1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế

33 162 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 358,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét tình hình trong nước, dân số Việt Nam đã đạt ở con số 90 triệu người –đứng thứ 14 trên thế giới và đứng thứ 8 ở châu Á, bên cạnh đó, Việt Nam đã chính thứcbước vào thời kỳ cơ cấu dân

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Từ lâu, các nhà nghiên cứu đã nỗ lực tìm hiểu tác động qua lại giữa dân số và kinh

tế Những năm gần đây, các nhà nghiên cứu càng quan tâm đến các hiện tượng dân sốvới nhiều thuật ngữ như “cửa sổ dân số”, “cơ hội dân số”, “cơ cấu dân số vàng” và “lợitức dân số” Xét tình hình trong nước, dân số Việt Nam đã đạt ở con số 90 triệu người –đứng thứ 14 trên thế giới và đứng thứ 8 ở châu Á, bên cạnh đó, Việt Nam đã chính thứcbước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng từ năm 2007, với lực lượng lao động trẻ dồi dào,

và từ đó đến nay, sau 10 năm, nước ta đã đạt được nhiều tiến bộ trong tăng trưởng kinh

tế Vậy thì “cơ cấu dân số vàng” có ảnh hưởng như thế nào đến phát triển kinh tế? Nó

có thể mang lại những cơ hội và thách thức nào cho sự phát triển của đất nước? Nhậnthức rõ được vai trò quan trọng của cơ cấu dân số vàng đối với đất nước ta hiện nay,

nhóm 10 chúng em quyết định lựa chọn đề tài: Cơ cấu dân số vàng của Việt Nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế Vấn đề đặt ra là làm sao giải quyết được những

thách thức cũng như tận dụng được cơ hội vàng mà cơ cấu “dân số vàng” mang lại Với đề tài: “Cơ cấu dân số vàng của Việt Nam, cơ hội và thách thức để phát triểnkinh tế”, nhóm hướng đến tìm hiểu và giải quyết được những thách thức cũng như tậndụng được những lợi thế mà cơ cấu “dân số vàng” mang lại Tìm hiểu những tác động ở

cả hai mặt tích cực và tiêu cực của yếu tố đó đến phát triển kinh tế, cũng như nhữngkhó khăn Việt Nam gặp phải trên con đường tiến gần tới mục tiêu phát triển bền vững.Cuối cùng nhóm muốn tìm hiểu những giải pháp tận dụng cơ cấu dân số vàng để pháttriển kinh tế nước nhà

Bài tiểu luận nghiên cứu của chúng em gồm ba chương:

Chương I: Lý thuyết chung về cơ cấu dân số vàng

Chương II: Thực trạng cơ cấu dân số vàng của Việt Nam và những tác động đến pháttriển kinh tế

Chương III: Giải pháp tận dụng cơ cấu dân số vàng để phát triển kinh tế

2

Trang 2

Trong quá trình làm bài và hoàn thành bài tiêu luận chúng em còn có những vấn đềnội dung chưa thực sự hoàn thiện, chúng em mong cô có những góp ý để bài tiểu luậncủa chúng em được hoàn thiện hơn.

Trang 3

NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT CHUNG VỀ CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG

1.1 Khái niệm chung

Cơ cấu dân số:

Cơ cấu dân số là sự phân chia dân số thành các bộ phận theo những tiêu chí nhấtđịnh, độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, trình độ, nghiên cứu sinh học

Theo cách xác định trên, cơ cấu dân số nhằm phản ánh các đặc trưng của mỗi ngườidân và của toàn bộ dân số Các đặc trưng về giới tính, độ tuổi phản ánh về nhân khẩu học,các đặc trưng về dân tộc, tôn giáo, tình trạng hôn nhân, trình độ học vấn phản ánh về mặtkinh tế Ngoài ra các đặc trưng khác về giai cấp, thành phần xã hội nhằm phân loại tậphợp người theo các khía cạnh của đời sống xã hội

Cơ cấu dân số vàng:

Theo định nghĩa của Ban Chỉ đạo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Trung ương, “cơcấu dân số vàng” là thời kỳ mà tỉ trọng trẻ em dưới 15 tuổi giảm xuống dưới 30% và tỉtrọng người già từ 65 tuổi trở lên còn ở mức dưới 15% trong tổng dân số

Còn theo định nghĩa của Liên hợp quốc, dân số của một quốc gia đạt cơ cấu “dân sốvàng” khi tỷ số phụ thuộc chung nhỏ hơn 50%, hay nói cách khác có trên 2 người trong

độ tuổi lao động trên 1 người trong độ tuổi phụ thuộc

(Tổng tỷ suất phụ thuộc: Là đại lượng được xác định bởi số người trong độ tuổi 14) cộng với số người trong độ tuổi (65+) chia cho số người trong độ tuổi (15-64)

(0-1.2 Tác động của dân số đến phát triển kinh tế ở Việt Nam

Dân số - Lao động - Việc làm phát triển đồng đều, cân bằng, phù hợp phát triểnkinh tế xã hội là lý tưởng

Trang 4

Kinh tế tăng chậm trong khi dân số tăng còn cao sẽ kìm hãm sự phát triển kinh

tếlàm tăng số người thiếu việc làm, thất nghiệp.Gây sức ép lớn đối với giáo dục, y tế, vănhóa Các vấn đề giải phóng phụ nữ, việc làm, nhà ở ….không đáp ứng được

Gia tăng dân số nhanh đã tạo nên sức ép lớn trong việc việc phát triển kinh tế, nângcao chất lượng cuộc sống và bảo vệ tài nguyên, môi trường Chính sách phát triển dân sốphải hợp lí và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động. Bên cạnh đó, việc làm đang một vần đề

xã hội ở nước ta, hiện nay đang được tập trung giải quyết và bước đầu thu hiệu quảtốt.Nền kinh tế tăng trưởng cao có tác động tích cực đến vấn đề việc làm thông qua sựphát triển của khu vực kinh tế tư nhân, sự chuyển dịch mạnh mẽ cơ cấu kinh tế, sự canthiệp của nhà nước thông qua các chương trình việc làm, chương trình kinh tế xã hội,phát triển các làng nghề…

1.2.1 Mối quan hệ giữa dân số và lao động

Dân số và nguồn lao động có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Dân số là cơ

sở tự nhiên hình thành nên nguồn lao động - lực lượng sản xuất chủ yếu của xã hội.Nguồn lao động là bộ phận dân số trong tuổi lao động và có khả năng lao động - bộ phậndân số chủ lực và năng động nhất trong dân số, nó quyết định và chi phối toàn bộ hoạtđộng sản xuất của xã hội

Theo thống kê của Tổng cục Dạy nghề (Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội), hiệnnay, Việt Nam còn khoảng 70% lao động chưa được đào tạo nghề Bên cạnh đó, khoảng70% dân số Việt Nam sinh sống và làm việc ở nông thôn, trong khi nông dân hiện naymới sử dụng 40% thời gian cho sản xuất nông nghiệp, còn lại 60% thời gian là nôngnhàn Thu nhập thấp, thiếu việc làm, chất lượng sống và chất lượng dân số chưa cao, tốc

độ già hóa nhanh, chi phí an sinh xã hội lớn cũng là những thách thức đặt ra đối với ViệtNam

1.2.2 Mối quan hệ giữa dân số và việc làm

Dân số vừa là yếu tố của sản xuất nhưng đồng thời nó còn đóng vai trò như là yếu

tố của tiêu dùng Là yếu tố của sản xuất, dân số được xem xét như là chủ thể quyết định

Trang 5

quy mô, phân bố cơ cấu và chất lượng nguồn lao động (cung lao động) Là yếu tố củatiêu dùng, quy mô, cơ cấu, phân bố và chất lượng dân số quy định quy mô, cơ cấu chấtlượng và sự phân bố các ngành, nghề các lĩnh vực hoạt động sản xuất của xã hội, chi phốinội dung, tính chất của việc làm (cầu về lao động) trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

1.2.3 Mối quan hệ giữa dân số và an sinh xã hội và y tế

Dân số tăng nhanh hay tốc độ chuyển tiếp dân số nhanh chóng cũng sẽ đặt ra tháchthức cho hệ thống an sinh xã hội Tốc độ tăng trưởng kinh tế nếu không bắt kịp tốc độdân số tăng, thì an sinh xã hội sẽ không đủ để đảm bảo đời sống cho người dân Điểnhình là với người cao tuổi, trong khi đời sống vật chất của người cao tuổi còn gặp rấtnhiều khó khăn, các vấn đề như trợ cấp nhà nước, lương hưu cho người cao tuổi sẽ khôngđáp ứng được nhu cầu thiết yếu Đối với Việt Nam trong 2016, chỉ có 35,6% người caotuổi ở thành phố và 21,9% người cao tuổi ở nông thôn có lương hưu hoặc trợ cấp từ nhànước Có tới 70 - 80% người cao tuổi phải tự kiếm sống hoặc nhờ vào sự nuôi dưỡng vàchăm sóc của con cái

Và an sinh xã hội luôn đi liên với y tế Và trong trường hợp này, dân số tăng nhanh,

an sinh xã hội không đảm bảo cũng tác động đến vấn đề y tế nói chung, khiến chất lượngtrong khám chữa bệnh không thể đạt mức tối đa do các vấn đề về tiền phí, bảo hiểm ytế… Cũng theo số liệu về an sinh xã hội Việt Nam 2016, người cao tuổi ở Việt Nam sốnggià nhưng không khỏe, bình quân một người cao tuổi có 2, 3 bệnh mãn tính Theo kết quảĐiều tra Quốc gia về người cao tuổi Việt Nam, chỉ có 4,8% người cao tuổi có sức khỏetốt, 26,1% người cao tuổi không có bất cứ loại bảo hiểm y tế nào, trên 51% người caotuổi không đủ tiền chi trả cho việc điều trị, dẫn đến không điều trị Hệ thống dịch vụchăm sóc người cao tuổi còn rất thiếu trong khi nhu cầu điều trị của người cao tuổi ngàycàng tăng; cơ cấu tổ chức và năng lực chăm sóc người cao tuổi chưa đáp ứng yêu cầu;chưa có chính sách tốt trong khám và chăm sóc người cao tuổi tại nhà

Trang 6

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CƠ CẤU DÂN SỐ VÀNG CỦA VIỆT NAM

VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG ĐẾN PHÁT TRIỂN KINH TẾ

2.1 Thực trạng cơ cấu dân số vàng ở Việt Nam

Hình 2.1: Dân số Việt Nam qua các năm từ 1950 - 2017

(Nguồn: Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình (www.gopfp.gov.vn))

Quy mô dân số nước ta từ 25 triệu người năm 1950 đã lên 90 triệu người năm 2013,

và ở theo thống kế mới nhất năm 2017 nước ta đã đạt 95.991.472 người, đứng thứ 14 trênthế giới Nhờ thành công của chương trình dân số - kế hoạch hoá gia đình từ hàng thập kỷtrước, Việt Nam đang có cơ cấu dân số vàng, chính thức bước vào giai đoạn dân số vàng

từ năm 2007 với hơn 62 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm 68,5% dân số Sốngười bước vào tuổi lao động gấp 5,71 lần số người bước ra (nếu so với tuổi 65) và gấp3,46 lần số người bước ra (so với tuổi 60)

Xét theo cơ cấu dân số theo nhóm tuổi:

Trang 7

Hình 2.2: Tháp dân số năm 1999, 2009 và 2014

(Nguồn: Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hợp Quốc 2016)

Tháp dân số phản ánh sự biến động trong cơ cấu tuổi - giới tính cho thấy Việt Nam

đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi nhân khẩu học trong ba thập kỷ qua Trong khitháp dân số năm 1999 đặc trưng cho sự chuyển đổi nhân khẩu học từ mức sinh và mứcchết cao giảm nhanh xuống mức sinh và mức chết thấp, thì tháp dân số năm 2009 đặctrưng cho dân số ở giai đoạn cuối của quá độ dân số với mức sinh và mức chết thấp vàđang ở giai đoạn đầu của già hóa dân số Hậu quả của chiến tranh tới thay đổi cơ cấu tuổicủa dân số trở nên mờ nhạt hơn, và chỉ còn nhận thấy ở nhóm dân số từ 60 tuổi trở lên.Mức sinh và mức chết đã ổn định ở mức thấp trong thập kỷ qua Tháp dân số năm 2014phản ánh sự già hóa dân số ở Việt Nam

Trang 8

Bảng 2.1: Tỷ trọng dân số theo độ tuổi ở Việt Nam

198 9

199 9

200 9

201 0

201 1

201 2

201 3

201 4

Tỷ trọng dân số dưới 15 tuổi 39,2 33,1 24,5 24,7 24,0 23,9 24,2 23,5

(Nguồn: Tổng cục Dân số và kế hoạch hóa gia đình (www.gopfp.gov.vn))

Cơ cấu dân số theo tuổi là sự phân chia tổng số dân theo từng độ tuổi hay nhómtuổi Từ bảng trên có thể thấy có sự chuyển dịch rõ nét trong cơ cấu dân số theo độ tuổi ởnước ta trước và sau thời kỳ “cơ cấu dân số vàng” Tỉ lệ trẻ em dưới 15 tuổi năm 2009 sovới 1999 đã giảm 8,6% còn 24,5% (dưới 30%) Tỉ lệ này tuy có biến động nhưng vẫnđược duy trì ở mức dưới 30% từ 2009 đến 2014 (23,5%) Ngược lại nhóm tuổi lao động(15-64 tuổi) và ngoài lao động (từ 65 tuổi trở lên) đều có sự gia tăng Trong đó, nhóm 15-

64 tuổi tăng 8% trong 10 năm, nhóm từ 65 tuổi trở lên tăng lên 6.4% vào 2009 (dưới15%) Quy mô dân số độ tuổi lao động tăng thêm 16,1 triệu, từ 46,7 triệu vào năm 1999lên đến 62,8 triệu năm 2014 đã tạo ra một lực lượng lao động tiềm năng để phát triểnkinh tế đất nước Như vậy theo định nghĩa của Ban Chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ởTrung ương thì suốt giai đoạn 2009 – 2014, Việt Nam ở trong giai đoạn “cơ cấu dân sốvàng”, nghĩa là số người trong độ tuổi lao động cao hơn số người phụ thuộc

Xét theo tỷ lệ phụ thuộc của trẻ em, người già và tỷ lệ phụ thuộc chung:

Bảng 2.2: Tỷ trọng dân số theo độ tuổi ở Việt Nam

198 9

199 9

200 9

201 0

201 1

2012 201

3

201 4

Trang 9

Hình 2.3: Tỷ số phụ thuộc và tỷ số già hóa ở Việt Nam

(Nguồn: Tổng cục thống kê và Quỹ dân số Liên Hợp Quốc 2016)

Xét theo định nghĩa của Liên Hợp Quốc về “cơ cấu dân số vàng” thì cũng có kếtquả tương tự Qua bảng có thể thấy Việt Nam năm 2009 đang ở trong thời kỳ cơ cấu dân

số vàng với tỷ số dân số phụ thuộc ở mức dưới 50%

Cụ thể tỉ số dân số phụ thuộc đã giảm mạnh từ 63,6% năm 1999 xuống còn 44,7%năm 2009 Trong đó có sự biến đổi ngược chiều giữa tỉ số phụ thuộc trẻ và già: Tỉ số phụthuộc trẻ giảm mạnh từ 54,2% năm 1999 xuống còn 35,4% năm 2009 và có chiều hướnggiảm dần các năm sau đó trong khi tỉ số phụ thuộc già tuy có giảm nhẹ từ 9,4% (1999)xuống 9,3% (2009) nhưng có xu hướng tăng dần giai đoạn 2009 – 2014 Trước thời kì cơcấu dân số vàng, 1 người lao động phải lo cho 1 người phụ thuộc nhưng ở thời kỳ “vàng”hiện nay thì hai người lao động chỉ phải lo cho 1 người phụ thuộc Tính đến 1/4/2014, 52trong số 63 tỉnh thành bước vào thời kỳ này, tăng 9 tỉnh so với năm 2009 Nếu có nhữngchính sách phù hợp để tận dụng cơ hội này, cơ cấu dân số vàng có thể biến thành lợi tứcdân số

Trang 10

2.2 Dự báo cơ cấu dân số Việt Nam thời gian tới

Hình 2.4: Tháp dân số Việt Nam: Hiện tại và dự báo

(Nguồn: United Nation (2014))

Bảng 2.3: Dự báo biến động dân số Việt Nam theo cơ cấu tuổi 2014 – 2049

(Nguồn: United Nation (2014))

Theo dự báo, dân số trong độ tuổi lao động ở Việt Nam sẽ giảm dần từ 69,4%(2014) xuống chỉ còn 64,0% vào 2049 Cùng trong khoảng thời gian đó, tỷ lệ trẻ em sẽgiảm từ 23,4% (2014) xuống 17,8% (2049), ngược lại tỷ lệ dân số cao tuổi sẽ bắt đầutăng mạnh từ 2019 và đạt mức 18,1% dân số vào 2049

Theo một dự báo khác của United Nation năm 2007, tỷ số phụ thuộc chung sẽ ởmức dưới 50% từ năm 2009 và kéo dài cho đến khoảng năm 2039 Giai đoạn này đặctrưng bởi tỷ số phụ thuộc chung giảm xuống là do mức giảm của tỷ số phụ thuộc trẻ em

Trang 11

lớn hơn mức tăng tỷ số phụ thuộc người già Nói cách khác, dân số Việt Nam đạt cơ cấu

“vàng” trong giai đoạn 2009-2039 (30 năm) với tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động đạt ởmức cao nhất khoảng 65% tổng dân số trong giai đoạn 2015-2025 Cơ cấu “vàng” sẽ kếtthúc từ năm 2040 khi tỷ số phụ thuộc chung tăng lên, cao hơn 50% và bị chi phối chủ yếu

do tỷ số phụ thuộc người già tăng nhanh

Hình 2.5: Dự báo tỉ số phụ thuộc dân số Việt Nam đến 2050

(Nguồn: United Nation)

2.3 Những tác động của Cơ cấu dân số vàng đến kinh tế Việt Nam trong thời gian

qua

Việt Nam đã chính thức bước vào thời kỳ cơ cấu dân số vàng từ năm 2007, với lựclượng lao động trẻ dồi dào Nếu lực lượng này được tận dụng tối đa trí tuệ, sức lao động

Trang 12

thì sẽ tạo ra khối lượng của cải vật chất khổng lồ, tạo ra giá trị tích lũy lớn cho tương lai,đảm bảo an sinh xã hội khi đất nước bước vào giai đoạn “dân số già”.

Cơ cấu “dân số vàng” tạo ra nhiều thuận lợi, thế mạnh cho Việt Nam với lực lượnglao động trẻ, dồi dào Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) vừa tiến hành điều tradân số và nhà ở giữa kỳ Kết quả cho thấy, nhóm dân số trong độ tuổi lao động khá đông,trong số 100 dân thì có 56 người trong độ tuổi lao động, số người trong độ tuổi phụ thuộc(trẻ em chưa đủ 14 tuổi và người già từ 65 tuổi trở lên) là 44 người Trước đây, mộtngười trong độ tuổi lao động phải lo cho một người phụ thuộc (trẻ em dưới 15 tuổi vàngười trên 60 tuổi), “thời kỳ vàng” hiện nay thì hai người lao động chỉ phải lo cho mộtngười phụ thuộc Theo đánh giá của Tổng cục Thống kê, đây được xem như một lợi thếcho phát triển kinh tế đất nước nếu năng suất lao động của nhóm dân số trong độ tuổi laođộng tăng lên

Qua số liệu thống kê bởi WDI (World Development Indicators) cho thấy, tỉ lệ tăngtrưởng GDP của nước ta liên tục tăng từ năm 2012 đến 2015, từ 5,24% đến 6,68% Đồngthời, nhờ vào nguồn nhân lực trẻ của thời kì Dân số vàng và giá thành lao động tương đối

rẻ, Việt Nam ngày càng thu hút được nguồn vốn trực tiếp từ nước ngoài, được thể hiệnqua chỉ số FDI tăng mạnh từ năm 2013 (8900 triệu đô la Mỹ), lên tới 14100 triệu đô la

Mỹ trong năm 2017 Năng suất tăng, tỉ lệ người lao động tăng giúp cho tỉ lệ tích lũy trongnước lớn hơn, trong 2 năm 2010 và 2014 tăng hơn 17484 triệu đô la Mỹ, một con số đáng

kể với nền kinh tế Việt Nam, nhờ đó các lĩnh vực như xã hội, giáo dục được cải thiện.Dân số trong độ tuổi lao động lớn, cùng với sự phát triển của khu vực công nghiệp

và dịch vụ tạo nhu cầu lớn về đào tạo nghề, việc làm Về phát triển thị trường lao động:Việt Nam có nguồn lao động dồi dào, theo kết quả sơ bộ điều tra thực trạng việc làm vàthất nghiệp năm 2007, lực lượng lao động cả nước là 46,61 triệu người (chiếm 54,8% dân

số cả nước), tăng 2,27% so với năm 2006, lao động nữ chiếm 49% Tỷ lệ tham gia lựclượng lao động đạt khoảng 70%, trong đó nữ là 66,5% Nhìn chung, lao động Việt Namvẫn tập trung chủ yếu ở khu vực nông thôn (chiếm 74,57%), làm việc trong khu vực nôngnghiệp nên việc chuyển dịch cơ cấu lao động nói chung, cơ cấu lao động ở nông thôn nói

Trang 13

riêng theo hướng công nghiệp hoá thực sự là một thách thức lớn, đặc biệt là trong bốicảnh hội nhập Cả nước hiện có gần 45,6 triệu lao động có việc làm, tăng 2,31% so vớinăm 2006; cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, giảm tỷ lệ lao độnglàm việc trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp và tăng trong khu vực công nghiệp, xâydựng và thương mại dịch vụ Lực lượng lao động trẻ, dồi dào và tiếp tục tăng sẽ là nguồnlực quan trọng cho việc phát triển kinh tế trong điều kiện đảm bảo việc làm và cải thiệnđược năng suất lao động.

(Nguồn: Tự tính toán dựa trên các số liệu của Tổng cục Thống kê qua các năm)

Dân số trong độ tuổi lao động tăng nhanh còn giúp cho thị trường tiêu thụ được mởrộng Bởi dân số trong thời kỳ này vừa là lực lượng sản xuất chủ lực vừa là lực lượng tiêudùng chính Nhiều nghiên cứu trong những năm gần đây đã chứng minh, chi phí tiêudùng tăng nhanh theo tuổi và đạt mức lớn nhất trong nhóm tuổi từ 25-29 và duy trì ở mứccao cho đến 45 tuổi thì giảm gần tới mức trung bình Theo WDI, chi phí tiêu dùng cuốicùng của Việt Nam tăng liên tục từ năm 2010 (khoảng 84113 triệu USD), đến 2017 đãlên tới 129724 triệu USD, thể hiện sự mở rộng lớn trong thị trường tiêu thụ

Trang 14

Tuy nhiên, kết quả của nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng “cơ hội dân số” và

“lợi tức dân số” không tự động, không tất yếu đem lại tác động tích cực, mà nó phải đượcgiành lấy bằng các hành động chính sách, chiến lược cụ thể trong điều kiện cụ thể củatừng nước Không có môi trường chính sách phù hợp và ổn định thì ngay cả trong điềukiện tốt nhất, đất nước sẽ bỏ lỡ cơ hội tăng trưởng cao trong dài hạn khi cơ hội dân số bắtđầu Trong điều kiện kém thì kinh tế có thể trì trệ, chính trị, xã hội bất ổn bởi quá tải dân

số dẫn đến nạn thất nghiệp tràn lan và an sinh xã hội kiệt quệ Nếu cơ hội dân số, đặc biệt

là giai đoạn “cơ cấu dân số vàng”, diễn ra trùng với thời kỳ kinh tế ổn định và cất cánhthì nguồn lao động có sức khỏe và kỹ năng sẽ trở thành động lực mạnh mẽ của nền kinh

tế

Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình cho biết, cơ cấu “dân số vàng” thực sự là

cơ hội để cải thiện sức khỏe, đặc biệt là sức khỏe sinh sản cho thanh niên, vị thành niên,

sử dụng nguồn lao động dồi dào cho tăng trưởng và phát triển kinh tế Cơ cấu “dân sốvàng” tạo cơ hội cho tích lũy nguồn lực để tăng đầu tư cho an sinh xã hội, y tế, giáo dục,việc làm trong tương lai Điều này được thể hiện rõ qua sự tăng lên đáng kể về chi phídành cho giáo dục và y tế từ 2010 đến nay, trong đó giáo dục tăng từ 5020 triệu USDnăm 2011 đến 9090 triệu USD năm 2017, và chi phí bình quân mỗi người dành cho y tếtăng lên khoảng 40 USD từ năm 2010 đến 2017

Mặt khác, dân số dưới 15 tuổi giảm mạnh góp phần nâng cao chất lượng giáo dụcthông qua việc giảm tỷ số giữa học sinh và giáo viên, qua đó nâng cao chất lượng chămsóc y tế cho trẻ em, cải thiện chất lượng sức khỏe dân số tương lai

2.4 Những thách thức mà Cơ cấu dân số vàng đặt ra cho Việt Nam trong thời

Trang 15

Với dân số ước tính khoảng 94 triệu người vào năm 2018; trong đó lực lượng laođộng từ 15 tuổi trở lên là 54,61 triệu người, chiếm 59,5%, Việt Nam vẫn đang trong thời

kỳ dân số vàng với nguồn cung lao động dồi dào và ổn định

Biểu đồ 2.6 cho thấy dân số từ 15 tuổi trở lên ở Việt Nam vẫn gia tăng (từ Q2/ 2012đến quý 2/2017 dân số tăng 3,4 triệu người), lực lượng lao động trong giai đoạn này vẫntăng trên1,9 triệu người) và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động vẫn duy trì ở mức ổn định

Đơn vị tính: nghìn người

Hình 2.6: Dân số 15 tuổi trở lên và lực lượng lao động Việt Nam

(Q2/2012, Q2/2017)

(Nguồn: Điều tra lao động việc làm, Tổng cục thống kê)

Tốc độ tăng nhanh của dân số trong độ tuổi lao động sẽ là nguồn lực quan trọng chophát triển kinh tế nhưng sẽ trở thành gánh nặng nếu quốc gia đó có tỷ lệ thất nghiệp cao

và năng suất lao động thấp

Thực trạng ở Việt Nam cho thấy, số người lực lượng lao động đông về số lượngnhưng chất lượng chưa cao do thiếu lao động có tay nghề cao, sức bền còn hạn chế, kỹnăng quản lý còn nhiều bất cập Theo số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê năm 2009,chỉ có 13,4% dân số 15 tuổi trở lên được đào tạo chuyên môn kỹ thuật (con số này ở

Trang 16

thành thị là 25,4% và nông thôn là 8%) Trong nhóm dân số từ 25 tuổi trở lên thì chỉ18,9% đạt được trình độ học vấn bậc trung và chưa đầy 5,5% dân số trong độ tuổi trênđạt trình độ học vấn bậc cao.

Theo thống kê của Tổng cục dạy nghề (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội),hiện nay, Việt Nam còn khoảng 70% lao động chưa được đào tạo nghề Bên cạnh đó,khoảng 70% sinh sống và làm việc ở nông thôn, trong khi chỉ có 40% thời gian dùng chosản xuất nông nghiệp, còn lại là thời gian nông nhàn

Bảng 2.5: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã

qua đào tạo phân theo một số ngành nghề

Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản 4,2%

Công nghiệp chế biến, chế tạo 17,7%

(Nguồn: Tổng cục thống kê (2015))

Ngoài ra, một bộ phận không nhỏ lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳng cũng rơivào tình trạng thất nghiệp Những năm gần đây, lao động tốt nghiệp đại học, cao đẳngcòn có tỉ lệ thất nghiệp cao hơn nhóm lao động khác Nguyên nhân thứ nhất của tìnhtrạng này là do việc phổ cập đại học không còn là chuyện hiếm Cử nhân đại học, caođẳng tràn lan khiến cho bằng cử nhân không còn quá giá trị như xưa, không tạo ra sựkhác biệt và lợi thế cạnh tranh khi xin việc Nguyên nhân thứ hai là do một bộ phận cửnhân đòi hỏi quá cao so với năng lực của mình Nhiều trường hợp có tâm lý cầm tấmbằng cử nhân thì phải có vị trí cao, mức lương cao, công việc nhẹ nhàng, nên họ từ chốinhiều công việc có thể làm ngay để bổ sung kinh nghiệm, kỹ năng Tiếp đến là việc đàotạo không sát với thực tế Nhiều trường đại học, cao đẳng không hướng đến đào tạonhững kỹ năng thực tế được xã hội cần đến, chương trình kiến thức còn quá nặng nề,nghiêng về lý thuyết, thực hành còn hạn chế Cuối cùng, thị trường lao động của ViệtNam đã được hình thành nhưng còn sơ khai, chưa có đủ thể chế để hoạt động hiệu quả

Bảng 2.6: Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động và tỷ lệ thất nghiệp của

thanh niên (15 - 24 tuổi)

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:41

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Asian Development Bank (ADB), 1997, Emerging Asia: Changes and Challenges Sách, tạp chí
Tiêu đề: Emerging Asia: Changes and Challenge
3. Barbieri, M., J. Allman, B. S. Pham, and M. T. Nguyen, 1996, “Demographic Trends in Vietnam”, Population: An English Selection, Vol. 8 (1996): 209- 234 Sách, tạp chí
Tiêu đề: DemographicTrends in Vietnam”, "Population: An English Selection
Tác giả: Barbieri, M., J. Allman, B. S. Pham, and M. T. Nguyen, 1996, “Demographic Trends in Vietnam”, Population: An English Selection, Vol. 8
Năm: 1996
4. Bloom, D. E., and J. G. Williamson, 1998, Demographic Transitions and Economic Miracles in Emerging Asia, World Bank Economic Review, No.12: 419-456 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Demographic Transitions andEconomic Miracles in Emerging Asia
5. Bloom, D. E., D. Canning, and J. Sevilla, 2003, The Demographic Dividend. A New Perspective on the Economic Consequence of Population Change. Santa Monica: RAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Demographic Dividend. A NewPerspective on the Economic Consequence of Population Change
6. Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, 2006, Số liệu thống kê việc làm và thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996-2005, NXB Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu thống kê việc làm và thấtnghiệp ở Việt Nam giai đoạn 1996-2005
Nhà XB: NXB Lao động – Xã hội
8. Castel, P. and M. Rama, 2005, Comments on the New Social Insurance Law, World Bank Vietnam.CPFC (Committee for Population, Family and Children, Vietnam) and ORC Macro Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comments on the New Social Insurance Law
9. Calverton, Maryland, 2003, Vietnam Demographic and Health Survey 2002, USA: CPFC and ORC Macro Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vietnam Demographic and Health Survey 2002
1. Adam, S. J., 2005, Vietnam’s Health Care System: A Macroeconomic Perspective Khác
10. Diễn đàn Phát triển Việt Nam (VDF), 2007, Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản Khác
12. Dương Kim Hồng, Kenichi Ohno, 2007, Trẻ đường phố Việt Nam: Mối liên hệ giữa nguyên nhân truyền thống và nguyên nhân mới trong một nền kinh tế đang phát triển Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1: Dân số Việt Nam qua các năm từ 195 0- 2017 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.1 Dân số Việt Nam qua các năm từ 195 0- 2017 (Trang 6)
Hình 2.2: Tháp dân số năm 1999, 2009 và 2014 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.2 Tháp dân số năm 1999, 2009 và 2014 (Trang 7)
Bảng 2.2: Tỷ trọng dân số theo độ tuổi ở Việt Nam 198 9199920092010 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Bảng 2.2 Tỷ trọng dân số theo độ tuổi ở Việt Nam 198 9199920092010 (Trang 8)
Hình 2.3: Tỷ số phụ thuộc và tỷ số già hóa ở Việt Nam - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.3 Tỷ số phụ thuộc và tỷ số già hóa ở Việt Nam (Trang 9)
Hình 2.4: Tháp dân số Việt Nam: Hiện tại và dự báo - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.4 Tháp dân số Việt Nam: Hiện tại và dự báo (Trang 10)
Bảng 2.3: Dự báo biến động dân số Việt Nam theo cơ cấu tuổi 2014 – 2049 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Bảng 2.3 Dự báo biến động dân số Việt Nam theo cơ cấu tuổi 2014 – 2049 (Trang 10)
Hình 2.5: Dự báo tỉ số phụ thuộc dân số Việt Nam đến 2050 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.5 Dự báo tỉ số phụ thuộc dân số Việt Nam đến 2050 (Trang 11)
Bảng 2.4: Hệ số co giãn tỉ lệ thất nghiệp từ 200 1- 2014 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Bảng 2.4 Hệ số co giãn tỉ lệ thất nghiệp từ 200 1- 2014 (Trang 13)
Hình 2.6: Dân số 15 tuổi trở lên và lực lượng lao động Việt Nam (Q2/2012, Q2/2017) - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.6 Dân số 15 tuổi trở lên và lực lượng lao động Việt Nam (Q2/2012, Q2/2017) (Trang 15)
Bảng 2.5: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo một số ngành nghề - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Bảng 2.5 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo một số ngành nghề (Trang 16)
Hình 2.7: Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động phân chia theo nhóm tuổi năm 2015 - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.7 Tỷ lệ thất nghiệp của lực lượng lao động phân chia theo nhóm tuổi năm 2015 (Trang 17)
Bảng 2.7: Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Bảng 2.7 Tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong nền kinh tế đã qua đào tạo phân theo trình độ chuyên môn kỹ thuật (Trang 18)
Hình 2.9: Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo nhóm tuổi - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Hình 2.9 Lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc hàng năm phân theo nhóm tuổi (Trang 19)
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu về lao động tại Tp. Hồ Chí Minh năm 2016 – 2017 Năm - tiểu luận kinh tế phát triển cơ cấu dân số vàng của việt nam, cơ hội và thách thức để phát triển kinh tế
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu về lao động tại Tp. Hồ Chí Minh năm 2016 – 2017 Năm (Trang 23)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w