận lẫn nhau
Chương 3: Đề xuất giải pháp
3.1 Cơ sở đề xuất3.2 Một số đề xuất
Trang 2CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN1.1 Tổng quan Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA
1.1.1 Sự cần thiết xây dựng và đàm phán Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA
Thứ nhất, tác động của rào cản thương mại trên thế giới trở nên lớn hơn và ảnh
hưởng tiêu cực tới các hoạt động thương mại quốc tế;
Thứ hai, mặc dù có nhiều hệ thống pháp lí trước đó điều chỉnh các mối quan hệ
thương mại quốc tế, nhưng thiếu một cơ chế đủ ràng buộc để đảm bảo hiệu quả thựcthi Công ước quốc tế về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục hải quan (Công ướcKyoto) tháng 6/1999 do Tổ chức Hải quan thế giới WCO ban hành là một ví dụ Côngước này đã đề cập tới các kĩ thuật nghiệp vụ nhằm tạo thuận lợi thương mại, đặc biệt làđơn giản hóa thủ tục hải quan, tuy nhiên do chỉ ràng buộc với các quốc gia đã kí kết vàthiếu cơ sở pháp lí, chế tài áp dụng với các quốc gia không tuân thủ một cách thích hợpcác điều khoản quy định, nên chưa phát huy được hiệu quả và trên thực tế chỉ mangtính chuẩn mực pháp lí;
Thứ ba, vấn nạn buôn lậu và gian lận thương mại ngày càng phức tạp và phát
triển với quy mô quốc tế đòi hỏi một cơ chế hợp tác chặt chẽ giữa cơ quan Hải quancác nước với nhau và giữa cơ quan Hải quan với doanh nghiệp, tiến tới hình thành một
hệ thống trao đổi và xử lí thông tin phục vụ cho việc tuân thủ các quy định Hải quan,đồng thời làm nền tảng cho các biện pháp về tạo thuận lợi thương mại;
Thứ tư, một Hiệp định mới cần có sự đồng bộ trong triển khai, trong khi cơ sở
hạ tầng, khung pháp lí, năng lực thực thi giữa các quốc gia khác nhau, dẫn tới cần một
cơ chế đối xử khác biệt dành cho các quốc gia đang và kém phát triển, bằng việc chútrọng hỗ trợ kĩ thuật và tài chính dựa trên khả năng và nhu cầu riêng của từng quốc gia,nâng cao tính linh hoạt dựa vào việc mỗi quốc gia tự thiết kế lộ trình triển khai Hiệpđịnh phù hợp với nước mình
Vì vậy, WTO đã thông qua nhiều vòng đàm phán phấn đấu đạt được một Hiệpđịnh riêng về lĩnh vực thuận lợi hóa thương mại trên phạm vi thế giới Hiệp định này
có tính chất ràng buộc, với nguyên tắc đối xử đặc biệt và khác biệt và phương thức giảiquyết tranh chấp cũng như chế tài của WTO
1.1.2 Quá trình đàm phán Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA
Trang 3Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại của Tổ chức thương mại thế giới (WorldTrade Organization Trade Facilitation Agreement – TFA), hay còn gọi là các điều luậtthuế quan toàn cầu (global customs rules) là hiệp định được thông qua dựa trên nguyêntắc đồng thuận của 160 quốc gia thành viên của WTO Hiệp định TFA được bắt đầuđàm phán từ tháng 7/2004, tuy nhiên đến tháng 7/2014 mới được chính thức thông qua,trở thành một trong những văn bản rất quan trọng của WTO nhằm tạo thuận lợi choviệc di chuyển hàng hóa giữa các nước thành viên WTO.
Tại Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 4 tổ chức tại Doha vào tháng 12/2001,WTO chính thức đề cập vấn đề tạo thuận lợi thương mại trong Tuyên bố Hội nghị Bộ
trưởng lần thứ 4 tại đoạn 27: “… Ủy ban về Thương mại hàng hóa sẽ xem xét, làm rõ
và cải thiện các vấn đề liên quan đến điều V, VIII, và X của Hiệp định GATT 1994 và xác định các nhu cầu và ưu tiên tạo thuận lợi cho thương mại của các thành viên, …” (WTO 2001, tr 6).
Tại Hội nghị Bộ trưởng lần thứ 5 tại Cacun vào tháng 9/2003, các bên đã đi đếnthống nhất nhận thức về các lợi ích của tạo thuận lợi thương mại thông qua thảo luậnqua 3 nội dung: làm rõ và cải thiện các điều khoản liên quan của GATT 1994; các nhucầu về thuận lợi thương mại và vấn đề xác định ưu tiên của các thành viên và vấn đềhợp tác kĩ thuật
Tiếp đó, Hội nghị Bộ trưởng WTO lần thứ 6 tại Hồng Kông vào tháng 12/2005
đã nhắc lại và tái khẳng định nhiệm vụ và phương thức đàm phán về tạo thuận lợithương mại nêu trong phụ lục D của Văn kiện tháng 7, nội dung báo cáo của nhómĐàm phán về tạo thuận lợi thương mại gửi Ủy ban Đàm phán thương mại đã được nêutại Phụ lục E Tuyên bố Hội nghị Bộ trưởng
Qua gần 10 năm đàm phán với hơn 50 phiên đàm phán chính thức, hàng trămphiên trao đổi, thảo luận nhóm, khu vực với một giai đoạn ách tắc, đình trệ, tại Hộinghị Bộ trường WTO lần thứ 9 tại Bali (Indonesia) vào tháng 12/2013, các nước thànhviên chính thức thông qua Tuyên bố Bali về nội dung Hiệp định cũng như tiến trìnhphê duyệt và kí kết TFA Tuyên bố Bali đã thông quan một số vấn đề quan trọng liênquan đến Hiệp định, đó là:
Thống nhất về nội dung Hiệp định ở khía cạnh lời văn và cấu trúc.Thành lập Ủy ban lâm thời nhằm rà soát pháp lí TFA, soạn thảoNghị định thư sửa đổi TFA cũng như tiến trình phê chuẩn Nghị định thư
Tiếp nhận cam kết thực thi biện pháp nhóm A của các quốc gia thành viên là nước đang phát triển
Trang 4Ngày 24/11/2014, Nghị định thử sửa đổi nội dung TFA đượcthông qua và phê chuẩn từ phía WTO Từ thời điểm này Nghị định thư được mở
để các nước thành viên phê chuẩn Khi đủ 2/3 số nước thành viên hoàn thànhviệc phê chuẩn thì Hiệp định sẽ có hiệu lực
Ngày 22/2/2017, Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại chính thức có hiệu lựcsau khi được 110/164 quốc gia thành viên phê chuẩn Tính đến 23/8/2018, số lượngcác quốc gia thành viên phê chuẩn đã lên đến 136 nước
1.1.3 Nội dung của Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại
Hiệp định TFA bao gồm 3 phần (ngoại trừ Lời mở đầu):
Phần I: Điều khoản về nội dung
Phần này bao gồm 12 điều về các biện pháp kĩ thuật nghiệp vụ, được xây dựngdựa trên cơ sở kế thừa các điều khoản V, VIII và X của GATT 1994 được trình bàytrong bảng dưới đây:
Trang 5Nội Các điều trong TFA Các điều trong
Tính Điều 1: Công bố và tính sẵn có của thông tin Điều X
minh Điều 2: Cơ hội góp ý, thông tin trước thời
bạch hạn và hiệu lực tham vấn
Điều 3: Quy định về xác định trước
Điều 4: Các thủ tục khiếu nại hoặc khiếu
kiện
Điều 5: Các biện pháp để tăng cường công
bằng, không phân biệt đối xử và tính minh bạch
Phí và Điều 6: Các quy định về phí và lệ phí phải Điều VIIIcác thủ thu hoặc liên quan đến xuất khẩu và nhập khẩu và
tục các khoản nộp phạt
Điều 7: Giải phóng và thông quan hàng hóa
Điều 8: Phối hợp của cơ quan quản lí biên
giới
Điều 9: Chuyển hàng hóa dưới sự giám sát
của hải quan đối với nhập khẩu
Điều 10: Các thủ tục liên quan đến xuất khẩu,
nhập khẩu và quá cảnh
cảnh
Khác Điều 12: Hợp tác hải quan
Bảng 1.1: Các biện pháp kĩ thuật tạo thuận lợi thương mại trong nội dung Hiệp định
TFA
Phần II: Đối xử đặc biệt và khác biệt
Phần này gồm 10 điều (từ điều 13 tới điều 22) khoản về đối xử đặc biệt và khác
biệt đối với các quốc gia thành viên đang phát triển và kém phát triển trong đó “… cung cấp hỗ trợ xây dựng năng lực để giúp quốc gia thành viên phát triển và kém phát triển thực hiện đúng các quy định của thỏa thuận này, phù hợp với bản chất và phạm vi của mình” (TFA, điều 13 mục 2) Theo đó, các nước đang và kém phát triển nhận được đối
Trang 6xử ưu đãi so với các nước phát triển, như một phần không thể thiếu của WTO: cắt giảm thuế quan xuống mức thấp hơn, thời gian thực hiện lâu hơn, nghĩa vụ thấp hơn …
Phần II đề cập đến 3 nhóm cam kết khác nhau A, B, C cho 24 điều quy định trongTFA Trong đó:
Các cam kết nhóm A gồm các điều khoản phải thực hiện ngay khiHiệp định có hiệu lực, hoặc trường hợp quốc gia kém phát triển là trong vòng 1năm sau khi Hiệp định này có hiệu lực;
Các cam kết nhóm B gồm các điều khoản phải thực hiện sau một thời gian quá độ sau khi Hiệp định có hiệu lực;
Các cam kết nhóm C gồm các điều khoản phải thực hiện sau mộtthời gian quá độ sau khi Hiệp định có hiệu lực với sự hỗ trợ tài chính và kĩ thuật
Việt Nam đã thông báo 17 cam kết nhóm A (hoàn toàn hoặc một phần) choWTO vào tháng 7/2014 (theo phiên bản của WTO WT/PCTF/N/VNM/1 ngày31/7/2014) Còn theo phiên bản gần nhất của WTO là G/TFA/N/VNM/1 vào ngày16/11/2018, có 17 cam kết được phân vào nhóm A, 15 cam kết được phân vào nhóm B
và 19 cam kết được phân vào nhóm C Cụ thể được trình bày trong Hình 1.1:
Trang 7Hình 1.1 Các cam kết phân loại theo 3 nhóm A, B, C trong Hiệp định
TFA của Việt Nam1
Nguồn: WTO, văn bản G/TFA/N/VNM/1, 2018
Phần III: Các thỏa thuận thể chế và các điều khoản cuối
Phần này gồm 2 điều cuối cùng (điều 23-24) của Hiệp định về thuận lợi hóathương mại, nhằm xây dựng cơ chế giám sát việc thực thi Hiệp định, với vai trò lớncủa Ủy ban tạo thuận lợi thương mại thuộc WTO, tức diễn đàn mở cho tất cả các thànhviên và Ủy ban về tạo thuận lợi thương mại của từng quốc gia thành viên
1Ap: Một phần các cam kết được phân vào nhóm A; Bp: Một phần các cam kết được phân vào nhóm B; Cp: một phần các cam kết được phân vào nhóm C
Trang 81.1.4 Lợi ích và chi phí khi thực hiện Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA
Với mục đích xóa bỏ các rào cản đối với thương mại, đơn giản, minh bạch vàhài hóa hóa thủ tục và phí xuất nhập khẩu, tăng cường mức độ áp dụng tự động hóa vàứng dụng công nghệ thông tin, đồng thời khuyến khích hợp tác hải quan giữa các nước
và trong chính quốc gia, Hiệp định TFA đem lại nhiều lợi ích, nhưng song song là chiphí tương ứng
1.1.1.1 Lợi ích khi thực hiện Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA
Việc thực thi TFA giúp tăng tốc độ và hiệu quả của các thủ tục thương mại, do
đó làm giảm chi phí thương mại và tăng cường sự gia nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu.Bởi chi phí thương mại là một thành phần quan trọng đối với khả năng cạnh tranh vàthu hút đầu tư quốc tế Theo Doing Business 2019, thời gian làm thủ tục, giấy tờ xuấtkhẩu và nhập khẩu trung bình của Việt Nam tương ứng là 105 giờ và 132 giờ, chi phílàm thủ tục xuất khẩu và nhập khẩu trung bình của Việt Nam tương ứng là 429 USD và
556 USD, chưa tính đến các chi phí ngầm
Thời gian Chi phí xuất Thời gian Chi phí nhậpxuất khẩu khẩu (USD/1 nhập khẩu khẩu (USD/1
Trang 9Bảng 1.2 Chỉ số thực hiện giao dịch thương mại quốc tế năm 20182
Nguồn: Ngân hàng thế giới (WB), Doing Business, 2019
Cĩ thể thấy ở Hình 1.2, chỉ số Tạo thuận lợi thương mại của OECD (TradeFacilitation Indicators – TFI3) năm 2018 chỉ ra rằng việc thực thi Hiệp định TFA cĩthể cắt giảm 18,3% chi phí thương mại cho Việt Nam
Hình 1.2 Tỉ lệ tiềm năng giảm chi phí thương mại của các nước thành viên ASEAN khi
thực thi Hiệp định TFA
Nguồn: OECD, Trade Facilitation Indicators, 2018
Hơn nữa, các quốc gia thực hiện một cách đầy đủ Hiệp định sẽ cắt giảm nhiềuhơn từ 1,4% đến 3,9% chi phí thương mại so với các quốc gia chỉ thực thi các nghĩa vụbắt buộc tối thiểu trong Hiệp định TFA (E Mọsé, T Orliac, P Minor… 2011, tr 16).Các nền kinh tế cĩ thu nhập thấp và trung bình sẽ cĩ được lợi thế lớn nhất trong việccắt giảm chi phí thương mại khi triển khai thực hiện Hiệp định TFA Theo ước tính củaOECD, hai phần ba lợi ích đạt được từ Hiệp định này thuộc về các nước đang pháttriển (David Shark, 2015, tr 2)
2Các chỉ số về thời gian và chi phí tại Bảng 1.2 bao gồm cả thời gian và chi phí cho thủ tục thơng quan (border compliance) và các thủ tục liên quan đến giấy tờ (documentary compliance)
3Chỉ số TFI 2018 được tính tốn trên dữ liệu của 162 quốc gia thuộc các vùng lãnh thổ và mức độ phát triển khác nhau Sử dụng các ước lượng chi phí từ hệ thống dữ liệu về chi phí thương mại của ESCAP-World Bank (ESCAP-World Bank Trade Costs Database), chỉ số TFI cung cấp các đánh giá các ảnh hưởng của việc thực thi các hoạt động tạo thuận lợi thương mại trong khuơn khổ Hiệp định TFA
Trang 10Theo đó, thực thi Hiệp định đảm bảo các cam kết về loại bỏ các rào cản trongthương mại quốc tế Thủ tục thông quan nhanh sẽ làm giảm các hành vi tiêu cực nhưnhũng nhiễu, hạch sách của các cán bộ quản lí hải quan tại Việt Nam.
Ngoài ra, khi chi phí thương mại được giảm thiểu, cơ hội tạo công ăn việc làm
và thu nhập được tăng lên, dẫn tới các chỉ số kinh tế vĩ mô được cải thiện
1.1.1.2 Chi phí khi thực hiện Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA
Tuy tạo thuận lợi thương mại đem lại nhiều lợi ích cho các quốc gia, nhưngChính phủ các nước phải đánh đổi bằng nhiều mục tiêu phát triển khác do nguồn lựccòn hạn chế Các chi phí để thực thi hiệp định TFA có thể bao gồm:
Chi phí xây dựng hệ thống pháp luật: các cam kết trong Hiệp định đòi hỏi việc
ban hành các quy định pháp luật mới hoặc điều chỉnh, sửa đổi các quy định hiện hành
để đảm bảo cơ sở pháp lí và chế tài cho việc triển khai các hoạt động tạo thuận lợi cụthể trong thực tế
Ví dụ, tại Điều 7 Mục 9 của Hiệp định TFA quy định về việc ưu tiên thông quanđối với hàng hóa dễ hư hỏng, trong đó yêu cầu các nước thành viên phải có: mức ưutiên hợp lí cho hàng hóa dễ hư hỏng, cho phép nhà nhập khẩu sắp xếp bảo quản hànghóa trong thời gian chờ giải phóng dưới sự giám sát của hải quan và yêu cầu về thôngbáo bằng văn bản cho nhà nhập khẩu trong trường hợp cần thiết
Tại Điều 33 của Luật Hải quan 2014 của Việt Nam, việc ưu tiên kiểm tra trước
cho “hàng hóa là động vật, thực vật sống, khó bảo quản, hàng hóa đặc biệt khác” đã
được đề cập, tuy nhiên để thực thi hoàn chỉnh theo Hiệp định rất cần hoàn thiện khungpháp lí theo định hướng trên nhằm đảm bảo hiệu quả thực thi và tránh các tranh chấpphát sinh
Chi phí hoàn thiện cơ cấu tổ chức: Một số điều khoản bắt buộc áp dụng các kĩ
thuật quản lí mới như Quản lí rủi ro (Điều 7 mục 4), kiểm tra sau thông quan (Điều 7mục 5) đòi hỏi việc thành lập các đơn vị có chức năng tương ứng Bên cạnh đó, việcđơn giản hóa thủ tục công, tăng cường thủ tục điện tử (Điều 7 mục 2) khiến một bộphận cán bộ phải tinh giản hoặc chuyển sang thủ tục khác
Chi phí đào tạo: Cần đào tạo một đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, hiện đại
nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ theo kĩ thuật quản lí mới.
Trang 11Chi phí xây dựng cơ sở hạ tầng: Vai trò của cơ sở hạ tầng trong Hiệp định TFA
không được đề cập cụ thể, nhưng để thực thi đầy đủ các cam kết cần xây dựng hệthống công nghệ thông tin, hiện đại hóa trang thiết bị, xây dựng địa điểm kiểm tra tậptrung, đòi hỏi một số vốn lớn và thường xuyên
1.2 Giới thiệu về Điều 7 Mục 7 trong Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại
TFA
1.2.1 Doanh nghiệp ưu tiên
Điều 7 trong Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA đề cập đến vấn đềGiải phóng thông quan hàng hóa gồm 9 mục, trong đó mục thứ 7 “Các biện pháp tạothuận lợi thương mại đối với Doanh nghiệp ưu tiên” nhằm đề cập đến nhiệm vụ tạothuận lợi cho các doanh nghiệp đáp ứng được các tiêu chuẩn quy định, gọi là Doanhnghiệp ưu tiên Mục này được Việt Nam phân vào nhóm B, tức các cam kết thực hiệntrước ngày 31/12/2023 mà không nhận sự hỗ trợ kĩ thuật hay tài chính từ WTO (theoHình 1.1) Như vậy, các cam kết về Doanh nghiệp ưu tiên nhằm hướng tới sự thuận lợihóa thương mại thông qua việc xác định các đối tượng doanh nghiệp có tài chính vữngmạnh, tuân thủ luật pháp và hồ sơ minh bạch, từ đó được ưu tiên giảm các yêu cầu vềchứng từ, kiểm tra, lệ phí … Quy định này vừa giúp tạo thuận lợi lưu thông hàng hóa,đặc biệt là với các doanh nghiệp có chuỗi cung ứng toàn cầu, vừa nhằm đảm bảo tuânthủ pháp luật và quy định hải quan, khi mà các doanh nghiệp được xét tới đều được coi
là “hình mẫu” hay “tấm gương”, tức rủi ro từ họ đã giảm đi đáng kể
Các tiêu chí xác định Doanh nghiệp ưu tiên do mỗi quốc gia Thành viên quyếtđịnh dựa theo cam kết 7.2 của Hiệp định FTA và phải được công bố, bao gồm: hồ sơphù hợp, hệ thống quản lí hồ sơ phụ vụ kiểm soát cần thiết, khả năng tài chính và anninh chuỗi cung ứng Cam kết này cấm việc xây dựng bộ tiêu chí có thể gây nên sựphân biệt đối xử vô lí, và hạn chế sự tham gia của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo đó, Luật Hải quan 2014 đã đề cập đến “chế độ ưu tiên đối với doanhnghiệp”, trong đó có điều kiện, chế độ áp dụng và trách nhiệm của cơ quan hải quancũng như doanh nghiệp trong việc thực thi chế độ này
Cụ thể hơn, trong Thông tư số 72/2015/TT-BTC “Quy định áp dụng chế độ ưu tiêntrong việc thực hiện thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát hải quan đối với hàng hóa xuấtkhẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp”, khái niệm “doanh nghiệp ưu tiên” được giải thích tại
Điều 3: “ … là doanh nghiệp xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa được cơ quan hải quan công nhận là doanh nghiệp ưu tiên.” Ngoài ra, phạm vi doanh nghiệp ưu tiên còn
Trang 12được mở rộng sang “Đại lí ưu tiên”, tức “ … doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đại lý làm thủ tục hải quan được cơ quan hải quan công nhận là doanh nghiệp ưu tiên.” Kèm
theo đó là điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên được quy định chi tiết tại Điều 12-17
Như vậy, nhận thức của Việt Nam đã đồng nhất với tiêu chí xác định Doanhnghiệp ưu tiên trong Hiệp định TFA, đồng thời các quy định cũng làm rõ và bổ sungmột số điều phù hợp với luật pháp và hoàn cảnh trong nước
1.2.2 Tạo thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp ưu tiên
Tạo thuận lợi thương mại có nhiều định nghĩa khác nhau từ các cách tiếp cậnkhác nhau Theo OECD, tạo thuận lợi thương mại là “đơn giản hóa và tiêu chuẩn hóacác thủ tục liên quan và dòng thông tin cần thiết để vận chuyển hàng hóa quốc tế từngười bán tới người mua và để thực hiện việc thanh toán của người mua trả cho ngườibán” (OECD 2002, tr 6)
Quan điểm của Tổ chức UNECE về hoạt động tạo thuận lợi thương mại là
“phương pháp tiếp cận toàn diện và thống nhất nhằm giảm thiêu sự phức tạp và chi phícủa quá trình giao dịch thương mại, đồng thời đảm bảo rằng tất cả các hoạt động này
có thể diễn ra một cách hiệu quả, minh bạch, có tính dự báo, dựa trên các tiêu chuẩn,chuẩn mực và thông lệ tốt nhất được quốc tế thừa nhận (UNECE 2003, tr 3)
Tổ chức APEC định nghĩa “Tạo thuận lợi thương mại được hiểu một cách kháiquát là quá trình đơn giản và hài hòa hóa, có sử dụng các công nghệ mới và các biệnpháp hiện đại để giải quyết trở ngại về thủ tục hành chính trong quá trình thương mại”.(APEC 2001, tr 1)
Các định nghĩa tuy có cách tiếp cận khác nhau nhưng đều thể hiện cùng một nộihàm của “thuận lợi hóa thương mại”, bao gồm một loạt vấn đề liên quan đến lưuchuyển thương mại một cách trôi chảy và đúng luật Mục đích các biện pháp tạo thuậnlợi cho doanh nghiệp ưu tiên trong TFA cũng đồng nhất với các khái niệm được các tổchức quốc tế công nhận rộng rãi và được thể hiện rõ nét trong Điều 7 mục 7
Các cam kết tạo thuận lợi thương mại cho doanh nghiệp ưu tiên được quy địnhtại khoản 7.3 của Điều 7 mục 7 Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA, theo đó,các thành viên phải thực hiện ít nhất ba trong các biện pháp:
(a) giảm các yêu cầu về chứng từ và dữ liệu, khi thấy phù hợp;
(b) tỉ lệ kiểm tra thực tế thấp, khi thấy phù hợp;
Trang 13(c) thời gian giải phóng hàng nhanh, khi thấy phù hợp;
(d) việc thanh toán chậmcác khoản thuế, phí và lệ phí;
(e) sử dụng các khoản bảo lãnh cộng gộp hoặc các khoản bảo lãnh được giảm; (f) một tờ khai chung cho tất cả hàng hóa nhập khẩu hoặc xuất khẩu trong một giai đoạn nhất định;
(g) việc thông quan hàng hóa tại các địa điểm của doanh nghiệp ưu tiên hoặc một nơi khác được cơ quan hải quan cho phép.”
Ngoài ra, các thành viên được khuyến khích ban hành các quy định về doanhnghiệp ưu tiên theo chuẩn quốc tế, đồng thời phải hỗ trợ, đàm phán công nhận lẫn nhautrong quá trình thực thi cam kết và minh bạch thông tin với Ủy ban theo các điều 7.4,7.5, 7.6
1.1.3 Văn bản pháp luật tương thích với Điều 7 Mục 7
Để thực thi một cách nghiêm chỉnh và có hiệu quả các cam kết tại Điều 7 Mục 7trong Hiệp định về thuận lợi hóa thương mại TFA, điều kiện về khung pháp lí luôn làmột yếu tố chủ chốt Hiện nay, ngoài các văn bản dưới luật như Thông tư 72/2015/TT-BTC, Thông tư 07/2019/TT-BTC… thì vấn đề tạo thuận lợi cho doanh nghiệp ưu tiêncũng được quy định chính thức trong Luật Hải quan năm 2014 Việc đưa vấn đề nàyvào văn bản luật chính thức có tác dụng làm cơ sở cho các văn bản dưới luật, làm nềntảng nhằm triền khai các chương trình thuận lợi hóa thương mại dành cho các doanhnghiệp đủ điều kiện như Chương trình Doanh nghiệp ưu tiên AEO (AuthorizedEconomic Operator)
Cụ thể, tại Mục 2 “Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp” của Luật Hải quan
2014, các Điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên, Chế độ ưu tiên đối với doanh nghiệp,Trách nhiệm của cơ quan hải quan trong việc thực hiện chế độ ưu tiên và Trách nhiệmcủa doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên được liệt kê lần lượt trong các Điều từ
42 tới Điều 45
Trang 14CHƯƠNG 2: CHƯƠNG TRÌNH DOANH NGHIỆP ƯU TIÊN TẠI VIỆT NAM
2.1 Các vấn đề liên quan đến khung pháp lý
Khung pháp lý trong bất cứ Hiệp định nào cũng là một vấn đề rất quan trọng.Một khung pháp lý vững chãi, chặt chẽ, minh bạch và mang tính hỗ trợ cao sẽ là tiền
đề tốt để các bên liên quan đối chiếu và điều chỉnh hành vi của mình Nhóm được giaotìm hiểu về việc tạo thuận lợi thương mại đối với các Doanh nghiệp ưu tiên (sau đâyxin được gọi tắt là AEO - Authorized Economic Operator) nên ở đây nhóm chỉ giớihạn tìm hiểu khung pháp lý liên quan đến nhóm đối tượng này
Do thời gian và nguồn lực có hạn, trong phần này, bài tiểu luận xin trình bàynhững vấn đề cơ bản sau của khung pháp lý:
Về việc quy định và ban hành quy định thế nào là Doanh nghiệp
ưu tiên (bao gồm cả thông tin điện tử)
Về việc các chế độ ưu tiên đối với Doanh nghiệp ưu tiên
Về việc đánh giá và đình chỉ đối với Doanh nghiệp ưu tiênĐối với các vấn đề này, nhóm đã tìm hiểu về các văn bản pháp luật quy định gồm:
Luật Hải quan 2014
Nghị định 08/2015/NĐ-CPThông tư 72/2015/TT-BTCThông tư 07/2019/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung Thông tư72/2015/TT-BTC)
Do tính chất, chức năng của mỗi loại văn bản khác nhau và xét từ góc độ Doanhnghiệp thì các văn bản Thông tư có tính ứng dụng và chỉ dẫn cao hơn nên nhóm sẽ chủyếu phân tích dựa trên Thông tư 72/2015/TT-BTC và Thông tư 07/2019/TT-BTC và sẽtrích dẫn Luật Hải quan hoặc Nghị định 08/2015/NĐ-CP chỉ khi cần thiết
2.1.1 Về việc quy định và ban hành quy định thế nào là
Doanh nghiệp ưu tiên (bao gồm cả thông tin điện tử)
Luật Hải quan 2014, điều 42 và 43 đã có quy định về tiêu chí của AEO, cụ thể như sau:
Điều 42 Điều kiện áp dụng chế độ ưu tiên
1 Doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên khi đáp ứng đủ các điều kiện sauđây:
Trang 15a) Tuân thủ pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế trong 02 năm liên tục
b) Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm đạt mức quy định
c) Thực hiện thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử; có chương trình côngnghệ thông tin quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp nối mạng với
cơ quan hải quan;
d) Thực hiện thanh toán qua ngân hàng;
đ) Có hệ thống kiểm soát nội bộ;
e) Chấp hành tốt quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán
2 Doanh nghiệp ưu tiên thuộc quốc gia, vùng lãnh thổ có ký thỏa thuận côngnhận lẫn nhau về doanh nghiệp ưu tiên với Việt Nam được áp dụng chế độ ưu tiên theoquy định của Luật này
3 Chính phủ quy định chi tiết điều kiện, thủ tục công nhận, gia hạn, tạm đình chỉ,đình chỉ, chế độ ưu tiên, việc quản lý đối với doanh nghiệp được áp dụng chế độ ưu tiên
Như vậy, Luật Hải quan đã quy định những vấn đề chung nhất về các tiêu chí xétduyệt các Doanh nghiệp ưu tiên Nhóm sẽ phân tích các quy định này theo 6 tiêu chí đưa
ra ở khoản 1, Điều 42 của Luật Hải quan và các quy định cụ thể ở Thông tư 2015
1.1.1.3 Về điều khoản Tuân thủ pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế trong 02 năm
liên tục
Đối với điều khoản này thì Thông tư 72/2015/TT-BTC đã quy định khá rõ ràng
và cụ thể như sau tại Điều 12:
Điều 12 Điều kiện tuân thủ pháp luật về hải quan, pháp luật về thuế
Trong thời hạn 02 (hai) năm liên tục, gần nhất tính đến thời điểm doanh nghiệp
có văn bản đề nghị công nhận doanh nghiệp ưu tiên, doanh nghiệp không vi phạm cácquy định của pháp luật về thuế, hải quan tới mức bị xử lý vi phạm về các hành vi sau:
1 Các hành vi trốn thuế, gian lận thuế; buôn lậu và vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới;
2 Các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan có hình thức, mức xửphạt vượt thẩm quyền Chi cục trưởng Chi cục Hải quan và các chức danh tương đương;
3 Đối với đại lý làm thủ tục hải quan, số tờ khai hải quan đại lý làm thủ tụcđứng tên bị xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực hải quan, lĩnh vực thuế thuộcthẩm quyền xử lý của Chi cục trưởng Chi cục Hải quan và chức danh tương đươngkhông vượt quá tỷ lệ 0,5% tính trên tổng số tờ khai đã làm thủ tục hải quan
4 Không nợ thuế quá hạn theo quy định
Quy định này đã khá rõ ràng và bất cứ Doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứngđược
Trang 161.1.1.4 Về điều khoản Có kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu hàng năm đạt mức quy định
Đối với điều khoản này thì cả Nghị định 08/2015/NĐ-CP và Thông tư 72/2015/TT-BTC đã quy định khá rõ ràng và cụ thể như sau tại Điều 13:
Điều 13 Điều kiện về kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu
1 Doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất nhập khẩu từ 100 triệu USD/năm trở lên
2 Doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hàng hóa sản xuất tại Việt Nam từ 40 triệu USD/năm trở lên
3 Doanh nghiệp đạt kim ngạch xuất khẩu hàng hóa là nông sản, thủy sản sản xuất hoặc nuôi, trồng tại Việt Nam từ 30 triệu USD/năm trở lên
4 Đại lý thủ tục hải quan: số tờ khai hải quan đã làm thủ tục hải quan đứng tên đại lý trong năm đạt từ 20.000 tờ khai/năm trở lên
Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản
4 Điều này là kim ngạch bình quân của 02 (hai) năm liên tục, gần nhất tính đến ngàydoanh nghiệp có văn bản đề nghị xem xét, không bao gồm kim ngạch xuất khẩu, nhậpkhẩu uỷ thác
5 Không áp dụng điều kiện kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu đối với các doanhnghiệp được Bộ Khoa học và Công nghệ cấp giấy chứng nhận là doanh nghiệp côngnghệ cao theo quy định của Luật Công nghệ cao
Từ quy định, có thể thấy đây là một tiêu chí mà các Doanh nghiệp phải lưu tâm
và nỗ lực để đáp ứng Con số kim ngạch yêu cầu ở đây khá cao (ít nhất là 30 triệuUSD/năm trở lên tùy theo loại Doanh nghiệp và 20.000 tờ khai/năm đối với Đại lý thủtục hải quan) và thường chỉ những doanh nghiệp, tập đoàn lớn mới có thể đáp ứngđược Còn đối với các Doanh nghiệp SMEs thì khó có thể đáp ứng yêu cầu và vì vậymất đi cơ hội phát triển thêm bằng cách cắt giảm thời gian, chi phí, tận dụng nguồn lựccho những việc khác
Tuy vậy, cần lưu ý rằng việc đưa ra kim ngạch như thế này chưa thể coi là làmkhó Doanh nghiệp SMEs hoặc đi ngược lại với tinh thần của Hiệp định vì trong Hiệpđịnh có cụm từ “trong khả năng có thể” Việc Nhà nước hỗ trợ cho các Doanh nghiệp
có kim ngạch lớn (hầu hết là các doanh nghiệp có vốn FDI và những tập đoàn lớntrong nước) và có công nghệ cao nằm đều nằm trong những Kế hoạch và Định hướngcủa Nhà nước
Bên cạnh đó, quy định mới chỉ nêu rõ cho các Doanh nghiệp làm trực tiếp mảngXuất nhập khẩu và sở hữu công nghệ cao, chứ chưa có quy định dành cho các Doanhnghiệp có các dịch vụ, sản phẩm khác nhưng lại có giá trị trong chuỗi cung ứng Ví dụtrong Chương trình ưu tiên của Nhật Bản có những chương trình con như Chương trìnhngười kinh doanh kho ngoại quan được ưu tiên, Chương trình nhà vận chuyển được ưu
Trang 17tiên Những doanh nghiệp này tuy không trực tiếp làm Xuất nhập khẩu nhưng lại là cácđối tác có giá trị trong chuỗi cung ứng và vì thế nên được xem xét đưa ra tiêu chí đểđược ưu tiên.
1.1.1.5 Về việc thực hiện thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử; có chương
trình công nghệ thông tin quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp nối mạng với cơ quan hải quan
Thông tư 72/2015/TT-BTC, Điều 14 đã ghi rõ:
Điều 14 Điều kiện về thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử
Thực hiện thủ tục hải quan điện tử, thủ tục thuế điện tử; có chương trình côngnghệ thông tin quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của doanh nghiệp đảm bảo yêucầu kiểm tra của cơ quan hải quan
Trong thời đại công nghệ phát triển như hiện nay thì việc có chương trình côngnghệ thông tin để quản lý hoạt động xuất nhập khẩu đối với Doanh nghiệp là điềukhông khó Tuy nhiên, ở đây cụm từ “đảm bảo yêu cầu kiểm tra của cơ quan hải quan”chưa được làm rõ
1.1.1.6 Về việc thực hiện thanh toán qua ngân hàng
Thông tư 72/2015/TT-BTC, Điều 15 đã ghi rõ:
Điều 15 Điều kiện về thanh toán hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu
Thực hiện thanh toán đối với các lô hàng xuất khẩu, nhập khẩu qua ngân hàngtheo quy định của ngân hàng nhà nước Doanh nghiệp có trách nhiệm thông báo cho cơquan hải quan số tài khoản, danh sách các ngân hàng giao dịch
Quy định này đã khá rõ ràng và bất cứ Doanh nghiệp nào cũng có thể đáp ứngđược
1.1.1.7 Về việc có hệ thống kiểm soát nội bộ
Thông tư 72/2015/TT-BTC, Điều 16 đã ghi rõ:
Điều 16 Điều kiện về hệ thống kiểm soát nội bộ
Doanh nghiệp đạt điều kiện về hệ thống kiểm soát nội bộ nếu doanh nghiệp đápứng các điều kiện sau:
1 Doanh nghiệp thực hiện và duy trì các quy trình quản lý, giám sát, kiểm soát vận hành thực tế toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp;
2 Doanh nghiệp có các biện pháp, phương tiện, quy trình kiểm soát nội bộ đảm bảo an ninh an toàn dây chuyền cung ứng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu như sau:
a Theo dõi quá trình vận chuyển hàng hóa từ doanh nghiệp đến cảng và từ cảng
về doanh nghiệp;
Trang 18b Kiểm tra an toàn container trước khi xếp hàng lên phương tiện vận tải;
c Giám sát tại các vị trí quan trọng: Khu vực tường rào, cổng ra vào, kho bãi, khu vực sản xuất, khu vực hành chính;
d Phân quyền công nhân viên di chuyển, làm việc tại các khu vực phù hợp với nhiệm vụ;
đ Kiểm soát an ninh hệ thống công nghệ thông tin;
e An ninh nhân sự
Như vậy, Thông tư đã quy định rõ ràng và theo sát như định hướng của Mục 7,Điều 7 của TFA về an ninh chuỗi cung ứng, bao gồm an ninh của quá trình vận chuyểnhàng hóa, an ninh công nghệ thông tin và an ninh nhân sự Tuy nhiên, Thông tư cũngchưa đưa ra các định nghĩa, giải thích cụ thể cho các thuật ngữ như “an ninh hệ thốngcông nghệ thông tin” hay “an ninh nhân sự”
Các tiêu chí của TFA mới chỉ là gợi ý cho các Thành viên, nhưng Việt Nam đãđưa vấn đề này vào Thông tư, cho thấy Việt Nam đã bám sát và tôn trọng Hiệp định
1.1.1.8 Về việc chấp hành tốt quy định của pháp luật về kế toán, kiểm toán
Thông tư 72/2015/TT-BTC, Điều 17 đã ghi rõ
Điều 17 Điều kiện chấp hành tốt pháp luật về kế toán, kiểm toán
1 Áp dụng các chuẩn mực kế toán theo quy định của Bộ Tài chính;
2 Báo cáo tài chính hàng năm phải được kiểm toán bởi công ty kiểm toán đủđiều kiện kinh doanh dịch vụ kiểm toán theo quy định của pháp luật về kiểm toán độclập Ý kiến kiểm toán về báo cáo tài chính nêu trong báo cáo kiểm toán phải là ý kiếnchấp nhận toàn phần theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam;
Quy định này không được đưa ra cụ thể trong các gợi ý tiêu chí của TFA mà đượcđưa ra để bảo đảm pháp luật về kế toán, kiểm toán của Việt Nam Việc đưa tiêu chí nàyvào cũng nhằm đảm bảo sự minh bạch tài chính của các AEO và đảm bảo rằng các Doanhnghiệp đáp ứng đủ các yêu cầu về kim ngạch cũng như pháp luật về thuế đã nêu
ở khoản a) Điều 42, Luật Hải quan
2.1.1.7 Nhận xét tổng quan
Có thể thấy rằng các quy định của Việt Nam không chỉ theo sát, đáp ứng cácđiều khoản của TFA mà còn thêm vào những quy định, điều kiện của riêng pháp luậtViệt Nam nhằm đảm bảo chất lượng của các AEO
Tuy vậy, một vài quy định còn khắt khe, chưa tạo thuận lợi đối với các Doanhnghiệp SMEs mà cụ thể là quy định về kim ngạch Tuy đây là tiêu chí không bắt buộc
và TFA cũng nêu rõ là “trong phạm vi có thể”, Việt Nam vẫn nên xem xét hạ mức tiêuchuẩn kim ngạch cho nhóm doanh nghiệp này, đưa ra các quy định khác nhằm hỗ trợ