1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận kinh tế phát triển tình hình phát triển con người ở ấn độ giai đoạn 1995– 2014 thông qua báo cáo phát triển con người của liên hợp quốc (HDR)

35 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 35
Dung lượng 118,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nay với việc lựa chọn Đề tài: “Tình hình phát triển con người ở Ấn Độ giaiđoạn 1995– 2014 thông qua báo cáo phát triển con người của Liên Hợp QuốcHDR” nhóm chúng em hi vọng sẽ cung cấp k

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

“Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống lâu dài, khỏe mạnh và sáng tạo.”- Báo cáo phát triển con

người (Human Development Report - HDR) của Chương trình phát triển Liênhiệp Quốc (United Nations Development Programme – UNDP xuất bản năm1990) Có thể hoàn toàn khẳng định rằng trên chặng đường nghiên cứu, vậnđộng và tiến bộ vượt bậc không ngừng của nhân loại, sau tất cả, sự tồn tại vàphát triển của con người mới thực sự là đích đến cuối cùng có giá trị và nhânvăn nhất

Nay với việc lựa chọn Đề tài: “Tình hình phát triển con người ở Ấn Độ giaiđoạn 1995– 2014 thông qua báo cáo phát triển con người của Liên Hợp Quốc(HDR)” nhóm chúng em hi vọng sẽ cung cấp kiến thức về vấn đề toàn thể nhânloại hiện nay đều đang rất quan tâm, đó là: Tình hình phát triển con người, cạnh

đó lựa chọn Ấn Độ - Quốc gia được xem là một trong những cái nôi của nền vănminh nhân loại, nổi bật với nền văn hóa tôn giáo và con người thân thiện, điềmtĩnh Bằng việc sử dụng các dữ liệu, thông tin qua các năm trong giai đoạn1995-2014 với biến động lịch sử nổi trội lấy từ Báo cáo phát triển con ngườithường niên của UNDP (HDR), nhóm phân tích, làm rõ tình hình phát triển conngười ở Ấn Độ nói chung, trong giai đoạn 1995-2014 nói riêng thông qua cácchỉ số phát triển con người, qua đó đưa ra một vài đè xuất, giải pháp để cải thiệntình hình phát triển con người ở Ấn Độ nói riêng cũng như trến thế giới nóichung

Tiểu luận này của nhóm chúng em chắc hẳn vẫn còn ít nhiều thiếu sót cũngnhư thông tin thời cuộc, cập nhật kiến thức vẫn luôn cần được bổ sung thêm để

có thể hoàn thiện hơn nữa Nhóm nghiên cứu cũng xin chân thành cảm ơn côHoàng Bảo Trâm, Giảng viên bộ môn Kinh tế Phát triển trường Đại học Ngoạithương mà nếu không có sự chỉ dẫn định hướng và hỗ trợ tận tình của cô, nhómchúng em đã không thể nào hoàn thành Đề tài này một cách tốt nhất Hi vọng Đề

Trang 2

tài của nhóm sẽ nhận được những sự phản hồi tích cực cũng như đóng góp đểhoàn thiện hơn.

Trang 3

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ VÀ QUỐC GIA NGHIÊN CỨU

1.Quan điểm phát triển con người

1.1. Quan điểm chung

Tài sản thực sự của 1 quốc gia là con người Phát triển con người chính là,

và phải là, sự phát triển mang tính nhân văn Đó là sự phát triển vì con người,của con người và do con người

Theo quan điểm về phát triển con người của Liên Hợp Quốc, phát triển conngười là một quá trình nhằm mở rộng khả năng lựa chọn của dân chúng Ngoài

ra, phát triển con người còn là tạo điều kiện để con người thực hiện sự lựa chọn

đó (sự tự do) Những lựa chọn quan trọng nhất là được sống lâu và khỏe mạnh,được học hành và có được một cuộc sống ấm no

Phát triển con người gồm 2 mặt:

- Sự hình thành các năng lực của con người

- Việc sử dụng các năng lực của con người dã tích lũy được cho các hoạt độngkinh tế, giải trí hay các hoạt động văn hóa, xã hội, chính trị

1.2. Thước đo đánh giá

Hiện nay trên thế giới, có nhiều thước đo sự phát triển con người, trong đó

có 4 chỉ số tiêu biểu sau đây:

Trang 4

- Chỉ số phát triển con người có điều chỉnh bất bình đẳng (IHDI) được UNDP đưa

ra thử nghiệm từ năm 2010, giúp Chính phủ các nước hiểu rõ hơn về sự bất bìnhđẳng giữa các tầng lớp dân số và đóng góp của họ cho sự tổn thất toàn bộ do bấtbình đẳng gây ra

- IHDI đại diện cho thành tựu phát triển con người của một quốc gia với ba yếu tố

cơ bản giống như HDI: sức khỏe, giáo dục và thu nhập nhưng xét thêm yếu tốđiều chỉnh bất bình đẳng

- IHDI là số trung bình nhân của các số sau: chỉ số vòng đời, chỉ số giáo dục vàthu nhập như HDI nhưng tính theo giá trị bất bình đẳng, chỉ ra những thành tựuđược phân phối giữa các công dân của nước đó như thế nào bằng cách "chiếtkhấu" giá trị trung bình của mỗi chiều theo mức độ bất bình đẳng

c Chỉ số GII:

- Chỉ số bất bình đẳng giới (GII) được xây dựng trên cùng một khuôn khổ nhưHDI và IHDI, chỉ ra những khác biệt trong việc phân phối các thành tựu giữaphụ nữ và nam giới

- GII đo lường chi phí phát triển con người của bất bình đẳng giới trên 3 khíacạnh quan trọng của phát triển con người: sức khỏe sinh sản, trao quyền và tìnhtrạng kinh tế

- GII được tính dựa trên các chỉ số theo 3 khía cạnh trên: tỉ lệ tử vong của mẹ haysinh con, số ghế Quốc hội, tỉ lệ tham gia lực lượng lao động, tỉ lệ dân số có trình

Trang 5

Đây là một trong 5 chỉ tiêu được UNDP sử dụng trong báo cáo phát triển conngười hàng năm, mới được phát triển từ năm 1995

- Chỉ số phát triển giới là chỉ số tổng hợp (bình quân giản đơn) của ba chỉ số phân

bổ công bằng theo yếu tố: tuổi thọ, giáo dục và GDP phản ánh về sự bất bìnhđẳng giữa nam và nữ của một quốc gia hay một vùng, một tỉnh , trên cơ sởđánh giá sự phát triển chung của con người theo các yếu tố sức khỏe, tri thức vàmức sống

1.3 Báo cáo phát triển con người HDR:

Báo cáo Phát triển con người là một báo cáo độc lập, là sản phẩm thườngniên thuộc Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) của một nhóm cáchọc giả hàng đầu được lựa chọn, các học viên phát triển và các thành viên củaVăn phòng Báo cáo Phát triển Con người UNDP Báo cáo nêu lên tình hình pháttriển của hơn 100 quốc gia trên toàn thế giới qua các năm và thông qua từng chỉ

số nghiên cứu được Tiểu luận lấy số liệu và thông tin từ báo cáo phát triển conngười của UNDP (HDR) để phân tích và làm rõ tình hình phát triển con người ở

Ấn Độ

Báo cáo này được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1990 bởi các nhà kinh tếPakistan Mahbub ul Haq và người đoạt giải Nobel Ấn Độ Amartya Sen Mụctiêu của nó là đặt con người vào trung tâm của quá trình phát triển trong điềukiện của cuộc tranh luận về kinh tế, chính sách và vận động Phát triển được đặctrưng bởi việc cung cấp các lựa chọn và tự do dẫn đến kết quả trên diện rộng.Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chính thức công nhận báo cáo là "một bàitập trí tuệ độc lập" và "một công cụ quan trọng để nâng cao nhận thức về pháttriển con người trên toàn thế giới."

2.Tổng quan quốc gia nghiên cứu - Ấn Độ:

2.1.Đặc điểm cơ bản về Ấn Độ và tình hình kinh tế - xã hội :

Ấn Độ, tên gọi chính thức là nước Cộng hòa Ấn Độ, là một quốc giatại Nam Á Đây là quốc gia lớn thứ bảy về diện tích, và đông dân thứ nhì trênthế giới với trên 1,2 tỷ người Tiểu lục địa Ấn Độ là nơi xuất hiện văn minh lưuvực sông Ấn cổ đại, có các tuyến đường mậu dịch mang tính lịch sử cùng những

đế quốc rộng lớn, và trở nên giàu có về thương mại và văn hóa trong hầu hết lịch

Trang 6

sử lâu dài của mình Đây cũng là nơi bắt nguồn của bốn tôn giáo lớn: Ấn Độgiáo, Phật giáo, Jaina giáo và Sikh giáo

Nền kinh tế Ấn Độ lớn thứ 11 thế giới xét theo GDP danh nghĩa và lớn thứ

ba thế giới xét theo sức mua tương đương (PPP) Sau các cải cách kinh tế dựatrên cơ sở thị trường vào năm 1991, Ấn Độ trở thành một trong số các nền kinh

tế lớn có mức tăng trưởng nhanh nhất; và được nhận định là một nước côngnghiệp mới Tuy nhiên, quốc gia này vẫn tiếp tục phải đối diện với những tháchthức từ nghèo đói, tham nhũng, kém dinh dưỡng, y tế công thiếu thốn, và chủnghĩa khủng bố

Ấn Độ là một xã hội đa nguyên, đa ngôn ngữ và đa dân tộc Đây cũng lànơi có sự đa dạng về loài hoang dã trong nhiều khu vực được bảo vệ

2.2.Con người Ấn Độ:

“Đất nước của những con người không tất tả bon chen Nhu hòa tự tại là một trong những đặc điểm tính cách dân tộc, điều đó đã khiến Ấn Độ trở thành quốcgia hiếm hoi trên thế giới giành lại độc lập chủ quyền từ tay kẻ xâm lược bằng phương pháp bất bạo động Gần gũi, hài hòa với thiên nhiên, không giết chóc sát sanh động vật bừa bãi là quan điểm sống của người Ấn Đa số người dân ăn chay trường; nhìn gương mặt nào ta cũng thấy phảng phất một niềm tín ngưỡng…”

- Người Ấn thân thiện, dễ mở lòng, dễ bỏ qua, nhu hòa và điềm tĩnh Dù Ấn Độvẫn còn sự phân biệt giai cấp khá nặng, nhưng cách sống của họ lại không có sựphân biệt Gần gũi, hài hòa với thiên nhiên, không giết chóc sát sanh động vậtbừa bãi là quan điểm sống của người Ấn

- Đời sống tinh thần chủ yếu dựa vào niềm tin tôn giáo Đa số người dân ăn chaytrường Niềm tin tôn giáo lâu đời sẽ ăn sâu và trở thành tập tục văn hóa; tập tụcvăn hóa là một bộ phận cấu thành bản sắc dân tộc Người Ấn rất kiên định trongviệc giữ gìn bản sắc dân tộc Nhu hòa tự tại là một trong những đặc điểm tínhcách dân tộc, điều đó đã khiến Ấn Độ trở thành quốc gia hiếm hoi trên thế giớigiành lại độc lập chủ quyền từ tay kẻ xâm lược bằng phương pháp bất bạo động

Trang 7

- Với số dân đông đứng nhì thế giới, tỉ lệ giữa nam và nữ cũng không chênh lệchquá xa nhưng nguồn lao động xã hội hầu như chỉ tập trung vào nam giới, phụ nữthường ở nhà với công việc bếp núc.

- Đặc biệt, xã hội và con người Ấn Độ ngày nay dù dã phát triển văn minh hơnnhưng do những hủ tục, cách sống lạc hậu cũng như những khó khăn về kinh tế,văn hóa nói riêng đã khiến cho tình hình phát triển con người ở Ấn Độ cũngnhư phát triển xã hội còn gặp nhiều khó khăn, tình trạng người dân sống nghèođói, bất bình đẳng giới còn xuất hiện ở nhiều vùng,…

Trang 8

Chương 2 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN CON NGƯỜI Ở ẤN ĐỘ

GIAI ĐOẠN 1995-2014

1 Các yếu tố cơ bản tác động đến tình hình phát triển con người ở Ấn Độ:

Phát triển con người chính là nguồn gốc thúc đẩy sự tiến bộ một quốc gia

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới tình hình phát triển con người, tuy nhiên, vềcăn bản giáo dục, y tế, môi trường và kinh tế là bốn thành tố cơ bản và quantrọng nhất Việc nghiên cứu về bốn yếu tố này là chìa khóa giải thích cho tìnhhình phát triển của Ấn Độ trong 20 năm qua

1.1. Giáo dục.

Mặc dù ngành giáo dục Ấn Độ có những tiến bộ đáng kể trong thời gian 19 năm qua nhưng nó vẫn còn rất nhiều điểm cần phải cải thiện để đảm bảo phát triển con người như kỳ vọng và đẩy nhanh việc bắt kịp với các nước phát triển khác Xếp hạng chỉ số HDI đứng thứ 135 trên thế giới phần nào thể hiện được tình hình giáo dục của Ấn Độ hiện nay Vấn nạn mù chữ vẫn phủ bóng đen lên nền giáo dục Ấn Độ, tỷ lệ mù chữ các năm đều duy trì ở mức rất cao (trên 30%), đặcbiệt năm 2014 số lượng người trên 15 tuổi mù chữ vẫn chiếm 37.2% (theo số liệu của UNDP) và số người này chủ yếu ở vùng nông thôn Thực trạng này xuấtphát chủ yếu từ việc thiếu giáo viên dẫn đến không phổ cập giáo dục đến tất cả mọi người Tỷ lệ học sinh trên giáo viên luôn ở mức rất cao, năm 1995 con số này là 61, năm 2014 là 35 nhưng vẫn còn rất khiêm tốn so với các nước khác và thế giới (Trung Quốc năm 2014 là 17, thế giới là 25) Với nguồn lực hạn chế như vậy rất khó để Ấn Độ có thể cải thiện tình hình trong thời gian 19 năm qua Ngoài ra mức đầu tư công cho ngành này vẫn chưa xứng đáng với vai trò của

nó, cụ thể năm 2014 chỉ là 3.32% GDP con số này ở Việt Nam là 6.56% Xét về chất lượng, tuy rằng một số ngành của Ấn Độ có chất lượng giáo dục đại học tốt

so với cả các nước phát triển như công nghệ thông tin hay cơ khí nhưng tổng thểchất lượng giáo dục Ấn Độ vẫn ở mức thấp khi so sánh với dân số 1.25 tỷ người

Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người, mỗi quốc gia, dân tộc, giáo dục là một nhân tố quan trọng trong việc tính chỉ số HDI Vì vậy, việc chỉ số HDI của Ấn Độ ở mức thấp là điều có thể hiểu được Để cải thiện năng lực của ngành giáo dục nói riêng và phát triển con người Ấn Độ nói chung, Chính phủ cần có các biện pháp phù hợp, mạnh

mẽ, hiệu quả cao để nâng cao cả về mức độ phổ cập lẫn chất lượng của nhân tố nền tảng của sự phát triển này

1.2. Y tế.

Trang 9

Y tế được coi như là một thành phần quan trọng trong sự tăng trưởng vàphát triển của bất cứ nước nào Trẻ em khỏe mạnh khi đến trường sẽ tập trung vàtiếp thu tốt hơn trẻ em có sức khỏe kém Nói cách khác, sức khỏe kém có thểdẫn đến khả năng thiếu thốn và nghèo đói do đó gây ra một tổn thất lớn vềnguồn lực tài chính và con người cho quốc gia.

Năm

Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong ( trên 1000 trẻ sơ sinh)

Tỷ lệ trẻ em dưới

5 tuổi tử vong ( trên 1000 trẻ em)

Tuổi thọ bình quân

Chi tiêu cho

Y tế (%GDP)

Theo The World Bank Data

Ở trên là bảng so sánh số liệu về tình hình phát triển y tế của Ấn Độ trong giaiđoạn 2009-2014 Ta có thể thấy ngành y tế đã cải thiện được rất nhiều mặc dù sovới thế giới các con số này còn thực sự khiêm tốn Tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong vẫnduy trì ở mức cao (29/1000) khi so sánh với các nước đang phát triển khác trênthế giới như Việt Nam con số này chỉ là 18 trẻ Ngoài ra, tuổi thọ trung bình của

Ấn Độ cũng ở mức thấp khi con số này ở Việt Nam là 75.95 tuổi, hơn nữa sựchênh lệch về tiếp cận y tế ở khu vực thành thị và nông thôn cũng có sự chênhlệch rất lớn

Ấn Độ là quốc gia đông dân thứ hai trên thế giới sau Trung Quốc Quy mô dân

số của nước này đã tăng từ 846 triệu người vào năm 1991 lên đến 1,2 tỷ ngườivào năm 2014 Sự gia tăng dân số trong những năm qua, kèm theo công nghiệphóa nhanh chóng và tốc độ đô thị hóa cao đã gây ra ô nhiễm mỗi trường nghiêmtrọng, ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe con người Ấn Độ Việc thiếu các dịch vụnhư cấp nước, xử lý nước thải, quản lý chất thải rắn và độc hại, cung cấp thựcphẩm an toàn và nhà ở đều không thể theo kịp tốc độ phát triển đô thị

Như đã phân tích ở trên, việc y tế kém phát triển sẽ dẫn đến một vòng luẩn quẩn

về sự phát triển của con người, do đó việc đầu tư mạnh mẽ vào y tế là thực sựcần thiết trong dài hạn cho con người và đất nước Ấn Độ, cùng với giáo dục, y

tế là nhân tố quyết định tới sự phát triển bền vững của con người và quốc gia

Trang 10

trong tương lai Để làm được việc này Chính phủ cần có các biện pháp quyết liệt

và đầu tư mạnh mẽ hơn để nâng cao chất lượng ngành quan trọng này trongnhững năm tới

1.3 Kinh tế

Khoa học và công nghệ đã đóng một vai trò quan trọng trong sự chuyển đổitrong nền kinh tế Ấn Độ, từ một nền kinh tế nông nghiệp trở thành một nền kinh

tế sản xuất và dịch vụ, và hiện đang ngày càng hội nhập với nền kinh tế thế giới

để cạnh tranh toàn cầu Kinh tế phát triển chính là kết quả rõ ràng nhất của sựphát triển giáo dục và y tế, cụ thể giáo dục giúp Ấn Độ phát triển nhanh chóngKhoa học và công nghệ lên trình độ cao và y tế giúp đảm bảo nguồn nhân lựcdồi dào cho các ngành trong nền kinh tế đặc biệt là ngành công nghiệp – kỹthuật Kinh tế phát triển sẽ tác động trở lại giúp cho y tế, giáo dục, môi trườngđược cải thiện qua đó trực tiếp nâng cao sự phát triển của con người TheoUNDP sự phát triển của kinh tế Ấn Độ được thể hiện rõ qua các con số: năm

2008, ước tính 35% xuất khẩu thuộc về lĩnh vực phần mềm và thu hút khoảng

600000 lao động trẻ với độ tuổi chỉ khoảng 26 (ngành công nghiệp này đạt tăngtrưởng 30.7% với tổng giá trị 39.6 tỷ USD); lĩnh vực công nghiệp công nghệsinh học Ấn Độ có được tốc độ tăng trưởng 35% trong suốt bốn năm liên tiếpvừa qua, kèm theo đó là cung cấp khoảng 1 triệu việc làm cho nền kinh tế Trongmười năm trở lại đây, Ấn Độ đã trở thành một nước xuất khẩu lương thực chínhkhi giá trị xuất khẩu của khu vực này tăng từ 5 tỷ USD (năm 2003) lên tới 39 tỷUSD vào năm 2013 Hiện nay, Ấn Độ trở thành nước xuất khẩu lương thực lớnthứ bảy trên thế giới, vượt qua cả Australia và là nước xuất khẩu ròng về lươngthực lớn thứ sáu với giá trị gấp đôi so với khu vực EU Ngoài ra, trong cácngành như nghiên cứu không gian, phát triển công nghệ hạt nhân theo hướngdân sự của Ấn Độ cũng thực sự phát triển mạnh mẽ Năm 2013, GDP của Ấn Độđạt mức 1758 tỷ USD xếp hạng 10 trên thế giới Với cơ sở một nền kinh tế pháttriển mạnh mẽ này sẽ giúp Ấn Độ có nguồn lực thực sự tốt để cải thiện các vấn

đề phát triển con người và đất nước của mình Tuy vậy, Ấn Độ vẫn cần giảiquyết được những điểm đen trong nền kinh tế như bất bình đẳng thu nhập, chênh

Trang 11

lệch giàu nghèo, phát triển không đồng đều ở các khu vực thành thi và nôngthôn để đảm bảo nền kinh thế phát triển cân đối hơn.

2.Tình hình phát triển con người thông qua các chỉ số:

2.1 Chỉ số HDI:

Chỉ số phát triển con người (HDI) được cơ quan phát triển con người củaLiên hiệp quốc đưa ra để kiểm soát, đánh giá sự tiến bộ trong phát triển conngười

Để đánh giá tình hình phát triển con người thông qua chỉ số HDI, cần xem

xét dựa trên các yếu tố cấu thành và tác động đến HDI đó là: Sức khỏe (đo bằng tuổi thọ trung bình), tri thức (đo bằng số năm đi học trung bình, số năm đi học

kỳ vọng) và thu nhập (đo bằng thu nhập bình quân đầu người).

Xu thế của HDI giai đoạn 2007 – 2014

Năm HDI Xếp loại chỉ số HDI Vị trí so với thế giới

Hơn thế nữa, trong khi chỉ số HDI của các Ấn Độ tăng chậm hơn tốc độtăng của thế giới Do đó năm 2014 , HDI của Ấn Độ đứng thứ 130 trong tổng số

187 quốc gia, tụt xuống 10 bậc

Sự sụt giảm này của Ấn Độ được cho là một phần do tác động của cuộckhủng hoảng kinh tế toàn cầu kéo dài từ khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008 cho

Trang 12

tới khủng hoảng nợ kinh tế châu Âu 2012 rồi khủng hoảng kinh tế Ấn Độ 2013ảnh hưởng nghiêm trọng đến toàn đất nước trên tất cả các lĩnh vực: Kinh tế,Giáo dục, Y tế,

Bên cạnh đó, những thiệt hại Ấn Độ phải gánh chịu từ thiên tai, bão lũ cũng

là một yếu tố ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng cuộc sống người dân Ước tínhnăm 2013, thiên tại gây thiệt hại tới 4.9% tổng thu nhập quốc dân

Để xem xét rõ những nguyên nhân ảnh hưởng đến xu hướng thay đổi chỉ sốHDI và tác động cụ thể ta xem xét HDI thông qua các chỉ số thành phần:

Sự thay đổi của chỉ số HDI thông qua các chỉ số thành phần

Để xem xét sự thay đổi của chỉ số HDI thông qua các chỉ số thành phần taxem xét bảng dưới đây

Năm Tuổi thọ

trung bình

Số năm đi học kỳ vọng

Số năm đi học trung bình

GNI/người (2011 PPP$)

Chỉ số HDI

Tuổi thọ trung bình của người dân Ấn độ năm 2007 là 64.8, đến năm 2014

là 68.0 năm tức là tăng khoảng 3.2 (tăng 4.94%) trong thời kỳ

Liên quan đến chỉ số giáo dục, ở đây chúng tôi có xét đến số năm đi học kỳvọng của trẻ em và số năm đi học trung bình của một người lớn Trong khi kỳvọng là khoảng 10.5 đến 11.7 thì số năm đi học thực tế của một người Ấn Độchỉ khoảng 4.3 đến 4.4, thấp hơn rất nhiều so với thực tế Cho tới năm 2014 sốnăm đi học kỳ vọng tăng 11.43%, số năm đi học tăng 28,57%

Trang 13

Về thu nhập bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương, ta nhìnthấy một sự gia tăng đáng kể từ 3867$ lên tới 5630$, tăng 45,59% , tăng mạnhnhất trong cả bốn yếu tố Sự gia tăng GNI/ người đóng góp nhiều nhất vào sự giatăng chỉ số HDI.

Do đó, ta cũng thấy được, mặc dù chứng kiến sự gia tăng HDI nhưng chấtlượng cuộc sống của người dân còn thấp Điển hình là tuổi thọ trung bình củangười dân mới chỉ là 68.4 thấp hơn mức trung bình của thế giới (71.5 tuổi) Sốnăm được đi học ở mức rất thấp, tối đa 5.4 (năm 2014) Với những con số nhưvậy, Ấn Độ phải thực sự nỗ lực để có những phương án phục vụ phát triển conngười hiệu quả, có giá trị lâu dài

Xu hướng phát triển của các chỉ số cấu thành nên HDI

Xem xét bảng và biểu đồ sau:

Năm Chỉ số sức

khỏe

Chỉ số giáo dục

Chỉ số sức khỏe tăng 0.05 điểm từ 0.688 năm 2007 lên đến 0.738 Chỉ sốsức khỏe được tính dựa trên tuổi thọ trung bình của người dân, do đó, chỉ số sứckhỏe cũng có xu hướng tăng nhẹ, 7.2% Mặc dù vậy, nhưng Ấn Độ đang phải

Trang 14

đối mặt với tương đối nhiều vấn đề liên quan đến sức khỏe người dân như: sựgia tăng số người chết vì bệnh dịch, HIV, đặc biệt là số người tử vong do tự tử.Hàng năm, chính phủ vẫn dành 3.87% GDP chỉ tiêu cho y tế với các nỗ lực cảithiện, mang lại dịch vụ y tế tốt cho người dân.

Chỉ số giáo dục tăng 0.051 điểm từ 0.43 năm 2007 lên tới 0.481 năm 2013.Hàng năm, chi tiêu chính phủ cho lĩnh vực giáo dục khoảng 3.32%GDP (năm2013) Cho tới nay, tỷ lệ người lớn biêt chữ của Ấn Độ là trên 60% Trình độdân trí của cả nước được cải thiện đang kể song chưa có sự cân đối giữa cácvùng và các giới

Chỉ số thu nhập tăng 0.084 điểm từ 0.552 lên tới 0.636 vào năm 2013 Xuhướng thay đổi của chỉ số thu nhập gần tương tự như chỉ số HDI Có thể thấychỉ số thu nhập phản ánh tương đối chính xác tình hình phát triển con người bởithu nhập là biến ảnh hưởng đến HDI cũng đồng thời là nhân tố lớn tác động đếnsức khỏe và giáo dục

Nguyên nhân

Như vậy xu hướng tăng lên của chỉ số HDI ở Ấn Độ là sự tăng lên chậmcủa các chỉ số thành phần, trong đó chỉ số thu nhập đóng vai trò quan trọng nhất.Với sự tăng lên chậm chạp này, Ấn Độ chỉ đang đuổi theo sự tăng lên của HDItrên thế giới chứ chưa thực sự cải thiện đước HDI 1 cách rõ rệt Sự tăng lên củachỉ số thu nhập chỉ góp phần giải thích mức sống chung của người dân Ấn Độđang tăng lên chứ không đề cập được sự chênh lệch giữa thu nhập, mức sốngcủa người dân Bên cạnh đó các chỉ số Y tế, giáo dục đều ở mức thấp là nguyênnhân trực tiếp dẫn đến HDI thấp và cũng phản ánh thực tế về nền giáo dục và y

tế nghèo nàn chưa hoàn thiện cảu Ấn Độ

Trang 15

tình hình phát triển con người dựa trên chỉ số IHDI, ta phải phân tích theo ba

yếu tố cơ bản bao gồm y tế, giáo dục và thu nhập thêm yếu tố có điều chỉnh bất

bình đẳng

Dưới đây là bảng số liệu chỉ số phát triển con người có điều chỉnh bất bình

đẳng của Ấn Độ qua các năm từ 2010 đến 2014:

Nguồn: Báo cáo Phát triển con người, UNDP

Biểu đồ: Tương quan giữa HDI và IHDI ở Ấn Độ giai đoạn 2010 - 2014

Nguồn: Báo cáo Phát triển con người, UNDPQua biểu đồ, nhìn chung ta thấy cả chỉ số HDI và IHDI của Ấn Độ đều có

xu hướng tăng nhẹ qua các năm từ 2010 đến 2014 và là quốc gia thuộc nhóm

dưới trong nhóm các nước có chỉ số phát triển con người cũng như chỉ số phát

triển con người có điều chỉnh bất bình đẳng trung bình

Năm 2010, chỉ số HDI của Ấn Độ là 0.519 đứng thứ 119 trong tổng số 169

quốc gia và vùng lãnh thổ được nghiên cứu trên thế giới Đây cũng là năm đầu

tiên chỉ số IHDI được đưa vào nghiên cứu và tính toán Trong năm 2010, chỉ số

IHDI của nước này ở mức 0.365, đồng thứ hạng với chỉ số HDI so với các quốc

gia trên thế giới Giá trị tổn thất toàn bộ do bất bình đẳng gây ra của năm này ở

mức cao, đạt mức 29.6%, cao nhất trong 4 năm đã được thống kê, cao hơn cả

các quốc gia trong cùng khu vực như ,Sri Lanka (17.1%), Bangladesh (29.4%)

Sang năm 2011, chỉ số HDI đã tăng lên mức 0,547, tăng khoảng 5.4% so

với năm 2010, ở vị trí thứ 134/187 Chỉ số IHDI cũng có sự tăng nhanh hơn

Trang 16

HDI, đạt mức 0.365, tăng khoảng 7.4 % so với năm trước Trong năm này thì chỉ

số tổn thất toàn bộ do bất bình đẳng gây ra đã giảm khá nhanh, chỉ còn 28.3%,thấp nhất trong 4 năm trở lại đây, nhưng vẫn ở mức cao so với khu vực và cácnước ở cùng nhóm có chỉ số phát triển con người trung bình

Đến năm 2012, chỉ số HDI của Ấn Độ đã tăng lên 0.554 nhưng vẫn đứngthứ 136 trên 186 quốc gia trên thế giới Trong khi HDI có sự tăng nhẹ thì chỉ sốIHDI lại vẫn giữ nguyên giá trị như năm 2011 ở mức 0.392, cũng đứng thứ 136trên thế giới Tuy nhiên, tốn thất toàn bộ do bất bình đẳng gây ra năm này lại caohơn năm trước, ở mức 29.3%, cao hơn cả Brazin (27.2%), Trung Quốc (22.4%)

và gấp hơn 5 lần so với Cộng hòa Séc (5.4%)

Năm 2013, cả HDI và IHDI của quốc gia này đều tăng ở mức khá nhanhkhi mà HDI tăng 5.8% và IHDI tăng 6.6%, lên mức 0.586 và 0.418, xếp thứ135/187 Với tốc độ tăng như vậy, Ấn Độ đã nhích thêm một hạng trên bảng xếphạng các quốc gia trên thế giới Ngoài ra thì tổn thất toàn bộ do bất bình đẳnggây ra cũng giảm so với năm trước, ở mức 28.6% tuy nhiên vẫn cao hơn so vớinăm 2011

Số liệu gần đây nhất là chỉ số HDI và IHDI của năm 2014 được giới thiệutrong báo cáo phát triển con người toàn cầu năm 2015 đã cho thấy một sự tiếptục tăng nhẹ của cả chỉ số HDI vs IHDI vs mức tăng lần lượt là 3.9%, 4.1%, lênmức 0.609 và 0.435, đưa quốc ra này lên vị trí 130/188 Như vậy đã có sự thănghạng trong vị trí trên bảng số liệu toàn cầu Tổn thất toàn bộ do bất bình đẳnggây ra tiếp tục dừng lại ở mức 28.6% bằng với năm 2013

Sự bất bình đẳng trong phát triển con người được nghiên cứu trên ba khíacạnh chính là bất bình đẳng trong tuổi đời, trong giáo dục và trong thu nhập Đểtheo dõi được mức độ bất bình đẳng trên 3 khía cạnh này ta có thể quan sát biểu

đồ tổn thất do bất bình đẳng trong tuổi đời, trong giáo dục và trong thu nhập gây

ra dưới đây

Trang 17

Biểu đồ: Tổn thất do bất bình đẳng trong tuổi đời, trong giáo dục và trong

thu nhập ở Ấn Độ giai đoạn 2010 - 2014

Nguồn: Báo cáo Phát triển con người, UNDPTheo biểu đồ trên ta thấy giáo dục là yếu tố có bất bình đẳng cao nhất, luôntrên 40% và có xu hướng tăng nhẹ qua các năm Sự bất bình đẳng này chủ yếu

do nguyên nhân là nguồn gốc gia đình Càng lên các bậc học cao hơn thì sự bấtbình đẳng càng được thể hiện rõ và lớn nhất là ở cấp bậc đại học Ở nông thôncủa Ấn Đô, rất ít trẻ em được đến trường, thông thường trẻ em phải ở nhà trông

em, phụ giúp cha mẹ, điều này khiến cho tỷ lệ trẻ em được đến trường ở hainhóm giàu – nghèo, giữa thành thị và nông thôn có sự chênh lệch rất lớn, đồngthời có xu hướng tăng dần Hơn nữa, việc chỉ có các gia đình giàu có mới có đủđiều kiện cho con em theo học tại các trường đại học, cao đẳng làm sự bất bìnhđẳng ở cấp học đại học được biểu hiện rất rõ ở Ấn Độ

Yếu tố có tỷ lệ tổn thất do bất bình đẳng gây ra cao thứ hai ở Ấn Độ là tuổiđời, giữ ở mức 25-30% nhưng có xu hướng giảm dần theo thời gian Sự bất bìnhđẳng này chủ yếu do điều kiện sống cũng như cơ hôi tiếp cận các dịch vụ y tếtrong những năm qua đã được cải thiện khá nhiều Những sự cải thiện này đến

từ các dự án của các tổ chức phi Chính phủ cũng như các quốc gia khác trên thếgiới Điều này giúpcho người dân Ấn Độ, đặc biệt là người dân khu vực nôngthôn có thể kéo dài tuổi thọ, đặc biệt là giảm tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong

Cùng với sự gia tăng các tỷ phú thì tỷ lệ bất bình đẳng trong thu nhập của

Ấn Độ cũng tăng lên ở mức trên 15% và có xu hướng ngày càng tăng lên Cùngvới đó là sự hội nhập kinh tế quốc tế và sự phân công lao động cùng với việcphân phối thu nhập không đồng đều càng làm cho tình trạng này trở nên tồi tệhơn.Theo tạp chí Forbes, năm 2012 Ấn Độ có 69 tỷ phú, tăng thêm 17 người sovới năm 2009 Tổng số tài sản của 40 nhà tỷ phú hàng đầu của Ấn Độ trị giá 243

tỷ USD, tăng 14 tỷ trong ba năm từ 2009 với mức 229 tỷ USD Tuy nhiên, các tổchức chống nghèo đói ở Ấn Độ cảnh báo rằng số người nghèo ở nước này cũngtrên đà tăng Theo kết quả điều tra 2010, số lượng người nghèo ở 8 bang của Ấn

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w