Đi lên từ hai bàn tay trắng, các nhà lãnh đạo cùng nhân dân đã nỗ lực từng ngày tuy nhiên do xuất phát điểm của đất nước ta đã thấp hơn rất nhiều so với những quốc gia khác, kéo theo đó
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam nước ta là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng từ điều kiện tự nhiên khắc nghiệt đến lịch sử hình thành trải qua bao cuộc chiến tranh, sống trong cảnh nô lệ hàng ngàn năm trở về trước Đi lên từ hai bàn tay trắng, các nhà lãnh đạo cùng nhân dân đã nỗ lực từng ngày tuy nhiên do xuất phát điểm của đất nước ta đã thấp hơn rất nhiều so với những quốc gia khác, kéo theo đó là vấn nạn đói nghèo còn tập trung ở một số vùng, lãnh thổ của Việt Nam ta nên sự cố gắng cần phải dành nhiều thời gian và công sức hơn nữa mới có thể sánh kịp cùng với sự phát triển chung của toàn thế giới
Ngày nay, để vươn lên trở thành một quốc gia thực sự phát triển, Đảng và nhà nước ta đã và đang nỗ lực không ngừng, đặc biệt là tìm ra con đường để xóa
bỏ vấn nạn đói nghèo trên cả nước Nhận thức được tầm quan trọng của việc xóa đói giảm nghèo, Đảng và nhà nước đã và đang có những chính sách nhằm đưa vấn đề này lên hàng đầu để khắp các vùng miền dân tộc trong một quốc gia có đầy đủ điều kiện cuộc sống, kết hợp cùng với các chương trình kinh tế-chính
trị-xã hội khác nhằm thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong năm vừa qua, Chính phủ đã có rất nhiều chương trình, dự án để đầu tư cho vùng sâu vùng xa , vùng đặc biệt khó khăn, nhất là ở khu vực Tây nguyên, Là vùng khó khăn thứ hai của Việt Nam, nơi dân cư đa số là người đồng bào dân tộc thiểu số, trình độ dân trí thấp, tập quán canh tác lạc hậu, thiếu thông tin quan trọng về sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế thị trường Cho nên đời sống còn gặp nhiều khó khăn Những năm gần đây, mặc dù tình hình kinh tế - xã hội trên địa bàn Tây Nguyên đã có những bước phát triển đáng ghi nhận, nhưng đời sống của cộng đồng dân cư tại chỗ hiện vẫn còn nhiều khó khăn, sự phân cực giàu nghèo giữa các cộng đồng dân cư đang ngày càng rõ nét Bên cạnh đó, cùng với tình hình chính trị-xã hội bất ổn định, thế nên cái nghèo cái đói vẫn đang đeo bám lấy người dân nơi đây từng ngày Việc nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt cho mảnh đất này cũng phần nào sẽ tạo động lực và cơ hội cho những vùng nghèo lân cận phát triển
Nhận thức được tầm quan trọng của công cuộc xóa đói giảm nghèo, và cùng với mong muốn đất nước ngày càng phát triển, tiến bộ, văn minh để sánh vai với các cường quốc năm châu.Đó chính là mục đích khiến chúng em đã chọn
đề tài “Nghèo đói và giải pháp xóa đói giảm nghèo ở khu vực Tây Nguyên” Với mong muốn tìm hiểu được một phần nào đó về thực trạng đói nghèo ở Tây Nguyên mà đặc biệt là vùng đồng bào dân tộc thiểu số để thấy được kết quả đã đạt được và những yếu kém cần khắc phục trong quá trình thực hiên công tác xóa đói giảm nghèo của Đảng và nhà nước ta Từ đó đề ra những giải pháp để nâng cao hiểu quả của công tác xóa đói giảm nghèo
Trong quá trình thực hiện đề tài sẽ không tránh khỏi những sai phạm và những thiếu sót trong quá trình tìm hiểu và tìm kiếm thông tin, chúng em rất mong nhận được sự quan tâm và góp ý của thầy cô để đề tài của chúng em được hoàn thiện hơn Chúng em xin chân thành cảm ơn!
Trang 2CHƯƠNG I: KHÁI NIỆM NGHÈO ĐÓI VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NGHÈO ĐÓI ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG KINH TẾ, CHÍNH
TRỊ, XÃ HỘI
1 Khái niệm về nghèo đói
Nghèo là tình trạng bị thiếu thốn về nhiều phương diện như: thu nhập thấp do bị thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu những nhu cầu cơ bản hằng ngày của cuộc sống, thiếu tài sản để tiêu dùng lúc bất trắc xảy ra và dễ bị tổn thương trước những mất mát
Đói nghèo là một khái niệm đa chiều vừa dễ và vừa khó để định nghĩa Đói nghèo thường được mô tả như một tình trạng theo đó những cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng thiếu các nguồn lực để tạo ra những nguồn thu nhập có thể duy trì mức tiêu dùng đủ đáp ứng các nhu cầu cho một cuộc sống đầy đủ, sung túc Theo cách tiếp cận này, đói nghèo là tình trạng thiếu thốn vật chất
Hội nghị chống nghèo đói ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương
Nghèo được nhận diện qua hai khía cạnh nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối
1.1 Nghèo tuyệt đối
Nghèo đói tuyệt đối là tình trạng một người hoặc một hộ gia đình không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống (ăn, mặc, ở, được chăm sóc sức khoẻ, được giáo dục cơ bản và được hưởng các nhu cầu cần thiết khác) mà những nhu cầu đó được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước
Trên thế giới, các quốc gia thường dựa vào tiêu chuẩn về mức thu nhập của World Bank đưa ra để phân tích tình trạng nghèo của quốc gia
Trang 3Bảng tiêu chuẩn nghèo đói của World Bank.
Khu vực Mức thu nhập tối thiểu (usd/người/ngày)
Các nước đang phát triển khác 1USD hoặc 360 USD/năm
Châu Mỹ Latinh và Caribe 2
Các nước phát triển 14.4
Mỗi quốc gia cũng xác định mức thu nhập tối thiểu riêng của nước mình dựa vào điều kiện cụ thể về kinh tế trong từng giai đoạn phát triển nhất định, do
đó mức thu nhập tối thiểu được thay đổi và nâng dần lên
Theo quyết định về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 – 2020 , số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ , tiêu chuẩn nghèo của Việt Nam trong thời kỳ 2016 – 2020 được trình bày trong bảng sau:
Tiêu chuẩn nghèo đói của Việt Nam 2016 – 2020.
Khu vực Tiêu chuẩn nghèo đói
Mức thu nhập/ Người/tháng Thành thị 900.000 đồng
Nông thôn 700.000 đồng
Như vậy, tiêu chuẩn của Việt Nam còn thấp hơn nhiều so với World Bank (135,65<360 USD/người/năm)
Trang 41.2 Nghèo tương đối
Nghèo đói tương đối là tình trạng mà một người hoặc một hộ gia đình thuộc về nhóm người có thu nhập thấp nhất trong xã hội theo những địa điểm
cụ thể và thời gian nhất định
Như vậy, nghèo đói tương đối được xác định trong mối tương quan xã hội về tình trạng thu nhập với nhóm người Luôn luôn tồn tại nhóm người có thu nhập thấp nhật trong xã hội, do đó cũng theo khái niệm này thì người nghèo đói tương đối sẽ luôn hiện diện bất kể trình độ phát triển nào
2 Tác động của nghèo đói đến đời sống kinh tế – chính trị – xã hội
2.1 Về kinh tế
Nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển, là sự trở ngại lớn đối với phát triển Nói cách khác là, xoá đói, giảm nghèo là tiền đề của sự phát triển
Sự phát triển kinh tế – xã hội vững chắc gắn tăng trưởng kinh tế với công bằng
xã hội là nhân tố bảo đảm thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo
Có thể nói công tác xoá đói giảm nghèo và công cuộc phát triển kinh tế
xã hội có mối quan hệ khăng khít, hữu cơ và tác động lẫn nhau Ở đây ta đề cập đến những tác động, ảnh hưởng tiêu cực của nghèo đói đối với đời sống kinh tế– xã hội, để từ đó, có thể nhận thức được tầm quan trọng và thực hiện tốt chương trình xoá đói, giảm nghèo đem lại thành tưu cho phát triển kinh tế
xã hội
Nghèo đói làm lực lượng sản xuất chậm phát triển, kỹ thuật lạc hậu, phân công lao động xã hội có trình độ thấp kém, dẫn đến năng suất lao động
và tăng trưởng kinh tế luôn ở mức thấp.Thiếu thu nhập cho chi dùng vật chất tối thiểu, nhu cầu văn hoá tinh thần dẫn đến thiếu điều kiện tái sản xuất lao động xã hội, từ đó thiếu nguồn nhân lực có chất lượng, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao vì lao động khiếm khuyết về mọi mặt (trình độ chuyên môn, trình độ văn hoá, thể lực, kinh nghiệm…)
Nước nghèo luôn thua thiệt trong cạnh tranh kinh tế khi sản phẩm làm
ra chất lượng thấp, giá thành cao, hàng xuất khẩu hầu hết là sản phẩm thô, lợi nhuận thấp Nước nghèo tăng trưởng kinh tế với tốc độ rất chậm nên không có
vị thế trong đàm phán và ký kết với các nhà đầu tư nước ngoài.Từ đó, nước nghèo trở nên bị lệ thuộc và thua thiệt về kinh tế, tiếng nói và vai trò của nước nghèo trên diễn đàn quốc tế ít được chú ý
Trang 52.2 Về văn hoá
Từ nghèo đói về kinh tế dẫn đến nghèo đói về văn hoá Nguy cơ này rất tiềm tàng và là chướng ngại đối với sự phát triển toàn diện không chỉ từng người, từng gia đình mà cả cộng đồng, kìm hãm sự phát triển của toàn xã hội
Thứ nhất, do nghèo đói , thiếu thu nhập mà người nghèo chỉ quan tâm chủ yếu đến các nhu cầu thiết yếu như ăn, mặc, ở cho nên thiếu sự quan tâm, thiếu điều kiện để tiếp cận tới các dịch vụ văn hoá, giải trí, các chương trình biểu diễn văn nghệ Từ đó, đời sống tinh thần nghèo nàn, giảm sút Giáo dục ít được các gia đình chú trọng, con em họ buộc phải nghỉ học để đi làm tạo thu nhập cho gia đình
Thứ hai, cũng vì nghèo nên mục tiêu phấn đấu là đạt tới sự giàu có Nhưng sự giàu có chỉ đơn thuần về vật chất, kinh tế mà thiếu đi sự quan tâm về văn hoá, tinh thần, sẽ dẫn tới nguy cơ lao vào lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, tăng nguy cơ phát triển cái ác, cái xấu, làm nghèo nàn, biến dạng cái chân-thiện-mỹ Nếu tình trạng này xảy ra cho giới trẻ thì nó sẽ tạo ra một lớp người
lố lăng, lai-căng, nghèo nàn, cằn cỗi về văn hoá và nhân cách
Do đo, trong quá trình thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo phải chú trọng đến nguy cơ và tai hại của đói nghèo về văn hoá
2.3 Về chính trị – xã hội
Nghèo đói về kinh tế sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các mặt xã hội và chính trị, từ đó tác động xấu trở lại đến kinh tế Nghèo đói làm con người lâm vào ngõ cụt, từ đó phát sinh ra những trộm cắp cướp, cướp giật, ma tuý, mại dâm… đạo đức bị suy đồi, an ninh xã hội không được đảm bảo và đến một mức độ sẽ dẫn đến rối loạn xã hội Đói nghèo không được chú trọng giải quyết, tỷ lệ và cấp độ nghèo đói tăng cao, người nghèo sẽ bất mãn với chế độ, chính quyền, từ đó sinh
ra bạo loạn… dẫn đến khủng hoảng chính trị, trật tự an toàn xã hội không được đảm bảo
Có thể nói rằng, nghèo đói và lạc hậu là hai bạn đồng hành, là xiềng xích trói buộc các nước nghèo, là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay mà mỗi quốc gia, dân tộc và cộng đồng quốc tế phải hợp lực cùng giải quyết
Trang 6CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH NGHÈO ĐÓI Ở TÂY NGUYÊN
1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - chính trị - xã hội của Tây Nguyên
1.1.Đặc điểm tự nhiên
Tây Nguyên là vùng cao nguyên, phía bắc giáp tỉnh Quảng Nam, phía đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, phía nam giáp các tỉnh Đồng Nai, Bình Phước, phía tây giáp với các tỉnh Attapeu (Lào) và Ratanakiri và Mondulkiri (Campuchia) Trong khi Kon Tum có biên giới phía tây giáp với cả Lào và Campuchia, thì Gia Lai, Đắk Lắk và Đắk Nông chỉ có chung đường biên giới với Campuchia Còn Lâm Đồng không có đường biên giới quốc tế Nếu xét diện tích Tây Nguyên bằng tổng diện tích của 5 tỉnh ở đây, thì vùng Tây Nguyên rộng khoảng 54.7 nghìn km²
Thực chất, Tây Nguyên không phải là một cao nguyên duy nhất mà là một loạt cao nguyên liền kề Đó là các cao nguyên Kon Tum cao khoảng 500 m, Kon Plông, Kon Hà Nừng, Pleiku cao khoảng 800 m, M'Drăk cao khoảng 500 m, Buôn Ma Thuột cao khoảng 500 m, Mơ Nông cao khoảng 800–1000 m, Lâm Viên cao khoảng 1500 m và Di Linh cao khoảng 900–1000 m Tất cả các cao nguyên này đều được bao bọc về phía Đông bởi những dãy núi và khối núi cao chính là Trường Sơn Nam
Tây Nguyên lại có thể chia thành ba tiểu vùng địa hình đồng thời là ba tiểu vùng khí hậu, gồm Bắc Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Kon Tum và Gia Lai), Trung Tây Nguyên (tương ứng với các tỉnh Đắk Lắk và Đắk Nông), Nam Tây Nguyên (tương ứng với tỉnh Lâm Đồng) Trung Tây Nguyên có độ cao thấp hơn và nền nhiệt độ cao hơn hai tiểu vùng phía Bắc và Nam
Với đặc điểm thổ nhưỡng đất đỏ Bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 600 m
so với mặt biển, Tây Nguyên rất phù hợp với những cây công nghiệp như Cà phê, Ca cao, Hồ tiêu, Dâu tằm Cây điều và cây Cao su cũng đang được phát triển tại đây Cà phê là cây công nghiệp quan trọng số một ở Tây Nguyên Tây Nguyên cũng là vùng trồng cao su lớn thứ hai sau Đông Nam Bộ và đang tiến hành khai thác mỏ quặng Bô xít Tây Nguyên cũng là khu vực ở Việt Nam còn nhiều diện tích rừng với thảm sinh vật đa dạng, trữ lượng khoáng sản phong phú hầu như chưa khai thác và tiềm năng du lịch lớn, Tây nguyên có thể coi là mái nhà của Miền Trung, có chức năng phòng hộ rất lớn Tuy nhiên, nạn phá rừng, hủy diệt tài nguyên thiên nhiên và khai thác lâm sản bừa bãi chưa ngăn chặn được tại đây có thể dẫn đến nguy cơ làm nghèo kiệt rừng và thay đổi môi trường, sinh thái
Trang 7Số lượng sông hồ ở Tây Nguyên rất hạn chế và hầu hết các sông hồ đều trở nên cạn kiệt vào mùa khô Do vậy nguồn cung cấp nước là một vấn đề khó khăn cho vùng này
Nói tóm lại, điều kiện tự nhiên ở Tây Nguyên hứa hẹn nhiều tiềm năng cho phát triên kinh tế Tuy nhiên, Tây Nguyên cũng đang rất cần sự đầu tư và chính sách phát triền kinh tế xã hội
1.2.Tình hình kinh tế - xã hội của Tây Nguyên hiện nay
1.2.1.Những thành tựu đạt được
Kinh tế Tây Nguyên trong những năm qua duy trì tăng trưởng ở mức cao
và có sự chuyển dịch theo hướng tích cực
Trong năm 2017 tổng giá trị sản phẩm GRDP của các tỉnh Tây Nguyên đạt trên 165.472 tỷ đồng, tăng 8,09%; trong đó, lĩnh vực nông, lâm, thủy sản tăng 5%, công nghiệp xây dựng tăng gần 11%, dịch vụ tăng gần 10%, cơ cấu GRDP chuyển dịch theo hướng tích cực (giảm tỷ trọng khu vực nông, lâm, thủy sản, tăng khu vực công nghiệp, xây dựng, dịch vụ) Thu nhập bình quân đầu người năm 2017 của các tỉnh Tây Nguyên đạt trên 41,6 triệu đồng, tăng 5,02% so với năm 2016
Sản xuất nông nghiệp của các tỉnh Tây Nguyên phục hồi nhanh sau hạn hán, bão lũ, tập trung đầu tư hình thành nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến, tiêu thụ Đồng bào các dân tộc ở Tây Nguyên cũng đã linh hoạt chuyển đổi diện tích sản xuất, cơ cấu cây trồng, áp dụng cơ giới hóa trong sản xuất nông nghiệp, góp phần tăng năng suất lao động
Hiện nay, Tây Nguyên là vùng trọng điểm sản xuất cà phê, hồ tiêu của cả nước; trong đó, diện tích cà phê 582.149 ha (diện tích cho thu hoạch là 548.533 ha), sản lượng đạt trên 1,370 triệu tấn cà phê nhân, cây hồ tiêu có tổng diện tích trên 71.000 ha, sản lượng đạt trên 120.877 tấn tiêu hạt…
Sản xuất nông nghiệp của Đắk Lắk tiếp tục phát triển, giữ vai trò quan trọng trong ổn định kinh tế, góp phần chủ yếu trong việc duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương Cụ thể, giá trị tổng sản phẩm nông, lâm, thủy sản của Đắk Lắk đạt trên 19.468 tỷ đồng, tăng 4,25% so với năm 2016 Tổng diện tích gieo trồng đạt 648.126 ha, tăng 10% so với kế hoạch, tổng sản lượng lương thực đạt trên 1,2 triệu tấn, đạt 107%, tăng 71.865 tấn so với năm 2016, cây lâu năm đạt 317.478 ha, tăng 13% so với năm ngoái Đắk Lắk là địa phương có diện tích, sản lượng cà phê, hồ tiêu nhiều nhất cả nước với diện tích cà phê là 202.476 ha,
Trang 8sản lượng đạt trên 450.000 tấn cà phê nhân; hồ tiêu 42.563 ha, sản lượng đạt 62.478 tấn tiêu hạt…
Ngành chăn nuôi của các tỉnh Tây Nguyên cũng đã có những bước chuyển
rõ rệt, từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung theo mô hình trang trại, gia trại, ứng dụng công nghệ khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế Công tác trồng mới rừng tập trung, tu bổ, chăm sóc, khoanh nuôi tái sinh, giao khoán, quản lý bảo vệ rừng có nhiều tiến bộ, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái
Công nghiệp của các tỉnh Tây Nguyên tiếp tục phát triển, nhiều sản phẩm chủ lực tăng khá, kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2.662 triệu USD, tăng 22,71% so với năm 2016, thu ngân sách vượt kế hoạch đề ra, tổng vốn đầu tư phát triển toàn
xã hội tăng 15,8% so cùng kỳ năm ngoái Cải cách thủ tục hành chính, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, hỗ trợ thị trường, tạo điều kiện cho doanh nghiệp bước đầu phát huy hiệu quả Hiện nay, các tỉnh Tây Nguyên có gần 23.330 doanh nghiệp đang hoạt động, tăng 14,9% so với năm 2016 Các tỉnh Tây Nguyên cũng thu hút được 235 dự án đầu tư trong nước với tổng số vốn đăng ký 103.357 tỷ đồng, 9 dự án đầu tư trực tiếp của nước ngoài, với tổng số vốn 109,9 triệu USD…Các tỉnh Tây Nguyên cũng thực hiện tốt chính sách dân tộc, nhất là tập trung hỗ trợ thiếu đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo
Công tác giáo dục, đào tạo, y tế, văn hóa xã hội trên địa bàn Tây Nguyên
đã có những chuyển biến tích cực Trong đó, trên 99% số thôn, buôn có nhân viên y tế, có gần 7,6 bác sĩ/1 vạn dân, 61,4% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã…
Về văn hóa- thông tin, tập trung vào việc xây dựng đời sống văn hóa ở buôn làng, đầu tư nghiên cứu, sưu tầm sử thi, văn học dân gian, biên soạn luật tục của các dân tộc, bảo tồn các buôn làng cổ truyền, khôi phục nhà rông, nhà dài,…Đặc biệt không gian văn hóa cồng chiêng đã được UNESCO công nhận là
“ Tuyệt tác truyền khẩu và di sản phi vật thể của nhân loại” Hiện nay toàn vùng
có hơn 1100 điểm sinh hoạt văn hóa cộng đồng buôn làng, 780 nhà rông văn hóa, trên 2000 điểm bưu điện văn hóa xã
1.2.2.Những mặt còn hạn chế
Cũng theo đánh giá của Thường trực Ban Chỉ đạo Tây Nguyên, tăng trưởng kinh tế của vùng Tây Nguyên vẫn còn thấp so với tiềm năng, lợi thế vốn
có, cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm Sản xuất nông nghiệp vẫn chủ yếu phát triển theo chiều rộng, chưa tạo được gắn kết giữa doanh nghiệp với người sản
Trang 9xuất, giữa sản xuất với chế biến, tiêu thụ, tạo nên chuỗi giá trị sản phẩm, giá cả một số mặt hàng chủ lực không ổn định, giảm mạnh, đã tác động lớn đến sản xuất nông nghiệp…
2.Tình hình nghèo đói ở Tây Nguyên
Tính đến năm 2014, tại các tỉnh Tây Nguyên vẫn còn 158.486 hộ nghèo (chiếm 12,56%) và 87.497 hộ cận nghèo (chiếm 6,93%) Trong đó, hộ nghèo dân tộc thiểu số là 133.700 hộ, chiếm 27,36%
Vấn đề đáng quan tâm nhất hiện nay là tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số vùng Tây Nguyên chiếm tỷ lệ cao Một bộ phận cận nghèo, tiệm cận với mức chuẩn nghèo, nguy cơ tái nghèo cao, hàng năm tỷ lệ tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới khoảng 1/3 số hộ nghèo nên giảm nghèo chưa thực sự bền vững, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư, nhất là các huyện, xã
tỷ lệ nghèo còn cao, ngày càng có xu hướng tăng lên
Với mục tiêu, yêu cầu và nguồn lực hiện nay, công tác giảm nghèo vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt với vùng miền núi, vùng dân tộc thiểu số
Mục tiêu giảm nghèo thời gian qua còn những tồn tại là triển khai chậm và thiếu đồng bộ đã làm hạn chế đến kết quả thực hiện mục tiêu, đồng nghĩa với việc kéo dài quá trình thực hiện Thời gian tới, các tỉnh vùng Tây Nguyên cần chủ động hơn nữa trong việc triển khai thông tin phối hợp để khắc phục được hiện tượng triển khai chậm và thiếu đồng bộ Tránh các trường hợp ban hành chính sách không phù hợp, chồng chéo như tự nhận định của các tỉnh để tăng cường sức mạnh trong việc thực hiện chủ trương giảm nghèo
Hiện nay, kết quả giảm nghèo ở các tỉnh vùng Tây Nguyên chưa vững chắc, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp Nhất là khu vực các huyện vùng miền núi Tây Nguyên Bên cạnh đó, các tỉnh trong khu vực Tây Nguyên có quá nhiều chính sách giảm nghèo dẫn đến nguồn lực bị phân tán, hiệu quả tác động đến đối tượng thụ hưởng chưa cao Các chính sách giảm nghèo đã ban hành và thực hiện trong thời gian qua thường thiên về các chính sách hỗ trợ trực tiếp, mang tính trợ cấp, giải quyết khó khăn trước mắt cho hộ nghèo Điều đó là hoàn toàn đúng đắn và có thể nói là tạo dựng nền tảng cho quá trình thực hiện mục tiêu giảm nghèo
Trang 10CHƯƠNG II: PHƯƠNG HƯỚNG, NHIỆM VỤ VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO
1 Phương hướng và nhiệm vụ
Để phát triển hài hòa giữa thành thị với nông thôn; hộ giàu và hộ nghèo từng bước thu hẹp dần khoảng cách về trình độ phát triển giữa các vùng trong Tỉnh Tây nguyên đưa ra những nhiệm vụ cơ bản như sau:
➢ Theo mục tiêu chung cả nước, Tây nguyên phấn đấu đến năm 2020:
➢ Các ngành chức năng, địa phương vùng Tây Nguyên kiểm tra việc triển khai thực hiện Quyết định 686 của Thủ tướng Chính phủ về sắp xếp, đổi mới nông, lâm trường quốc doanh
➢ Tiếp tục đề xuất chủ trương xây dựng cơ chế đặc thù nhằm huy động các nguồn vốn phục
➢ Ban Chỉ đạo Tây Nguyên đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ bổ sung vốn Trái phiếu Chính phủ đầu tư nâng cấp các tuyến quốc lộ, công trình giao thông trọng yếu… vụ kết nối hạ tầng giao thông
➢ Triển khai mô hình thử nghiệm cơ chế, chính sách liên kết vùng đối với một số lĩnh vực, ngành hàng ở Tây Nguyên
➢ Xây dựng văn hóa cơ sở và triển khai có hiệu quả dự án chăm sóc sức khỏe nhân dân
➢ Phối hợp với các bộ, ngành liên quan tham mưu Thủ tướng Chính phủ ban hành chính sách mới về phát triển giáo dục, đào tạo, dạy nghề các tỉnh Tây Nguyên và các huyện miền núi giáp Tây Nguyên
➢ Tăng cường làm tốt hơn nữa công tác đảm bảo an sinh xã hội, thực hiện chính sách đối với gia đình có công, chăm lo công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn gắn với giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững ở các địa bàn đặc biệt khó khan
➢ Giải quyết căn bản vấn đề đất ở, đất sản xuất, cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số thiếu đất
➢ Đề xuất tăng định mức cấp đất sản xuất cho đồng bào dân tộc thiểu số, giải quyết hài hòa giữa nhu cầu phát triển kinh tế của địa phương với bảo đảm đất đai
12