1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công thực trạng thực hiện các chính sách quản lý nợ công ở việt nam giai đoạn 2009 đến nay

30 69 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 72,72 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù mức nợ công của Việt Nam hiện nayđược đánh giá bởi các tổ chức Moody’s, S&P, và Fitch đều ở mức ổn định tuy nhiênthực tế trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung nào về ngưỡng an to

Trang 1

Mục lục

Trang

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 2

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2

PHẦN NỘI DUNG 3

1 Cở sở lý luận về nợ công và quản lý nợ công 3

1.1 Nợ công 3

1.2 Quản lý nợ công 7

2 Thực trạng nợ công, quản lý nợ công và thực hiện các chính sách quản lý nợ công ở Việt Nam 11

2.1 Thực trạng nợ công 11

2.2 Thực trạng quản lý nợ công 14

3 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nợ công 24

3.1 Nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý nợ công 24

3.2 Xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý trong quản lý nợ công 25

KẾT LUẬN 28

TÀI LIỆU THAM KHẢO 29

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Ở bất kì quốc gia nào trên thế giới, nguồn vốn vay (nợ công) luôn có ý nghĩahết sức quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội Tuy nhiên cùng với đó, công tácquản lý, đảm bảo an toàn, bền vững cho nợ công luôn là bài toán đặt ra với tất cảcác nước

Theo số liệu do “The Economist” cập nhật tính đến đầu tháng 3/2013, nhữngkhu vực và quốc gia có tổng mức nợ công tuyệt đối cao nhất hiện nay là Bắc Mỹ,Brazil, châu Âu, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Australia Trong đó, Nhật Bản lànước có số nợ công khổng lồ nhất, lên tới hơn 12,5 nghìn tỷ USD (tương đương226,1% GDP), tiếp theo là Mỹ nợ hơn 11,8 nghìn tỷ USD (tương đương 75,2%GDP) Nhiều quốc gia trong khối sử dụng đồng tiền chung châu Âu cũng đang cómức nợ công hàng nghìn tỷ USD như Đức, Italy, Pháp, Anh… Hy Lạp, “tâm bão”

nợ công của châu Âu hiện nợ gần 395 tỷ USD (tương đương 157,5% GDP) TrungQuốc cũng đang là nước có mức nợ công cao trên thế giới Tổng mức nợ công củaTrung Quốc tính tới cuối năm 2010 là gần 1,03 tỷ nghìn tỷ USD, nhưng nợ côngcũng chỉ chiếm có 17% GDP của Trung Quốc

Trong bối cảnh nợ công châu Âu đang lan rộng và cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu chưa tìm ra lối thoát, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã cảnh báo nợ côngcủa Việt Nam cũng đang ở mức nguy hiểm và có xu hướng gia tăng nhanh Có rấtnhiều rủi ro tiềm ẩn trong chi tiêu công, trả nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam,đòi hỏi phải có cái nhìn nghiêm túc về vấn đề này để có những giải pháp quản lý nợcông một cách hiệu quả trong thời gian tới

Nợ công của Việt Nam bắt đầu tham gia vào bảng xếp hạng tín nhiệm quốcgia từ năm 2005 Nếu được xếp hạng cao, nước ta có thể đi vay trên thị trường quốc

tế với lãi suất và chi phí thấp hơn Mặc dù mức nợ công của Việt Nam hiện nayđược đánh giá bởi các tổ chức Moody’s, S&P, và Fitch đều ở mức ổn định tuy nhiênthực tế trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung nào về ngưỡng an toàn đối với nợcông nên chưa thể hoàn toàn chắc chắn nợ công của chúng ta đang ở ngưỡng antoàn hay báo động, vì thế việc hoàn thiện thể chế chính sách và các công cụ quản lý

Trang 3

nợ công vẫn là công việc cần được ưu tiên hàng đầu trong các giải pháp nâng caohiệu quả quản lý nợ công.

để phục vụ cho quá trình sửa đổi để khắc phục các tồn tại và quản lý nợ công cóhiệu quả hơn

Nhận thức được vai trò quan trọng này của công tác quản lý nợ công, đốitượng của bài tiểu luận được xác định là “Thực trạng tổ chức thực hiện chính sáchquản lý nợ công ở Việt Nam”

Nội dung của bài được chia làm 3 phần:

I Cơ sở lý luận về nợ công và quản lý nợ công

II Thực trang về quản lý nợ công và các chính sách quản lý nợ công ở ViệtNam

III Một số giải pháp tăng hiệu quả quản lý nợ công

Trang 4

Theo World Bank (2002), nợ của Chính phủ (nợ công) bao gồm nợ của Chínhphủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương.

Theo IMF (2010), thì nợ chính phủ được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vựccông

Theo luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 ban hành bởi Quốc hội, nợ côngđược quy định trong Luật này bao gồm:

a) Nợ chính phủ;

b) Nợ được chính phủ bảo lãnh;

c) Nợ chính quyền địa phương

Trong đó, nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủhoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hànhtheo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàngNhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tíndụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, pháthành hoặc uỷ quyền phát hành

Nợ nước ngoài của quốc gia là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ,

nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theophương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam

Trang 5

1.1.2 Phân loại

a) Theo Nguồn vay bao gồm:

Vay trong nước: Chính phủ vay thông qua phát hành các công cụ nợ Ủy bannhân dân cấp tỉnh vay để đầu tư phát triển kinh tế xã hội thông qua phát hành, ủyquyền phát hnahf trái phiếu chính quyền địa phương, vay từ các nguồn tài chính hợppháp khác theo quy định của pháp luật

Vay nước ngoài: là khoản vay ngắn hạn, trung hay dài hàn phải trả lãi hoặckhông phải trả lãi do Nhà nước, Chính phủ, doanh nghiệp và tổ chức khác của ViệtNam vay của chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổchức và cá nhân nước ngoài

b) Theo chủ thể đi vay bao gồm:

Nợ chính phủ: là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nướcngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc cáckhoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quyđịnh của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhànước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tàichính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, pháthành hoặc uỷ quyền phát hành

c) Theo loại hình vay bao gồm:

Vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA) là khoản vay nhân danh nhànước, Chính phủ Việt Nam từ nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài chínhsong phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tố khônghoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đốivới khoản vay không ràng buộc

Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mạinhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn vay ODA

Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường

d) Theo thời hạn vay bao gồm:

Trang 6

Khoản vay ngắn hạn: Có kỳ hạn dưới một năm.

Khoản vay trung và dài hạn: Có kỳ hạn từ một năm trở lên

e) Phân loại theo lãi suất:

g) Theo công cụ nợ bao gồm: thỏa thuận vay, tín phiếu, trái phiếu; công trái

và các công cụ khác

1.1.3 Đặc trưng của nợ công

 Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước Khácvới các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhànước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ

ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trực tiếp

và trả nợ gián tiếp Trả nợ trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền

sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay.Trả nợ gián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh đểmột chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thìtrách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủ bảo lãnh

để Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài)

 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơquan nhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽnhằm đảm bảo hai mục đích: Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụngvốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chínhquốc gia; Hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh

đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính

Trang 7

trị xã hội Nguyên tắc quản lý nợ công Việt Nam là Nhà nước quản lý thống nhất,toàn diện nợ công từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ đểđảm bảo hai mục tiêu cơ bản trên.

 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triểnkinh tế – xã hội vì lợi ích cộng đồng Nợ công được huy động và sử dụng khôngphải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi íchchung của cộng đồng Ở Việt Nam, xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế

để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nênđương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân,

cụ thể là đề phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quantrọng nhất

1.1.4 Tác động tới nền kinh tế và bản chất của nợ công

Vay nợ là một cách huy động vốn cho phát triển Bản chất nợ không phải làxấu Nợ đem lại rất nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nước đi vay.Thực tế, các nước muốn phát triển nahnh đều phải đi vay Những nền kinh tế lớnnhất thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… lại cũng chính là những con nợ lớn

Nợ công có nhiều tác động tích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu cực Tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:

 Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồnvốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước.Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọngnhất Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước đượcgiải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế

 Nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư.Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nướcvay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quảkinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư

 Nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chínhquốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quantrọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũngnhư muốn hợp tác kinh tế song phương Biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ

Trang 8

có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôntrọng lợi ích đối tác, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước.

Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêucực:

 Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ cáckhoản tài trợ ngoài nước

 Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sátchặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãngphí tràn lan Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư vàđiều quan trọng hơn là giảm thu cho ngân sách

Bản chất của nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách.Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thuthuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gianđánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất làcách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho cáchoạt động chi ngân sách Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về mức

độ an toàn hay rủi ro của nợ công Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ côngkhông chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạngphát triển của nền kinh tế

1.2 Quản lý nợ công

1.2.1 Khái niệm

Quản lý nợ công được đúc kết từ kinh nghiệm các nước, theo IMF, đó là “quátrình thiết lập và thực thi chiến lược vay nợ của một quốc gia nhằm gâydựng được một lượng vốn theo yêu cầu, nhằm đạt được các mục tiêu về chi phí vàrủi ro, đáp ứng được các mục tiêu quản lý nợ khác của Nhà nước đặt ra” Trongkhuôn khổ kinh tế vĩ mô, vấn đề quan trọng nhất của quản lý nợ công là Chính phủphải đảm bảo quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công phải bền vững, có khảnăng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau mà vẫn đáp ứng được các mụctiêu về rủi ro và chi phí

1.2.2 Các nguyên tắc quản lý nợ công

Theo Điều 5 Luật quản lý nợ công số 29/2009/QH12 của Quốc hội có nêu cácnguyên tắc quản lý nợ công

Trang 9

 Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công, từ việc huy động, phân

 Người vay chịu trách nhiệm thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ đối vớikhoản vay

 Công khai, minh bạch trong việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay,trả nợ và quản lý nợ công Chương trình, dự án sử dụng vốn vay của Chính phủ,chính quyền địa phương phải được kiểm toán bởi Kiểm toán Nhà nước hoặc kiểmtoán độc lập

 Mọi nghĩa vụ nợ của Chính phủ được đối xử bình đẳng

1.2.3 Mục tiêu của ban hành Luật quản lý nợ công

 Nhằm thiết lập khuôn khổ pháp lý có hiệu lực cao và thống nhất, hoànthiện thể chế kinh tế thị trường, luật hoá và thống nhất các qui phạm pháp luật hiệnhành về nợ công để đảm bảo huy động, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phục vụcho sự nghiệp phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, quản lý nợ an toàn, hiệu quả.Việc ban hành Luật quản lý nợ công sẽ tạo ra khung pháp lý để nâng cao hiệu quảquản lý, xác định rõ các nội dung quản lý chủ đạo như phạm vi quản lý nợ công,mục đích vay nợ, trách nhiệm trả nợ, tổ chức quản lý nợ tập trung và thống nhất,nghĩa vụ, quyền hạn của các cơ quan và đưa ra các nguyên tắc chính nhằm chuẩnhoá quy trình vay, trả nợ Từng bước thực hiện thống nhất đầu mối quản lý, khắcphục một trong những tồn tại cơ bản trong quản lý nợ công hiện nay là phân tán (từ

đó dẫn đến hiệu quả quản lý chưa cao và chưa chủ động), tăng cường phối hợp giữacác cơ quan liên quan

 Quy định một số nội dung mới trong quản lý nợ công như thống nhấtquản lý nợ trong và ngoài nước, điều hành các hạn mức nợ, quản lý rủi ro, cơ cấu lạidanh mục nợ, xây dựng cơ sở dữ liệu nợ thống nhất nhằm nâng cao hiệu quả quản

lý nợ trên cơ sở sử dụng các công cụ và mô hình quản lý tiên tiến

Trang 10

 Đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch, tạo điều kiện kiểm tra, kiểm soátcủa toàn xã hội đối với việc vay, trả nợ Vay nợ để đầu tư cho hiện tại nhằm tăngthu nhập và phúc lợi nhưng đồng thời cũng tạo ra nghĩa vụ trả nợ cho các thế hệtương lai Vì vậy, việc vay nợ và quản lý nợ có hiệu quả, đồng thời sử dụng nguồnvốn vay đúng mục đích là rất quan trọng để đảm bảo trả được nợ Luật quản lý nợcông với những quy định rõ về phân công quản lý, trách nhiệm của cơ quan đầumối, trách nhiệm báo cáo, công khai thông tin, kiểm tra, giám sát sẽ giúp nâng caohiệu quả kiểm tra, giám sát của toàn xã hội đối với hoạt động vay, trả nợ của Chínhphủ Các quy định đảm bảo công khai, minh bạch cũng sẽ giúp nâng cao chất lượngmôi trường đầu tư của Việt Nam, vì mức độ bền vững của danh mục nợ Chính phủ

và khu vực công là một trong những biến số rất quan trọng về ổn định kinh tế vĩ mô

mà các nhà đầu tư quan tâm

 Tạo điều kiện để tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế Việc ban hànhkhung pháp lý cao nhất quy định rõ ràng về trách nhiệm báo cáo minh bạch cácthông tin về nợ công sẽ giúp Việt Nam có chung một mặt bằng đánh giá, so sánhvới các nước khác trên thế giới, tạo điều kiện hội nhập kinh tế và chia sẻ, học tập cóchọn lọc các kinh nghiệm tốt của quốc tế

1.2.4 Tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động quản lý nợ công

Năm 2011, đoàn công tác của Ngân hàng thế giới (WB) tới Việt Nam để thựchiện đánh giá hiệu quả quản lý nợ công theo các tiêu chí của công cụ DeMPA.DEMPA là công cụ bao gồm 15 tiêu chí nhằm để xếp loại (A,B,C,D) về mức

độ mạnh, yếu trong các hoạt động quản lý nợ của từng nước và hiện tại đã thực hiện

có hiệu quả trên 60 quốc gia

WB sẽ làm việc trực tiếp với các đơn vị thuộc Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhànước Việt Nam, Bộ Tư pháp, Kiểm toán Nhà nước và một số cơ quan liên quan đếncông tác quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia theo quy định của LuậtQuản lý nợ công Sau đó, WB sẽ hoàn thành Báo cáo đánh giá về hiệu quả công tácquản lý nợ công của Việt Nam, phát hiện những vấn đề còn tồn tại, vướng mắc,đồng thời có các khuyến nghị đối với Chính phủ để có các điều chỉnh phù hợp, xácđịnh tiêu chí và lộ trình hỗ trợ kỹ thuật từ WB nhằm nâng cao hiệu quả công tácquản lý nợ của Việt Nam

Trang 11

Nội dung đánh giá tập trung vào các lĩnh vực cụ thể trong quy trình thực hiệnnghiệp vụ quản lý nợ:

 Khuôn khổ thể chế và pháp lý, cơ cấu tổ chức của bộ máy của cơ quanquản lý nợ

 Xây dựng và điều hành thực hiện chiến lược quản lý nợ;

 Đánh giá hoạt động quản lý nợ, công tác kiểm toán, phối hợp giữa quản

lý nợ với chính sách tài khoá, chính sách tiền tệ;

 Các hoạt động vay nợ; dự báo và quản lý dòng tiền, quản lý rủi ro hoạtđộng;

 Báo cáo và ghi chép nợ phù hợp với thông lệ quốc tế

Cụ thể giá trị mức ngưỡng dựa vào tỷ lệ nợ truyền thống để làm cơ sở đánhgiá thể chế và chính sách của quốc gia Dựa vào giá trị ngưỡng, Ngân hàng Thế giớiphân loại 3 mức thực hiện chính sách: kém, vừa và mạnh Trong quá trình đánh giáchính sách, quản lý được xem là có trọng số lớn nhất

Bảng 1.1 Mức ngưỡng phụ thuộc vào chính sách và thể chế theo tiêu chuẩn củaHIPCs

Đánh giá sức mạnh thể chế và hiệu quả chính sáchMức ngưỡng(%) Kém

CPIA ≤ 3

Vừa

3 < CPIA < 3.9

MạnhCPIA ≥ 3.9

 Nợ nước ngoài/GDP: Tỷ lệ nợ nước ngoài trên tổng sản phẩm quốc nội

 Nợ nước ngoài/X: Tỷ lệ nợ nước ngoài/xuất khẩu Đo lường giá trị hiệntại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ của quốc gia lấy từ nguồnthu xuất khẩu Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là 150%

 Nợ nước ngoài/DBR: Tỷ lệ nợ nước ngoài/thu ngân sách nhà nước Đolường giá trị hiện tại ròng của nợ nước ngoài liên quan đến khả năng trả nợ củaquốc gia lấy từ nguồn thu ngân sách nhà nước Ngưỡng an toàn của tỷ lệ này là250%

Trang 12

1.2.5 Các Nghị định, văn bản pháp luật đã được ban hành để đảm bảo thi hành Luật quản lý nợ công

 Nghị định Ban hành quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài số134/2005/NĐ-CP

 Thông tư Hướng dẫn lập, sử dụng và quản lý quỹ tích lũy trả nợ nướcngoài Số: 54/2009/TT-BTC do Bộ tài chính ban hành

 Nghị định về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ Số: 15/2011/NĐ-CP doChính phủ ban hành

quản lý nợ công ở Việt Nam

Nợ nước ngoài của

quốc gia so với

GDP (%)

Nghĩa vụ trả nợ

nước ngoài trung,

dài hạn của quốc

gia so với tổng kim

Trang 13

Số liệu được lấy từ dữ liệu nợ công của Việt Nam do Bộ Tài chính quản

lý thông qua việc sử dụng phần mềm DMFAS và tổng hợp báo cáo thống

kê từ các cơ quan có liên quan Cơ cấu nợ công

Tính đến ngày 31/12/2015, nợ công của Việt Nam ước ở mức 61,3% GDP Tỷ

lệ này nằm trong giới hạn cho phép của quốc hội là không quá 65% GDP Cáckhoản vay ODA, vay ưu đãi nước ngoài đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành nước

có thu nhập trung bình vào năm 2010, đã có sự thay đổi đáng kể về điều kiện vaytheo hướng giảm kỳ hạn từ 10-15 năm, chi phí huy động vốn tăng gấp đôi so vớitrước đây Các khoản vay trong nước, lãi suất trái phiếu chính phủ trong nước nhìnchung liên tục giảm kể từ năm 2011 Tuy nhiên, lãi suất phát hành có xu hướng tănglên kể từ đầu năm 2015 trước bối cảnh thị trường tài chính trong nước và thế giới cónhiều biến động

2.1.2 Tình hình sử dụng nợ công

Thông qua các chương trình đầu tư công, nợ công của Việt Nam được chuyểntải vào các dự án đầu tư nhằm cải thiện cơ sở hạ tầng, tạo nền tảng cho sự phát triểnkinh tế bền vững Tuy nhiên, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam chưa đạt đượchiệu quả cao, thể hiện ở các khía cạnh sau:

Tình trạng chậm trễ trong giải ngân vốn: Còn tình trạng chậm trễ trong giảingân nguồn vốn đầu tư từ NSNN và nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Dù đã qua nửanăm 2016, nhưng tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công chưa đạt được kế hoạch đượcgiao, nhất là giải ngân nguồn vốn trái phiếu Chính phủ Vốn đầu tư XDCB từ nguồnvốn nhà nước thấp là nguyên nhân cơ bản gây khó khăn cho công tác thu NSNN

Trang 14

Nếu không có các giải pháp thúc đẩy tiến độ giải ngân, tăng trưởng của nền kinh tế

sẽ bị ảnh hưởng, trong khi tỷ lệ và nghĩa vụ vay trả nợ công ngày càng có nguy cơtăng cao

Hiệu quả đầu tư chưa cao, thể hiện qua chỉ số ICOR: Năm 2015, tăng trưởngkinh tế đã dần hồi phục, với tăng trưởng GDP đạt 6,68% - mức cao nhất kể từ năm

2008 đến nay, hiệu quả đầu tư đã có bước cải thiện, với ICOR giai đoạn 2011-2015đạt 6,91, giảm so với giai đoạn 2006-2010 (là 6,96) Điều này có nghĩa là, nếu giaiđoạn 2006-2010, Việt Nam cần 6,96 đồng vốn để tạo ra được 1 đồng sản lượng, thìgiai đoạn 2011-2015 chỉ cần đầu tư 6,91 đồng Rất đáng ghi nhận khi trong bối cảnhtổng vốn đầu tư toàn xã hội so với GDP giảm mạnh (còn khoảng 32,6% GDP vàonăm 2015) thì tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì ở mức hợp lý Song cũng cần thẳngthắn, ICOR của Việt Nam còn cao, hiệu quả đầu tư còn thấp so với nhiều nền kinh

tế trong khu vực Nguyên nhân một phần là do nền kinh tế đang trong giai đoạn tậptrung đầu tư cho hạ tầng, bao gồm cả hạ tầng ở vùng sâu, vùng xa và đầu tư cho xóađói, giảm nghèo, đảm bảo an sinh xã hội cộng với tình trạng đầu tư còn có sự dàntrải, lãng phí Việt Nam đang bước vào giai đoạn phát triển mới, với tổng nhu cầuvốn đầu tư toàn xã hội cho cả giai đoạn 5 năm 2016 - 2020 lên tới gần 10.600.000

tỷ đồng, bằng khoảng 32-34% GDP Phải huy động được nguồn vốn này, Việt Nammới có thể đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế 6,5-7% và thực hiện khâu đột phá vềxây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, hiện đại, trong đó tập trung vào hệthống giao thông, hạ tầng đô thị lớn Huy động vốn đã khó, nhất là trong bối cảnhngân sách thâm hụt, bội chi lớn, không đủ để chi thường xuyên và trả nợ, còn nợcông đang tăng nhanh, áp lực trả nợ lớn, càng đòi hỏi phải sử dụng hiệu quả từngđồng vốn đầu tư, làm giảm ICOR, đồng thời gia tăng tốc độ tăng trưởng kinh tế

2.1.3 Tình hình trả nợ công

Từ năm 2006 đến nay, tình hình trả nợ công của Việt Nam không ổn định vàhầu như không có sự gia tăng đáng kể về giá trị, trung bình hàng năm Việt Namdành ra trên 3,5% GDP để chi trả nợ và viện trợ Tỷ lệ trả nợ/tổng nợ công giảm dầnqua các năm, từ 9,09% năm 2006 xuống còn 6,53% năm 2010 Trong khi đó, quy

mô của các khoản nợ công ngày càng tăng lên với tốc độ chóng mặt với gần20%/năm; mặt khác, tình hình sử dụng nợ công ở Việt Nam còn đang tồn tại nhiều

Trang 15

bất cập như chậm trễ trong giải ngân và sự kém hiệu quả trong sử dụng vốn vay vàocác dự án đầu tư Điều này tác động tiêu cực tới khả năng trả nợ của Việt Nam trongtương lai

Sau Hội nghị Tổng kết công tác tài chính – ngân sách Nhà nước, theo thôngtin từ Bộ Tài chính, dự toán năm 2016 chi trả nợ, viện trợ là 155,1 nghìn tỷ đồng,đảm bảo trả đủ các khoản nợ gốc, lãi vay nước ngoài đến hạn Đối với chi trả nợtrong nước, đảm bảo trả đủ lãi và một phần nợ, giảm mức vay đảo nợ

Nam đáp ứng được hai điều kiện X/GDP 30% và DBR/GDP 15% Trong khi

đó, tỷ lệ NPV/X 150% (NPV/X thấp, luôn dưới mức 60%) và NPV/DBR 250%(NPV/DBR luôn dưới 150%) Như vậy, nợ công của Việt Nam cho đến năm 2010đáp ứng được yêu cầu về nợ bền vững và được đánh giá là vẫn ở ngưỡng an toàn

mà Ngân hàng Thế giới đưa ra

Từ năm 2004 đến năm 2010, ba chỉ số nợ công của Việt Nam là NPV/GDP30% trong khi NPV/X < 60%, NPV/DBR < 150% Điều này cho thấy thể chế vàchính sách quản lý nợ nước ngoài của Việt Nam xếp vào chỉ số CPIA3, tức là ởmức kém

Nợ trong nước được đánh giá qua hai chỉ số là Nợ trong nước/GDP và Nợtrong nước/DBR Với tỷ lệ Nợ trong nước/GDP nhìn chung luôn ở mức thấp hơnnhưng khá sát với ngưỡng 20%-25%, tương tự, Nợ trong nước/DBR luôn ở mứcthấp hơn nhưng khá sát với ngưỡng 92%, do đó, nợ trong nước của Việt Nam đượcđánh giá là ổn định

2.2.2 Công tác quản lý nợ công

Trong thời gian gần đây, công tác quản lý nợ của Việt Nam đã đạt được nhữngtiến bộ đáng kể, góp phần ổn định và phát triển kinh tế đất nước, cụ thể là:

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w