Dựa vào số liệu thống kê của Bộ tài chính thì Việt Nam đã thâm hụt ngân sách liên tục trong 15 năm trở lại đây với tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP luôn ở trên mức trên dưới 5% Thâm hụt
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài:
Thâm hụt ngân sách nhà nước đang là một vấn đề nan giải đối với Việt Nam nói riêng và cơ số các nước khác trên thế giới nói chung Việc xử lí thâm hụt ngân sách nhà nước vẫn luôn gặp khó khăn bởi nó không chỉ tác động đến nền kinh tế mà nó còn tác động đến sự phát triển bền vững của một quốc gia
Dựa vào số liệu thống kê của Bộ tài chính thì Việt Nam đã thâm hụt ngân sách liên tục trong 15 năm trở lại đây với tỷ lệ thâm hụt ngân sách trên GDP luôn ở trên mức trên
dưới 5%
Thâm hụt ngân sách kéo dài đã dẫn tới một loạt các hậu quả như gia tăng tỉ lệ nợ công trên GDP, làm tăng lãi suất, tác động tiêu cực tới tỉ giá… gây ra tình trạng bất ổn đối với nền kinh tế Từ thực trạng trên đã đặt ra một nhu cầu cấp thiết là nghiên cứu về tình hình và tác động của tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước tác động lên nền kinh
tế ở Việt Nam Đó là lý do nhóm tác giả quyết định nghiên cứu ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế trên lãnh thổ Việt Nam để từ đó đưa ra những kiến nghị về quản lý ngân sách
2 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý thuyết về thâm hụt ngân sách nhà nước
- Chỉ ra được mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
- Dùng mô hình định lượng để phân tích, đánh giá nguyên nhân, kết quả, hạn chế
Trang 3- Đề xuất các giải pháp, khuyến nghị để quản lý ngân sách hiệu quả nhằm thúc đẩy nền kinh tế phát triển
3 Đối tượng nghiên cứu
Thâm hụt ngân sách và ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách nhà nước đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Mối quan hệ giữa các biến số vĩ mô của nền kinh tế tác động tới thâm hụt ngân sách nhà nước tại Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2000 - 2017
5 Bố cục bài nghiên cứu
Bài nghiên cứu được nhóm tác giả chia làm 3 chương:
- Chương 1: Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết: Trong chương này nhóm tác giả sẽ tóm tắt kết quả của một số những nghiên cứu và học thuyết đã được công bố ở trong và ngoài nước về đề tài này và đưa ra những kiến thức nền tảng về thâm hụt ngân sách
- Chương 2: Kết quả nghiên cứu và kết luận: Trong chương này nhóm tác giả
sẽ trình bày mô hình định lượng sử dụng để xem xét mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế, đồng thời chạy mô hình với số liệu từ năm 2000 – 2017 để đưa ra kết luận
- Chương 3: Giải pháp kiến nghị: Trong chương này nhóm tác giả sẽ xem xét
và đưa ra những giải pháp kiến nghị được tham khảo từ nghiên cứu của các nước
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận của nhóm tác giả không tránh khỏi những sai sót Nhóm tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của giảng viên để bài tiểu luận hoàn thiện hơn Nhóm tác giả xin chân thành cảm ơn!
Trang 4Chương 1 Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết:
1.1 Tổng quan nghiên cứu:
1.1.1 Nhưng nghiên cứu đã được tiến hành ở các nước:
Học thuyết Keynes: Theo Keynes, thâm hụt ngân sách từ việc tăng chi tiêu chính phủ có thể làm tăng tổng cầu và cải thiện niềm tin nhà đầu tư, từ đó kích thích đầu tư và tiết kiệm, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Như vậy tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách có mỗi quan hệ cùng chiều và việc thâm hụt ngân sách vào đúng thời điểm với cách thức triển khai phù hợp là cần thiết cho tăng trưởng kinh tế Dựa trên học thuyết của Keynes cũng đã có nhiều nghiên cứu về ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế, trong đó có bài nghiên cứu của nhóm tác giả Okelo Simeo Odhiambo,
Dr Momanyi G., Prof Othuon Lucas và Fredrick O Aila (2013) với tiêu đề “The
Relationship between Fiscal Deficits and Economic Growth in Kenya: An Empirical Investigation” Bằng việc chạy số liệu chuối thời gian 38 năm ( 1970 – 2017) qua
phương pháp OLS, nhóm tác giả cũng chỉ ra được rằng thâm hụt ngân sách có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế ở Kenya Tuy nhiên cả học thuyết của Keynes và bài nghiên cứu trên đều chỉ chủ yếu quan tâm đến tác động của thâm hụt ngân sách ngắn hạn Theo như bài nghiên cứu cũng chỉ ra: nếu việc khắc phục thâm hụt ngân sách bị trậm chễ thì thâm hụt ngân sách dài hạn có thể gây ra những chi phí kinh tế lớn và sự ảnh hưởng của nó đến tăng trưởng kinh tế cũng chưa được xác định rõ ràng
Học thuyết của Ricardo: Lý thuyết Ricardo bác bỏ ảnh hưởng của thâm hụt đối với các biến số kinh tế vĩ mô trong cả ngắn hạn và dài hạn bằng cách lập luận rằng thâm hụt chỉ đơn thuần kéo dài thời gian giữa các khoản thuế Từ logic này, một khoản giảm thuế (tạo nên thâm hụt ngân sách) không có bất cứ ảnh hưởng nào đến tiêu dùng, tiết kiệm quốc gia, lãi suất thực, đầu tư, xuất khẩu ròng, GDP thực, kể cả trong ngắn hạn hay dài hạn Như vậy tăng trưởng kinh tế và thâm hụt ngân sách không có mối quan hệ tác động lẫn nhau Cũng đã có rất nhiều bài nghiên cứu ủng hộ học thuyết của Ricardo, trong đó
có bài nghiên cứu của nhóm tác giả Velnampy và Achchuthan (2013) với tiêu đề “ Fiscal Deficit and Economic Growth: A Study on Sri Lankan Economic Perspective” Khi xem xét số liệu thu được từ năm 1970 đến 2010, nhóm tác giả cũng không nhận thấy mối tương quan giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Siri Lanka Tuy nhiên học thuyết và bài nghiên cứu vẫn bỏ qua các yếu tố như thị trường tín dụng tư nhân là không hoàn hảo và dự đoán về các khoản thuế và thu nhập trong tương lai rất phức tạp, do đó giả định người dân có khả năng điều chỉnh tiêu dùng căn cứ trên các kỳ vọng về thuế khó đứng vững
Học thuyết tân cổ điển: Xuất phát từ 3 giả định của Bernheim (1989), trường phái tân cổ điển kết luận như sau: thâm hụt ngân sách trong dài hạn sẽ làm sụt giảm tích lũy
tư bản và sẽ có tác động tiêu cực lên hầu hết các chỉ số kinh tế quan trọng như tiêu dùng, tiết kiệm, lãi suất, còn trong ngắn hạn tác động của thâm hụt ngân sách của thể khác nhau Cùng quan điểm trên bài nghiên cứu của Ranjan Kumar Mohanty với tiêu “Fiscal Deficit-Economic Growth Nexus in India: A Cointegration analysis” cùng chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ cả trong dài
Trang 5hạn và ngắn hạn Tuy nhiên học thuyết này cần xem xét khi áp dụng nghiên cứu trong ngắn hạn ở từng quốc gia vì tầm nhìn của người tiêu dùng và khả năng tiếp cận thị trường tín dụng của người dân trên mỗi quốc gia là khác nhau tạo thành các tác động khác nhau đến tăng trưởng kinh tế
1.1.2 Những nghiên cứu trong nước:
Theo bài nghiên cứu của Tung, L T (2018) “The effect of fiscal deficit on
economic growth in an emerging economy: Evidence from Vietnam” sử dụng mô hình
tự sửa lỗi với số liệu hàng quý từ 2003 – 2016 đã chỉ ra mối quan hệ tiêu cực giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam, trong đó thâm hụt ngân sách có tác động có hại đến tăng trưởng kinh tế trong cả ngắn hạn và dài hạn
Tương tự bài nghiên cứu của tiến sỹ Phạm Thế Anh (2014) về “Thâm hụt ngân sách, nợ công và rủi ro vĩ mô ở Việt Nam” cũng kết luận rằng thâm hụt ngân sách dài và
sự gia tăng nhanh chóng của nợ công đã đang đang ảnh hưởng xấu đến lạm phát, lãi suấ,
tỷ giá và tình hình tăng trưởng kinh tế của Việt Nam
Bài nghiên cứu này tìm hiểu tác động của thâm hụt ngân sách lên tăng trưởng kinh
tế ở một số nước Đông Nam Á trong giai đoạn 2001-2013 của nhóm tác giả Đặng Văn Cường và Phạm Lê Trúc Quỳnh (2015) cũng cho thấy thâm hụt ngân sách và tín dụng nội địa khu vực có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế trong phạm vi nghiên cứu Như vậy phần lớn các nghiên cứu về tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam mà nhóm tác giả đã tìm đọc đều có kết quả thực nghiệm là mối quan hệ tỷ lệ nghịch, ủng hộ trường phái tân cổ điển Dựa trên những bài nghiên cứu trên, nhóm tác giả sẽ xây dựng mô hình và kiểm chứng lại sự ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam
1.2 Khung lý thuyết:
1.2.1 Khái niệm ngân sách nhà nước & thâm hụt ngân sách nhà nước.
a, Ngân sách nhà nước:
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học cổ điển, ngân sách nhà nước là một văn kiện tài chính mô tả các khoản thu và chi của chính phủ được thiết lập hàng năm
Theo quan điểm của các nhà kinh tế học hiện đại, ngân sách nhà nước là bảng cân đối, trong đó liệt kê các khoản thu và chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của nhà nước
Tại kì họp thứ 9, khoá IX của Quốc hội ngày 20/3/1999 đã thông qua luật Ngân sách nhà nước, trong đó đưa ra khái niệm về Ngân sách nhà nước Theo đó:
“Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu chi của nhà nước trong dự đoán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước.”
(Theo Luật Ngân sách Nhà nước của Việt Nam đã được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 16/12/2002)
Ngân sách nhà nước gồm 2 loại đó là:
Trang 6- Ngân sách địa phương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp địa phương hưởng, thu bổ sung từ ngân sách trung ương cho ngân sách địa phương và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp địa phương
- Ngân sách trung ương: là các khoản thu ngân sách nhà nước phân cấp cho cấp trung ương hưởng và các khoản chi ngân sách nhà nước thuộc nhiệm vụ chi của cấp trung ương
b, Thâm hụt ngân sách nhà nước:
Trong kinh tế học vĩ mô và kinh tế học công cộng, thâm hụt ngân sách nhà nước là tình trạng các khoản chi của ngân sách Nhà nước (ngân sách chính phủ) lớn hơn các khoản thu, phần chênh lệch chính là thâm hụt ngân sách
Ngược lại, khi các khoản thu lớn hơn các khoản chi được gọi là thặng dư ngân sách Thu của chính phủ không bao gồm khoản đi vay Đi vay chính là một cách mà chính phủ tài trợ cho thâm hụt ngân sách
Trong lịch sử, chính phủ từng sử dụng cách phát hành thêm tiền như là một cách tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nhưng do hậu quả nghiêm trọng của nó là dẫn đến lạm phát ở mức cao, vậy nên ngày nay cách này hầu như không được chính phủ của bất cứ quốc gia nào sử dụng nữa Chính phủ bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách đi vay, khoản vay đó tích luỹ đến một thời điểm nào đó chính là nợ chính phủ (Nợ công)
Tài chính công hiện đại phân loại thâm hụt ngân sách thành hai loại: thâm hụt cơ cấu và thâm hụt chu kỳ
- Thâm hụt cơ cấu là các khoản thâm hụt được quyết định bởi các chính sách tùy biến của chính phủ, như giáo dục, xã hội, thuế xuất, trợ cấp bảo hiểm, quốc phòng,
- Thâm hụt chu kỳ là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế, tức là do mức độ cao hay thấp của sản lượng và thu nhập quốc dân Ví dụ khi nền kinh
tế suy thoái, tỷ lệ thất nghiệp tăng dẫn đến khoản thu từ thuế giảm xuống, đồng thời chi ngân sách cho trợ cấp thất nghiệp tăng lên
1.2.2 Cách tính thâm hụt ngân sách
Thâm hụt ngân sách có thể được viết theo công thức:
BD = G - T
(Trong đó:
BD: thâm hụt ngân sách của chính phủ
G: tổng mức chi tiêu của chính phủ
T: tổng nguồn thu của chính phủ)
Mức thu ròng từ thuế của chính phủ: T = Te + Td - TR
Thu nhập: T = tY (trong đó t là thuế suất bình quân)
Mức chi tiêu của chính phủ: G = G * (là một đại lượng không phụ thuộc vào thu nhập (Y ) của nền kinh tế )
Vì vậy, thâm hụt ngân sách có thể biểu thị bằng phương trình:
Trang 7BD = G* - tY
Phương trình này cho thấy thâm hụt ngân sách có thể phát sinh một cách khách quan (khi thu nhập Y của nền kinh tế giảm xuống dưới một mức nào đó), chứ không phải chỉ phụ thuộc vào chính phủ (tức việc chính phủ quyết định mức chi tiêu và thuế suất bình quân) Để có chỉ tiêu thâm đánh giá mức thâm hụt hoàn toàn do yếu tố chủ quan của chính phủ gây ra, người ta dùng chỉ tiêu thâm hụt ngân sách toàn dụng (với Y
= Y*, trong đó Y* là sản lượng toàn dụng)
1.2.3 Một số yếu tố tác động đến thâm hụt ngân sách nhà nước.
Thâm hụt ngân sách do rất nhiều nguyên nhân khác nhau, có sự ảnh hưởng khác nhau đến sự cân đối vĩ mô của nền kinh tế Nhìn chung, tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước gồm các nguyên nhân chính sau:
a, Thất thu thuế nhà nước
Bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ… Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước
Ví dụ cụ thể vào năm 2008, lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, làm thâm hụt ngân sách nhà nước 2.500- 3000 tỉ đồng Ngoài ra còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD/năm, làm gia tăng thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế
Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễn thuế một mặt giúp các doanh
nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộng sản xuất Tuy nhiên, việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tới các khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước
b, Đầu tư công kém hiệu quả
Nước ta nhận một nguồn vốn lớn vào 2 năm 2007 và 2008 đầu tư vào việc đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm quốc gia, tuy nhiên, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công những dự án trọng điểm quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước
Bên cạnh đó, nền hành chính công - dịch vụ công của chúng ta quá kém hiệu quả Chính sự kém hiệu quả này làm cho tình trạng thâm hụt ngân sách càng trở nên trầm trọng
c, Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính: Phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12% GDP
d, Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi thường xuyên
Trang 8Đây là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất về ngân sách áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương), thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hằng năm
Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách
Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên
bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp trên đều tạo áp lực bội chi Ngân sách nhà nước
e, Chi tiêu của chính phủ quá lớn
Do sự thiếu hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu sự giám sát của chính phủ đảm bảo sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính, tăng chi tiêu của chính phủ làm tăng trưởng nền kinh tế tạm thời trong ngắn hạn, tuy nhiên lại tạo ra những bất ổn
về lâu dài như lạm phát và rủi ro tài chính Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế
Tuy nhiên, đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng nếu tăng chi tiêu chính phủ vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở phát triển kinh tế, gây ra phân bổ nguồn lực không hiệu quả dẫn đến thâm hụt ngân sách, từ đó dẫn đến lạm phát
g, Sự thiếu hụt ngân sách những năm qua còn được sử dụng trong chính sách tài khóa để kích thích sự tăng trưởng kinh tế
Về nguyên tắc, sau khi lấy tổng thu trừ đi tổng chi trong năm sẽ xác định được số thặng dư hoặc thiếu hụt ngân sách trong năm Dựa vào bảng cân đối Ngân sách nhà nước, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy được thâm hụt ngân sách là một công cụ để kích thích sự tăng trưởng kinh tế trong chính sách tài khoá
Tuy nhiên, khi cân đối ngân sách chúng ta thường xác định số bội chi trước (thông thường tương đương với mức Quốc hội cho phép) và nguồn còn lại được Quốc hội cho phép chuyển nguồn sang năm sau Đây là chính sách ngân sách thận trọng khi áp dụng
lý thuyết bội chi một cách chủ động và điều đó không gây xáo trộn trong chính sách kinh tế vĩ mô, nhưng phải cân nhắc và kiểm tra xem toàn bộ số bội chi có được sử dụng
để chi đầu tư phát triển cho các dự án trọng điểm và hiệu quả, từ đó tạo thêm công ăn việc làm, tạo đà cho nền kinh tế phát triển, tăng khả năng thu NSNN trong tương lai hay không
1.3 Phương pháp nghiên cứu:
Để đánh giá tác động của thâm hụt ngân sách tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nhóm tác giả quyết định sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng: Sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính nghiên cứu mối quan hệ tuyến tính giữa thâm hụt ngân sách nhà nước và tăng trưởng kinh tế
Sau khi đã tham khảo một số công trình nghiên cứu trước kết hợp với phân tích, đánh giá các yếu tố thực trạng của nền kinh tế Việt Nam hiện giờ, chúng tôi quyết định
Trang 9sử dụng mô hình hồi quy mẫu cùng với phương pháp bình phương tối thiểu OLS để xác định mức độ tác động của thâm hụt ngân sách nhà nước tới tăng trưởng kinh tế
Mô hình:
GDP = 1 + 2 FDI + 3 BD + 4 DC + 5 INF +
Giải thích mô hình:
•Biến phụ thuộc:
+) GDP: mức độ tăng trưởng GDP theo hằng năm (%)
•Biến độc lập:
+) BD (% GDP): Bội chi ngân sách nhà nước hay còn gọi là thâm hụt ngân sách nhà nước, là chênh lệch giữa chi tiêu ngân sách và thu nhân sách trong trường hợp chi lớn hơn thu
Kỳ vọng dấu
-+) INF (% GDP): Tỉ lệ lạm phát hằng năm, sử dụng mức giá tiêu dùng để phản ảnh sự thay đổi phần trăm hàng năm trong chi phí trung bình của người tiêu dùng cho một giỏ hàng hóa và dịch vụ mà cố định hoặc thay đổi theo một xu hướng
Kỳ vọng dấu +
+) DC (% GDP): Tín dụng nội địa khu vực tư liên quan đến những nguồn tài chính được cung cấp từ khu vực tư, như là thông qua những khoản nợ, chi trả cho những chứng khoán không thanh khoản, và tín dụng thương mại mà hình thành nên khoản chi trả
Kỳ vọng dấu +
+) FDI (% GDP): Dòng vốn đầu tư dòng vào ròng từ nước ngoài Là tổng vốn thanh khoản, thu nhập từ việc tái đầu tư, vốn dài hạn khác, và vốn ngắn hạn được đưa ra trong cân bằng các khoản chi trả
Kỳ vọng dấu
-+) Những ảnh hưởng từ các cú sốc không mong muốn đến GDP
Hệ số:
1 là hệ số chặn hay còn gọi là hệ số tự do.
2 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập FDI
3 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập BD.
4 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập DC
5 là hệ số hồi quy riêng phần ứng với biến độc lập INF
Phương pháp thu thập số liệu: Để có thể xem xét tác động của thâm hụt ngân sách
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam, nhóm tác giả đã thu thập số liệu các biến từ năm 2000 đến 2017 Cụ thể nguồn số liệu như sau:
+) Số liệu về GDP, FDI, DC được lấy dữ liệu từ The World Bank data
+) Số liệu về INF được lấy dữ liệu từ International Monetary Fund
+) Số liệu về BD được lấy dữ liệu từ asia development bank
Trang 10Cụ thể bảng số liệu của đề tài này như sau:
Số liệu cho các biến GDP, BD, INF, DC, FDI đều đã được kiểm tra tính dừng và phù hợp
để chạy mô hình hồi quy
2000 0.068 0.042 0.043 0.353 -0.018
2001 0.062 0.040 0.035 0.393 -0.003
2002 0.063 0.040 0.023 0.431 0.041
2003 0.069 0.037 0.022 0.484 0.033
2004 0.074 0.035 0.001 0.587 0.079
2005 0.075 0.034 0.010 0.605 0.084
2006 0.070 0.036 0.012 0.654 0.075
2007 0.071 0.087 0.009 0.856 0.083
2008 0.056 0.097 0.006 0.829 0.231
2009 0.054 0.072 0.042 1.033 0.067
2010 0.064 0.069 0.021 1.147 0.092
2011 0.062 0.055 0.005 1.018 0.187
2012 0.052 0.054 0.034 0.948 0.091
2013 0.054 0.052 0.050 0.968 0.066
2014 0.060 0.049 0.044 1.003 0.041
2015 0.067 0.061 0.046 1.119 0.006
2016 0.062 0.061 0.042 1.238 0.027
2017 0.068 0.063 0.035 1.307 0.035