Bên cạnh đó,chất lượng tăng trưởng nông nghiệp còn thấp, thể hiện qua một số hiện tượng như tỷsuất lợi nhuận còn thấp, tỷ lệ thiếu việc làm còn cao trong lao động nông nghiệp, antoàn thự
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Kể từ sau công cuộc Đổi mới năm 1986, đánh dấu sự khởi đầu của quá trìnhchuyển đổi nền kinh tế từ kế hoạch tập trung sang định hướng thị trường, nông nghiệpViệt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu đáng kể, đóng góp quan trọng cho tăngtrưởng, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định chính trị và côngbằng xã hội Có thể nói, nông nghiệp là hậu phương vững chắc cho nền kinh tế và tạonền tảng bảo đảm cân bằng trong phát triển kinh tế xã hội cả nước
Tuy nhiên, động lực và cơ cấu sản xuất nông nghiệp hiện có đã được khai tháchết mức, giá trị sản xuất, mô hình tăng trưởng khu vực nông nghiệp vẫn chủ yếu theochiều rộng, thâm dụng nguồn lực, hiệu quả sử dụng tài nguyên chưa cao Bên cạnh đó,chất lượng tăng trưởng nông nghiệp còn thấp, thể hiện qua một số hiện tượng như tỷsuất lợi nhuận còn thấp, tỷ lệ thiếu việc làm còn cao trong lao động nông nghiệp, antoàn thực phẩm không đảm bảo và những hạn chế trong quản lý, đổi mới sáng tạo Chođến nay, tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp và mức tăng năng suất yếu tố tổng hợp(TFP) đang chậm lại Trên nhiều phương diện, phát triển nông nghiệp đã gây tổn hạilớn đến môi trường Thực trạng diễn ra khiến chi phí đầu vào ngày càng cao và làm giatăng chi phí môi trường
Trong khi đó, dưới những áp lực đến từ hội nhập kinh tế toàn cầu, biến đổi khíhậu, áp lực bị cạnh tranh trong nước về lao động, đất đai và nguồn nước do quá trìnhphát triển nhanh đô thị, công nghiệp và dịch vụ, thực tiễn đòi hỏi ngành nông nghiệpphải điều chỉnh để đối mặt với thách thức và nắm bắt cơ hội trong thời đại mới Hơnthế, mục tiêu phát triển đất nước trong tầm nhìn dài hạn đòi hỏi ngành nông nghiệpphải chuyển đổi mạnh mẽ theo hướng tăng giá trị, giảm chi phí đầu vào
Chính vì thế, nhóm quyết định nghiên cứu đề tài: “Chuyển đổi nông nghiệp Việt Nam: tăng giá trị, giảm đầu vào” Thông qua đề tài này nhóm mong muốn cung cấp
cái nhìn tổng quan hơn về tình hình chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp Việt Nam hiệnnay, từ đó có những định hướng và giải pháp cụ thể cho nền nông nghiệp nước nhà.Bài tiểu luận của nhóm gồm 3 phần: (1) Khái quát tình hình nông nghiệp ViệtNam (2) Tổng quan tình hình nghiên cứu (3) Nhận xét đánh giá và đề xuất giải pháp
Trang 2CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT TÌNH HÌNH NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
Những năm qua, tốc độ tăng trưởng GDP nông nghiệp Việt Nam cao, thế nhưngvẫn chậm hơn so với các khu vực phi nông nghiệp nên đã đẩy tỷ trọng của ngành nôngnghiệp trong GDP xuống thấp, cũng như tỷ trọng trong tổng số việc làm Nếu như thịphần nông nghiệp trong GDP đã giảm từ 39% năm 1990 xuống 19% vào năm 2005 vàduy trì ổn định ở mức này cho đến năm 2013, thì thị phần việc làm đã giảm từ 70%vào năm 1996 xuống còn 47% vào năm 2013, tuy nhiên mức này vẫn cao gấp 2,5 lần
so với tỷ trọng trong GDP Con số này chỉ ra một điều rằng năng suất lao động tươngđối thấp, đó cũng là một trong những lý do mà các hộ gia đình phụ thuộc vào nôngnghiệp ở thời gian này thường có thu nhập thấp Gần đây, xu hướng ổn định về tỷtrọng nông nghiệp trong tổng GDP trong khi lao động nông nghiệp tiếp tục giảm chothấy năng suất của ngành nông nghiệp đang có xu hướng tăng lên
Từ năm 2007 đến 2012 thì nhịp độ tăng trưởng nông nghiệp suy giảm khi chỉ đạtbình quân 3,26%/năm (thấp hơn 0,55% bình quân 5 năm trước đó) khiến tăng trưởngGDP cả nước đã từ 7,7%/năm rơi xuống chỉ còn bình quân 6,6%/năm (thấp hơn 1,1%của 5 năm trước) Bảng bên dưới thể hiện mối quan hệ giữa tăng trưởng GDP và mứctăng tổng sản lượng nông nghiệp từ năm 2005 đến 2016:
Bảng 1: Quan hệ tăng trưởng GDP và tổng sản phẩm nông nghiệp
giai đoạn 2005-2016
Đơn vị: %
Tăng GDP% 8,44 8,46 5,32 6,78 5,02 5,42 5,7 6,7 6,1Tăng SPNN 3,69 3,76 1,82 2,78 2,67 2,96 3,4 2,4 1,4
Nguồn: Tổng cục thống kê, WB 2017
Nghiên cứu thực trạng phát triển ngành nông nghiệp, báo cáo Phát triển ViệtNam 2016 của Ngân hàng Thế giới (WB) đã chỉ ra chất lượng, tính bền vững của của
Trang 3tăng trưởng nông nghiệp và cách thức phát triển còn nhiều hạn chế bao gồm: tỷ suấtlợi nhuận thấp; tình trạng thiếu việc làm tương đối nghiêm trọng; chất lượng sản phẩm
và an toàn vệ sinh thực phẩm thiếu ổn định; giá trị bổ sung không cao; đặc biệt, trình
độ đổi mới sáng tạo công nghệ còn thấp
Ngành nông nghiệp Việt Nam hiện nay có nhiều đầu vào như phân bón, giống vàmáy móc Trong khi có tới hơn 500 nhà sản xuất phân bón, thì chỉ 3-4 nhà sản xuấtchiếm thị phần quyết định trên toàn thị trường
Các hình thức canh tác sản xuất nông nghiệp Việt Nam chủ yếu dựa vào conngười, sức động vật với tỷ lệ cơ giới hóa thấp Máy móc được sử dụng chủ yếu nhằmcải thiện năng suất và chất lượng lúa gạo, ngô và cây họ đậu (thông qua làm đất, xayxát lúa, bơm nước và vận chuyển), phát triển hệ thống nhà kính (xây dựng và kiểmsoát nhiệt độ) Máy móc cũng được sử dụng để giảm thất thoát sau thu hoạch và đảmđảm bảo chất lượng sản phẩm, đặc biệt là công đoạn sấy khô
Nông nghiệp Việt Nam chưa tạo được nhiều giá trị gia tăng trong quá trình sảnxuất Xuất khẩu nông sản thực phẩm của Việt Nam thường là bán các hàng hóa có giátrị thấp Phương pháp tiếp cận “hàng hóa” này để xuất khẩu về dài hạn là hướng tớităng trưởng về số lượng, nhưng thiếu về chất lượng và giá trị gia tăng Thực tế ở ViệtNam, nếu dịch chuyển được lên trên thang giá trị trong thị trường lương thực và thựcphẩm, các nhà xuất khẩu, và thường là nông dân, sẽ được giá cao hơn mà không cầnphải tăng sản xuất hoặc tìm thêm các yếu tố đầu vào như đất đai khan hiếm
Từ thực tế diễn ra, trong thời gian tới, ngành nông nghiệp cần hướng vào “giatăng giá trị, giảm đầu vào” đồng nghĩa với phải tạo thêm giá trị về kinh tế, nâng caophúc lợi cho nông dân và người tiêu dùng; nhưng phải sử dụng ít tài nguyên, nhâncông và đầu vào trung gian độc hại Như vậy, tăng trưởng nông nghiệp chủ yếu sẽ dựatrên nâng cao hiệu suất, đổi mới sáng tạo, đa dạng hóa và nâng cao giá trị gia tăng
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
2.1 Dự báo về xu hướng biến đổi
Muốn xem xét về tương lai nền nông nghiệp Việt Nam cần chú ý đến bối cảnhchung về kinh tế - xã hội, thay đổi về nhu cầu nông sản, xu thế phát triển trên thịtrường thế giới và tác động của biến đổi khí hậu
Trang 42.1.1 Bối cảnh vĩ mô
Trong vòng 1-2 thập kỷ tới cơ cấu dân số và xu thế kinh tế-xã hội Việt Nam sẽ
thay đổi theo hướng trở thành “một nền kinh tế công nghiệp hiện đại” Trong đó phải
kể đến hiện tượng già hóa dân số Lợi ích mà Việt Nam được hưởng trong những nămvừa qua nhờ tỷ trọng dân số trong độ tuổi lao động lớn đang dần mất đi – do con sốnày đã đạt mức đỉnh vào năm 2013 và bắt đầu đi xuống
Đô thị hóa tiếp diễn Trong giai đoạn giữa thập kỷ 1980 đến 2015 dân số đô thị
Việt Nam tăng từ 13 lên 30 triệu, chiếm 1/3 dân số hiện nay Sau 1 thập kỷ nữa ViệtNam sẽ có 50 triệu dân sống tại khu vực đô thị, chiếm 1⁄2 dân số
Tầng lớp trung lưu phát triển Vào giữa thập kỷ 2030 trên một nửa dân số Việt
Nam sẽ thuộc tầng lớp trung lưu với mức tiêu dùng trên 10 USD/ngày Hiện nay tỷ lệnày mới chiếm 10% dân số
Những biến động dân số này dẫn đến nhiều hệ quả về phát triển nguồn nhân lực,thị trường lao động trong nước, cạnh tranh về tài nguyên đất và nước Sự phát triển củatầng lớp trung lưu mang lại tiềm năng phát triển thị trường nội địa, tạo động lực pháttriển, trong đó bao gồm cả phát triển nông nghiệp
2.1.2 Cầu về nông sản thay đổi trên thị trường trong nước và khu vực
Trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á, tổng mức tiêu thụ lương thực thực phẩm dự kiến sẽ tăng và đa dạng hóa nhanh chóng do dân số, kinh tế, thu nhập và mức độ đô thị hóa đều tăng.
Tổng mức tiêu thụ calo trong khu vực đã tăng cùng thu nhập và sẽ tiếp tục tăngtrong những năm sắp tới, nhất là trong nhóm nghèo, nhưng tốc độ tăng trưởng dự kiến
sẽ giảm tại hầu hết các nước, kể cả Việt Nam Bảng dưới đây cho biết mức ca-lo sẵncó/người dựa trên bảng cân đối lương thực, thực phẩm cho các năm 1961, 2009 và dựbáo cho năm 2030
Bảng 2: Mức cung thực phẩm hàng ngày tại một số nước châu Á
Trang 5Khu vực/Nước Thực tế Dự báo Tăng trưởng hàng năm
Nguồn: Jamora và Labaste 2015
Trong các năm tới, sự thay đổi chủ yếu sẽ diễn ra đối với cơ cấu tiêu thụ lươngthực thực phẩm do mức độ đô thị hóa và thu nhập tăng lên Lượng tiêu thụ ca-lo dựkiến sẽ tăng 19% Tại Trung Quốc, biến động dự kiến sẽ mạnh hơn Tổng ca-lo tiêuthụ tại Trung Quốc hiện đã cao hơn các nước Đông Á khác và dự kiến sẽ tăng 23%vào năm 2030, chủ yếu do lượng thịt tiêu thụ tăng gấp đôi Trung Quốc sẽ chiếmkhoảng 2/3 tổng cầu về thịt khu vực Đông Á và Đông Nam Á vào năm 2030
Mức tăng cầu lương thực thực phẩm chủ yếu do thay đổi cơ cấu tiêu thụ giữa các loại lương thực thực phẩm khi thu nhập tăng và đô thị hóa tiếp diễn.
Cơ cấu bữa ăn thay đổi do người tiêu dùng có thu nhập cao hơn và chuyển sangtiêu thụ các loại sản phẩm có độ co dãn thu nhập cao hơn Sự thay đổi này bao gồm: (i) tăng tiêu thụ thực phẩm phi ngũ cốc như rau, quả, protein động vật (thịt, cá, trứng,sữa), hạt, hạt có dầu; và muốn có protein động vật lại đòi hỏi phải có thức ăn chăn nuôilàm từ ngũ cốc; (ii) tăng tiêu thụ thực phẩm chế biến để nấu ăn tại nhà; và (iii) tăngtiêu thụ thức ăn làm sẵn để ăn ngoài hộ gia đình Đa dạng hóa bữa ăn có liên quan mậtthiết tới hiện tượng đô thị hóa và quá trình thương mại hóa sản xuất lương thực, thựcphẩm tại vùng nông thôn
Trang 6Bảng 3: Tiêu thụ một số loại lương thực thực phẩm hàng ngày tại một số nước
Đông Á và Đông Nam Á, 2009 (thực tế) và 2030 (dự báo)
Nguồn: Jamora và Labaste 2015
Trong toàn bộ khu vực Đông Á và Đông Nam Á, nhóm dân cư đô thị và nhóm thu nhập cao sẽ giảm lượng tiêu thụ gạo Trong khoảng nửa thế kỷ, từ năm 1962 đến
năm 2009, lượng tiêu thụ thịt/người đã tăng gấp đôi và có thể tăng gấp đôi lần nữatrong giai đoạn 2015-2030 Lượng cầu về cá và thủy, hải sản đã tăng hơn hai lần tronggiai đoạn 1961-2009 Từ nay đến 2030, dự kiến tiêu thụ cá sẽ tăng thêm 50% Sảnlượng sữa dự kiến sẽ tăng mạnh nhất để theo kịp mức độ tiêu thụ trên thế giới
Dân số tăng, thu nhập tăng và thay đổi cơ cấu ăn uống sẽ dẫn đến làm tăng cầu mạnh mẽ đối với một số mặt hàng nông sản khác ngoài các cây lương thực cơ bản vào năm 2030 Theo dự báo trong Bảng 2, cầu lương thực thực phẩm khu vực Đông và
Đông Nam Á sẽ tăng 30% trong giai đoạn 2009-2030 tính theo giá đô-la cố định Giátrị lương thực thực phẩm tiêu thụ theo giá hiện hành sẽ tăng từ 824 tỉ USD năm 2009lên 2 nghìn tỉ USD năm 2030-tương đương 1.062 tỉ USD theo giá đô-la cố định, tức làtăng khoảng 30% Cầu về các sản phẩm chăn nuôi, cá, rau, quả sẽ tăng mạnh
Mức tiêu thụ calo hàng ngày tại Việt Nam dự báo sẽ tăng nhẹ trong các thập kỷ tới Tiêu thụ ca-lo hàng ngày dự báo sẽ tăng từ 2.690 ca-lo năm 2009 lên 2.895 ca-lo
năm 2030 Vào cuối những năm 1990 gạo chiếm 70% lượng ca-lo tiêu thụ tại ViệtNam, nhưng đã giảm xuống còn 52% năm 2009 và sẽ giảm xuống còn 1/3 tổng ca-lotiêu thụ vào năm 2030 Sản phẩm động vật kể cả hải sản sẽ chiếm dưới 1/3, còn lại là
Trang 7dầu ăn, rau, quả, đường, thực phẩm chế biến Tốc độ tăng nhanh của tiêu thụ sản phẩmsữa sẽ tiếp tục duy trì.
Thay đổi tiêu dùng thay đổi như trên sẽ có tác động kinh tế rất lớn Hình 3
minh họa khối lượng và giá trị hiện tại và dự báo một số loại thực phẩm Khối lượnggạo tiêu thụ sẽ giảm khoảng 10% và giá trị theo giá hiện hành sẽ giảm nhiều so vớimức năm 2009 do dự kiến giá thực sẽ giảm Ngược lại, giá trị tiêu dùng các sản phẩmchăn nuôi và thủy hải sản sẽ tăng Mức tiêu thụ ngô trực tiếp sẽ không tăng nhưng nhucầu sản xuất thức ăn chăn nuôi sẽ tăng, kéo theo tăng cầu về ngô và các sản phẩm câytrồng khác nếu có thể tăng năng suất thông qua áp dụng giống mới, cải thiện tưới tiêu
và phương thức canh tác Nếu không, sẽ phải gia tăng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi vànguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi Nếu đây là xu thế chính thì ngành sản xuất proteinđộng vật sẽ có cơ hội lớn; và ngành kiểm soát dịch bệnh chăn nuôi, quản lý an toànthực phẩm và chuỗi kho lạnh liên hoàn nhằm đảm bảo chất lượng và giảm bớt tổn thấtthực phẩm giá trị cao, mau hỏng cũng có cơ hội lớn
Hình 1: Thay đổi khối lượng và giá trị trên thị trường lương thực
thực phẩm nội địa Việt Nam
Trang 8Nguồn: Jamora và Labaste 2015
Cùng với thay đổi về cơ cấu tiêu thụ và chi tiêu lương thực thực phẩm trong nước, cơ cấu ngành kinh doanh nông nghiệp và hành vi của các tác nhân trong chuỗi giá trị cũng sẽ thay đổi đáng kể
Thay đổi cấu trúc sẽ diễn ra đối với một số khâu trong chuỗi giá trị nông nghiệp,mức độ tập trung hóa và cơ cấu sở hữu (nhà nước và tư nhân, trong nước và nướcngoài) Thay đổi hành vi bao gồm hành vi sản xuất, mua, bán; lựa chọn công nghệ;vai trò thị trường về tiêu chuẩn chất lượng, thực thi hợp đồng, mức độ liên kết theochiều dọc và chiều ngang giữa các tác nhân thị trường “Kỳ vọng” và “niềm tin” sẽ lànhững yếu tố quan trọng của quá trình thay đổi này Bản chất của sự thay đổi là dịchchuyển từ sản xuất cấp độ địa phương, quy mô nhỏ, buôn bán trao tay, thâm dụng laođộng sang chuỗi cung ứng dài, nhiều khâu trung gian khác nhau, thâm dụng vốn vàcông nghệ trong mọi công đoạn
Quá trình phát triển này sẽ tạo ra tác động rộng lớn Ở các nước khác, ngành
bán lẻ hiện đại bắt đầu phát triển bằng cách bán hàng chế biến sẵn và sau đó bổ sungthêm các mặt hàng bán chế biến và cuối cùng là rau, quả tươi (IFPRI 2008) Quá trình
đó thể hiện rủi ro đối với việc kinh doanh các mặt hàng bán theo đợt hoặc theo mùa vụ
và khó khăn trong tiêu chuẩn hóa chất lượng Điều này có thể thực hiện thông qua cáchợp đồng chính thức và phi chính thức; và chuyển phương thức mua hàng tại chỗ bởitừng cửa hàng riêng lẻ sang phương thức mua tập trung thông qua các trung tâm phânphối được hỗ trợ bởi các cơ sở thu mua địa phương gắn với các chuỗi cung ứng lớn ở
Trang 9tầm quốc gia, khu vực và quốc tế (Reardon và cộng sự 2014) Hệ thống thu mua hiệnđại cần dựa vào các trung tâm phân phối và mạng lưới kho chứa để đạt được lợi thếquy mô.
Có thể sẽ không ngăn cản được quá trình tập trung hóa và loại bỏ các khâu trung gian vì như thế sẽ có lợi hơn về kinh tế và kinh doanh Vấn đề ở đây là chính
sách công có thể định hướng và hỗ trợ kinh tế tư nhân như thế nào để mang lại kết quảkhông chỉ có lợi về kinh tế mà còn phù hợp về mặt xã hội mà không cần can thiệp trựctiếp Kinh nghiệm cho thấy chính sách công có thể tạo điều kiện thuận lợi, gắn các hộnông dân và các đơn vị kinh doanh quy mô nhỏ vào trong chuỗi bán hàng hiện đại Córất nhiều mô hình về chuỗi giá trị bao trùm phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể vàngành hàng cụ thể
Sản lượng nông sản toàn thế giới sẽ tăng và tăng nhanh hơn tốc độ tăng dân
số, theo USDA Viễn cảnh đó phản ánh tốc độ tăng năng suất dựa trên tiến bộ công
nghệ tuy tốc độ có giảm đôi chút (tiếp nối đà tăng chậm trong hai thập kỷ vừa qua),nhưng điều đó cũng thể hiện sự mở rộng diện tích đất nông nghiệp tuy có bị hạn chế
về nguồn nước khiến cho chi phí nước tăng lên tại nhiều khu vực (USDA) và nhiềuvấn đề môi trường đã được đưa vào trong chính sách đầu tư (OECD/FAO)
Theo OECD/FAO, tăng trưởng thương mại nông sản sẽ giảm hơn so với thập
kỷ vừa qua, nhưng vẫn theo kịp tốc độ tăng trưởng sản xuất Số nước xuất khẩu nông
Trang 10sản sẽ giảm xuống làm cho thương mại dễ bị tổn thương hơn trước các rủi ro thiên tai
và chính sách Ngược lại, số nước nhập khẩu nông sản sẽ tăng
Dự báo giá nông sản tương lai, nhất là dự báo giá cánh kéo nông nghiệp là một công việc đầy bất trắc Báo cáo cập nhật năm 2015 vẫn dự báo giá nông sản sẽ
giảm, nhưng ít nhất tới năm 2020 giá cánh kéo nông nghiệp sẽ cải thiện do giá phânbón và nhiên liệu giảm xuống Tuy nhiên, tăng trưởng giá cánh kéo sẽ âm trong giaiđoạn đầu thập kỷ 2020
Bảng 4: Dự báo chỉ số giá hàng hóa quốc tế (2010 = 100)
Tỷ giá thương mại nông nghiệp 1,00 0,94 1,05 0,92
Dựa trên giá USD 2010 Nguồn: Dự báo giá hàng hóa của Ngân Hàng Thế Giới,10/2015
2.1.4 Tác động của biến đổi khí hậu
Trong vòng 2 thập kỷ tới, biến đổi khí hậu có thể đem lại những thay đổi tíchcực như thu hẹp sản xuất lúa, phát triển thủy sản, ngừng mở rộng diện tích canh tác càphê và các cây trồng khác, giúp khai thác tiềm năng của ngành nông nghiệp không chỉ
về mặt thích ứng mà còn về khả năng “sản xuất ra Tăng giá trị, giảm đầu vào” Trongmọi tình huống, những thách thức nảy sinh từ biến đổi khí hậu không nhất thiết sẽ trởthành lực cản Điều này hoàn toàn có thể thực hiện được với các dự án đầu tư có mụctiêu hướng tới hệ thống đổi mới sáng tạo, tăng cường nguồn tài nguyên thiên nhiên,nâng cao kỹ năng quản lý sản xuất và nâng cao năng lực thể chế nhằm hỗ trợ, theo dõi,học tập và tái định hướng ứng phó với biến đổi khí hậu một cách thống nhất (tức là cácthể chế có năng lực quản lý theo hướng thích ứng)
Trang 11Tại Việt Nam cũng như trên toàn thế giới, nông dân đã nhận biết được nhữngbiểu hiện ngày càng rõ ràng của biến đổi khí hậu Trong tương lai, sự thay đổi này cóthể ở mức không ngờ tới, nhưng không đồng nghĩa với việc chúng ta không thể tiênlượng và đề ra các biện pháp đối phó với chúng:
- Dự báo đến năm 2030 nhiệt độ trung bình sẽ tăng 0,5-1,2°C so với giai đoạn1980-1999 tùy theo từng kịch bản và tại mỗi vùng cụ thể
- Trong tương lai lượng mưa sẽ không thay đổi hoặc giảm xuống (tùy vào từng
kịch bản ấm lên toàn cầu và tùy từng vùng) nhưng một điều chắc chắn sẽ xảy ra là
lượng mưa sẽ tập trung, mưa lớn hơn, mùa mưa sẽ có nhiều mưa hơn và mùa khô sẽkhô hạn hơn
- Nguồn nước bị ảnh hưởng từ nhiệt độ và lượng mưa Mực nước sông tại Nam
Bộ sẽ giảm xuống, lượng nước ngầm sẽ sụt giảm hơn so với hiện nay (GIZ2012),
lượng nước bốc hơi sẽ tăng dẫn đến đòi hỏi tưới tiêu nhiều hơn Ngoài ra, các vấn đề
về sâu bệnh hay các yếu tố khác ảnh hưởng lên năng suất lúa cũng nghiêm trọng hơn
- Đến năm 2040, mực nước biển sẽ dâng thêm 23-24 cm so với giai đoạn
1980-1999 dọc theo bờ biển Việt Nam; và đến giữa thế kỷ mức tăng có thể đạt 28-33 cm
(Ngân hàng Thế giới 2010, theo kết quả dự báo chính thức) Có thể tiên lượng rằngnước biển dâng sẽ làm trầm trọng thêm tình trạng xói lở bờ biển và xâm nhập mặn, vàthay đổi địa bàn trồng lúa trong tương lai mà trên thực tế đã và đang diễn ra
2.2 Kế hoạch cơ cấu lại ngành nông nghiệp
2.2.1 Đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng
và phát triển bền vững” (2013)
a, Mục tiêu đề án
Nhìn lại từ thời kì đổi mới (1986 - 1993) đến năm 2000, khung chính sách mớiđem lại nhiều lợi ích cho ngành nông nghiệp và người nông dân Tuy nhiên nếu nhìnvào một loạt các thị trường yếu tố sản xuất và thị trường hàng hóa thì người ta vẫnthấy một mô hình phổ biến là sự chi phối quá nhiều của Nhà nước trong khi năng lựcquản lý quá yếu, làm hạn chế hiệu quả của những thị trường đó
Đề án Tái cơ cấu Nông nghiệp Việt Nam năm 2013 đã chỉ ra nhiều thách thức,cho thấy sự thay đổi trong tư duy về vai trò của Nhà nước và các ưu tiên đầu tư Việt