Để khắc phục những hạn chế, tồn tại của vấn đề phát triển giáo dục Việt Namtrong thời gian qua, đặc biệt là trong giai đoạn 2010 – 2016 gần đây lần thay đổi luậtgiáo dục gần nhất vào năm
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
*Lý do chọn đề tài:
Trong thời đại hiện nay, khi mà tài nguyên thiên nhiên đang dần cạn kiệt đe dọađến sự phát triển bền vững của con người thì một chỉ số đã ra đời để lượng hóa khả năngphát triển bền vững của một quốc gia, đó là “chỉ số phát triển con người” (HumanDevelopment Index – HDI) Vì con người được cho là yếu tố trung tâm, chi phối các yếu
tố tự nhiên, xã hội, chính trị, kinh tế, … khác nên do đó người ta cho rằng khi đo lườngđược sự phát triển của con người cũng có thể đánh giá một cách tương đối được sự pháttriển của các yếu tố xung quanh Trong các chỉ số cấu thành nên chỉ số phát triển conngười ta thấy rằng chỉ số giáo dục là một chỉ số vừa gắn liền sát nhất với thực tế phát triểncác nhân và dễ tác động hơn so với hai chỉ số còn lại
Bên cạnh đó, đối với mỗi quốc gia hiện nay, đổi mới hay cải cách giáo dục luôn làyêu cầu thường xuyên, bức thiết nếu không muốn bị tụt hậu trong cuộc chạy đua pháttriển đang ngày càng gay gắt hiện nay Bởi thực tế, lịch sử đã chứng minh một quy luật là:không có sự tiến bộ và thành đạt của quốc gia nào mà lại tách rời khỏi sự tiến bộ và thànhđạt của quốc gia đó trong lĩnh vực giáo dục Đối với Việt Nam, Nghị quyết Hội nghịTrung Ương 8 khóa XI đã nêu rõ vấn đề đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo,đáp ứng yêu cầu định hướng Xã hội Chủ nghĩa và hội nhập quốc tế “Giáo dục và đào tạo
là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” Trong đó,Nghị quyết đã chỉ rõ thực tế, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêucầu Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu vàlạc hậu…Tỷ lệ chi ngân sách cho giáo dục hàng năm của Việt Nam ở mức xấp xỉ 20%,tương đương 5% GDP nhưng Việt Nam còn thuộc các nước có chỉ số phát triển con ngườitrung bình
Để khắc phục những hạn chế, tồn tại của vấn đề phát triển giáo dục Việt Namtrong thời gian qua, đặc biệt là trong giai đoạn 2010 – 2016 gần đây (lần thay đổi luậtgiáo dục gần nhất vào năm 2010), từ đó nhằm nâng cao chỉ số giáo dục để làm tăng chỉ sốHDI Việt Nam trong dài hạn, nhóm em đã tiến hành nghiên cứu và xây dựng tiểu luận
Trang 2“Thực trạng về chỉ số giáo dục của Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016 và giải pháp nhằm nâng cao chỉ số phát triển con người ở Việt Nam”
*Mục tiêu nghiên cứu:
Trên cơ sở dữ liệu từ các tổ chức có uy tín, chỉ ra các thành tựu và hạn chế của giáodục Việt Nam giai đoạn 2010 – 2016 Từ đó đề ra những giải pháp nhằm cải thiện giáodục cũng như chỉ số giáo dục Việt Nam, lấy đó làm tiền đề để nâng cao chỉ số phát triểncon người ở Việt Nam trong dài hạn
Trang 3CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN
I Lí luận chung về chỉ số phát triển con người (HDI)
1 Khái niệm phát triển con người:
Khái niệm phát triển con người được sử dụng là khái niệm do Chương trình Pháttriển Liên Hợp Quốc (United Nations Development Programme – UNDP) đề xướng trongBáo cáo phát triển con người (Human Development Report – HDR), công bố lần đầu tiên
năm 1990: "Của cải đích thực của một quốc gia là con người của quốc gia đó Và mục đích của phát triển là để tạo ra một môi trường thuận lợi cho phép con người được hưởng cuộc sống dài lâu, mạnh khỏe và sáng tạo Chân lý đơn giản nhưng đầy sức mạnh này rất hay bị người ta quên mất trong lúc theo đuổi của cải vật chất và tài chính" Trong
Báo cáo phát triển con người năm 2001 của UNDP, khái niệm này được nhấn mạnh:
“Phát triển con người không chỉ là sự tăng giảm của thu nhập quốc dân, mà còn là tạo ra một môi trường trong đó mọi người có thể phát triển mọi khả năng của mình và làm chủ một cuộc sống sáng tạo, hữu ích, phù hợp với lợi ích và nhu cầu của họ Do vậy, phát triển có ý nghĩa là mở rộng những lựa chọn của con người để hướng tới cuộc sống mà họ coi trọng”.
Khái niệm này đã được phân tích, diễn giải bằng các mệnh đề “Phát triển con người
là sự phát triển của con người, do con người và vì con người”, “Phát triển con người là quá trình vừa nâng cao năng lực lựa chọn của con người, vừa mở rộng cơ hội lựa chọn của con người” Tuy nhiên, có thể thấy sau chặng đường 10 năm từ báo cáo đầu tiên năm
1990, Báo cáo năm 2001 đã làm rõ hơn nội hàm của khái niệm phát triển con người với ý
“làm chủ một cuộc sống sáng tạo, hữu ích, phù hợp với lợi ích và nhu cầu của họ” Như
vậy, ngoài hai mệnh đề trên, cần thấy rõ vai trò chủ thể của con người trong phát triển,đồng thời phải quan tâm tới lợi ích, nhu cầu của con người trong phát triển Từ khái niệmphát triển con người này, thời điểm năm 1990 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trongquá trình khẳng định vai trò chủ thể – động lực – mục tiêu của con người trong phát triển.Bước ngoặt đó là ở chỗ trải qua một quá trình lịch sử lâu dài của nhân loại, lần đầu tiênkhái niệm phát triển con người đã chính thức được lượng hóa bằng việc tính toán và công
Trang 4bố xếp hạng Chỉ số phát triển con người – HDI cho các quốc gia và vùng lãnh thổ Tiếptheo HDI, trong xu hướng cố gắng đo lường, lượng hóa các khía cạnh khác của phát triểncon người, UNDP đã đề xướng phương pháp luận và công thức tính toán một số chỉ tiêukhác liên quan đến một số khía cạnh cơ bản của phát triển con người như bình đẳng giới,nghèo khổ
Từ Báo cáo phát triển con người toàn cầu đầu tiên do UNDP công bố năm 1990,khái niệm phát triển con người đã hội tụ các nhà hoạch định chính sách, các nhà thực thichính sách và các nhà khoa học trong nhận thức đúng đắn hơn, đồng thuận cao hơn vềtầm quan trọng của mục tiêu phát triển con người trong phát triển kinh tế-xã hội Báo cáo
phát triển con người năm 1996 của UNDP đã khẳng định “Phát triển con người là mục đích cuối cùng, tăng trưởng kinh tế là phương tiện” Mối quan hệ này được mô phỏng
như sau:
So sánh mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế (phương tiện) và phát triển con người (mụctiêu), chúng ta thấy rõ phát triển con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự pháttriển kinh tế-xã hội và nhiều vấn đề liên quan khác
Phương tiện:
Tăng trưởng kinh tế
Các điều kiện thúc đẩy phát triển con người:
+Cơ hội việc làm đầy đủ +Dịch vụ giáo dục tốt +Dịch vụ y tế tốt
Mục tiêu phát triển :
Con người
Các điều kiện thúc đẩy
tăng trưởng kinh tế:
+Lao động có trình độ
+Đổi mới công nghệ
+Quản lí tốt
Trang 52 Chỉ số phát triển con người (Human Development Index - HDI) và cách tính HDI: Chỉ số phát triển con người (Human Development Index – HDI):
Chỉ số phát triển con người (HDI) được cơ quan phát triển con người của Liên Hiệp Quốcđưa ra để kiểm soát, đánh giá sự tiến bộ trong phát triển con người HDI là chỉ số đolường thống nhất các mục tiêu kinh tế-xã hội cần đạt được và phản ánh toàn bộ các khíacạnh của cuộc sống HDI phản ánh mức độ trung bình đạt được của một nước về các nănglực cơ bản của con người
Trên thực tế, HDI chứa đựng ba yếu tố phản ánh tương ứng ba khía cạnh thuộc về
năng lực phát triển của con người, đó là: năng lực tài chính (thu nhập), năng lực trí lực (giáo dục) và năng lực thể lực (y tế và chăm sóc sức khỏe) Ba yếu tố cấu thành HDI đã
được thống nhất từ năm 1990 bao gồm: y tế và chăm sóc sức khỏe (tính bằng tuổi thọbình quân), giáo dục (tính theo hai tiêu chí là tỷ lệ người lớn biết chữ và số năm đi họctrung bình); GNI/người tính theo PPP (sức mua) được đưa vào HDI phản ánh thu nhập
Đã có ba lần thay đổi trong việc sử dụng các yếu tố đưa vào HDI để phản ánh khía cạnhgiáo dục Trước năm 2007, kết quả giáo dục đưa vào tính HDI bao gồm tỷ lệ người lớnbiết chữ và số năm đi học trung bình Năm 2007, trong báo cáo phát triển con người củaUNDP thì kết quả giáo dục tính vào HDI lại là: tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ đếntrường đúng độ tuổi Báo cáo phát triển con người năm 2010 cải tiến hơn, con số tỷ lệ đếntrường đúng độ tuổi được thay bằng số năm đi học trung bình nhưng đầy đủ hơn, nókhông chỉ bao gồm số năm đi học trung bình của những người từ 25 tuổi trở lên mà cònbao gồm số năm đi học trung bình kỳ vọng, tức là số năm đi học trung bình dự báo tínhcho những người trong độ tuổi đến trường
Cách tính HDI:
Về phương pháp tính, HDI thiết lập một giới hạn trên và giới hạn dưới cho từng khíacạnh, gọi là những điểm đích, nó thể hiện mỗi quốc gia đang đứng ở điểm nào so với cácđiểm mốc đó, được thể hiện từ giá trị từ 0 đến 1 (trong đó giá trị 1 là giá trị cao nhất).Nhưng nếu phát triển con người là quá trình mở rộng sự lựa chọn thì có thể không có sựgiới hạn, không có điểm cao nhất Phương pháp chỉ số chính là cách thức để quy đổi các
Trang 6Trước báo cáo phát triển con người năm 2010, UNDP đã sử dụng một phương pháptính khác mà theo đó HDI là trung bình cộng của ba chỉ số bộ phận Tuy nhiên, trong Báocáo phát triển con người năm 2010, đi đôi với sự thay đổi một số yếu tố bộ phận trongHDI, phương pháp tính cũng có sự thay đổi phù hợp và bảo đảm tính chính xác hơn củachỉ số này.
HDI được tính theo công thức bình quân nhân giản đơn từ 3 chỉ số thành phần như sau:
Trong đó, chỉ số năm học trung bình (I E 1) và chỉ số năm học kì vọng (I E 2) được tính theo
công thức: Chỉ số = X thực tế −X min X max−X min
- Chỉ số thu thập: I W=ln(X GNI thực tế)−ln( XGNI min)
ln(X GNI max)−ln(X GNI min)
Kể từ năm 2010, UNDP có sự điều chỉnh trong cách tính toán chỉ số HDI Vì vậy,trong các Báo cáo cũng có sự thay đổi về việc công bố các chỉ số thành phần của HDI, cụthể là UNDP không công bố các chỉ số thành phần mà chỉ công bố tuổi thọ trung bình, sốnăm đi học trung bình, số năm đi học kỳ vọng và GNI của mỗi quốc gia Nếu muốn cótừng chỉ số cấu thành của HDI, chúng ta phải tự tính toán
Bảng 1: Giá trị tối đa (max) và tối thiểu (min) của các chỉ tiêu liên quan để tính HDI
năm 2010
Chỉ tiêu Giá trị tối đa Giá trị tối thiểu
Trang 7Mức sống GNI bình quân đầungười (USD PPP) 108211 163
Nguồn: UNDP
Áp dụng cách tính này cùng với số liệu của UNDP công bố, chúng em có được cácchỉ số như sau:
Bảng 2: Chỉ số HDI của Việt Nam giai đoạn 2010-2016
Chỉ số tuổi thọ Chỉ số giáo dục Chỉ số thu nhập HDI
Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP các năm 2010-2016
Bảng số liệu trên cho thấy trong giai đoạn 7 năm (2010 – 2016), chỉ số tuổi thọ củaViệt Nam vẫn tăng dần đều một cách khá bền vững; chỉ số giáo dục cũng từng bước đượccải thiện, đặc biệt có sự tăng mạnh vào năm 2015 (do số năm đi học trung bình tăng lên8.0 năm so với 7.8 năm vào năm 2014); chỉ số thu nhập có sự cải thiện rõ rệt trong hainăm 2014 và 2015 so với những năm trước đó Vì vậy, trong hai năm 2014 và 2015, sựtăng trưởng của chỉ số HDI có sự đóng góp đáng kể từ chỉ số thu nhập và chỉ số giáo dục.Nhìn chung, chỉ số HDI Việt Nam vẫn tiếp tục gia tăng nhưng tốc độ không cao, sự biếnđổi của các chỉ số thành phần trong chỉ số HDI là không đồng đều, có sự thay đổi trật tựđóng góp vào HDI trong từng giai đoạn, thể hiện sự tiến bộ không đều giữa các lĩnh vựckinh tế, giáo dục
II Đánh giá chung về chỉ số HDI của Việt Nam trong giai đoạn 2010 – 2016
Trang 81 Đánh giá chung về chỉ số HDI
Trong thời gian qua, cùng với quá trình đổi mới về kinh tế và những thành tựuquan trọng đạt được trong lĩnh vực này, trình độ phát triển con người của Việt Nam cũng
Số năm đi học kỳ vọng (năm)
GNI bình quân theo đầu người (theo 2011 PPP$)
Nguồn: Báo cáo phát triển con người của UNDP
Qua bảng số liệu trên cho thấy, trong giai đoạn 2010-2016 chỉ số phát triển conngười của Việt Nam có xu hướng tăng nhưng không nhiều, thậm chí còn có lúc giảm vàtốc độ tăng cũng chậm hơn so với các nước trên thế giới
Về chỉ số tuổi thọ:
Tăng đều qua các năm, trung bình tăng 0.2 tuổi/ năm Tuổi thọ bình quân ở nước tađạt mức cao nhất và có tầm quan trọng hàng đầu trong 3 chỉ số (thu nhập, tuổi thọ, giáodục), quyết định thứ bậc về HDI Trong khu vực Đông Nam Á, năm 2016, tuổi thọ củaViệt Nam đang xếp thứ 2, Cụ thể, tuổi thọ bình quân của người Việt Nam năm 2016 đạt76.3, đứng sau Singapore - 82,6 tuổi Malaysia đứng thứ 3 với 74,7 tuổi, kế đó là TháiLan 74,4, Indonesia 68,9, Philippines 68,3, Campuchia 68,2, Lào 66,1 Ngoài các yếu tố
có tính tự nhiên, tuổi thọ cao của người Việt Nam còn là kết quả của việc cải thiện mứcsống, chăm lo sức khoẻ con người, được thể hiện trên nhiều mặt Cụ thể: Tỷ lệ nghèogiảm mạnh (9,45% năm 2010 xuống còn 3,47% năm 2016, Công tác bảo vệ, chăm sóc
Trang 9sức khỏe nhân dân được tăng cường Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên Tiếp tụcđầu tư xây mới và nâng cấp mở rộng nhiều bệnh viện; riêng tuyến Trung ương tăng thêm1.200 giường bệnh Tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt khoảng 72%.
Về chỉ số thu nhập:
(Tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương) Bình quân đầu người đã tăng từ
4241 USD năm 2010 lên 5589 USD năm 2016 Do chỉ số thu nhập còn thấp, nên cần phảitập trung cho việc nâng cao chỉ tiêu này Muốn tăng chỉ tiêu này, một mặt phải tăng tổngGDP (tính bằng USD theo tỷ giá sức mua tương đương); phải tăng tỷ lệ GNI so với GDP
và tiếp tục giảm tốc độ tăng dân số
Về chỉ số giáo dục:
Đây là chỉ số được biểu hiện qua 2 chỉ số chi tiết, đó là số năm đi học kỳ vọng và sốnăm đi học trung bình Số năm đi học kỳ vọng tăng từ 11,9 năm vào năm 2010 lên 12,7năm vào năm 2016, số năm đi học trung bình của Việt Nam đã tăng từ 7,5 năm năm 2010lên 8.1 năm năm 2016 Nhìn chung, trình độ phát triển con người của Việt Nam chưa thực
sự bền vững Hiện nay, Việt Nam thuộc nhóm các quốc gia có trình độ phát triển conngười ở mức trung bình, thấp hơn so với phần lớn các nước trong khu vực Đông Nam Á(chỉ cao hơn với Myanmar và Camphuchia) Theo báo cáo phát triển con người củaUNDP năm 2015 dựa trên cơ sở phân tích dữ liệu năm 2014, năm 2014 chỉ số HDI củaViệt Nam là 0,638 trong khi đó của Myanmar là 0,535, của Campuchia là 0,555 Trongthời gian tới, để HDI tăng nhanh hơn, Việt Nam cần đầu tư nhiều hơn nữa vào con người.Nếu không đầu tư vào con người thì những lợi ích thu được từ thị trường quốc tế hoặc từđầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ rất hạn chế Đầu tư vào tiềm năng con người có ý nghĩasống còn giúp Việt Nam nâng cao lợi thế cạnh tranh và nhờ đó được hưởng
2 Mối quan hệ giữa chỉ số giáo dục và chỉ số HDI ở Việt Nam
Như đã phân tích ở trên, chỉ số giáo dục là một trong ba chỉ số thành phần được tínhvào chỉ số phát triển con người, thể hiện qua hai tiêu chí là số năm đi học trung bình củangười lớn (>25 tuổi) và số năm đi học kỳ vọng trung bình ở trẻ em Thông qua đó, chỉ số
Trang 10giáo dục phản ánh khả năng có được nền giáo dục và đào tạo căn bản, đảm bảo việc tiếpcận với kiến thức khoa học, xã hội cần thiết, có được trình độ học vấn nhất định để phục
vụ cho quá trình lao động và phát triển đời sống cộng đồng Do vậy, chỉ số giáo dục đãtác động trực tiếp tới sự phát triển của con người ở góc độ tri thức, ảnh hướng tới thứ bậccủa HDI và là nhân tố quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội nóichung
Trong những năm qua, nhận thức được tầm quan trọng về giáo dục và đào tạo cóảnh hưởng sâu sắc tới sự phát triển bền vững trong dài hạn, nước ta đã quan tâm chú ý tớiđổi mới, tạo nhiều kết quả đột phá, đóng góp vào sự phát triển con người nói riêng và đấtnước nói chung, nhờ vậy, chỉ số HDI của Việt Nam cũng đã có những bước tiến bộ đáng
kể Tuy nhiên, nếu so với nhiều nước trên thế giới và các nước trong khu vực Đông Nam
Á, tốc độ tăng HDI của Việt Nam còn khá chậm Vấn đề đặt ra là chúng ta phải giải quyếtđược những bài toán hạn chế còn lại từ các yếu tố thành phần ảnh hưởng trực tiếp đếnHDI, và một trong số đó chính là giáo dục - lĩnh vực có vai trò quan trọng của mỗi quốcgia, mỗi dân tộc, không chỉ đem đến những cơ hội cho quá trình xây dựng nguồn lực conngười, mà còn đòi hỏi những thách thức cho sự phát triển kinh tế - xã hội
CHƯƠNG II: PHÂN TÍCH CHỈ SỐ GIÁO DỤC CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2010 – 2016
I Thành tựu về giáo dục Việt Nam cho việc tăng cao chỉ số phát triển giáo dục
Qua cách tính chỉ số giáo dục ở phần cơ sở lí luận, ta thấy yếu tố tác động chính đếnchỉ số giáo dục chính là số năm đi học kỳ vọng và số năm đi học bình quân Theo đó, sốnăm đi học bình quân được thể hiện qua 6 yếu tố: không được giáo dục chính thức, khônghoàn thành giáo dục tiểu học, hoàn thành giáo dục tiểu học, giáo dục cấp trung học cơ sở,giáo dục cấp trung học phổ thông và giáo dục Cao đẳng và Đại học Tuy nhiên trong phântích này, ta sẽ chỉ tập trung đi vào tìm hiểu ở cấp giáo dục phổ thông (Tiểu học, THCS &THPT)
Theo số liệu của UNDP, từ năm 1980 – 2015, chỉ số phát triển của Việt Nam đã tăng
từ 0,381 lên 0,666 Sau đây, ta sẽ đi vào phân tích thành tựu hay những ưu điểm của chỉ
số giáo dục ở Việt Nam ở cấp Tiểu học, Trung học cơ sở, Trung học phổ thông để tìmhiểu nguyên nhân nào dẫn đến sự gia tăng chỉ số giáo dục trong giai đoạn 2010 –2016
Một số thành tựu lớn làm tăng chỉ số Giáo dục ở Việt Nam
Trang 11Để giảm thiểu số người chưa được giáo dục chính thức Chính phủ Việt Nam đã lập ra kếhoạch EFA (Education for All) từ năm 2003 – 2015 về chất lượng, độ tiếp cận và triểnkhai trên nhiều khu vực vùng miền và đạt được kết quả:
- Số năm đi học kỳ vọng năm 2010 là 11.9 năm, đến năm 2015 đạt 12.7 năm
- Số năm đi học bình quân năm 2010 là 7.5 năm, đến năm 2015 đạt 8 năm
- Tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 – 34 đạt 100% năm 2015
Có thể thấy, chỉ trong khoảng 5 năm, Giáo dục Việt Nam đã đạt được những bước tiênnhất định Đằng sau đó là những tiến bộ, thành tựu mà giáo dục mỗi cấp đạt được, gópphần làm tăng chỉ số giáo dục Sau đây, ta sẽ phân tích thành tựu đạt trong 3 cấp học củagiáo dục phổ thông Tiểu học, Trung học cơ sở và Trung học phổ thông
Thành tựu cấp Tiểu học
- Tỷ lệ nhập học của học sinh cấp Tiểu học (trong độ tuổi tương ứng) tăng qua cácnăm 104.96% vào năm 2010 lên 109.97% vào năm 2016, chỉ giảm nhẹ vào năm 2015: từ109.27% năm 2014 xuống 108.715% năm 2015 Ngoài ra tỷ lệ này còn có khá đồng đềutheo giới tính, năm 2010: tỷ lên nhập học cấp tiểu học ở nữ là 102.184%, ở nam là107.579%; đến năm 2016: tỷ lệ này ở nữ là 110.125%, ở nam là 109.828%
Bảng 3 : Bảng tổng tỷ lệ nhập học Tiểu học năm học 2010 – 2016
Trang 12- Tỷ lệ học sinh hoàn thành cấp Tiểu học (trong độ tuổi tương ứng) trong giai đoạn
Thành tựu ở cấp Trung học cơ sở (THCS)
- Tỷ lệ hoàn thành THCS của người trong độ tuổi tương ứng tăng
89.2 89.4 89.6 89.8 90 90.2 90.4 90.6 90.8
Trang 13Năm 2011 là 77.816% đến năm 2016 đạt 87.5585% Ngoài ra, tỷ lệ này không những tăng
mà còn tăng đồng đều cho phân bổ theo giới tính Đến năm 2016, tỷ lệ hoàn thiện giáodục cấp THCS của nữ là 89.979% của nam còn 85.269% Đây được xem là một thành tựu
to lớn đối với một đất nước Đông Nam Á từng mang nặng màu sắc phong kiến với quanđiểm “trọng nam khinh nữ” như Việt Nam
Số học sinh học lại ở các cấp THCS giảm:
Nguồn: UNDP
Theo thống kê của UNDP, từ năm 2011 – 2014, số học sinh học lại ở cấp thuộc khốiTHCS giảm nhiều Năm 2011 có 90.918 học sinh đi học lại, đến năm 2014 chỉ còn 54.514học sinh học lại, chỉ chiếm 1.1% số học sinh nhập học cùng năm
- Tỷ lệ giáo viên đã qua đào tạo ở cấp THCS (% trên tổng số giáo viên cấp THCS) tăng: