Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo năm 1994 đã khẳng định mối quan hệ mới giữa các yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững, dân số, giáo dục, công bằng giới,sức khoẻ s
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Dân số và phát triển có mối quan hệ tác động qua lại rất chặt chẽ Quy mô, cơ cấu, chấtlượng và tốc độ tăng dân số có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển kinh tế xã hội và ngượclại Phát triển kinh tế có tác động trực tiếp đến mức sinh, tỉ lệ tử vong, phân bố dân cư, chấtlượng dân cư và ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người
Ở Việt Nam, cũng như khắp nơi trên thế giới, mục tiêu cuối cùng của các quá trình kinh tế
-xã hội, bảo vệ môi trường là nâng cao chất lượng cuộc sống một cách bền vững, và phát triểncon người Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo năm 1994 đã khẳng định mối quan
hệ mới giữa các yếu tố tác động đến sự phát triển bền vững, dân số, giáo dục, công bằng giới,sức khoẻ sinh sản, xoá đói giảm nghèo, tăng trưởng kinh tế bền vững và môi trường
Trong những giai đoạn trước, Việt Nam luôn được đánh giá là có cơ cấu dân số vàng, là mộtđiều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế Tuy nhiên, dân số và các chính sách dân số có thực sựtạo được những tác động tích cực và hiệu quả đến sự tăng trưởng của nền kinh tế hay không? Và
sự thay đổi trong cơ cấu dân số kéo theo những ảnh hưởng gì đến sự phát triển kinh tế? Khi nhìnvào và đánh giá từ thực tiễn, vẫn còn rất nhiều câu hỏi lớn đặt ra cho những vấn đề này
Dân số là cơ sở hình thành các nguồn lao động, phục vụ cho sự phát triển, quy mô dân số, cơcấu dân số hợp lý, chất lượng dân số cao tạo điều kiện phát triển nguồn lao động cả về số lượng
và chất lượng Bởi vậy chúng ta cần nắm rõ mối quan hệ tác động qua lại giữa dân số và pháttriển kinh tế, nghiên cứu và đưa ra những giải pháp, định hướng nhằm phát huy tối đa nguồn lựccon người, làm cơ sở vững chắc cho tăng trưởng kinh tế bền vững cũng như hạn chế những hệ
quả của dân số Vì lí do trên, nhóm chúng em quyết định lựa chọn đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM”.
Trang 2
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA DÂN SỐ ĐẾN TĂNG
1.1.2. Cơ cấu dân số
Cơ cấu dân số là sự phân chia tổng số dân của một vùng thành các nhóm theo một haynhiều tiêu thức (mỗi một tiêu thức là một đặc trưng nhân khẩu học nào đó)
Có rất nhiều loại cơ cấu dân số như: Cơ cấu dân số theo tuổi, giới tính, tình trạng hônnhân, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn, nghề nghiệp, mức sống, thành thị nông thôn…Việcnghiên cứu cơ cấu dân số cho phép chúng ta nghiên cứu một cách tỷ mỉ và kỹ lưỡng hơn dân sốcủa một địa phương Trong các loại cơ cấu dân số thì hai cơ cấu quan trọng nhất là cơ cấu tuổi và
cơ cấu giới tính Bởi vì cơ cấu theo tuổi và giới tính là các đặc tính quan trọng của bất kỳ nhómdân số nào, nó ảnh hưởng đến mức sinh, mức tử, di dân trong nước và quốc tế, tình trạng hônnhân, lực lượng lao động, thu nhập quốc dân thuần túy, kế hoạch phát triển giáo dục và an sinh
xã hội
a Cơ cấu dân số theo sinh học
* Cơ cấu dân số theo giới
Cơ cấu dân số theo giới biểu thị tương quan giữa giới nam so với giới nữ hoặc mỗi giới
so với tổng số dân, đơn vị tính bằng phần trăm (%)
Tỉ số giới tính =
Trang 3Cơ cấu dân số theo giới biến động theo thời gian và khác nhau ở từng nước, từng khuvực Thông thường ở những nước phát triển, nữ nhiều hơn nam; ngược lại, ở các nước đang pháttriển, nam nhiều hơn nữ Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ phát triển kinh tế - xã hội, do chiếntranh, do tai nạn, do tuổi thọ trung bình của nữ thường cao hơn nam và do chuyển cư Khi phântích cơ cấu theo giới, người ta không chỉ chú ý tới khía cạnh sinh học, mà còn quan tâm tới khíacạnh xã hội như vị thế, vai trò, quyền lợi, trách nhiệm của giới nam và giới nữ.
* Cơ cấu dân số theo độ tuổi
Cơ cấu dân số theo tuổi là tập hợp các nhóm người được sắp xếp theo những lứa tuổi nhấtđịnh Trong dân số học, cơ cấu theo tuổi có ý nghĩa quan trọng vì nó thể hiện tổng hợp tình hìnhsinh tử, tuổi thọ, khả năng phát triển dân số và nguồn lao động của một quốc gia Có hai loại cơcấu dân số theo tuổi:
Cơ cấu tuổi theo khoảng cách không đều nhau: Với loại cơ cấu này, dân số được phânchia thành ba nhóm tuổi:
+ Nhóm dưới tuổi lao động: 0 – 14 tuổi
+ Nhóm tuổi lao động: 15 – 59 tuổi (hoặc đến 64 tuổi)
+ Nhóm trên tuổi lao động: 60 tuổi (hoặc 65 tuổi) trở lên
Căn cứ vào ba nhóm tuổi trên, người ta cũng phân biệt dân số ở một quốc gia là già haytrẻ
Cơ cấu tuổi theo khoảng cách đều nhau Với loại cơ cấu này, dân số được phân chia theokhoảng cách đều nhau: 1 năm, 5 năm hoặc 10 năm
Để nghiên cứu cơ cấu sinh học, người ta thường sử dụng tháp dân số (hay tháp tuổi) - môhình đồ họa mô phỏng sự phân bố dân số ở các nhóm tuổi khác nhau (thường của một địaphương, vùng hay quốc gia nào đó trên thế giới)
+ Kiểu mở rộng (Bốt-xoa-na): đáy tháp rộng, đỉnh tháp nhọn, cạnh tháp thoai thoải; thểhiện tỉ suất sinh cao, trẻ em đông, tuổi thọ trung bình thấp, dân số tăng nhanh
Trang 4+ Kiểu thu hẹp (Trung Quốc): tháp có dạng phình to ở giữa, thu hẹp về hai phía đáy và đỉnh tháp; thể sự chuyển tiếp từ dân số trẻ sang dân số già, tỉ suất sinh giảm nhanh, nhóm trẻ em
ít, gia tăng dân số có xu hướng giảm dần
+ Kiểu ổn định (Nhật Bản): tháp có dạng hẹp ở phần đáy và mở rộng hơn ở phần đỉnh; thể hiện tỉ suất sinh thấp, tỉ suất tử thấp ở nhóm trẻ nhưng cao ở nhóm già, tuổi thọ trung bình cao, dân số ổn định cả về quy mô và cơ cấu
b Cơ cấu dân số theo xã hội
* Cơ cấu dân số theo lao động
Cơ cấu dân số theo lao động cho biết nguồn lao động và dân số hoạt động theo khu vựckinh tế - Nguồn lao động :
Nguồn lao động bao gồm bộ phận dân số trong độ tuổi quy định có khả năng tham gia laođộng Hiện nay trên thế giới có khoảng 2,9 tỉ người đang tham gia hoạt động kinh tế, chiếm trên48% tổng số dân, hay 77% dân số trong độ tuổi lao động Trong hơn hai thập kỉ qua, số dân nàytăng thêm 900 triệu người
* Cơ cấu dân số theo tình trạng hôn nhân
Trang 5Theo tình trạng hôn nhân, người ta chia dân số từ 13 tuổi trở lên thành các nhóm dân sốnhư sau:
+ Chưa vợ/chồng: dân số chưa bao giờ lấy vợ, lấy chồng
+ Có vợ/chồng: người được pháp luật hoặc phong tục thừa nhận là có vợ, có chồng hoặcsống với người khác giới tính như vợ/ chồng tại thời điểm điều tra
+ Goá (người có vợ/ chồng đã bị chết mà chưa tái hôn tại thời điểm điều tra)
+ Ly hôn: người trước đây đã kết hôn nhưng nay đã được toà án xử cho ly hôn và hiệnvẫn chưa kết hôn lại
+ Ly thân: người đã kết hôn nhưng vì lý do nào đó đã không còn sống chung như vợ/chồng tại thời điểm điều tra
+ Không xác định: số người còn lại
* Cơ cấu dân số theo trình độ văn hóa
Cơ cấu dân số theo trình độ văn hoá phản ánh trình độ dân trí và học vấn của dân cư, làmột trong những tiêu chí để đánh giá chất lượng cuộc sống ở mỗi quốc gia
Toàn bộ dân số từ 5 tuổi trở lên trước hết được chia thành số đang đi học, số đã thôi học
và số chưa bao giờ đi học Sau đó, toàn bộ dân số 5 tuổi trở lên lại được chia theo các cấp học đãhoàn thành Dân số 10 tuổi trở lên được chia thành số người biết đọc biết viết và số người khôngbiết đọc biết viết Những phân chia này đều được phân biệt giữa nam và nữ, giữa các nhóm tuổikhác nhau và giữa khu vực thành thị và nông thôn
Hiện nay trên thế giới còn hơn 1 tỉ người mù chữ Tỉ lệ người mù chữ cao nhất là ở cácnước châu Phi, Nam Á và các nước Ả Rập Trong khi đó, tại các nước kinh tế phát triển, tỉ lệngười biết chữ rất cao, từ 90 đến 100% Ngoài ra còn có các loại cơ cấu dân số khác như: cơ cấudân số theo dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo…
1.2. Tăng trưởng kinh tế
Trang 6Tăng trưởng kinh tế là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảngthời gian Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặcmức tăng GDP bình quân đầu người một năm Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác địnhmức tăng như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI( tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩmròng quốc gia) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng).
Nếu việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia tăng lên theo bất cứ cách nào,cùng với đó là thu nhập bình quân tăng lên, thì quốc gia đó đã đạt được “tăng trưởng kinh tế”
2. Cơ sở lý luận về tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế:
1 Những quan điểm kinh tế về tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế
Trong nghiên cứu hoạch định chính sách phát triển kinh tế xã hội, các nhà nghiên cứu đềuquan tâm đến những mối liên hệ giữa phát triển dân số với tăng trưởng kinh tế Chiến lược dân
số là một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề hàngđầu tác động trực tiếp đến nền kinh tế quốc dân, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộcsống của con người Chính vì vậy, dân số vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển
Khi nói về ảnh hưởng và quan hệ giữa tăng trưởng dân số và phát triển kinh tế, thường có
ba dòng quan điểm: lý thuyết chuyển dịch (transition theory); lý thuyết chính thống (orthodoxtheory); lý thuyết đổi mới (revisionism theory)
• Lý thuyết chuyển dịch (transition theory) cho rằng công nghiệp hóa là nguyên nhân dẫn tới sự
sụt giảm tỷ lệ sinh sản Sự phát triển kinh tế đầu tiên sẽ thúc đẩy mức tăng trưởng phúc lợi trênđầu người, nhưng sự tăng trưởng này chỉ là tạm thời Dần dần, mức độ tăng dân số sẽ giảm dầnkhi nền kinh tế càng phát triển
• Lý thuyết chính thống (orthodox theory) cho rằng tăng dân số làm trì trệ quá trình phát triển Vì
vậy giảm tỷ lệ sinh sản sẽ là một phương pháp thúc đẩy sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế Trongnhững năm 1950, tư tưởng này bao trùm trong nhóm các nhà kinh tế, chính trị, và xã hội họcnhấn mạnh rằng sự tăng trưởng dân số ở các nước kém phát triển sẽ làm cản trở khả năng pháttriển kinh tế của họ, và vì vậy phong trào kế hoạch hóa gia đình cần phải được trở thành chiếnlược phát triển kinh tế quốc gia Tư tưởng này cho rằng, “nhà đông con thì nghèo,” và ở cấp quốcgia, một nước đông dân với tốc độ tăng dân số cao sẽ làm cản trở sự phát triển kinh tế
• Lý thuyết đổi mới (revisionism theory) cho rằng tăng dân số là hiện tượng trung lập, và có thể có
lợi cho phát triển kinh tế, nhờ tính chất lợi suất không đổi theo quy mô và sự tăng trưởng nhờ các
Trang 7yếu tố nội sinh Quan điểm này cho rằng thúc đẩy tăng trưởng dân số có thể xúc tác cho tăngtrưởng kinh tế.
Bên cạnh ba quan điểm chính nêu khá khái quát về mối quan hệ quan trọng này, chúng tacòn có thể đề cập đến các mô hình cũng như học thuyết tiêu biểu đặc trưng cho tác động của dân
số đến sự phát triển kinh tế của một quốc gia, đó là mô hình trong kinh tế học cổ điển và họcthuyết Malthus
• Mô hình trong kinh tế học cổ điển
Mô hình đơn giản về ảnh hưởng của sự phát triển dân số đến kinh tế là mô hình do cácnhà kinh tế học cổ điển đưa ra; Đó là giả thiết lao động và đất đai là 2 yếu tố sản xuất duy nhấttrong nền kinh tế được thể hiện bằng hàm sản xuất:
Y= F(P,R)Trong đó:
§ Y là tổng sản lượng trong nền kinh tế
§ P là quy mô dân số
vị diện tích đất đai thì sự gia tăng về sản lượng do một lao động tăng thêm tạo ra cuối cùng sẽngày càng nhỏ đi Như vậy sản phẩm biên tế Y’(P) và sản phẩm bình quân của lao động Y/P làcác hàm số giảm dần của P; Điều nầy diễn giải là nếu số lượng đất đai trong nền kinh tế cố địnhthì thu nhập trên đầu người của dân số (Y/P) sẽ giảm dần khi dân số tăng lên
• Học thuyết Malthus
Nội dung cơ bản của học thuyết của Thomas R Malthus được trình bày trong cuốn sách
"An Essay on the Principle of Population" (1798) Theo Malthus, dân số thế giới cứ 25 năm lại
Trang 8tăng gấp đôi và tăng lên như vậy từ thời kỳ này sang thời kỳ khác, theo cấp số nhân: 1, 2, 4, 8,
16, … Trong khi đó, dựa vào quy luật "độ màu mỡ của đất đai giảm dần" ông cho rằng của cảivật chất chỉ tăng theo cấp số cộng: 1, 2, 3, 4, 5, …
Ví dụ, một quốc gia có 50 triệu dân và hiện có đủ lương thực cho 50 triệu dân này, sau 25năm nữa sẽ có 100 triệu dân và vẫn có thể đủ lương thực cho 100 triệu dân Nhưng sau 50 nămnữa, dân số sẽ là 200 triệu người và sản xuất lương thực chỉ có thể tăng đủ cung cấp cho 150triệu người mà thôi Sau hai thế kỷ, dân số sẽ lớn hơn gần 30 lần khả năng cung cấp lương thựcthực phẩm; sau ba thế kỷ, mối tương quan này là 315 lần và sau hai ngàn năm, sự chênh lệch này
là vô cùng lớn, không thể tính được Theo cách tính toán và lập luận của Malthus như vậy, nạnthừa nhân khẩu, đói nghèo, dịch bệnh và chiến tranh là các hậu quả tất yếu sẽ xảy ra Bên cạnh
đó, ông cho rằng thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh là các giải pháp cứu cánh để giải quyết vấn đề
mà ông gọi là các “hạn chế mạnh”
Mô hình của học thuyết Malthus rất đơn giản và phản ánh đặc điểm lịch sử của quy luậtdân số, nhưng sự suy luận của ông chưa đúng với thực tế Học thuyết này chưa tính đến khả năngphát triển của khoa học kỹ thuật và quan niệm về gia đình hiện đại Malthus đã cho rằng dân số
cứ tăng lên mãi theo khả năng sinh sản tự nhiên mà không quan tâm đến một thực tế là đất đai cóthể được cải tạo bằng các phương pháp khoa học công nghệ và mức sinh chịu tác động mạnh mẽcủa nền kinh tế đương thời, của những quan điểm xã hội và nhu cầu cá nhân của từng kiểu giađình Malthus đã cắt nghĩa không chính xác các hậu quả xã hội của biến động dân số và đề raphương pháp giải quyết sai lệch, ấu trĩ Thực tế, các yếu tố kinh tế - xã hội hoàn toàn có khảnăng tác động vào hiện tượng tái sản xuất dân số (mức sinh, mức tử) để tạo ra sự tăng dân số hợplý
Mặc dù học thuyết Malthus không được sự ủng hộ vào thế kỷ 19, nhưng trong nhữngnăm gần đây người ta lại quan tâm trở lại học thuyết này do sự tăng trưởng dân số nhanh ở cácnước đang phát triển, sự lãng phí tài nguyên thiên nhiên, xuống cấp môi trường và mối quan tâmđến nguồn cung cấp lương thực
2 Tác động của dân số đến tăng trưởng kinh tế qua lực lượng lao động
Yếu tố cơ bản của tăng trưởng và phát triển kinh tế xã hội là nguồn nhân lực Mục tiêucủa sự phát triển suy cho cùng là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống và đáp ứng nhu cầu ngày
Trang 9càng cao của con người Do vậy, nguồn nhân lực có vai trò vô cùng quan trọng trong tăng trưởng
và phát triển
1 Số lượng lao động
Tổng cung lao động là lực lượng lao động có khả năng lao động hoặc đang tham gia laođộng Khi lực lượng lao động càng lớn thì càng tạo ra thị trường lao động lớn và có tiềm năng,thu hút sự đầu tư và biết tận dụng lợi thế về lực lượng lao động lớn, tiền lương rẻ mở rộng sảnxuất, sử dụng lợi thế nhờ quy mô, tăng sức cạnh tranh
Số lượng lao động phụ thuộc vào phần lớn dân số, cung lao động lớn dễ tìm kiếm nhân tốcon người có liên quan đến sáng chế, công nghệ hiện đại và sử dụng lao động năng suất cao Vậycung lao động càng lớn thị trường lao động càng có tiềm năng
2 Chất lượng lao động
Chất lượng lao động là “mức độ đáp ứng về khả năng làm việc của người lao độngvớiyêu cầu công việc của tổ chức và đảm bảo cho tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu cũng nhưthỏa mãn cao nhất nhu cầu của người lao động” (Theo TS Vũ Thị Mai) Chất lượng lao động cóthể được đánh giá qua các chỉ tiêu như trạng thái sức khỏe, trình độ văn hóa, trình độ chuyênmôn kĩ thuật
Lao động thu nguồn ngoại tệ của nước ngoài và tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế.Chính vì vậy, sức khỏe cho người lao động là vấn đề quan tâm hàng đầu vì khi người lao động cósức khỏe tốt thì sẽ dẫn đến khả năng đáp ứng được với cường độ lao động cao, đảm bảo đượctiến độ sản xuất, tăng năng suất lao động Vì vậy cần phải có chế độ khám sức khỏe định kỳ chongười lao động và bảo hiểm y tế cho người lao động
Trình độ văn hóa của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua số lượng và tỷ lệ ngườibiết chữ, số lượng và tỷ lệ người tốt nghiệp các cấp học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổthông, cao đẳng, đại học, trên đại học, … Đây là một trong những chỉ tiêu hết sức quan trọngphản ánh chất lượng nguồn nhân lực cũng như trình độ phát triển của kinh tế xã hội
Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động rất quan trọng Nó liên quan trực tiếp đếnnăng suất của lao động Trong giai đoạn hiện nay, doanh nghiệp nào có bước tiến nhanh về đổimới công nghệ thì càng chiếm được ưu thế và có thể cạnh tranh về giá thành với các sản phẩmtrên thị trường trong và ngoài nước Khi khoa học công nghệ phát triển thì việc đưa công nghệ
Trang 10mới, hiện đại vào dây chuyền sản xuất đòi hỏi người lao động cần có đủ trình độ thì mới vậnhành được.
3 Vai trò của lao động với tăng trưởng kinh tế
Lao động là yếu tố đầu vào không thể thiếu của quá trình sản xuất và cũng là yếu tố tạonên tăng trưởng kinh tế Đặc biệt đối với các nước đang phát triển do điều kiện về vốn và khoahọc công nghệ bị hạn chế, bên cạnh đó còn có một lực lượng lao động lớn nên đây sẽ là tiềmnăng mà các nước đang phát triển cần biết vận dụng và khai thác triệt để nguồn lực này
Lao động trình độ kỹ thuật càng cao thì tổ chức sản xuất càng khoa học và năng lực sảnxuất ngày càng tăng Sự tăng năng suất lao động dẫn đến tăng lợi nhuận của doanh nghiệp, buộcdoanh nghiệp phải trả mức tiền lương phù hợp với trình độ của người lao động, vậy sẽ làm tăngthu nhập bình quân đầu người
Theo quy luật Engel, khi thu nhập bình quân đầu người tăng thì tiêu dùng cho các hànghóa thông thường giảm xuống, chi tiêu cho các hàng hóa cao cấp, xa xỉ tăng lên Điều này dẫnđến tỉ trọng nông nghiệp giảm, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ sẽ tăng lên.Vì vậy, khi tiêu dùngtăng làm thúc đẩy quá trình sản xuất và mở rộng quy mô sản xuất, dẫn đến sự tăng trưởng củanền kinh tế
Ngoài ra do lợi thế nguồn lực lao động lớn đã tạo ra lợi thế so sánh về lao động cho nềnkinh tế ở các nước đang phát triển là tiền lương lao động rẻ hơn so với các nước phát triển Khi
đó, có thể cạnh tranh về giá ở cả những sản phẩm cùng loại Xong, do lực lượng lao động lớn thìyêu cầu giải quyết việc làm cũng phải tăng để tạo động lực cho nền kinh tế phát triển
Ngược lại, nguồn nhân lực có trình độ văn hoá và chuyên môn nghiệp vụ thấp sẽ không
đủ khả năng để tiếp thu khoa học công nghệ hiện đại Khoa học kỹ thuật lạc hậu, năng suất laođộng thấp sẽ làm cho tốc độ phát triển của các ngành công nghiệp và dịch vụ công nghệ cao thấp
và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế cũng sẽ diễn ra chậm chạp hoặc “dậm chân tại chỗ”,thậm chí có khi còn thụt lùi, nền kinh tế sẽ phát triển chậm
Do đó, để phát triển đất nước thì việc đầu tiên cần làm là nâng cao trình độ cho người laođộng và đào tạo nguồn nhân lực là một việc làm cấp thiết cần phải được quan tâm đúng mức.Nước ta là nước nông nghiệp và chỉ vừa tiến hành đổi mới nền kinh tế chưa lâu, đang trên conđường thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, khoa học, kỹ thuật còn rất lạc hậu trình
độ học vấn và trình độ chuyên kỹ thuật còn nhiều hạn chế, do đó để có thể theo kịp được các
Trang 11nước trên thế giới và khu vực thì nước ta cần phải đầu tư phát triển các nguồn lực đất nước nhiềuhơn nữa trong đó quan trọng nhất là phát triển nguồn nhân lực vì đây là nhân tố bên trong quantrọng quyết định tới sự phát triển của đất nước.
3 Tác dộng của dân số đến tăng trưởng kinh tế qua các chính sách an sinh xã hội.
Trong thời gian gần đây, hệ thống an sinh xã hội ở Việt Nam càng thể hiện vai trò to lớncủa nó đối với sự phát triển và ổn định kinh tế và xã hội An sinh xã hội góp phần ổn định đờisống của người lao động, thay thế và bù đắp một phần thu nhập khi người lao động bị ốm đau,mất khả năng lao động, mất việc làm Nhờ vậy mà người lao động có thể khắc phục nhanh chóngnhững tổn thất về vật chất, phục hồi sức khỏe và ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao độngbình thường Ngoài ra, an sinh xã hội còn giúp đảm bảo an toàn, ổn định cho toàn bộ nền kinh tế
xã hội, góp phần vào việc phòng ngừa, hạn chế những tổn thất, rủi ro xảy ra với nền kinh tế Bêncạnh đó, phân phối trong an sinh xã hội là sự phân phối lại theo hướng có lợi cho những người
có thu nhập thấp, vì vậy, an sinh xã hội góp phần làm giảm khoảng cách giữa người giàu vàngười nghèo, góp phần đảm bảo sự công bằng xã hội Ta có thể thấy rằng, an sinh xã hội thể hiệnđường lối chủ trương của Đảng và Nhà nước ta vào mục tiêu phát triển con người, thúc đẩy côngbằng và tiến bộ, nâng cao chất lượng cuộc sống nhân dân Nói đến an sinh xã hội không thểkhông đề cập đến vấn đề dân số, chúng là hai khía cạnh liên quan trực tiếp đến nhau, có mốiquan hệ chặt chẽ, không thể tách rời
a Già hóa dân số
Khái niệm già hóa dân số chỉ quá trình già của dân số, khi trong cơ cấu dân số số ngườicao tuổi chiếm tỉ lệ ngày càng tăng lên Già hóa dân số đặt ra thách thức lớn đối với nền kinhtếtoàn thế giới, đặc biệt là đối với Việt Nam, khi tốc độ già hóa dân số nước ta diễn ra ngắn hơnnhiều so với các nước Khi dân số cao tuổi chiếm tỉ lệ cao trong cơ cấu dân số đồng nghĩa vớiviệc tỉ lệ tham gia lực lượng lao động có xu hướng giảm đi Như vậy, số người làm ra của cải vậtchất cho xã hội sẽ có xu hướng giảm đi và số người thụ hưởng sẽ có xu hướng gia tăng Điều này
ở một khía cạnh nào đó cũng sẽ tạo ra gánh nặng cho quỹ hưu trí khi phải chi trả lương hưu
Trang 12nhiều hơn Vấn đề đặt ra cho hệ thống an sinh xã hội quốc gia là phải có chính sách việc làm phùhợp cho người cao tuổi để họ vừa duy trì được sức khỏe, vừa có thêm thu nhập.
Hơn nữa, khi tuổi càng cao, sức khỏe càng xảy ra nhiều vấn đề hơn, quá trình lão hóadiễn ra với tốc độ càng nhanh cùng với việc phát sinh nhiều bệnh tật đặc trưng của vấn đề tuổigià Như vậy, cùng với tuổi tác, cơ cấu chi tiêu của người cao tuổi đã thay đổi nhiều, chi phí chokhám chữa bệnh có xu hướng tăng lên, đây sẽ là một thách thức không nhỏ đối với gia đình, xãhội và hệ thống an sinh xã hội của quốc gia
Như vậy, xét trên khía cạnh tích cực, già hóa dân số là quá trình biến đổi nhân khẩu họctất yếu, đánh dấu sự phát triển mạnh mẽ và vượt trội của con người trên nhiều lĩnh vực khácnhau từ chế độ dinh dưỡng, chất lượng giáo dục, đời sống kinh tế cho đến tiến bộ y khoa Tuynhiên, bên cạnh những lợi thế, già hóa dân số cũng đặt ra nhiều thách thức cho các quốc gia trênthế giới Năm 2022, số người trên 60 tuổi trên toàn thế giới ước tính đạt đến 1 tỉ người, cao gấp 5lần con số này vào năm 1950, chính dân số cao tuổi gia tăng nhanh chóng sẽ tạo ra áp lực mạnh
mẽ lên hệ thống an sinh xã hội và dịch vụ y tế tại nhiều đất nước Cũng như những cơ hội, cácthách thức mà thời kì già hóa dân số mang đến là tất yếu, do đó,xã hội cũng như cộng đồng cần
có những chuẩn bị cả về nhận thức và tài chính phù hợp để có thể nhanh chóng giả quyết nhữngkhó khăn và rủi ro trước mắt
b Gia tăng dân số
Hiện nay, một vấn đề làm cho nhiều quốc gia, nhất là các nước đang phát triển lo lắng làvấn đề gia tăng dân số Thực tế cho thấy, dân số ở các nước đang phát triển ngày càng gia tăngvới tốc độ nhanh chóng, nhưng do yêu cầu xây dựng kinh tế công nghiệp, các nước này vay nợquá lớn của nước ngoài nên không tránh khỏi tình trạng lạm phát và thất nghiệp Và tình trạngthiếu việc làm chính là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến các vấn đề, tệ nạn của xã hội như cờ bạc,nghiện hút, mại dâm,trộm cắp… Sự gia tăng dân số cũng tác động mạnh mẽ tới tài nguyên vàmôi trường, gây ra nhiều hậu quả nặng nề cho hiện tại và tương lai Việc này làm ảnh hưởng rấtnhiều đến phát triển kinh tế của một đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, dẫn đén nhànước phải mang gánh nặng các khoản chi phí lớn cho các chính sách an sinh xã hội liên quan đếncác vấn đề này Mất cân bằng giới tính, mức sinh có xu hướng tăng trở lại, tất yếu sẽ tác động
Trang 13xấu dến sự phát triển của xã hội, do đó, chúng ta cần một chiến lược đầu tư lâu dài cho công tácdân số cũng như sức khỏe sinh sản
c Cơ cấu dân số
Hiện nay, thế giới chúng ta đang phải đối mặt với vấn đề nghiêm trọng liên quan đến dân
số, đó chính là sự mất cân bằng giới tính Việc thừa nam, thiếu nữ trong xã hội có thể dẫn đếnnhững hậu quả nghiêm trọng về các vấn đề kinh tế xã hội và phân biệt nam nữ, dẫn đến tìnhtrạng bất bình đẳng giới Đặc biệt, tại các nước đang phát triển và kém phát triển, do tư tưởngtrọng nam khinh nữ và trình độ dân trí thấp, tình trạng mất cân bằng giới tính ngày càng diễn rasâu và rộng Cùng với sự phát triển của công nghệ và y học, tình trạng này trở nên nghiêm trọnghơn bao giờ hết nhờ các biện pháp tránh thai, phá thai do muốn sinh con chọn giới tính Vàchúng ta có thể thấy hậu quả rõ ràng nhất là các vấn nạn liên quan đến tình dục như xâm hại,mua bán và bắt cóc phụ nữ Vì vậy, hơn lúc nào hết, nhà nước các quốc gia cần kiểm soát chặtchẽ tình trạng này, đưa ra những biện pháp thiết thực, nhanh chóng để hạn chế tối đa tình trạngmất cân bằng giới tính như hiện nay
Một vấn đề khác là chất lượng dân số thấp và phân bố dân cư không đồng đều Phân bốdân cư là một hiện tượng xã hội có tính quy luật, do tác động của hàng loạt nhân tố, trong đó,nguyên nhân quyết định là trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, tính chất của nền kinh tếcũng như các điều kiện địa lí, tự nhiên
Tóm lại, các khoản đầu tư cho hệ thống an sinh xã hội luôn chiếm một tỉ trọng lớn.Khoản đầu tư này càng lớn, thì vốn tích lũy cho đầu tư càng hạn hẹp, kinh tế càng chậm pháttriển Đồng thời, dân số càng cao, các hệ lụy liên quan tới nó càng lớn, chi tiêu càng nhiều Vìvậy, để góp phần tăng trưởng kinh tế, nhà nước cần kiểm soát tình trạng dân số tốt hơn, xây dựng
hệ thống an sinh xã hội hoàn chỉnh, từ đó thúc đẩy kinh tế phát triển vững mạnh
CHƯƠNG 2: TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ DÂN SỐ ĐẾN TĂNG
TRƯỞNG KINH TẾ Ở VIỆT NAM
1 Phân bố dân cư ở Việt Nam và tác động của phân bố dân cư đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1 Phân bố dân cư ở Việt Nam
a Xét chung về quy mô dân số:
Trang 14Theo kết quả điều tra dân số, tổng dân số Việt Nam vào thời điểm 0h ngày 07/05/2016 là93,394,990 người, chiếm 1.27% tổng dân số thế giới, xếp thứ 14 trên thế giới và thứ 3 trong khuvực Đông Nam Á Mật độ dân số trung bình là 284 người / km2 Tỉ lệ tăng dân số bình quântrong 5 năm qua là khoảng 1.06%, thấp nhất trong 35 năm qua
b Phân bố dân cư
Những đặc điểm phân bố dân cư của nước ta như sau:
- Dân số nước ta phân bố không đều giữa các vùng và các tỉnh trong cả nước:
+ Vùng đông dân nhất là đồng bằng sông Hồng, tiếp đến là Bắc Trung Bộ và duyên hải miềnTrung, đồng bằng sông Cửu Long Vùng có dân số ít nhất là Tây Nguyên
+ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là nơi có mật độ dân số cao nhất cả nước Mật độ dân số ởhai nơi này cao gấp 7 đến 13 lần mật độ dân số cả nước
- Dân số nước ta phân bố không đều giữa đồng bằng và miền núi:
+ Ở đồng bằng tập trung khoảng 75% dân số cả nước, trong khi diện tích hẹp (chỉ chiếm ¼ diệntích lãnh thổ)
+ Ở vùng trung du và miền núi với diện tích rộng lớn, chiếm khoảng ¾ diện tích lãnh thổ, tàinguyên thiên nhiên phong phú nhưng dân số chỉ chiếm 25% cả nước, mật độ dân số thấp hơnnhiều so với vùng đồng bằng
- Dân số phân bố không đều giữa thành thị và nông thôn: Tỉ lệ dân thành thị chiếm 33.6%, tỉ lệdân nông thôn chiếm 66.4% (năm 2015)
Sự phân bố không hợp lý này đã dẫn đến một luồng di cư từ nông thôn vào thành thị Tỉ lệ di cưthuần của khu vực thành thị là khoảng 2.72% và của khu vực nông thôn là -1.33% cho thấy xuhướng di cư chủ yếu vào khu vực thành thị
2 Tác động của phân bố dân cư đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
- Tác động tích cực:
+ Nguồn lao động dồi dào, thị trường lao động rộng lớn, thu hút sự đầu tư nước ngoài Việc didân từ nông thôn ra thành thị tạo ra nguồn lao động dồi dào, phù hợp với xu hướng phát triển củađất nước ta trong quá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa, đồng thời tạo ra một thị trường tiêu thụrộng lớn Ví dụ như thành phố HCM có mật độ dân cư cao, là trung tâm thương mại và kinh tếcủa khu vực
Trang 15+ Thúc đẩy trình độ dân trí phát triển: Điều này thấy rõ khi tập trung dân cư đông sẽ thúc đẩy cácdịch vụ công cộng phát triển, khả năng con người tiếp cận với các nguồn lực cao hơn So giữanông thôn và thành thị, đồng bằng và miền núi sẽ nhận ra sự chênh lệch về mặt tri thức rõ rệt: Tỉ
lệ dân số từ 5 tuổi trở lên chưa bao giờ đi học ở nông thôn là 5.5 % so với 3.3% của khu vựcthành thị hay tỉ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết đọc biết viết có sự chênh lệch giữa thành thị vànông thôn là 4.2 % (lần lượt 97.5 % ở thành thị và 93.3% ở nông thôn)
+ Gây ùn tắc giao thông ở những nơi tập trung đông dân cư
+ Như đã biết, ở các vùng núi, nơi có nhiều khoáng sản, tài nguyên để khai thác, tuy nhiên dodân cư tập trung ít dẫn đến thiếu nhân lực khai thác
+ Dân cư ở nông thôn cao hơn thành thị ảnh hưởng đến phân bố lực lượng lao động Dễ thấy lựclượng lao động tập trung phần lớn ở nông thôi, nơi chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, trình độdân trí thấp và công ăn việc làm với mức lương không cao Việc tỉ lệ dân cư ở nông thôn vẫn caoảnh hưởng trực tiếp đến cơ cấu ngành của Việt Nam, khi nước chúng ta đang hướng tới côngnghiệp hóa-hiện đại hóa, thì một bộ phận lớn dân cư vẫn còn phải sống phụ thuộc vào nghề làmnông
+ Ngoài ra, việc tập trung dân cư vào một số nơi còn ảnh hưởng đến môi trường, nguồn nước,…khiến nhà nước phải chi trả rất nhiều ngân sách cho việc cải thiện môi trường, và các vấn đề dodân cư phân bố không đồng đều gây ra
2 Cơ cấu dân số ở Việt Nam và tác động của cơ cấu dân số đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1 Cơ cấu dân số ở Việt Nam
1 Cơ cấu dân số theo giới tính
Theo thống kê tính đến tháng 5 năm 2016, dân số của Việt Nam đạt khoảng 90.434 triệungười Trong đó tỉ lệ phần trăm của nam với nữ lần lượt là 49.44% và 50.56% Tỉ lệ giới tính(Nam/100 nữ) vào năm 2016 đạt 97.8 Ở thành thị, con số này là 94.8 Nông thôn có tỉ lệ caohơn với tỉ số giới tính là 98.6
Bảng 1 Thống kê dân số Việt Nam năm 2016