nên đắt hơn, mất khả năng cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài, xuất khẩu cácngành sản xuất truyền thống như nông nghiệp và điện tử giảm sút, chí phí sản xuấttrong nước tăng, lạm phát ở mứ
Trang 1ĐỀ TÀI: Căn bệnh Hà Lan, biểu hiện nhiễm Căn bệnh Hà Lan của Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ các nước khác
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CĂN BỆNH HÀ LAN
I Nguồn gốc và khái niệm:
1 Nguồn gốc:
Trong suốt thời gian từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến trước những năm
1960, Hà Lan đã đạt được thành công đáng kể trong hầu hết các lĩnh vực Lạm phát
ít khi vượt quá 3%/năm, tốc độ GNP thường trên 5% và nạn thất nghiệp dao độngquanh tỉ lệ 1% Bí quyết của những thành công này nằm ở chỗ khu vực xuất khẩutruyền thống của nước này có sức cạnh tranh mạnh so với những đối thủ cạnh tranhcủa mình trên toàn thế giới, như sản phẩm nông nghiệp và hàng điện tử
Tuy nhiên, nên kinh tế Hà Lan đã gặp những thay đổi lớn Thời gian này, trongcác cuộc thăm dò, các nhà địa chất đã phát hiện ra một nguồn khí đốt với trữ lượngrất lớn ở Groningen, vùng Biển Bắc Chính phủ Hà Lan đã ngay lập tức quyết địnhkhai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên này nhằm thu ngoại tệ phục vụ cho việcphát triển kinh tế Nhờ đó, nền kinh tế Hà Lan đã phát triển một cách nhanh chóng,xuất khẩu tăng vọt Từ năm 1973 đến năm 1978, Hà Lan đã xuất khẩu một lượnglớn khí đốt làm tăng 10% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu và 4% GNP Chính phủ
Hà Lan đã tăng chi tiêu ngân sách, đầu tư vào nhiều lĩnh vực kém hiệu quả, sảnxuất hàng hóa phi ngoại thương không có sức mạnh cạnh tranh thay vì tiếp tục đầu
tư cho nông nghiệp và điện tử Nhưng khi nguồn khí đốt được khai thác hết, nguồntiền không đủ để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu quốc gia, cầu trong nước giảm, đồngthời nền kinh tế Hà Lan gặp nhiều khó khăn khi phải hấp thụ một lượng ngoại tệrất lớn từ xuất khẩu, đồng nội tệ lên giá mạnh đã khiến hàng hóa trong nước trở
Trang 2nên đắt hơn, mất khả năng cạnh tranh với hàng hóa nước ngoài, xuất khẩu cácngành sản xuất truyền thống như nông nghiệp và điện tử giảm sút, chí phí sản xuấttrong nước tăng, lạm phát ở mức cao, tỷ lệ tăng trưởng thu nhập thấp, tỷ lệ thấtnghiệp tăng Những điều này làm cho tỉ lệ lạm phát tăng từ 2% năm 1970 đến 10%năm 1975 và tốc độ GNP giảm từ 5% xuống còn 1% Điều này làm cho nền kinh tế
Hà Lan trì trệ và để lại hậu quả nặng nề
Từ đó, thuật ngữ “căn bệnh Hà Lan” được The Economist đặt ra vào năm 1977
để miêu tả sự suy giảm của khu vực chế tạo của Hà Lan khi nước này đẩy mạnhxuất khẩu khí thiên nhiên Và “căn bệnh Hà Lan” đã trở thành một thuật ngữ được
sử dụng trong các trường hợp tương tự
2 Khái niệm:
Căn bệnh Hà Lan là một hiện tượng thường xảy ra ở các nước đang phát triển
mà ở đó việc tập trung khai thác tài nguyên thiên nhiên để xuất khẩu thường hủy
hoại hoặc làm giảm mạnh sự phát triển của khu vực sản xuất Nguyên nhân chính
là do các nguồn lực từ tài nguyên đã làm giảm tỷ giá hối đoái thực (tăng giá nội tệ)
và từ đó làm cho khu vực sản xuất trở nên kém cạnh tranh hơn
Ban đầu căn bệnh Hà Lan chỉ đề cập đến việc khai thác tài nguyên nhưng saunày nó đã được mở rộng ra để đề cập tới mọi nguồn thu ngoại tệ khổng lồ, baogồm cả việc tăng giá hàng xuất khẩu và vốn đầu tư nước ngaoài
Trang 3II Mô hình 4 khu vực về căn bệnh Hà Lan
1 Nội dung:
Mô hình 4 khu vực chia nền kinh tế quốc dân thành bốn khu vực như sau:
Về cách phân chia nền kinh tế, mô hình này đã chia nền kinh tế thành khuvực xuất khẩu với khu vực đang bùng nổ chính là khu vực khai thác tài nguyênxuất khẩu Bên cạnh đó, thay vì nghiên cứu nông nghiệp như một khu vực đơnnhất giống mô hình 2 khu vực, mô hình 4 khu vực xem khu vực nông nghiệp gồmkhu vực sản xuất nhằm xuất khẩu thu lợi nhuận (cash crops) và khu vực sản xuấtlương thực tiêu dùng trong nước (food crops) Việc sử dụng mô hình này sẽ phầnnào giúp chúng ta nhìn nhận được tác động của “căn bệnh Hà Lan” một cách chitiết
Khu vực không xuất khẩu
Khu vực sản xuất hàng tư bản
Khu vực sản xuất hàng tiêu dùng.
Trang 43 Tác động:
Trên thực tế, một ngành bùng nổ có thể liên quan tới bất kỳ ngành khác củanền kinh tế do ngành này thu được các khoản tiền hay dòng chảy ngoại tệ chảy vàonền kinh tế, do đó, nó gây ảnh hưởng tới các lĩnh vực kinh tế khác Trong nguyên
lý chính của “căn bệnh Hà Lan”, một ngành phát triển bùng nổ sẽ làm lu mờ cácngành khác trên hai phương diện, thứ nhất qua việc chuyển nguồn lực qua ngànhđang bùng nổ (hiệu ứng chuyển dịch nguồn lực) và làm tăng chi tiêu ở các ngànhphi thương mại (hiệu ứng tiêu dùng.)
Việc sử dụng mô hình 4 khu vực có thể giải thích về căn bệnh Hà Lan qua 2hiệu ứng chính như sau:
a Hiệu ứng di chuyển nguồn lực:
Khi các ngành khai thác tài nguyên bùng nổ, lượng cầu về lao động của khuvực này tăng lên, lao động từ khu vực sản xuất sẽ chuyển sang khu vực khai thácnày làm cho khu vực sản xuất bị thiếu cung lao động và trở nên suy thoái Quátrình này được gọi là phi công nghiệp hóa trực tiếp Tuy nhiên, tác động này có thể
là không hiện hữu bởi vì các lĩnh vực khai thác mỏ và dầu khí thường tuyển dụngrất ít lao động
Mặt khác khi xét cụ thể từng ngành, hiệu ứng di chuyển nguồn lực chỉ rarằng: Đối với ngành nông nghiệp, do đồng nội tệ tăng giá, hàng hóa trong nước trởnên đắt tương đối so với hàng hóa nước ngoài, do đó làm giảm sức cạnh tranh, khuvực sản xuất nhằm xuất khẩu sẽ bị thu hẹp lại trong lúc khu vực sản xuất tiêu dùngtrong nước lại có xu hướng được mở rộng hơn vì nhu cầu trong nước có xu hướngtăng lên nhờ vào dòng ngoại tệ làm cầu tăng
Hiệu ứng di chuyển nguồn lực cũng diễn ra tương tự như vậy trong khu vựccông nghiệp Các ngành công nghiệp sản xuất xuất khẩu có dấu hiệu suy thoái do
Trang 5mức độ cạnh tranh giảm Nguồn nhân lực sẽ di chuyển ra khỏi ngành này Ngoài
ra, mô hình 4 nhân tố cũng chỉ ra rằng, các ngành sản xuất hàng tư bản thường cómức tăng trưởng cao hơn các ngành hàng tiêu dùng do dòng ngoài tệ thường được
ưu tiên cho việc đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
Sự phát triển mạnh mẽ của khu vực khai thác đã làm tăng thu nhập củangười lao động trong lĩnh vực này Nhu cầu tiêu dùng của họ vì thế cũng tăng lên.Đây là nguyên nhân dẫn đến sự tăng trưởng mạnh mẽ của khu vực không xuấtkhẩu Sự tăng trưởng này lại kéo theo sự di chuyển nguồn lực từ khu vực chế tạo
và khiến cho khu vực này ngày càng trì trệ hơn Quá trình này được gọi là phi côngnghiệp hóa gián tiếp Việc di chuyển nguồn lực trong thực tế không chỉ là nhân tốlao động mà còn có các nhân tố khác như vốn, khoa học công nghệ
b Hiệu ứng tiêu dùng:
Thu nhập cao hơn của người dân sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu dùng tăng cao.Nhu cầu cao hơn tất yếu sẽ dẫn đến nhu cầu tiêu dùng tăng cao, thúc đẩy nhữngngành sản xuất phục vụ tiêu dùng phát triển
Mô hình 4 khu vực chia thị trường thành 2 thành phần:
- N (nontradable) bao gồm những hàng hóa và dịch vụ sản xuất trong nước chỉphục vụ nhu cầu trong nước như dịch vụ, xây dựng, và không tham gia xuất khẩuhay nhập khẩu
- T (Tradable) là các loại hàng hóa dịch vụ sản xuất trong nước để phục vụhoạt động xuất nhập khẩu, cũng như nhu cầu nội địa
Hiệu ứng tiêu dùng xảy ra khi những người có thu nhập từ khu vực có sựbùng nổ tăng lên, và lượng thu nhập này sẽ được chi cho cả hai thành phần trongthị trường đã nêu trên Nếu cầu của hàng hóa không tham gia xuất nhập khẩu sovới thu nhập là co dãn thì tăng thu nhập tăng sẽ khiến cầu tăng do đó, để tăng lợi
Trang 6nhuận, các nhà sản xuất sẽ đẩy giá những mặt hàng này tăng Khi giá những mặthàng này tăng nghĩa là nguồn cầu với đầu vào của hàng sản xuất cũng tăng theo vìgiá của nguyên, nhiên liệu hay lương nhân công cũng tăng theo giá của hàng sảnxuất phục vụ trong nước Tuy nhiên giá của hàng xuất nhập khẩu lại cố định bởichúng bị thị trường quốc tế chi phối về giá Do vậy, khi chi phí sản xuất tăng, lợinhuận của các nhà sản xuất hàng xuất nhập khẩu sẽ bị giảm Lợi nhuận giảm đếnmột lúc nào đó sẽ khiến cho các nhà đầu tư rời bỏ khu vực sản xuất hàng hóa xuấtkhẩu và chuyển sang khu vực sản xuất hàng hóa tiêu dùng trong nước Đồng thời,sau một thời gian, khi đồng ngoại tệ yếu đi thì các mặt hàng nhập khẩu trở nên rẻhơn và vì vậy cầu T tăng sẽ được thay thế bằng các mặt hàng nhập khẩu Như vậyhiệu ứng tiêu dùng trên không những sẽ làm tăng giá các mặt hàng N trong nước,gây áp lực lạm phát; đồng thời nó còn làm các ngành sản xuất các mặt hàng T xuấtkhẩu khác bị suy yếu và lượng nhập khẩu lại gia tăng Điều này dẫn đến tình trạngcác ngành sản xuất trong nước không còn cạnh tranh được với hàng hóa nướcngoài Dần dần, công nghệ tụt hậu do không được chú trọng cộng với giá đầu vàotăng cao sẽ khiến các quốc gia mắc “Căn bệnh Hà Lan” giảm công nghiệp hóa
CHƯƠNG II: BIỂU HIỆN NHIỄM BỆNH Ở VIỆT NAM
Mặc dù chưa thật sự mắc phải “căn bệnh Hà Lan” nhưng trên thực tế ViệtNam cũng đã từng có thời kì bắt đầu có những biểu hiện có khả năng nhiễm bệnh
I Biểu hiện nhiễm “Căn bệnh Hà Lan” đến từ xuất khẩu dầu mỏ
Sau đổi mới, Việt Nam đã có những chính sách thúc đẩy xuất khẩu rất hiệuquả và đã đạt được những sự phát triển rất lớn về quy mô và tốc độ tăng trưởng,đóng góp một phần không nhỏ vào GDP cũng như làm cân bằng cán cân thanhtoán Không chỉ tăng lên về tổng sản lượng xuất khẩu, xuất khẩu của Việt Namcũng có sự thay đổi đáng kể trong cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu với sự gia tăngmạnh mẽ của công nghiệp nặng và khoáng sản trong cơ cấu các mặt hàng xuất
Trang 7khẩu, đặc biệt là dầu thô Và biểu hiện của Căn bệnh Hà Lan xuất phát từ việc tăngnhanh trong sản lượng xuất khẩu dầu thô.
Năm 1989, chúng ta bắt đầu xuất khẩu dầu thô với số lượng là 1,5 triệu tấn.Trước năm 2009, sản lượng sản xuất và xuất khẩu dầu thô luôn xấp xỉ nhau và ởmức rất cao Tuy nhiên, kể từ năm 2009 xuất khẩu dầu thô của Việt Nam đã giảmđáng kể, nguyên nhân do khủng hoảng kinh tế năm 2009 và việc Nhà máy lọc dầuDung Quất bắt đầu đi vào hoạt động Khối lượng dầu thô xuất khẩu từ năm 2010đến nay chỉ dao động từ 8-9 triệu tấn trong khi lượng sản xuất cũng dao động từ 15
Trang 9Trong giai đoạn 2004 – 2008, trị giá xuất khẩu dầu thô của Việt Nam tănglên một cách chóng mặt Chỉ trong vòng 4 năm giá trị dầu thô của Việt Nam đãtăng gần gấp đôi, điều này có tác động không nhỏ đến nền kinh tế Giai đoạn này,xuất khẩu dầu thô tăng mạnh khiến cho nền kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào dầu
mỏ, thu từ ngành dầu khí đóng góp từ 20-30% thu ngân sách nhà nước, kéo theo đólượng ngoại tệ lớn đổ vào ngành khai thác dầu khí gây tình trạng giảm công nghiệphóa mà “căn bệnh Hà Lan” đã đề cập
Biểu hiện của căn bệnh Hà Lan ngày càng rõ khi mà năm 2009 và 2010, trịgiá dầu thô xuất khẩu của Việt Nam giảm mạnh do khủng hoảng kinh tế cũng như
sự bùng phát của thị trường dầu khí thế giới Đặc biệt, năm 2015 lượng dầu thôxuất khẩu của Việt Nam đạt 9,18 triệu tấn, giảm 1,3% nhưng kim ngạch chỉ đạt3,72 tỷ USD, giảm tới 48,5% so với năm trước do giá dầu thô giảm mạnh Giá dầugiảm dẫn đến việc thu ngân sách giảm mạnh sẽ tác động tiêu cực tới chi tiêu Chínhphủ và GDP
Nói tóm lại, từ sau năm 2009, kim ngạch xuất khẩu dầu thô đã giảm, do đóchúng ta không rơi vào “căn bệnh Hà Lan” nhưng biểu hiện nhiễm bệnh thì có Ởcấp quốc gia thì nhẹ nhưng ở một số địa phương thì nặng, nhất là các địa phương
mà cơ cấu thu chi ngân sách được đóng góp lớn bởi nguồn dầu mỏ Mở rộng ra vớicác địa phương quá chú trọng khai thác tài nguyên, lúc hết tài nguyên, sẽ có nhiềunơi rơi vào cảnh hụt hẫng, cân đối thu chi ngân sách bị ảnh hưởng lớn Hay nhưmột số địa phương ở miền Trung đã chọn khai thác titan, thay vì du lịch, để thu lợinhanh Cách làm như vậy càng khiến làn sóng khai khoáng tăng mạnh, nhất là khaithác thô, bán ngay
Tư duy khai thác và xuất khẩu tài nguyên đã không còn phù hợp trong bốicảnh hiện nay Điều đó không đồng nghĩa với việc đoạn tuyệt công nghiệp khai
Trang 10khoáng mà cần hướng tới tăng cường giá trị gia tăng, nhất là phục vụ các ngànhcông nghiệp nội địa.
III Biểu hiện mắc căn bệnh Hà Lan ở Việt Nam từ FDI
Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam, dòng vốn đầu tư từ nướcngoài đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển kinh tế -
xã hội Trong vòng 10 năm kể từ khi gia nhập WTO, nước ta càng tiếp nhận nhiềuvốn ngoại tệ hơn, đặc biệt phải kể đến FDI Nguồn vốn này đang tác động mạnhđến cán cân thương mại, cơ cấu kinh tế,… ở Việt Nam Nếu không có các chínhsách, chiến thuật sử dụng hiệu quả, sự gia tăng nhanh chóng về ngoại tệ có thể sẽgây ra các tác động tiêu cực, dẫn đến các triệu chứng của căn bệnh Hà Lan đối vớinền kinh tế
FDI là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, mang lại nhiều lợi ích như bổ sungnguồn vốn phục vụ nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và tăng trưởng kinh tế, chuyểndịch cơ cấu lao động, tăng ngân sách nhà nước, cải thiện nguồn nhân lực,… Mặtkhác, FDI có thể kéo theo các hậu quả như thâm hụt cán cân thương mại, lạm phát,mất cân đối giữa các ngành nghề, vùng lãnh thổ, ô nhiễm môi trường,…
FDI được ưu tiên hướng đến là FDI sạch - nguồn vốn đầu tư trực tiếpnước ngoài, đảm bảo sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế, phải đáp ứngđược các nhu cầu: lợi ích kinh tế, lợi ích xã hội, lợi ích môi trường Cụ thể:
- Lợi ích kinh tế: Nguồn vốn FDI một khi được tiến hành đầu tư thì phảiđảm bảo lợi ích cho cả nước đầu tư và nước tiếp nhận đầu tư Đối với nước đầu
tư khi tiến hành đầu tư phải nhận được các lợi ích kinh tế như nguồn lao động
và nguyên vật liệu rẻ hơn, tạo ra được lợi nhuận trong quá trình đầu tư Đối vớinước tiếp nhận đầu tư phải đảm bảo tăng trưởng kinh tế cao, ổn định và bền
Trang 11vững; phát triển sản xuất theo hướng thân thiện môi trường, công nghiệp hóa,phát triển nông nghiệp – nông thôn bền vững, phát triển công nghiệp sạch.
- Lợi ích xã hội: thực hiện đồng bộ các biện pháp nhằm các mục tiêu: tiến
bộ và công bằng xã hội; xóa đói giảm nghèo; giải quyết việc làm, tăng thu nhập;nâng cao chất lượng giáo dục, nâng cao dân trí, trình độ nghề nghiệp, chăm sócsức khỏe…
- Bảo vệ môi trường, xử lý, khắc phục ô nhiễm, phục hồi và cải thiệnchất lượng môi trường, phòng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác tàinguyên bừa bãi
Dòng vốn FDI đổ dồn vào Việt Nam quá lớn khiến nền kinh tế Việt Namkhông thể hấp thu nổi và kéo theo nhiều hệ quả là triệu chứng của Căn bệnh HàLan, đó là: sự suy yếu của đồng nội tệ, gây ra lạm phát nghiêm trọng; sự chuyểndịch lao động dẫn đến suy yếu của ngành sản xuất và ảnh hưởng đến ngành xuấtkhẩu của Việt Nam; sự khánh kiệt của các nguồn tài nguyên và hủy hoại môitrường
1 Sự suy yếu của đồng nội tệ và lạm phát đỉnh điểm ở Việt Nam giai đoạn
2007 - 2008
Biểu hiện đầu tiên và rõ ràng nhất phải kể đến là tình trạng lạm phát ở nước
ta trong giai đoạn 2007 - 2008 Dòng vốn đầu tư nước ngoài như FDI ồ ạt đổ vàonước ta từ năm 2007 - năm đầu tiên nước ta gia nhập WTO đã khiến tổng lượngngoại tệ lên đến khoảng 25 tỉ USD tràn vào thị trường Con số này còn tăng lêngần 3 lần vào năm 2008 khi nước ta đón nhận 71 tỉ USD vốn FDI Vốn FDI đổ vàovới số lượng lớn và quá nhanh khiến cho hệ thống quản lí kinh tế Việt Nam khôngkịp trở tay Chính sách tài chính, tiền tệ còn lỏng lẻo, chưa hợp lý, quản lý cònnhiều thiếu sót dẫn đến không kiểm soát được dòng tiền, làm cung tiền tăng lênđáng kể, gây ra lạm phát nghiêm trọng Lạm phát hai năm này đã lên tới 2 chữ số,
Trang 12đỉnh điểm là năm 2008 thậm chí đã lên đến 19,8% Thời kì này cũng chính là giaiđoạn sóng gió trong công tác kiềm chế lạm phát của chính phủ Việt Nam.
Về sự chuyển dịch lao động giữa các vùng, các tỉnh thành trong nước và cácngành trong nền kinh tế cạnh tranh mạnh mẽ để thu hút vốn FDI trong khi Nhànước chưa có định hướng đúng đắn sẽ dẫn đến sự phát triển không đồng đều giữacác vùng và phân bố nguồn FDI cân đối cho các ngành Những khu vực tập trungnhiều thành phố lớn như Hà Nội, TP HCM, Hải Phòng và các vùng lân cận thườngthu hút được một lượng rất lớn đầu tư nước ngoài trong khi các khu vực như TâyNguyên, Trung du và miền núi phía Bắc lại không được hưởng nguồn vốn để phát
Trang 13triển Điều này sẽ gây ra hai tác động Một là sự phát triển không đồng đều giữacác vùng miền của Việt Nam Điều này đi ngược lại với định hướng phát triển vàgây trở ngại lớn cho các chính sách phát triển vùng sâu vùng xa của chính phủ Hai
là, nguồn vốn FDI đầu tư vào các dự án được tiến hành ở các vùng thu hút FDI lớn
sẽ tạo ra hàng loạt công việc và thu hút lao động đến với các vùng này Lao động ởcác khu vực ít thu hút vốn hơn sẽ rời bỏ khu vực này và khiến các ngành sản xuấttrong khu vực ít thu hút vốn hơn bị trì trệ, không phát triển
Dưới đây là cơ cấu FDI theo vùng đến năm 2014 theo nguồn của Tổng cụcthống kê Nhìn vào biểu đồ, ta nhận thấy sự mất cân đối lớn về lượng vốn FDI đổvào từng vùng Tây Nguyên chỉ nhận được 0,36% lượng FDI trong khi 44,52% rơivào Đông Nam Bộ và 24,44% vào Đồng bằng sông Hồng
Đồng bằng sông Cửu Long Trung du và miền núi phía Bắc
Tây Nguyên
Nguồn: Tổng Cục Thống kê
Trên phương diện cơ cấu ngành, lượng vốn FDI cũng không có sự đồng đềugiữa các ngành, suy yếu ngành sản xuất và xuất khẩu của Căn bệnh Hà Lan Thứnhất, nông nghiệp là khu vực nhận được rất ít đầu tư từ nước ngoài, trong khi ViệtNam vẫn là một nước nông nghiệp Việc này dẫn đến nông nghiệp Việt Nam còn
Trang 14phát triển tương đối chậm so với tốc độ phát triển của ngành Công nghiệp, Dịchvụ Nguồn vốn FDI khiến cho nhóm ngành công nghiệp – xây dựng và dịch vụtăng trưởng quá nóng mà không có sự tăng trưởng tương tự từ ngành nông nghiệp;dẫn đến sự mất cân đối về cơ cấu ngành kinh tế, kinh tế phát triển lệch lạc Ngoài
ra, lao động trong ngành nông nghiệp cũng sẽ có sự dịch chuyển sang ngành côngnghiệp và dịch vụ do nông nghiệp không được đầu tư và phát triển sẽ dẫn đến sựtrì trệ, mức lương cho lao động trong ngành nông nghiệp thấp hơn so với mứclương tron ngành công nghiệp và dịch vụ Mặt khác, ngành sản xuất, cụ thể là mặthàng xuất khẩu truyền thống của Việt Nam trong ngành nông nghiệp như cà phê,gạo cũng bị ảnh hưởng do kết quả của việc chuyển dịch lao động
Cũng như những phân tích trong mô hình 4 khu vực ở Chương I, nguồn vốnFDI lớn đổ vào Việt Nam cũng khiến lượng ngoại tệ trong nước tăng lên, nội tệyếu đi và lên giá, khiến cho ngành xuất khẩu bị ảnh hưởng Người dân tăng sửdụng hàng hóa nhập khẩu vào trong nước thay cho hàng hóa sản xuất trong nướcnên khiến khu vực sản xuất suy yếu
Phần lớn nguồn vốn này đầu tư vào các toà nhà văn phòng, trung tâmthương mại, khu mua sắm, giải trí chứ không tập trung vào các công trình côngcộng như trường học, bệnh viện, đường xá… Đây cũng là một sự mất cân đối mànguồn vốn FDI gây ra
Biểu đồ dưới đây sẽ cho ta thấy cơ cấu lĩnh vực đầu tư FDI vào Việt Namnăm 2013: