1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua

30 58 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 246,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ ĐẢO NỢNợ công là một khái niệm tương đối phức tạp.Tuy nhiên, hầu hết các cách tiếp cậnhiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc g

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC 3

LỜI MỞ ĐẦU 4

Chương I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ ĐẢO NỢ 5

1.1 Khái niệm 5

1.2 Đặc điểm nợ công 5

1.3 Phân loại nợ công 8

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ công 9

1.5 Các hình thức vay nợ: 11

1.6 Khái niệm về đảo nợ và phương pháp thực hiện đảo nợ 11

Chương II THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CÔNG CỦA NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 13 2.1 Tình hình về nợ công của Việt Nam hiện nay 13

2.2 Thực trạng về khả năng trả nợ công của Việt Nam 19

Chương III THỰC TRẠNG VÀ HỆ LỤY CỦA VAY ĐẢO NỢ TẠI VIỆT NAM TRONG THỜI GIAN QUA 25

3.1 Thực trạng đảo nợ của Việt Nam những năm gần đây 25

3.2 Hệ lụy của vay đảo nợ 26

3.2.1 Hệ lụy đối với rủi ro tỷ giá 26

3.2.2 Hệ lụy đối với dư nợ trái phiếu Chính phủ 26

3.2.3 Hệ lụy đối với uy tín của Chính phủ 27

KẾT LUẬN 31

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 32

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

Đối với mỗi quốc gia, việc vay nợ để phát triển là một hình thức huy động vốn phổbiến và gần như là tất yếu Số liệu thống kê cho thấy những nền kinh tế lớn nhất trên thếgiới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc, cũng đồng thời là những con nợ kếch xù Nợcông, dùng một phần để phục vụ cho những chi tiêu và sử dụng của Chính phủ nhằm cácmục đích khác nhau, chiếm phần lớn trong những khoản vay đó Tuy nhiên, thực tế chothấy việc vay nợ và chi tiêu lãng phí, sử dụng kém hiệu quả đồng nợ của Chính phủ đãkhiến cho nhiều nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công Ở Việt Nam, gánh nặng nợcông cũng đang là vấn đề mang tính thời sự, nhận được rất nhiều sự quan tâm đặc biệt.Tình hình nợ công của Việt Nam những năm gần đây ra sao? Chính phủ đang có nhữnghành động nào giúp giảm bớt gánh nặng nợ công trên vai mỗi người dân? Để có cái nhìn

sâu sắc và cụ thể hơn về vấn đề này, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài “Thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế Việt Nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua” Bài tiểu luận gồm 3 phần chính:

Chương 1 Cơ sở lý thuyết về nợ công và đảo nợ

Chương 2 Thực trạng khả năng trả nợ của nền kinh tế Việt Nam

Chương 3 Hệ lụy của việc đảo nợ trong thời gian qua

Từ đó, nhóm tác giả mong độc giả sẽ có cái nhìn rõ nét hơn về tình hình thực tếcủa nợ công và đảo nợ ở Việt Nam hiện nay

Trang 3

Chương I CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ CÔNG VÀ ĐẢO NỢ

Nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp.Tuy nhiên, hầu hết các cách tiếp cậnhiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịutrách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợquốc gia.Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận

là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân).Như vậy, nợ côngchỉ là một bộ phận của nợ quốc gia

Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ

của bốn nhóm chủ thể bao gồm:

1) Nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;

2) nợ của các cấp chính quyền địa phương;

3) nợ của Ngân hàng trung ương;

4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việcquyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người trả

nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ

Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ vàphân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển

Theo Luật Quản lý nợ công ban hành năm 2009 của Việt Nam, Nợ công, còn gọi là

Nợ Chính phủ hay Nợ quốc gia, là tổng các khoản tiền mà chính phủ các cấp từ trungương đến địa phương đi vay nhằm tài trợ cho thâm hụt ngân sách Nói cách khác, NợChính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy

mô của Nợ chính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm

so với Tổng sản phẩm quốc nội (GDP)

a Đặc trưng của nợ công: Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về

nợ công, nhưng về cơ bản, nợ công có những đặc trưng sau đây:

Trang 4

o Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước

Khác với những khoản nợ thông thường, nợ công được hiểu là khoản nợ của Nhànước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy.Trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếpđược hiểu là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền là người đi vay và do đó, cơ quan nhànước ấy sẽ là người trả nợ khoản vay Gián tiếp là cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đứng

ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được

nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh

o Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền

Việc quản lý Nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: một

là đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay, và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt được mục tiêu của quá

trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý Nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩaquan trọng về mặt chính trị và xã hội Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nguyên tắcquản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện Nợ công từ việc huy động,phân bổ, sử dụng vốn vay cho đến việc trả nợ để đạt được hai mục tiêu nêu trên

o Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng Nợ công là phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích chung

Nợ công được huy động và sử dụng không nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích riêngcủa bất kì cá nhân, tổ chức nào mà vì lợi ích chung của đất nước Xuất phát từ bản chấtcủa Nhà nước là thể chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân

và vì dân nên đương nhiên các khoản Nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích củaNhân dân, mà cụ thể là phải phát triển kinh tế - xã hội của đất nước là mục tiêu quan trọngnhất

b Bản chất của nợ công

Vay nợ là một cách huy động vốn cho phát triển Bản chất nợ không phải là xấu

Nợ đem lại rất nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nước đi vay Thực tế, các

Trang 5

nước muốn phát triển nahnh đều phải đi vay Những nền kinh tế lớn nhất thế giới như Mỹ,Trung Quốc, Nhật Bản… lại cũng chính là những con nợ lớn Nợ công có nhiều tác độngtích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu cực Tác động tích cực chủ yếu của nợcông bao gồm:

Thứ nhất, nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường nguồn

vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhà nước Muốnphát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Với chínhsách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết để đầu tư cơ

sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế;

Thứ hai, nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư.

Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ

mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cảkhu vực công lẫn khu vực tư;

Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài chính

quốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế – ngoại giao quan trọng củacác nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp táckinh tế song phương Biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn

ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọng lợi ích đối tác, đồng thời giữvững độc lập, chủ quyền đất nước

Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêu cực:

Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợ ngoàinước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc

sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí tràn lan Tìnhtrạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều quan trọng hơn làgiảm thu cho ngân sách Nhận biết những tác động tích cực và tiêu cực nhằm phát huymặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiết trong xây dựng và thực hiệnpháp luật về quản lý nợ công

Trang 6

1.3 Phân loại nợ công

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhautrong việc quản lý và sử dụng nợ công

a Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay:

Nợ công gồm có hai loại:

 Nợ trong nước: là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước

 Nợ nước ngoài: là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùnglãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài

Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản

lý nợ Việc phân loại này sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toánquốc tế Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ, vì các khoản vaynước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc

tế khác

b Theo phương thức huy động vốn:

Nợ công có hai loại:

 Nợ công từ thỏa thuận trực: là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuậnvay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay Phươngthức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệpđịnh, thỏa thuận giữa các nhà nước

 Nợ công từ công cụ nợ: là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhànước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thờihạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tàichính

c Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công:

Nợ công có ba loại:

 Nợ công từ vốn vay ODA

 Nợ công từ vốn vay ưu đãi

Trang 7

 Nợ thương mại thông thường.

d Theo trách nhiệm đối với chủ nợ:

Nợ công được phân loại thành Nợ công phải trả và Nợ công bảo lãnh Nợ côngphải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ Nợcông bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếubên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ

Việc phân loại nợ công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụng nợcông Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có giải pháp quản lý bảo đảm quy mô nợ phù hợp,qua đó sẽ chủ động tăng hay giảm nợ để tạo nguồn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội

1.4.1 Cân bằng ngân sách cơ bản:

Cân đối ngân sách nhà nước (NSNN) là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nợ công

Từ bản chất nợ công có thể thấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trị tuyệt đối của nợchính phủ Nếu NSNN thâm hụt cơ bản, nhu cầu vay nợ của Nhà nước sẽ gia tăng và làmtrầm trọng thêm tình hình nợ công Ngược lại, nếu NSNN thặng dư cơ bản, nhu cầu vay

nợ giảm hoặc Chính phủ có thêm nguồn tài chính để mua lại Trái phiếu Chính phủ(TPCP) trước hạn làm cho mức nợ công giảm xuống

Trang 8

Một số nghiên cứu thực nghiệm giải thích tác động của thâm hụt NSNN tới nợcông như: Dornbusch (1984) nghiên cứu trường hợp của Brazil, thâm hụt ngân sách lànguyên nhân của nợ nước ngoài tăng nhanh; Sachs và Larrain (1993) giải thích ảnh hưởngcủa thâm hụt ngân sách tới nợ trong nước và chỉ ra rằng: “Nợ trong nước là một trongnhững cách ngắn hạn để tài trợ thâm hụt tài khóa Phương pháp này giúp Chính phủ bùđắp được thâm hụt mà không ảnh hưởng đến dự trữ và cung tiền, nhưng cũng khiến tăngthâm hụt ngân sách theo thời gian do gia tăng nghĩa vụ nợ”; Alfaidi (2002), nợ nướcngoài của Ai Cập gia tăng một cách đáng kể do tăng nhanh thâm hụt ngân sách; Gartner(2003), tỷ lệ thâm hụt NSNN và tỷ lệ nợ công có mối quan hệ cùng chiều.

1.4.2 Lãi suất thực tế:

Sự biến động của lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản

nợ công có lãi suất thả nổi và những khoản vay mới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãi suấtthả nổi trong tổng nợ càng cao thì sự ảnh hưởng của lãi suất đến nợ công càng lớn Mặtkhác, ngay cả những khoản vay có lãi suất cố định thì sự biến động của lãi suất thị trườngcũng sẽ ảnh hưởng đến giá cả của các công cụ nợ, nghĩa là, gián tiếp ảnh hưởng tới quy

mô nợ công Bởi khi lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ (trả lãi và phí) tăng lên, các khoảnvay của Chính phủ sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn, làm gia tăng nợ công

Trong lịch sử, những năm 1970, để đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế do giádầu tăng mạnh, nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ đã thi hành chính sách mở rộng tài chính

và tiền tệ Tuy nhiên, chính sách này đã khiến lạm phát gia tăng mạnh Đến cuối thập kỷ

1970, Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) buộc phải tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát.Lãi suất thấp có tác động tới nền kinh tế thông qua việc khuyến khích đầu tư và tiêu dùng,

từ đó làm GDP tăng và tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ giảm

1.4.3 Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế:

Trong thời kỳ kinh tế mở rộng, tăng trưởng GDP thực tế cao, các khoản vay củaChính phủ sẽ trở nên dễ dàng hơn, điều này làm cho lãi suất thực tế giảm và tăng trưởngkinh tế nhanh góp phần củng cố nguồn thu NSNN, cải thiện cân đối tài khóa cơ bản.Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm, làm các chỉ tiêu kinh tế xấu

đi và điều này cũng làm gia tăng chỉ tiêu nợ công trên GDP (Marek, 2014)

Trang 9

1.4.4 Tỷ giá:

Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ, do

đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nợ công Nếu nợ vay bằng ngoại tệ,đặc biệt là những ngoại tệ có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thì ảnh hưởng của

sự biến động tỷ giá đến nợ công càng lớn Nếu tỷ giá tăng thì khoản trả nợ vay đến hạn sẽtăng và ngược lại Tại Việt Nam, đồng Yên Nhật tăng trong năm 2016 không những ảnhhưởng chung tới mục tiêu GDP năm 2016 mà còn tác động mạnh tới các doanh nghiệpnhập khẩu và các doanh nghiệp sử dụng vốn vay ODA từ Nhật Bản

Một trong những doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề từ việc JPY tăng là Công

ty cổ phần Nhiệt điện Phả Lại (PPC), một trong những đơn vị sử dụng vốn vay ODA từchính phủ Nhật Bản

1.5.1 Phát hành Trái phiếu Chính phủ:

Chính phủ có thể phát hành Trái phiếu Chính phủ để vay từ các tổ chức, cá nhân.

Trái phiếu chính phủ phát hành bằng nội tệ được coi là không có rủi ro tín dụng vì Chínhphủ có thể tăng thuế thậm chí in thêm tiền để thanh toán cả gốc lẫn lãi khi đáo hạn Tráiphiếu chính phủ phát hành bằng ngoại tệ (thường là các ngoại tệ mạnh có cầu lớn) có rủi

ro tín dụng cao hơn so với khi phát hành bằng nội tệ vì chính phủ có thể không có đủngoại tệ để thanh toán và ngoài ra còn có rủi ro về tỉ giá hối đoái

1.5.2 Vay trực tiếp:

Chính phủ cũng có thể vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chếsiêu quốc gia (Ví dụ: Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB),…) Hìnhthức này thường được Chính phủ của các nước có độ tin cậy tín dụng thấp áp dụng vì khi

đó khả năng vay nợ bằng hình thức phát hành trái phiếu chính phủ của họ không cao

1.6 Khái niệm về đảo nợ và phương pháp thực hiện đảo nợ

1.6.1 Đảo nợ là gì?

Đảo nợ là hình thức vay một món nợ mới để trả cho món nợ cũ theo đúng nghĩađen Hoạt động này căn bản không làm mất đi khoản nợ mà chỉ kéo dài thời gian trả nợ Ở

Trang 10

Việt Nam, đảo nợ hoàn toàn bị nghiêm cấm tại các tổ chức tín dụng theo quy chế cho vayvốn của ngân hàng nhà nước, và chỉ Chính Phủ mới được phép thực hiện nghiệp vụ này.

1.6.2 Phương pháp thực hiện đảo nợ

Để thực hiện vay đảo nợ, Chính phủ sẽ phát hành trái phiếu ra nước ngoài với lãivay thấp hơn và kì hạn dài hơn, đồng thời dùng khoản vay huy động được để cân đối chitrả nợ gốc cũ

Luật Quản lý nợ công chỉ cho phép Chính phủ huy động vốn nước ngoài nếu chiphí rẻ, lãi suất thấp hơn Tuy nhiên, việc vay nước ngoài cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro Cáckhoản vay có kỳ hạn dài từ 10 đến 30 năm, nếu tỷ giá biến động sẽ làm tăng nghĩa vụ trả

nợ Những khoản vay nước ngoài không thanh toán được áp lực rất lớn, làm tăng gánhnặng nợ công

Trang 11

Chương II THỰC TRẠNG KHẢ NĂNG TRẢ NỢ CÔNG CỦA

NỀN KINH TẾ VIỆT NAM 2.1 Tình hình về nợ công của Việt Nam hiện nay

Theo số liệu từ Bộ Tài Chính, từ năm 2010 đến năm 2016, quy mô nợ công đã tănggấp 3,3 lần từ 889 nghìn tỷ đồng (2010) đến khoảng 2,989 nghìn tỷ đồng (2016) Mức độtăng trung bình của nợ công là 18% Từ Bảng 1, có thể thấy, tỷ lệ nợ công/GDP đã tiếnsát ngưỡng cho phép 65% được đặt ra trong Nghị quyết về kế hoạch tài chính quốc giatrong 5 năm 2016 – 2020 (Nghị quyết 07/NQ-BCT)

Dư nợ công

(1.000 tỷ đồng) 889 1.093 1.279 1.528 1.826 2.608 2.989

Bảng 1 Nợ công Việt Nam từ 2010 đến 2016

(Nguồn: Bản tin nợ công số 4, Bộ Tài Chính và tự tính toán)

Đáng lưu ý, trong Báo cáo đánh giá thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn

2011 – 2015 và đề xuất cho giai đoạn 2016 – 2020 của Trung tâm Nghiên cứu Ngân

hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV có chỉ ra rằng: theo nhiều chuyên gia,

quy mô nợ công thực tế có thể đã cao hơn so với mức công bố do cách thức xác định nợ

công của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế uy tín có sự khác biệt Cụ thể, nợ công theotiêu chuẩn Việt Nam dựa trên nguyên tắc: trách nhiệm thanh toán thuộc về chủ thể đi vay;còn nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế được xác định trên cơ sở: chủ sở hữu thực sự haypháp nhân đứng sau chủ thể đi vay phải có trách nhiệm thanh toán Theo đó, nợ công theo

tiêu chuẩn quốc tế sẽ bằng nợ công theo tiêu chuẩn Việt Nam cộng với nợ của: Ngân

hàng Nhà nước (NHNN), các doanh nghiệp nhà nước (DNNN), tổ chức bảo hiểm xã hội

và an sinh xã hội (ASXH) và một số địa phương Căn cứ theo tiêu chuẩn quốc tế, nhiều

chuyên gia đưa ra ước tính và cho rằng tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam đã vượt mức 100%.

Trang 12

Về cơ cấu nợ, theo khoản 2, Điều 1 Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12, nợ

công của Việt Nam bao gồm:

 Nợ Chính phủ (bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài)

 Nợ được Chính phủ bảo lãnh

 Nợ chính quyền địa phương

Nợ chính phủ luôn chiếm khoảng 80% tổng nợ công của nước ta Năm 2015, dư nợChính phủ chiếm 80,8% nợ công, trong khi tỷ lệ này của năm 2016 là 81,7% Biểu đồdưới đây thể hiện dư nợ Chính phủ/GDP qua từng năm:

Biểu đồ 1 Tỷ lệ dư nợ Chính phủ/GDP trong giai đoạn 2010 – 2016 (%)

(Nguồn: Bộ Tài Chính và tự tính toán)

Có thể thấy, tỷ lệ nợ Chính phủ/GDP có xu hướng tăng nhanh từ năm 2012, cùng

xu hướng với tỷ lệ nợ công/GDP Đặc biệt, tỷ lệ 53% của năm 2016 đã sát ngưỡng kiểmsoát của 54% của Quốc Hội cho phép trong Nghị quyết 07 Vậy là năm 2016 đánh dấu cả

tỷ lệ nợ công/GDP và nợ Chính phủ/GDP đều sắp đạt trần quy định Tức là, nếu không cócác biện pháp kiểm soát chặt chẽ hơn nữa thì chắc chắn năm 2017 các dấu mốc này sẽ bịphá vỡ, có thể đem lại nhiều tác động xấu cho nền kinh tế

Trang 13

Trong cơ cấu nợ Chính phủ, sự dịch chuyển tỷ trọng từ nợ nước ngoài sang nợtrong nước là một tín hiệu tích cực hơn đóng góp vào sự bền vững của cơ cấu nợ công Cụthể, từ năm 2011, tỷ lệ nợ trong nước có xu hướng tăng từ 39% lên 57% năm 2015, tức là,

tỷ trọng nợ nước ngoài đã giảm từ 61% năm 2011 xuống còn 43% năm 2015 Việc tăngcường vay nợ trong nước một phần đến từ việc Việt Nam gia nhập các nước có thu nhậptrung bình năm 2010 làm giảm các khoản vay ưu đãi từ nước ngoài Điều này dẫn đếnChính phủ vay nhiều hơn từ trong nước thay vì gia tăng nợ từ các quốc gia và tổ chứcquốc tế

Biểu đồ 2 Tỷ lệ nợ trong nước và nợ nước ngoài giai đoạn 2011 – 2015 (%)

Trong cơ cấu nợ nước ngoài, các khoản hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) vẫnchiếm tỷ trọng cao (94% đi kèm lãi suất trung bình 2%) với kỳ hạn còn lại bình quân trên

10 năm tại thời điểm năm 2015 Nguồn vốn từ bên ngoài đạt tới 3 tỷ USD/năm, tươngđương 11% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, hay 17% tổng vốn đầu tư từ Ngân sách Nhà nước(NSNN) Tuy nhiên, việc quản lý nguồn vốn này còn gặp nhiều tồn tại và hạn chế đến từquy trình và thủ tục quản lý còn phức tạp của các chương trình và dự án ODA; và sự thiếuhiệu quả của các dự án, cùng với tỷ lệ giải ngân vốn chỉ đạt 71% tổng vốn đã ký kết Bêncạnh đó, để giảm rủi ro biến động tỷ giá, Chính phủ cũng lựa chọn một danh mục tiền tệ

Trang 14

và phân chia tỷ trọng các đồng tiền, ví dụ như: Đồng Việt Nam (55%), USD (16%), JYP(13%), EUR (7%), còn lại là các đồng tiền khác.

Đối với nợ trong nước, nguồn huy động chủ yếu đến từ phát hành Trái phiếu Chínhphủ Trong giai đoạn 2011 – 2013, thị trường vốn chưa phát triển, trái phiếu Chính phủ(TPCP) chủ yếu được phát hành cho các Ngân hàng Thương mại (chiếm 85% lượng pháthành), với 77% khối lượng phát hành hàng năm có kỳ hạn ngắn từ 1 đến 3 năm (để phùhợp với hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng Do đó, khi TPCP đáo hạn năm 2014,

áp lực trả nợ dâng cao, NSNN không thể đáp ứng trả hết, Chính phủ lại tiếp tục phát hànhtrái phiếu mới Cho nên, Quốc hội đã đưa ra Nghị quyết số 78/2014/NQ-QH13 và Nghịquyết số 99/2015/NQ-QH13 nhằm kéo dài thời hạn của trái phiếu Theo đó, kỳ hạn năm

2014 là 3 năm, thì năm 2015 sẽ tăng lên 4,4 năm và 6 tháng đầu năm 2016 sẽ là 5 năm đểgiảm thiểu rủi ro tái cấp vốn Lãi suất của TPCP giảm từ 12% năm 2011 (không đủ bùcho mức lạm phát 18% cùng kỳ) xuống còn 6,5% năm 2014 và 6% năm 2015

Nợ được bảo lãnh từ Chính phủ và nợ chính quyền địa phương chiếm khoảng 20%

- 25% cơ cấu nợ công, trong đó, nợ chính quyền địa phương thường chỉ chiếm tỷ lệ rấtnhỏ, thường xoay quanh 1% Cuối năm 2015, nợ được bảo lãnh bởi Chính phủ chiếm17,8%, còn nợ chính quyền địa phương chiếm 1,4% Theo kế hoạch giai đoạn 2011 -

2015, bình quân bảo lãnh chính phủ đối với khoản vay nước ngoài mỗi năm là 2,5 tỷUSD, bảo lãnh chính phủ đối với khoản vay trong nước cho các dự án khoảng 10.000 tỷđồng, bảo lãnh cho Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Ngân hàng Chính sách xã hội, với

dư nợ bình quân tăng 10% Thực tế, tính chung giai đoạn 2011 – 2015 Bộ Tài chính đãcấp bảo lãnh cho vay trong và ngoài nước cho 35 chương trình, dự án, với tổng vốn camkết tương đương 15,6 tỷ USD (trung bình 3,12 tỷ USD/năm) Các khoản vay được Chínhphủ bảo lãnh hầu hết là vay nước ngoài chiếm 14 tỷ USD, với thời hạn trả nợ trung bình

12 năm

Tuy nhiên, do tốc độ tăng của nợ công ngày càng cao, đi kèm với đó là các doanhnghiệp được bảo lãnh (là các Doanh nghiệp Nhà nước) sử dụng nguồn vay không hiệuquả, điển hình như dự án Nhà máy giấy Phương Nam: Từ mức đầu tư 1.487 tỷ đồng năm

2003 đã tăng lên 2.286 tỷ đồng vào năm 2007 nhưng dự án vẫn rơi vào cảnh thiếu vốn

Trang 15

Đến cuối năm 2012, sau khi được Bộ Công thương thẩm định, dự án Nhà máy giấyPhương Nam nâng mức đầu tư lên 3.409 tỉ đồng Trong đó, số vốn đã giải ngân là 2.948 tỉđồng, bao gồm vốn vay trong nước 1.952 tỉ đồng và vốn vay nước ngoài là 968 tỉ đồng -

do Bộ Tài chính bảo lãnh Dù giải ngân đến hơn 86% vốn đầu tư nhưng cuối cùng dự ánphải dừng trong khi chưa sản xuất được sản phẩm giấy nào do công nghệ sản xuất khôngphù hợp

Tương tự là dự án Nhà máy gang thép Thái Nguyên (TISCO), tháng 7/2007,TISCO ký hợp đồng tổng thầu với Tập đoàn Xây lắp luyện kim Trung Quốc (MCC) xâydựng Nhà máy Gang thép Thái Nguyên giai đoạn hai công suất 0,5 triệu tấn/năm, tổngvốn 3.843 tỉ đồng Ký hợp đồng xong, nhà thầu được TISCO tạm ứng trên 35 triệu USDtrong tổng giá trị hợp đồng khoảng 160,8 triệu USD Tuy nhiên chỉ sau một năm, vàotháng 8/2008, nhà thầu Trung Quốc yêu cầu tăng giá hợp đồng thêm hơn 298 triệu USD.Chủ đầu tư sau đó báo cáo lên cấp trên và được đồng ý điều chỉnh tổng mức đầu tư lên8.104 tỉ đồng, tức hơn gấp đôi so với tính toán ban đầu Không những dự án bị đội vốn,TISCO đã thanh toán cho MCC 93% giá trị thiết bị nhưng nhà thầu Trung Quốc đã rút vềnước Tính đến thời điểm hiện tại hơn 4.500 tỷ đồng đã được giải ngân nhưng dự án đếnnay vẫn chỉ là bãi cỏ dại và khối sắt hoen gỉ

Do đó, Thủ tướng đã chỉ đạo từ năm 2017 sẽ tạm dừng bảo lãnh cho các khoản vaymới để đảm bảo an toàn nợ công Chỉ những dự án nào đáp ứng được hết các yêu cầu khắtkhe về người vay, dự án, vốn chủ sở hữu,…và thật sự mang lại hiệu quả kinh tế - xã hộimới được duyệt cho vay theo hình thức bảo lãnh

Khi so sánh mức nợ công của Việt Nam với các nước trong khu vực, nhóm tác giả

sử dụng tỷ lệ nợ công/GDP của các quốc gia (hầu hết đều là quốc gia đang phát triển) Từhình ảnh dưới đây, có thể thấy, Việt Nam có tỷ lệ nợ công/GDP rất cao, cao hơn cả TrungQuốc, Thái Lan, Malaysia Tuy rằng, chuyên gia Kinh tế từ Ngân hàng Thế giới ở ViệtNam, ông Sandeep cho rằng không có thước đo chung về nợ công đối với tất cả các quốcgia mà mức độ bền vững của nợ công được đánh giá tùy thuộc vào tiềm lực tài chính, sứcmạnh kinh tế của từng nước Chẳng hạn như Nhật Bản, kể cả khi nợ công đã vượt trên200% thì tình hình tài chính của nước này vẫn rất ổn, trong khi đó có những quốc gia, nợ

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1 Tình hình về nợ công của Việt Nam hiện nay - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
2.1 Tình hình về nợ công của Việt Nam hiện nay (Trang 11)
Hình 1. Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam so với một số nước trong khu vực năm 2014 - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
Hình 1. Tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam so với một số nước trong khu vực năm 2014 (Trang 16)
Hình 2. Hệ số ICOR của Việt Nam trong 20 năm qua - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
Hình 2. Hệ số ICOR của Việt Nam trong 20 năm qua (Trang 17)
2.2 Thực trạng về khả năng trả nợ công của Việt Nam - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
2.2 Thực trạng về khả năng trả nợ công của Việt Nam (Trang 17)
Hình 3. Bội chi NSNN qua các năm (tỷ đồng) - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
Hình 3. Bội chi NSNN qua các năm (tỷ đồng) (Trang 19)
Việt Nam, mà là tình hình ngân sách. Theo ông, khi áp lực trả nợ gốc và lãi tăng lên, Hình 4 - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
i ệt Nam, mà là tình hình ngân sách. Theo ông, khi áp lực trả nợ gốc và lãi tăng lên, Hình 4 (Trang 20)
Bảng 3. Tỷ lệ chi trả nợ, viện trợ hằng năm so với số nợ trả trong kỳ giai đoạn  2011 - 2014 - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
Bảng 3. Tỷ lệ chi trả nợ, viện trợ hằng năm so với số nợ trả trong kỳ giai đoạn 2011 - 2014 (Trang 21)
Biểu đồ 3. Tình hình đảo nợ của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2016 (tỷ đồng) 3.2 Hệ lụy của vay đảo nợ - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
i ểu đồ 3. Tình hình đảo nợ của Việt Nam giai đoạn 2013 – 2016 (tỷ đồng) 3.2 Hệ lụy của vay đảo nợ (Trang 24)
Bảng dưới đây thể hiện mức độ tín nhiệm của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực được Standard & Poor's - một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới (hai công ty còn lại là Moody's và Fitch Ratings): - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
Bảng d ưới đây thể hiện mức độ tín nhiệm của Việt Nam và các quốc gia trong khu vực được Standard & Poor's - một trong ba cơ quan xếp hạng tín dụng lớn và uy tín nhất thế giới (hai công ty còn lại là Moody's và Fitch Ratings): (Trang 26)
Bảng 4. Đánh giá xếp hạng tín nhiệm một số quốc gia Đông Na mÁ của S&P năm 2015 - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
Bảng 4. Đánh giá xếp hạng tín nhiệm một số quốc gia Đông Na mÁ của S&P năm 2015 (Trang 27)
A bao gồm:  A+ : tương ứng bậc  A1 - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
bao gồm:  A+ : tương ứng bậc A1 (Trang 27)
B Tình hình tài chính biến đổi đáng chú ý - tiểu luận tài chính công thực trạng khả năng trả nợ công của nền kinh tế việt nam và những hệ lụy của việc vay đảo nợ thời gian qua
nh hình tài chính biến đổi đáng chú ý (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w