Đối với Thương mại Hàng hóa, việc xóa bỏ thuế quan đối với các sản phẩmcần được hoàn thành trong vòng 10 năm kể từ khi Hiệp định Nhật Bản, ASEAN-6 và Việt Nam có hiệu lực và 13 năm đối v
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Cùng với xu hướng hội nhập và toàn cầu hóa hiện nay, giao dịch thương mạiquốc tế ngày càng được chú trọng và phát triển về mọi mặt Các thỏa thuận, hiệpđịnh thương mại, điển hình là các FTA (Free Trade Area) cũng dần tăng lên, đóngvai trò quan trọng trong sự phát triển của mỗi quốc gia Liên kết quốc tế đã làm chomối quan hệ giữa các nước trở nên gắn bó, tương trợ lẫn nhau, tạo động lực thúcđẩy phát triển kinh tế mạnh mẽ và tăng cường mối quan hệ kinh tế đối ngoại
Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) là một
trong các FTA đang và sẽ có ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế Việt Nam cũng nhưnền kinh tế khu vực, là dấu mốc quan trọng nâng tầm quan hệ hợp tác toàn diệncùng có lợi Tuy nhiên, đi kèm với lợi ích từ việc tự do hóa thương mại, thêm vào
đó là sự di chuyển của hàng hóa và dịch vụ trở nên thuận tiện, những vấn đề liênquan đến an toàn thực phẩm, an ninh quốc gia, cũng nảy sinh và buộc các cơ quan
có thẩm quyền phải đưa ra những biện pháp khắc phục Trong công tác quản lý hảiquan hiện đại, kiểm tra quy tắc xuất xứ là một trong những vấn đề nghiệp vụ quantrọng hàng đầu Do đó, việc đánh giá toàn diện AJCEP cũng như bộ quy tắc xuất xứcủa hiệp định sẽ góp phần mang đến những hiểu biết về kiến thức cơ sở cho các nhàxuất khẩu trong việc hoạch định, xây dựng chiến lược kinh doanh hàng hóa trongthời gian tiếp theo
Chính vì vậy, nhóm chúng em đã lựa chọn đề tài “Quy tắc xuất xứ của Hiệp
định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN – Nhật Bản AJCEP” cho bài tiểu luận của
mình Tiểu luận của nhóm gồm 3 phần:
Chương I : Giới thiệu về hiệp định đối tác kinh tế toàn diện AJCEP
Chương II : Nội dung quy tắc xuất xứ của hiệp định kinh tế toàn diện AJCEP Chương III : Tình hình thực hiện quy tắc xuất xứ theo hiệp định AJCEP của
Việt Nam
Do thời gian hoàn thành bài tiểu luận còn gấp gáp và hạn chế nên không thể tránhkhỏi những sai sót về mặt hình thức, nội dung Nhóm chúng em mong nhận được sựgóp ý từ phía cô cùng các bạn để bài tiểu luận được hoàn thiện hơn và mang lạinhiều thông tin bổ ích cho mọi người
Trang 2CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN
AJCEP 1.1 Quá trình đàm phán
Nhật Bản là quốc gia có quan hệ từ rất sớm với ASEAN Có thể nói, NhậtBản là một trong số không nhiều các đối tác lớn có quan hệ tích cực và thực chấtvới ASEAN Sự phát triển của ASEAN trong nhiều thập niên gắn bó khá chặt chẽvới Nhật Bản, đặc biệt là các quan hệ kinh tế - thương mại
Tháng 4/2008, hai bên đã ký Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện ASEAN
-Nhật Bản (AJCEP) - một văn kiện pháp lý quan trọng, tạo cơ sở xúc tiến quan hệ
kinh tế giữa hai bên sâu rộng hơn, hiệu quả hơn, đánh dấu mốc quan trọng nâng tầmquan hệ hợp tác toàn diện cùng có lợi
Quá trình đàm phán Hiệp định AJCEP được thực hiện theo chỉ đạo củaNguyên thủ các nước tại Thoả thuận khung về Đối tác kinh tế toàn diện ASEAN-Nhật Bản ký tại Bali (Indonesia) ngày 8/10/2003 Hiệp định này bắt đầu từ tháng1/2002 khi nguyên Thủ tướng Nhật Bản Junichiro Koizumi đề xuất về việc liên kếtkinh tế toàn diện Nhật Bản và ASEAN trong bài phát biểu tại Singapore
Hiệp định AJCEP là văn kiện pháp lý quan trọng, xác lập mối quan hệ hợp tác kinh
tế toàn diện, chặt chẽ giữa ASEAN và Nhật Bản Việc ký kết Hiệp định AJCEP diễn
ra tại thủ đô của 10 nước ASEAN và Nhật Bản theo hình thức ký luân phiên Thoảthuận có hiệu lực thực hiện ngày 15/8/2008
Đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản có cách tiếp cậnhoàn toàn khác so với đàm với trong khuôn khổ Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, ASEAN-Hàn Quốc, đó là được kết hợp giữa đàm phán song phương
và đàm phán đa phương Việt Nam cùng với các nước ASEAN 6 đã tiến hành đàmphán với Nhật Bản trong cả hai khuôn khổ: Hiệp định đối tác kinh tế toàn diệnASEAN-Nhật Bản (AJCEP) và Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản(VJEPA) Một số nét chính khi Nhật Bản thúc đẩy việc đàm phán trên cả hai kênhnày:
ASEAN thành một khu vực sản xuất chung của Nhật Bản, tạo chuỗi liên kếtcác khu vực sản xuất của Nhật Bản giữa các nước ASEAN
Trang 3• Tiến hành đàm phán để đạt được lợi ích ở từng lĩnh vực cụ thể.
Bản năm 2006)
nghiệp
1.2 Sự tham gia của Việt Nam
Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan đối với 8231 dòng thuế (chiếm 88.6%tổng Biểu) trong vòng 16 năm, gần 100 dòng thuế cắt giảm xuống 5% và khoảng10% số dòng thuế còn lại cắt giảm một phần thuế suất hoặc không cam kết
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 24/2015/BTC-TT ngày 14/2/2015 banhành Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam thực hiện AJCEP giai đoạn2015-2018
Về lộ trình cắt giảm thuế quan cụ thể, Hiệp định quy định: Biểu cam kết củaViệt Nam trong AJCEP bao gồm 9.390 dòng thuế (dựa trên AHTN 2007), trong đóđưa vào lộ trình cắt giảm đối với 8.771 dòng Số dòng còn lại là các dòng thuế CKD
ô tô (57 dòng) và các dòng thuế không cam kết cắt giảm (562 dòng), cụ thể:
Danh mục xoá bỏ thuế quan: Việt Nam cam kết xoá bỏ thuế quan đối với62,2% số dòng thuế trong vòng 10 năm, trong đó xoá bỏ thuế quan ngay khi Hiệpđịnh có hiệu lực đối với 26,3% dòng thuế và xoá bỏ thuế quan sau 10 năm thực hiệnHiệp định (năm 2018) đối với 33,8% dòng thuế Vào năm 2023 và 2024 (sau 15năm và 16 năm thực hiện Hiệp định) cam kết xoá bỏ 25,7% và 0,7% số dòng thuếtương ứng
Như vậy, vào năm cuối lộ trình (năm 2025) số dòng thuế được xoá bỏ thuếquan chiếm 88,6% số dòng thuế trong toàn Biểu cam kết
mức thuế suất cơ sở và xuống 5% vào năm 2025
thuế suất cao (giảm xuống 50% vào năm 2023)
trong cả lộ trình (C) chiếm 3,3% số dòng thuế
Trang 4Lộ trình giảm thuế của Việt Nam trong Hiệp định AJCEP bắt đầu từ năm
2008 và kết thúc vào năm 2025 Các mặt hàng được cắt giảm xuống 0% vào cácthời điểm 2018, 2023 và 2024.Về diện mặt hàng, các mặt hàng được xoá bỏ thuếquan chủ yếu là các mặt hàng công nghiệp Số dòng thuế được xoá bỏ thuế quan tậptrung vào các ngành máy móc thiết bị điện, máy móc cơ khí, hoá chất, kim loại, diệtmay và sản phẩm nông nghiệp
1.3 Hiệu lực
Hiệp định AJCEP là văn kiện pháp lý quan trọng, xác lập mối quan hệ hợptác kinh tế toàn diện, chặt chẽ giữa ASEAN và Nhật Bản Việc ký kết Hiệp địnhAJCEP diễn ra tại thủ đô của 10 nước ASEAN và Nhật Bản theo hình thức ký luânphiên Thoả thuận có hiệu lực thực hiện ngày 15/8/2008
AJCEP cho phép doanh nghiệp từ ASEAN và Nhật Bản có thể tiếp cận thịtrường khu vực lớn và tiềm năng là 752,4 triệu người, với GDP 7,29 nghìn tỷ vàGDP bình quân đầu người là 20.640 USD (PPP) Với khả năng tiếp cận thị trườngkhổng lồ thông qua cắt giảm thuế quan và quy tắc xuất xứ tích lũy, người tiêu dùng
sẽ có nhiều lựa chọn hơn về sản phẩm với giá cả cạnh tranh
Đối với Thương mại Hàng hóa, việc xóa bỏ thuế quan đối với các sản phẩmcần được hoàn thành trong vòng 10 năm kể từ khi Hiệp định Nhật Bản, ASEAN-6
và Việt Nam có hiệu lực và 13 năm đối với CLM (Campuchia, Lào, Myanmar) Vớimức độ phát triển khác nhau giữa các bên, các ngưỡng loại bỏ thuế quan cũng khácnhau: 92% đối với Nhật Bản, 90% đối với ASEAN-6 và Việt Nam dựa trên cácdòng thuế và giá trị thương mại; 90% cho CLM dựa trên dòng thuế hoặc giá trịthương mại
Đối với hàng hóa thuộc Danh mục nhạy cảm cao, Danh mục nhạy cảm vàDanh mục loại trừ, các phương thức áp dụng là khác nhau và việc cắt giảm thuếđược đàm phán song phương giữa các quốc gia thành viên ASEAN và Nhật Bản
Quy tắc xuất xứ (ROO) đã được thiết lập theo AJCEP nhằm giúp khuyếnkhích tích lũy khu vực đầu vào không chỉ mang lại lợi ích cho các ngành côngnghiệp ASEAN mà cả các công ty Nhật Bản đang hoạt động và đầu tư lớn vào cácnước ASEAN
Trang 5ROO của AJCEP có quy tắc chung cho Hàm lượng Giá trị Khu vực RVC40% và CTH, do đó cung cấp sự linh hoạt cho các nhà xuất khẩu / nhà sản xuấttrong việc lựa chọn quy tắc để áp dụng và tăng cơ hội tuân thủ ROO, tận dụng các
ưu đãi thuế quan
Về thương mại dịch vụ, hiện các bên vẫn đang đàm phán nhằm toàn diện hóathương mại dịch vụ, cải thiện các cam kết và nghĩa vụ đối với thương mại dịch vụcũng như đầu tư, thúc đẩy, bảo vệ, tạo thuận lợi và tự do hóa đầu tư trong khu vực.Theo Hiệp định, cả ASEAN và Nhật Bản đã khởi xướng một số dự án hợp tác kinh
tế bao gồm nâng cao năng lực, hỗ trợ kỹ thuật, trong các lĩnh vực cùng có lợi để tự
do hóa và tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư
Trang 6CHƯƠNG 2: NỘI DUNG QUY TẮC XUẤT XỨ CỦA HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC
KINH TẾ TOÀN DIỆN AJCEP 2.1 Tổng quan về quy tắc xuất xứ
2.1.1 Khái niệm
ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùngđối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham
gia vào quá trình sản xuất hàng hoá đó (Điều 3 – Khoản 14 – Luật Thương
mại Việt Nam 2005)
giới (WTO), quy tắc xuất xứ là tập hợp các tiêu chí cần thiết nhằm đảm bảoxác định được nguồn gốc quốc tịch của hàng hóa
2.1.2 Ý nghĩa
o Đối với Cơ quan Hải quan nước xuất khẩu: Khi thủ tục thông quanhàng hóa quy định phải dựa trên sự xuất trình đầy đủ các chứng từhàng hóa trong đó có bao gồm C/O (Giấy chứng nhận xuất xứ hànghóa) thì xuất xứ hàng hóa là một căn cứ để Cơ quan Hải quan chophép người xuất khẩu thông quan hàng hóa Xuất xứ hàng hóa giúp
Cơ quan Hải quan thuận tiện trong việc kiểm tra và xác định xuất xứhàng hóa đang làm thủ tục hải quan xuất khẩu, đánh giá được khảnăng xuất khẩu thực tế hàng hóa có xuất xứ từ nước mình, xác định tỷ
lệ hàng quá cảnh
o Đối với Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu: Xuất xứ hàng hóa giúp
Cơ quan Hải quan nước nhập khẩu kiểm tra quản lý được hàng hoánhập khẩu phù hợp với chính sách ngoại thương và quan hệ kinh tếđối ngoại của Chính phủ nước mình và Chính phủ nước xuất xứ củahàng hóa Đồng thời, còn giúp Cơ quan Hải quan ngăn chặn kịp thờihàng hóa từ những nước đang là đối tượng bị hạn chế và cấm nhậpkhẩu, xác định mức thuế áp dụng cho lô hàng nhập khẩu phù hợp với
Trang 7chế độ thuế quan hiện hành Trên cơ sở thông tin về xuất xứ, cho phép
Cơ quan Hải quan tiến hành công tác thống kê ngoại thương, xác địnhnguồn nhập chủ yếu của từng mặt hàng để từ đó có chế độ tính thuếnhằm bảo vệ sản xuất trong nước
o Quy tắc xuất xứ được hiểu như “quốc tịch” của hàng hóa, giúp cơquan hải quan xác định được hàng hóa đến từ đâu, có “xứng đáng”được hưởng ưu đãi thuế quan hay không
o Quy tắc xuất xứ giúp cân bằng giữa “thuận lợi hóa thương mại” và
“phòng tránh gian lận thương mại” Một bộ quy tắc xuất xứ đơn giản,linh hoạt, dễ áp dụng sẽ giúp “thuận lợi hóa thương mại” Bên cạnh
đó, các tiêu chí “đơn giản, linh hoạt” hoặc “có phần lỏng lẻo” sẽ dễdẫn tới tình trạng “gian lận thương mại” Một bộ quy tắc xuất xứ chặtchẽ, phức tạp, không dễ áp dụng có thể sẽ giúp việc kiểm soát và quản
lý tốt hơn nhưng lại phần nào làm giảm yếu tố “thuận lợi hóa thươngmại”
o Quy tắc xuất xứ giúp đo mức độ thụ hưởng ưu đãi thuế quan FTA Số
đo này được tính bằng kim ngạch xuất khẩu sử dụng Giấy chứng nhậnxuất xứ (C/O) ưu đãi đến một thị trường thành viên FTA chia cho tổngkim ngạch xuất khẩu chung đến thị trường FTA đó
o Hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi sẽ được cấp C/O ưu đãihoặc Tự chứng nhận xuất xứ ưu đãi – là căn cứ pháp lý quan trọngnhất để được hưởng ưu đãi thuế quan FTA, từ đó sẽ kích thích việctìm kiếm và sản xuất nguyên phụ liệu, hàng hóa trong phạm vi FTA,kích thích đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) tại các quốc gia, vùnglãnh thổ là thành viên FTA để thụ hưởng lợi ích mà FTA mang lại
2.1.3 Phân loại quy tắc xuất xứ
chính áp dụng chung của thành viên WTO khi xác định hàng hóa có đủ tiêuchuẩn chất lượng để hưởng các đối xử ưu đãi theo các cơ chế thương mại tựquy định hoặc thỏa thuận
Trang 8• Quy tắc xuất xứ không ưu đãi: Quy tắc xuất xứ không ưu đãi được địnhnghĩa như là các quy định, điều luật và quyết định hành chính để áp dụng chobất kỳ thành viên nào khi quyết định quốc gia xuất xứ cho hàng hóa đó
2.2 Các tiêu chí để xác định quy tắc xuất xứ ưu đãi trong Hiệp định đối tác kinh tế toàn diện AJCEP
2.2.1 Hàng hóa có xuất xứ thuần túy
Xuất xứ thuần túy (WO) trong phạm vi lãnh thổ của MỘT Bên thành viênđược hiểu là hàng hóa đó phải thu được toàn bộ trong phạm vi lãnh thổ của Bênthành viên đó; toàn bộ 100% nguyên liệu được sử dụng để tạo ra thành phẩm phải
có xuất xứ thuần túy trong phạm vi lãnh thổ của Bên thành viên đó
Theo điều 25 của Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện ASEAN - Nhật Bản(AJCEP), hàng hoá được coi là có xuất xứ thuần túy hoặc sản xuất toàn bộ tại Nướcthành viên xuất khẩu trong các trường hợp sau:
• Cây trồng và các sản phẩm từ cây trồng bao gồm quả, hoa, rau, cây, tảo
biển, nấm và các loại cây trồng khác được trồng và thu hoạch, hái hoặc thulượm tại đó
• Động vật sống bao gồm động vật có vú, chim, cá, loài giáp xác, động vật
thân mềm, loài bò sát, vi khuẩn và virút, được sinh ra và nuôi dưỡng tạiNước thành viên xuất khẩu
• Các hàng hoá chế biến từ động vật sống tại Nước thành viên xuất khẩu.
• Hàng hoá thu được từ săn bắn, đánh bẫy, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ hải sản, thu lượm hoặc săn bắt tại Nước thành viên xuất khẩu.
• Khoáng sản và các chất sản sinh tự nhiên khác chưa được liệt kê từ khoản
1 đến khoản 4 Điều này, được chiết xuất hoặc lấy ra từ đất, biển, đáy biểnhoặc dưới đáy biển của Nước thành viên đó
• Sản phẩm đánh bắt bằng tàu được đăng ký tại một Nước thành viên và
có treo cờ của Nước thành viên đó, và các sản phẩm khác 1 được khai thác
từ vùng biển lãnh hải, đáy biển hoặc dưới đáy biển ngoài vùng lãnh hải củaNước thành viên đó, với điều kiện là Nước thành viên đó có quyền khai thácbiển, đáy biển và dưới đáy biển đó theo luật quốc tế
Trang 9• Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác đánh bắt từ vùng biển
cả bằng tàu được đăng ký tại một Nước thành viên và treo cờ của Nước
thành viên đó
• Sản phẩm được chế biến và/hoặc được sản xuất ngay trên tàu chế biến
được đăng ký tại một Nước thành viên và treo cờ của Nước thành viên đó,
trừ các sản phẩm được quy định tại mục Sản phẩm đánh bắt và các sản phẩm từ biển khác.
• Các sản phẩm khác có nghĩa là các khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiênkhác được khai thác từ vùng biển lãnh hải, đáy biển hoặc dưới đáy biển bênngoài lãnh hải
• Đối với các sản phẩm đánh bắt ngoài vùng lãnh hải (ví dụ vùng đặc quyềnkinh tế), sản phẩm được coi là có xuất xứ của Nước thành viên nếu tàu khaithác sản phẩm đó được đăng ký tại Nước thành viên và treo cờ của Nướcthành viên đó, và với điều kiện Nước thành viên đó có quyền khai thác vùng
đó theo luật quốc tế
Theo luật quốc tế, việc đăng ký tàu chỉ có thể được tiến hành tại một Nướcthành viên
Các vật phẩm thu nhặt tại nước đó nhưng không còn thực hiện được nhữngchức năng ban đầu hoặc cũng không thể sửa chữa hay khôi phục được và chỉ
có thể vứt bỏ hoặc dùng làm các nguyên vật liệu, hoặc sử dụng vào mục đíchtái chế
• Phế thải và phế liệu có nguồn gốc từ: a) Quá trình sản xuất tại Nước thành
viên xuất khẩu; hoặc b) Hàng hoá đã qua sử dụng được thu nhặt tại Nướcthành viên xuất khẩu, với điều kiện hàng hoá đó chỉ phù hợp làm nguyên vậtliệu thô
• Hàng hoá thu được hoặc được sản xuất tại một Nước thành viên xuất khẩu
từ các sản phẩm được quy định từ khoản 1 đến khoản 10 Điều này.
Nếu có bất kỳ thành phần nguyên liệu nào không có xuất xứ hoặc không xácđịnh được xuất xứ được thêm vào trong quá trình sản xuất sẽ loại trừ hàng hóa đó rakhỏi định nghĩa “xuất xứ thuần túy”
Một ví dụ về con cá được ướp muối Cá được đánh bắt trên sông của Làonhưng muối không xác định được xuất xứ (Lào là quốc gia không có biển), hoặcmuối có xuất xứ thuần túy được nhập khẩu từ Việt Nam Cá ướp muối sẽ không
Trang 10được coi là có xuất xứ thuần túy Lào cho dù 99% trị giá của cá thành phẩm có xuất
xứ thuần túy Lào và chỉ 1% muối không xác định được xuất xứ hoặc được nhậpkhẩu từ một thành viên ASEAN
2.2.2 Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy
Hàng hóa loại này là những hàng hóa được sản xuất toàn bộ hoặc từ mộtphần nguyên vật liệu, bộ phận, phụ tùng nhập khẩu hoặc không rõ xuất xứ (gọichung là nguyên liệu không có xuất xứ)
Trong số đó, chỉ những sản phẩm được sản xuất, gia công hay chế biến đạt ởmột “mức độ đầy đủ” nhất định (hay “mức độ đáng kể”) tại quốc gia xuất khẩu mớiđược coi là có xuất xứ của nước đó Các tiêu chí xuất xứ hiện nay trên thế giới đốivới loại hàng này đều nhằm xác định “mức độ đầy đủ” hoặc “mức độ đáng kể” đó
2.2.3 Các tiêu chí chuyển đổi căn bản
Chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC): Là sự thay đổi về mã số HS (Hamonizesystem) của hàng hóa được tạo ra ở một quốc gia trong quá trình sản xuất từnguyên liệu không có xuất xứ của quốc gia này Có 3 loại chuyển đổi là:chuyển đổi chương (CC), chuyển đổi nhóm (CTH) và chuyển đổi phân nhóm(CTSH)
Việc chuyển đổi mã số hàng hóa chỉ thực hiện với nguyên liệu không có xuất
xứ trong công đoạn hợp nhất cuối cùng và theo Điều 26.1.b AJCEP thì phảithỏa mãn: “Tất cả nguyên vật liệu không có xuất xứ được sử dụng để sảnxuất ra hàng hoá đó trải qua quá trình thay đổi phân loại hàng hoá CTC ở cấp
4 số (chuyển đổi nhóm CTH) thuộc Hệ thống hài hoà”
Trang 11o Hệ thống hài hòa mô tả và mã số hàng hóa thường được gọi tắt là hệthống hài hòa hoặc hệ thống HS, là hệ thống tên gọi và mã số hànghóa được tiêu chuẩn hóa quốc tế, dùng để phân loại hàng hóa.
RVC (Regional Value Content) là Hàm lượng Giá trị Khu vực FTA, là mộtngưỡng (tính theo tỷ lệ phần trăm) mà hàng hóa phải đạt được đủ để coi là cóxuất xứ Ngưỡng này có thể khác nhau tùy vào từng FTA, tùy vào quy tắc cụthể mặt hàng (PSR) áp dụng cho từng mã HS khác nhau Ngưỡng phổ biếntrong hầu hết các FTA trên toàn cầu là 40%
Trong Hiệp định AJCEP, tiêu chí RVC không dưới 40%
RVC được tính theo 2 cách: trực tiếp hoặc gián tiếp:
o “RVC” là RVC của một sản phẩm, được thể hiện bằng tỷ lệ phần trăm
o “VNM” là giá trị nguyên vật liệu không có xuất xứ được sử dụngtrong quá trình sản xuất hàng hóa
2.2.4 Một số quy tắc khác
vật liệu không đáp ứng tiêu chí CTC” nhưng thành phẩm vẫn được coi là cóxuất xứ nếu tỷ lệ đó không vượt quá ngưỡng X% hoặc trị giá hoặc trọnglượng của thành phẩm Tỷ lệ được tính bằng trọng lượng hoặc trị giá củanguyên vật liệu không đáp ứng tiêu chí CTC chia cho tổng trọng lượng hoặctrị giá FOB của thành phẩm có sử dụng nguyên vật liệu đó X% thay đổi tùy
Trang 12theo quy định tại các FTA Về cơ bản, các hiệp định đều có những áp dụngriêng về cách thức tính De minimis (trọng lượng hoặc trị giá) cho các sảnphẩm dệt may hoặc sản phẩm không phải là dệt may với tỉ lệ là 10% TrongHiệp định AJCEP, một số mặt hàng nhạy cảm đối với Nhật Bản được ápdụng ngưỡng trị giá thấp hơn (7%) Cũng trong Hiệp định này, một số sảnphẩm không được áp dụng de minimis.
hoặc hàng hóa) đáp ứng tiêu chí RVC tối thiểu (40%) thì mới được xem xétcộng gộp và khi đó là cộng 100% trị giá FOB của nguyên liệu/ bán thànhphẩm vào quá trình sản xuất tiếp theo để tạo ra thành phẩm
Không là hàng hóa chỉ thực hiện những công đoạn gia công đơn giản, tức là
các công đoạn:
(a) Những công đoạn bảo quản để giữ cho hàng hóa trong tình trạngtốt trong quá trình vận chuyển và lưu kho (như sấy khô, làm đông lạnh, ngâmmuối) và các công đoạn tương tự;
(b) Thay đổi bao bì, tháo dỡ và lắp ghép các kiện hàng;
Hàng hoá có xuất xứ sẽ được hưởng ưu đãi thuế quan nếu đáp ứng nhữngquy định và được vận chuyển trực tiếp từ Bên xuất khẩu tới Bên nhập khẩu
Các trường hợp sau được coi là vận chuyển trực tiếp từ Bên xuất khẩu tớiBên nhập khẩu: Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ Bên xuất khẩu tới Bên nhậpkhẩu; hoặc hàng hóa được vận chuyển từ Bên xuất khẩu đến Bên nhập khẩu quamột hay nhiều Bên, hoặc qua một nước không phải là Bên của Hiêp định, với điềukiện hàng hoá đó chỉ quá cảnh hoặc lưu kho tạm thời, dỡ hàng, bốc lại hàng, vànhững công việc khác nhằm bảo quản hàng hoá đó trong tình trạng tốt
Trang 13o Quy tắc vật liệu đóng gói và bao gói.
o Quy tắc Phụ kiện, phụ tùng, dụng cụ và tài liệu hướng dẫn hoặc tàiliệu mang thông tin khác
o Quy tắc Các yếu tố gián tiếp
o Quy tắc Nguyên vật liệu giống nhau có thể thay thế nhau
2.3 Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu ưu đãi
2.3.1 Định nghĩa chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa xuất nhập khẩu
ưu đãi
Chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa ưu đãi (C/O ưu đãi) là chứng từchứng nhận xuất xứ hàng hóa được cấp để áp dụng cho hàng hóa có cam kết hoặcthỏa thuận ưu đãi về thuế quan và phi thuế quan
2.3.2 Chứng từ chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu AJ
Tương tự C/O mẫu D, E và AK, C/O mẫu AJ bao gồm 1 bản chính và 2 bảnsao C/O phải được làm bằng tiếng Anh, do Tổ chức cấp C/O cấp cho hàng hoá xuấtkhẩu thoả mãn các quy định của Quy chế này để hưởng ưu đãi thuế quan theo Hiệp
định AJCEP Tổ chức cấp C/O Mẫu AJ của Việt Nam do các Phòng quản lý xuất
nhập khẩu khu vực thuộc Bộ Công Thương cấp
Để được cấp C/O ưu đãi mẫu AJ, cần tiến hành hai bước chính:
đặt trụ sở;
công ty đã đăng ký hồ sơ thương nhân
2.3.3 Chứng từ chứng nhận xuất xứ (C/O) mẫu AJ giáp lưng (B2B C/O)
“C/O giáp lưng” là C/O được cấp bởi nước thành viên xuất khẩu trung giandựa trên C/O của nước thành viên xuất khẩu đầu tiên Quy định về C/O giáp lưngtrong AJCEP có nhiều điểm tương đồng với quy định về C/O giáp lưng trongAANZFTA và ATIGA, đó là không bắt buộc nhà xuất khẩu trên C/O giáp lưng vànhà nhập khẩu trên C/O gốc phải là một Đây là quy định tạo thuận lợi cho thươngmại qua trung gian Để được cấp C/O giáp lưng, nhà xuất khẩu Bên thành viêntrung gian phải xuất trình C/O gốc ban đầu nhằm đảm bảo các thông tin khai trên
Trang 14C/O giáp lưng phù hợp với C/O gốc Việt Nam và các thành viên AJCEP hiện cấp100% C/O giáp lưng bản giấy, tương tự C/O các mẫu ưu đãi khác.
2.3.4 Thủ tục cấp và kiểm tra chứng từ chứng nhận xuất xứ hàng hóa
o “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền” là cơ quan, theo pháp luật củamỗi nước thành viên, chịu trách nhiệm cấp Giấy chứng nhận xuất xứhàng hóa (sau đây gọi tắt là: “C/O”) hoặc ủy quyền cho các cơ quanhoặc tổ chức khác cấp C/O;
o “Cơ quan có thẩm quyền liên quan” là cơ quan có thẩm quyền củanước thành viên nhập khẩu mà không phải là cơ quan Hải quan củanước đó chịu trách nhiệm kiểm tra và tiến hành kiểm tra tại cơ sở sảnxuất tại nước thành viên nhập khẩu
Trang 15CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN QUY TẮC XUẤT XỨ THEO HIỆP ĐỊNH ĐỐI TÁC KINH TẾ TOÀN DIỆN AJCEP CỦA VIỆT NAM
3.1 Nhập khẩu
3.1.1 Tình hình thực hiện
Giai đoạn 2018 - 2022, FTA giữa ASEAN - Nhật Bản (AJCEP) có số dòngthuế cắt giảm lớn nhất, lên tới 5.576 dòng thuế, trong đó có đến 3.190 dòng thuếxóa bỏ thuế quan Hiệp định giữa Việt Nam - Nhật Bản (VJEPA) cam kết 4.921dòng cắt giảm, trong đó có 414 dòng thuế bị xóa bỏ
Việt Nam lấy những quy định trong Hiệp định để định hướng việc thay đổi các quyđịnh pháp luật phù hợp Lộ trình giảm thuế của Việt Nam trong Hiệp định AJCEPbắt đầu từ năm 2008 và kết thúc vào năm 2025 Các mặt hàng được cắt giảm xuống0% vào các thời điểm 2018, 2023 và 2024 Để đảm bảo tuân thủ cam kết quốc tế,
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 65/2017/TT-BTC có hiệu lực từ 1/1/2018thay thế cho danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam theo AHTN 2012hiện hành, làm cơ sở xây dựng biểu thuế thực hiện các FTA giai đoạn 2018-2022.Theo cam kết trong AJCEP, Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế quan, cụ thể trong năm
2018 của Việt Nam: Số dòng giảm thuế so với năm 2017 là 6.201 dòng, (chiếm 62%biểu thuế) tập trung vào các nhóm mặt hàng như chất dẻo nguyên liệu, hóa chất,máy móc thiết bị, dụng cụ, phụ tùng, máy vi tính, sản phẩm điện tử, linh kiện, sợicác loại, nguyên phụ liệu dệt may, da giầy, sản phẩm tân dược Trong đó, từ ngày01/04/2018 có 3.426 dòng hàng về 0%, tập trung nhóm mặt hàng: máy móc, thiết bị,dụng cụ và phụ tùng (Chương 82, 84, 85), sắt, thép, đồng, kim loại và sản phẩmbằng sắt, thép, kim cơ bản (Chương 72, 73, 74, 76, 79, 80, 83), vải các loại, maymặc, loại khác (Chương 50-55, 58-60) Nhóm mặt hàng cắt giảm nhiều nhất (5%) lànguyên liệu dệt may, da giầy (Chương 51-56, 96), máy móc, thiết bị, dụng cụ vàphụ tùng, sắt, thép, đồng, kim loại và sản phẩm bằng sắt, thép, kim cơ bản Tuynhiên, trên thực tế, một số mặt hàng trong nhóm này có kim ngạch NK tăng mạnh.Trong đó, tăng mạnh nhất là mặt hàng máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện(tăng 241 triệu USD), sắt, thép kim loại, sản phẩm bằng sắt, thép hoặc kim loại cơbản (tăng 221 triệu USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng (tăng 190 triệuUSD)
Trang 16về quan hệ giữa hai nước và khẳng định mục tiêu kim ngạch thương mại Việt Nam– Nhật Bản sẽ cán đích 60 tỷ USD vào năm 2020
Việt Nam lấy những quy định trong Hiệp định để định hướng việc thay đổicác quy định pháp luật phù hợp Lộ trình giảm thuế của Việt Nam trong Hiệp địnhAJCEP bắt đầu từ năm 2008 và kết thúc vào năm 2025 Các mặt hàng được cắtgiảm xuống 0% vào các thời điểm 2018, 2023 và 2024 Để đảm bảo tuân thủ camkết quốc tế, Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư số 65/2017/TT-BTC có hiệu lực từ1/1/2018 thay thế cho danh mục hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu Việt Nam theoAHTN 2012 hiện hành, làm cơ sở xây dựng biểu thuế thực hiện các FTA giai đoạn2018-2022 Việc cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu hiện nay vẫn đang được tiếnhành đúng theo như cam kết đã đề ra, cụ thể trong năm 2018 của Việt Nam: Số
Trang 17dòng giảm thuế so với năm 2017 là 6.201 dòng, (chiếm 62% biểu thuế) Trong đó,
từ ngày 01/04/2018 có 3.426 dòng hàng về 0%, tập trung nhóm mặt hàng: máy móc,thiết bị, dụng cụ và phụ tùng (Chương 82, 84, 85), sắt, thép, đồng, kim loại và sảnphẩm bằng sắt, thép, kim cơ bản (Chương 72, 73, 74, 76, 79, 80, 83), vải các loại,may mặc, loại khác (Chương 50-55, 58-60) Nhóm mặt hàng cắt giảm nhiều nhất(5%) là nguyên liệu dệt may, da giầy (Chương 51-56, 96), máy móc, thiết bị, dụng
cụ và phụ tùng, sắt, thép, đồng, kim loại và sản phẩm bằng sắt, thép, kim cơ bản
3.1.3 Khó khăn
Áp lực cạnh tranh từ hàng hóa nhập khẩu yêu cầu doanh nghiệp khôngngừng phải nâng cao năng lực cạnh tranh
Nam cũng phải thực hiện nghĩa vụ giảm thuế theo lộ trình Điều này sẽ khiếnhàng hóa trong nước phải chịu nhiều áp lực cạnh tranh hơn bởi hàng hóa NK
từ các nước thành viên trong AJCEP được hưởng mức thuế ưu đãi thấp.Thực tế vài năm gần đây, hàng Nhật đã ồ ạt “phủ sóng” từ trung tâm thươngmại, siêu thị, chợ truyền thống tại nhiều đô thị lớn ở nước ta, đa dạng vềngành hàng: máy móc thiết bị điện, thiết bị vận tải, kim loại, dệt may, … vớichất lượng tốt, giá bán khá hấp dẫn Trong khi đó, hàng hóa sản xuất trongnước giá cả cao hơn hàng ngoại nhập mà chất lượng lại không tương xứng
Do đó để có thể cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài, các doanh nghiệp phảitập trung đầu tư cho công nghệ, hiện đại hóa quá trình sản xuất nhằm giảmgiá thành đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm Điều này yêu cầu mộtlượng đầu tư lớn về vốn và nguồn nhân lực bởi hiện tại, năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp vẫn ở mức thấp, khu vực tư nhân có quy mô nhỏ nên cònnhiều hạn chế về năng lực tài chính, công nghệ
yêu cầu bộ máy Hải quan không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và cơ
sở vật chất, hạ tầng kỹ thuật
Sau mỗi đợt ưu đãi thuế suất nhập khẩu, hàng hóa nhập ngoại vào thị trườngtrong nước sẽ tăng, đa dạng thêm mẫu mã, chất lượng; nhưng đồng thời, tình
Trang 18trạng hàng giả, hàng kém chất lượng cũng sẽ diễn biến phức tạp hơn Trongkhi đó, nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, mua sắm trang thiết bị phục vụ côngtác hải quan còn gặp nhiều khó khăn do đây không phải là lĩnh vực đượckhuyến khích xã hội hóa Hiện nay các cơ quan Hải quan đang không ngừng
cố gắng hiện đại hóa hệ thống công nghệ thông tin hải quan trên nền tảng tậptrung hoá xử lý dữ liệu, tích hợp đầy đủ các chức năng, xử lý hồ sơ hải quanđiện tử, manifest điện tử, thanh toán điện tử, giấy phép điện tử tuy nhiên vẫncòn tồn tại nhiều bất cập
tính chuyên nghiệp chưa cao để có thể phối hợp chặt chẽ với các cơ quanchức năng quản lý xuất nhập khẩu, đảm bảo an ninh biên giới, cửa khẩu,kiểm soát biên giới hiệu quả, đảm bảo môi trường bình đẳng, công bằng chohoạt động của cộng đồng doanh nghiệp làm ăn chân chính, bảo vệ người dântrước các mối đe dọa về thực phẩm, dược phẩm, hàng tiêu dùng không antoàn, hàng giả hàng nhái, hàng vi phạm SHTT và bảo vệ môi trường
xứ, thành lập các nhóm công tác khác nhau, làm suy giảm nguồn lực và làmtăng gánh nặng chi phí giao dịch Một vấn đề nảy sinh từ những khu vựcthương mại tự do là cần đảm bảo hàng hóa XK từ khu vực này được sản xuấtbởi một hoặc nhiều nước thành viên chứ không phải được sản xuất và NK từmột nước thứ 3 rồi kê khống rằng được sản xuất trong khu vực Để đề phòngtrường hợp này, quy tắc về xuất xứ đã được xây dựng, trong đó yêu cầu cụthể hàm lượng giá trị được sản xuất cung cấp bởi một thành viên Chínhnhững quy tắc về xuất xứ mang tính hạn chế, đôi khi không nhất quán này đãgây tác động tới việc thực thi ưu đãi cho các thành viên trong khối
3.2 Xuất khẩu
3.2.1 Tình hình thực hiện
Khi Việt Nam tham gia các Hiệp định thương mại tự do (FTA) thì các ưu đãi
về thuế khi áp dụng là rất lớn, trong khi doanh nghiệp Việt chủ động hội nhập vẫncòn yếu
Trang 19Bước sang năm 2018 với những cơ hội và thử thách mới của quá trình hộinhập đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam cần chủ động và linh hoạt hơn để tham giachuỗi cung ứng toàn cầu Ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhậpkhẩu (Bộ Công Thương) chia sẻ, thời gian qua tỷ lệ tận dụng ưu đãi từ các FTA màViệt Nam đã tham gia chỉ đạt khoảng 35% Điều này đồng nghĩa với việc 65% sốhàng hóa còn lại phải chịu thuế cao hơn so với mức thuế ưu đãi từ các FTA là 0 -5% Đây sẽ là một thách thức rất lớn đối với cộng đồng doanh nghiệp Vì thế, nếukhông có các chương trình tập huấn kịp thời và thường xuyên bản thân doanhnghiệp không chủ động cập nhật thông tin và trang bị kiến thức thì việc cải thiện tỷ
lệ tận dụng ưu đãi FTA, nâng cao giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu của ViệtNam sẽ không khả thi như kỳ vọng Thống kê cho thấy, số doanh nghiệp sử dụngquy tắc xuất xứ để hưởng ưu đãi thuế quan nhiều nhất là FTA Việt Nam - Hàn Quốc(VKFTA), FTA ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA), Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diệnASEAN - Nhật Bản (AJCEP)… Cùng đó, những ngành có tỷ lệ tận dụng cao gồmdệt may, da giày…cũng là những mặt hàng Việt Nam có thế mạnh xuất khẩu đếnnhiều thị trường với kim ngạch rất cao Việc xây dựng kế hoạch đáp ứng các yêucầu xuất xứ để tận dụng các ưu đãi FTA sẽ tăng năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh xuấtkhẩu Hỗ trợ doanh nghiệp Theo bà Bùi Kim Thùy, Phòng Xuất xứ hàng hóa, CụcXuất nhập khẩu (Bộ Công Thương), quy tắc xuất xứ được ví như “quốc tịch” củahàng hóa khi ra nước ngoài Vậy nên, một trong những điều kiện để doanh nghiệptận dụng được ưu đãi thuế quan là hàng hóa bắt buộc phải đáp ứng quy tắc xuất xứđược thiết kế riêng cho từng FTA Thời gian qua, Bộ Công Thương đã liên tiếp kýnhiều văn bản cắt giảm thủ tục hành chính nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệphoạt động sản xuất và xuất khẩu Theo đó, doanh nghiệp có thể tự khai báo hồ sơcấp chứng nhận xuất xứ online để tiết kiệm thời gian đi lại và chờ đợi Bên cạnh đó,
Bộ Công Thương cũng ban hành các thông tư hướng dẫn, nhưng hiện nay doanhnghiệp chưa tham gia nhiều Sở dĩ vậy bởi doanh nghiệp chưa hiểu hết những lợiích, hoặc có thể có các vướng mắc quy định từ ASEAN và Bộ Công Thương đangtập trung tháo gỡ Đặc biệt, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BCT sửa đổi, bổ sung Thông tư số 28/2015/TT-BCT ngày 20/8/2015 quy định việcthực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại
Trang 20hàng hóa ASEAN Với thông tư này, việc tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trongASEAN thời gian tới sẽ rất thuận lợi Theo ông Trần Thanh Hải, nếu ngay từ bâygiờ doanh nghiệp hiểu rõ và áp dụng quy tắc xuất xứ thì mới có thể tận dụng được
cơ hội từ thực hiện các FTA, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa, gia tăngkim ngạch xuất khẩu và phát triển bền vững
3.2.2 Thuận lợi
AJCEP là một xúc tác quan trọng, thúc đẩy quan hệ thương mại, đầu tư giữa Nhật Bản và Việt Nam Thông qua các hoạt động cụ thể như:
Hàng Việt Nam sẽ tạo được một vị thế mới trong XK ra thế giới 61 mặt hàng chiếm 70% giá trị xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sẽ được hưởng mức thuế nhập khẩu 0% ngay khi Hiệp định AJCEP có hiệu lực và 144 mặt hàng chiếm 83% giá trị xuất khẩu sẽ không còn chịu thuế nhập khẩu trong vòng 10năm
số các mặt hàng được giảm thuế nhiều nhất cung là các mặt hàng XK chủ lựcsang thị trường Nhật Bản Ngay khi Hiệp định có hiệu lực, 95% số dòng thuếchiếm đến 94.5% giá trị XK sản phẩm công nghiệp XK từ Việt Nam sang Nhật Bản sẽ có mức thuế 0% Trong thời gian 10 năm, 98% số dòng thuế chiếm 98% giá trị thương mại các sản phẩm công nghiệp của Việt Nam sẽ không bị áp thuế NK
may trên thị trường Nhật Bản Khi Nhật Bản áp dụng thuế NK 0% đối vớisản phẩm dệt may của Việt Nam XK sang Nhật Bản, ngành Dệt may sẽ đạtlợi ích rất lớn, vì chỉ tính riêng XK sản phẩm này đã đạt 700 triệu USD
Trang 213.2.3 Khó khăn
Ngoài những lợi ích mà Hiệp định đã mang lại ở trên, thì nó cũng làm nảy sinh một số rủi ro Cụ thể:
quan, quy tắc xuất xứ, thành lập các nhóm công tác khác nhau, làm suy giảm nguồn lực và làm tăng gánh nặng chi phí giao dịch Một vấn đề nảy sinh từ những khu vực thương mại tự do là cần đảm bảo hàng hóa XK từ khu vực này được sản xuất bởi một hoặc nhiều nước thành viên chứ không phải được sản xuất và NK từ một nước thứ 3 rồi kê khống rằng được sản xuất trong khuvực Để đề phòng trường hợp này, quy tắc về xuất xứ đã được xây dựng, trong đó yêu cầu cụ thể hàm lượng giá trị được sản xuất cung cấp bởi một thành viên Yêu cầu và thủ tục hành chính liên quan đến quy tắc về xuất xứ khác nhau tùy thuộc vào từng hiệp định thỏa thuận Chính những quy tắc về xuất xứ mang tính hạn chế, đôi khi không nhất quán này đã gây tác động tới việc thực thi ưu đãi cho các thành viên trong khối
là vấn đề quan trọng nhất trong XK hàng nông sản, thủy sản, nhất là vào thị trường Nhật Bản Kể từ ngày 29/5/2006, Nhật Bản đã thực hiện Luật Vệ sinh
an toàn thực phẩm (sửa đổi) đối với tất cả các lô hàng thực phẩm NK vào Nhật Bản, thắt chặt quy định và bổ sung một số loại dư lượng hóa chất khôngđược phép có trong thực phẩm và tiếp tục nâng mức hạn chế dư lượng hóa chất cho phép Tôm XK của Việt Nam đã bị kiểm tra chất lượng an toàn thựcphẩm 100% Đối với rau quả, Luật Bảo vệ thực vật của Nhật Bản liệt Việt Nam vào danh sách các nước có dịch bệnh ruồi đục quả, nên Việt Nam không được phép XK quả tươi có hạt như thanh long, nhãn, xoài, đu đủ, dưa chuột, cà chua…
nghiệp chế tạo của Việt Nam XK sang Nhật, gặp một số khó khăn về tiêuchuẩn kỹ thuật vì các tiêu chuẩn công nghiệp của Nhật (JIS) có nhiều điểm