Sơ lược về các loại thuế: Thuế giá trị gia tăng: quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch
Trang 1MỤC LỤC
A TỔNG QUAN VỀ THUẾ: 5
I Sơ lược về các loại thuế: 5
II Việc thu và quản lý thu thuế: 6
1 Tình trạng việc thu và quản lý thu thuế hiện nay: 6
2 Các biện pháp cải thiện việc thu và quản lý thuế: 7
3 Chuyển giá: Tránh thuế hay trốn thuế: 8
B CÁC VẤN ĐỀ VỀ THUẾ: 10
I Nguồn thu ngân sách và thâm hụt ngân sách: 10
1 Tình trạng thu ngân sách và thâm hụt ngân sách: 10
2 Giải pháp cải thiện thâm hụt ngân sách: 11
II Các vấn đề về thuế xuất nhập khẩu: 11
1 Thuế xuất khẩu: 11
2 Thuế nhập khẩu: 11
III Niêm yết giá chưa bao gồm thuế VAT: 15
1 Câu chuyện thực tế: 15
2 Luật Việt Nam và vấn đề yết giá: 15
C TÀI LIỆU THAM KHẢO: 16
Trang 2A TỔNG QUAN VỀ THUẾ:
I Sơ lược về các loại thuế:
Thuế giá trị gia tăng: (quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12)
là một loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng
Thuế tiêu thụ đặc biệt: là thuế thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước (được quy
định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12) là một loại thuế gián thu
đánh vào tiêu dùng của xã hội, nhằm điều tiết mạnh vào các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp hay những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khỏe
VD: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít,
nhai, ngửi, ngậm; rượu; bia;…
Thuế Xuất nhập khẩu: (được quy định tại Luật thuế xuất nhập khẩu số 45/2005/
QH11) là loại thuế trực thu, tính trực tiếp trên trị giá các mặt hàng xuất khẩu và
nhập khẩu
Thuế thu nhập doanh nghiệp: (quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12) là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hợp đồng sản xuất kinh
doanh cuối cùng của doanh nghiệp
Thuế thu nhập cá nhân: (được quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số
04/2007/QH12) là thuế trực thu, thu trên thu nhập của những người có thu nhập
cao
Thuế tài nguyên: là loại thuế trực thu tính trên việc sử dụng, khai thác tài nguyên
thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quy định
Các loại thuế khác :
- Thuế trước bạ: là mọi trường hợp chuyển dịch về quyền sở hữu hoặc sử dụng về nhà đất, phương tiện vận tải,… đều phải nộp thuế trước bạ
- Thuế môn bài: (được quy định tại Thông tư số 42/2003/TT-BTC) là loại thuế
doanh nghiệp đóng hàng năm Hàng năm Nhà nước tiến hành thu thuế môn bài vào đầu năm nhằm mục đích nắm và thống kê các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp, công ty tư nhân, Hợp tác xã, các tổ chức làm kinh tế khác
- Thuế nhà đất (quy định tại Thông tư 71/1002/TT-BTC).
- Thuế chuyển quyền sử dụng đất (quy định Luật thuế thu nhập cá nhân số
04/2007/QH12).
- Thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp
(quy định tại Nghị quyết số 15/2003/QH11).
- Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước
ngoài từ lĩnh vực dầu, khí (quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số
14/2008/QH12).
- Thuế từ dầu khí (quy định tại Nghị định số 05/2009 NĐ-CP).
Trang 3II Việc thu và quản lý thu thuế:
1 Tình trạng việc thu và quản lý thu thuế hiện nay:
Theo Tổng cục thuế, nguồn thu ngân sách Nhà nước quý I năm 2019 tăng 15% Trong đó, tổng thu ngân sách Nhà nước do cơ quan Thuế quản lý đạt 305.610 tỷ đồng, bằng 26,2% so với dự toán pháp lệnh, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm 2018 đến từ việc thu từ dầu thô và việc thu nội địa: sản xuất kinh doanh, thu nhập cá nhân, lệ phí trước bạ,
sổ xố, sử dụng đất, Nguồn thu Ngân sách Nhà nước tăng khá ổn so với cùng kỳ nhiều năm qua, tuy nhiên vẫn còn rất nhiều vấn đề tồn đọng, đặc biệt là tình hình nợ đọng thuế
có xu hướng gia tăng Trong quý I/2019, việc truy thu thuế được 7.450 tỷ đồng nhưng lại phát sinh những khoản đọng mới Tính đến 31/3/2019, số nợ đọng lên đến 82.972 tỷ đồng
và tình hình nợ đọng diễn biến rất phức tạp và được dự báo tăng trong tương lai Vào ngày 5/10/2019, Cục thuế TP.HCM vừa công bố danh sách hơn 1.150 doanh nghiệp nợ thuế với tổng số tiền nợ thuế, phạt, nộp chậm lên đến hơn 2.760 tỷ đồng Trong danh sách này, đứng đầu là công ty cổ phần Đầu tư và phát triển Sài Gòn với hơn 455 tỷ đồng, tiếp theo là công ty TM-SX-DV Đông Mekong với 112 tỷ đồng, vị trí thứ ba là công ty TNHH Thương mại Lô Hội với số nợ thuế đến 102 tỷ đồng
Nguyên nhân gây ra việc nợ đóng thuế:
Nguyên nhân chủ quan: Thứ nhất là do ý thức chấp hành pháp luật thuế của một
bộ phận người nộp thuế chưa cao, chưa nộp đúng, đủ, kịp thời số phát sinh phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật nên có những biểu hiện trốn tránh, thoái thác việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế và cũng có những người hiểu, biết về luật thuế nhưng vẫn cố tình làm sai và không thực hiện nghĩa vụ nộp thuế Đồng thời, do các đơn vị quản lý nợ chưa áp dụng triệt để các biện pháp đôn đốc cưỡng chế theo đúng quy định của Luật Quản lý thuế nên hiệu quả công tác thu nợ chưa cao Bên cạnh đó, kiểm toán nhà nước kiến nghị ghi tăng thêm số nợ đọng tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, tiền cấp quyền khai thác khoáng sản (3.440 tỷ) của các dự án vướng mắc giải phóng mặt bằng, chưa
đi vào khai thác sử dụng, cơ quan thuế đã kiến nghị UBND địa phương, Bộ Tài nguyên môi trường thu hồi đất, thu hồi dự án và Cục Thuế các địa phương chưa tổng hợp vào tổng số nợ đọng Trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp của cán bộ kiểm tra thuế cũng là lí do dẫn đến việc tồn đọng, thất thoát thuế của Nhà nước
Nguyên nhân khách quan: Do tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn về tài
chính, mất khả năng thanh toán, ngừng hoạt động, bỏ khỏi địa chỉ kinh doanh,
tự giải thể, phá sản và số nợ thuế của nhiều năm trước tồn đọng kéo dài không thu hồi được, số tiền chậm nộp được tính tăng lên Ngoài ra, do phát sinh nợ từ quyết toán thuế năm 2018, một số doanh nghiệp nộp sang tháng 4/2019, một số doanh nghiệp chưa thu xếp ngay được nguồn để nộp Tiến độ thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra tại địa phương còn chậm, chưa đảm bảo tiến độ kế hoạch, chất lượng, hiệu quả các cuộc thanh tra, kiểm tra tại một số địa bàn chưa cao
Trang 4dẫn đến việc trì hoãn, tồn đọng thuế chưa thu Hơn nữa, việc tồn đọng, thất thoát còn do chất lượng công tác lập kế hoạch và chuẩn bị kiểm tra còn gặp nhiều vấn đề như thiếu kĩ càng, thu thập thiếu sót thông tin về đối tượng kiểm tra trước khi tiến hành kiểm tra
2 Các biện pháp cải thiện việc thu và quản lý thuế:
Pháp luật thuế càng hoàn thiện càng tạo ra một cơ sở pháp lý rõ ràng, đầy đủ, vững chắc, làm cho hoạt động thanh tra, kiểm tra thuế được thuận lợi Pháp luật thuế thiếu minh bạch thì cơ sở xác định sai phạm không vững chắc, có thể gây những tranh luận không có hồi kết về mức độ đúng sai trong hành vi của DN, của đối tượng nộp thuế và của chính cơ quan Thuế
Quy trình kiểm tra thuế cần được xây dựng rõ ràng, minh bạch, bao quát hết các bước công việc của công tác thanh tra, kiểm tra sẽ giúp cho cán bộ thuế thực hiện được dễ dàng, công tâm, khách quan hơn
Đẩy mạnh thực hiện Chính phủ điện tử, hiện đại hóa phương thức quản lý thu nộp ngân sách Nhà nước, nâng cấp cơ sở hạ tầng đáp ứng yêu cầu trong quản lý thu hiện đại ở tất cả các khâu trong quản lý thuế trong thời buổi cách cách mạng công nghiệp 4.0 Tính đến nay, hệ thống khai thuế điện tử (hóa đơn điện tử) đã được triển khai trên cả nước mà đa số là các doanh nghiệp áp dụng kết hợp với các ngân hàng thương mại trên cả nước cùng phối hợp để thực hiện hệ thống nộp thuế điện tử
Tiếp tục hoàn thiện đề án thu thuế điện tử đối với khu vực ngoài quốc doanh, nhất là các hộ kinh doanh Triển khai đề án hóa đơn điện tử, đề án kế toán thuế đối với doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ để thúc đẩy doanh nghiệp phát triển Thực hiện giám sát thanh tra, kiểm tra theo phương thức điện tử vẫn tiếp tục là những nội dung được chú trọng thực hiện trong thời gian tới
Tiếp tục hoàn chỉnh chương trình pháp luật theo chương trình Bộ giao, trong đó đặc biệt chú ý đến Luật Quản lý thuế Đối với Nghị quyết về xử lý nợ đọng thuế không có khả năng thu hồi cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện để trình Quốc hội xem xét cho ý kiến thông qua vào kỳ họp tháng 10/2019
Đẩy mạnh kiểm tra giám sát kê khai của người nộp thuế và quản lý, giám sát chặt chẽ công tác hoàn thuế đảm bảo nhanh để tạo điều kiện cho các doanh nghiệp, người dân thực hiện sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, cần có kế hoạch
cụ thể kiểm tra đối với những doanh nghiệp có rủi ro cao về thuế và kiên quyết
xử lý đối với những vụ việc sai phạm
Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để người nộp thuế thực hiện đúng, đầy đủ, kịp thời nghĩa vụ nộp thuế
Phối hợp chặt chẽ, tăng cường báo cáo thường xuyên với các cấp ủy, chính quyền địa phương để hoàn thành nhiệm vụ thu NSNN trên địa bàn Rà soát lại công tác hiện đại hóa, cải cách hành chính, sự phối hợp với các bộ ngành, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính
Trang 5 Chế độ đãi ngộ đối với cán bộ làm công tác thanh tra, kiểm tra thuế nằm trong tổng thể chế độ tiền lương và thu nhập của cán bộ, công chức Chế độ đãi ngộ thỏa đáng sẽ tạo động lực làm việc tốt cho mỗi cán bộ, công chức nói chung và mỗi cán bộ thanh tra, kiểm tra thuế nói riêng
3 Chuyển giá: Tránh thuế hay trốn thuế:
a Định nghĩa:
Trốn thuế: là hành vi khai báo gian dối trong sản xuất, kinh doanh để không
phải đóng thuế hoặc đóng mức thuế thấp hơn nhiều so với mức phải đóng
Tránh thuế: là khái niệm dùng để chỉ những cố gắng của người nộp thuế nhằm
tổ chức hoạt động tài chính của mình sao cho tránh được các khoản thuế phải nộp thông qua việc lợi dụng tới mức tối đa các khoản chi phí hợp lý và trường hợp miễn giảm thuế Bằng cách này, người nộp thuế có thể giảm thiểu gánh nặng thuế của họ một cách hợp pháp Như vậy khác với trốn thuế, phương tiện
sử dụng để tránh thuế là phương tiện hợp pháp, được luật pháp cho phép
b Hành vi chuyển giá:
Thuế luôn là một trong những mối bận tâm hàng đầu của các doanh nghiệp nói chung và các công ty đa quốc gia nói riêng Các công ty đa quốc gia, trước khi đặt trụ sở tại bất kỳ quốc gia nào, đều có nghiên cứu rất kỹ các quy định về thuế của quốc gia đó Các tập đoàn này thường có xu hướng dịch chuyển lợi nhuận từ những quốc gia có thuế cao về những “thiên đường thuế”, là những quốc gia có thuế suất thấp để giảm bớt các khoản nghĩa vụ thuế phải nộp Cụ thể, các chi nhánh ở những quốc gia có thuế suất thấp
sẽ bán lại các nguyên vật liệu, hương liệu, thành phẩm, bằng sáng chế, cho các chi nhánh
ở những quốc gia có thuế suất cao hơn với mức giá rất cao, nhằm mục đích làm giảm lợi nhuận ròng ở các chi nhánh này, thậm chí là lỗ, tối thiểu hóa phần thuế phải nộp, di chuyển dòng tiền từ quốc gia có thuế suất cao về quốc gia có thuế suất thấp Phương thức tránh thuế này của các công ty đa quốc gia thường được gọi là “chuyển giá” Các “thiên đường thuế” nổi tiếng có thể kể đến là các nước thuộc khu vực Caribbean, Bermuda, British Virgin Islands, Islands, Hong Kong, Thụy Sĩ, Andorra, Belize, Isle of Man, Mauritius, Lichtenstein, Monaco, Panama,… Đây là một phương thức tránh thuế phổ biến và được nhiều doanh nghiệp áp dụng, trong đó có thể kể đến Coca Cola
Coca cola bắt đầu kinh doanh tại thị trường Việt Nam vào tháng 2/1994 Trong suốt những năm hoạt động tại thị trường Việt Nam, Coca Cola liên tục báo lỗ, và chỉ có lãi trong vài năm trở lại đây
Tính đến tháng 12/2012, tổng số lỗ lũy kế của Coca Cola Việt Nam là 3.768 tỷ đồng, vượt quá số vốn đầu tư ban đầu 2.950 tỷ đồng Như vậy, về mặt kỹ thuật thì lẽ ra Coca Cola Việt Nam đã phải phá sản (Số liệu từ Cục Thuế TP Hồ Chí Minh) Tuy nhiên, Coca cola vẫn không ngừng mở rộng sản xuất kinh doanh, bất chấp món lỗ khổng lồ Cuối tháng 10/2012, Chủ tịch kiêm Tổng giám đốc điều hành, ông Muhtar Kent tới Việt Nam và tuyên bố rót thêm 300 triệu USD vào Việt Nam trong 3 năm tới Sang năm 2014
Trang 6đầu tư thêm 210 triệu USD để mở rộng kinh doanh tại Việt Nam Đến năm 2015, Coca Cola lần đầu công bố có lãi và thực hiện đóng thuế Dưới đây là bảng hoạt động kinh doanh của Coca Cola giai đoạn 2004-2017
Đơn vị: Tỷ đồng Nguồn: Cafef
Theo ông Lê Duy Minh, Trưởng phòng kiểm tra thuế số 1 Cục Thuế TP.Hồ Chí Minh, Coca cola luôn kê khai lỗ ở chi phí nguyên phụ liệu, trong đó chủ yếu là hương liệu được nhập trực tiếp từ công ty mẹ với giá rất cao Trung bình chi phí nguyên phụ liệu chiếm trên 70% giá vốn, cá biệt năm 2006-2007 chi phí nguyên phụ liệu lên đến 80-85% giá vốn Như vậy, có thể thấy Coca cola sử dụng cách thức như đã đề cập phía trên để tránh thuế Tuy nhiên, trong những năm gần đây, dưới sức ép từ phía các cơ quan thuế và
dư luận, doanh nghiệp này đã có động thái nghiêm túc hơn trong việc thực hiện các nghĩa
vụ về thuế
Nhìn chung, các công ty đa quốc gia, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
có những đóng góp đáng kể cho xuất nhập khẩu cũng như giải quyết tốt vấn đề về công
ăn việc làm trong nước Tuy nhiên, việc chuyển giá để trốn thuế không những làm thất thoát ngân sách từ việc thu thuế mà còn làm các doanh nghiệp nhỏ lẻ trong nước gặp nhiều khó khăn hơn trong việc cạnh tranh với những sản phẩm đến từ các tập đoàn này
Vì vậy, ngăn chặn chuyển giá, giải quyết triệt để vấn đề tránh thuế từ các công ty đa quốc gia nói riêng và các doanh nghiệp nói chung là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng đối với các cơ quan thuế Đây là vấn đề không chỉ của riêng Việt Nam mà còn là vấn đề chung
Trang 7của nhiều quốc gia trên thế giới, tuy nhiên, vẫn chưa có biện pháp nào giải quyết triệt để thực trạng này
B CÁC VẤN ĐỀ VỀ THUẾ:
I Nguồn thu ngân sách và thâm hụt ngân sách:
1 Tình trạng thu ngân sách và thâm hụt ngân sách:
Lượng thu ngân sách và mức thâm hụt ngân sách nhà nước trong giai đoạn từ 2009
- 2018 được phản ánh trong biểu đồ sau:
(nguồn số liệu: tổng cục thống kê)
Số liệu thu được cho thấy trong 10 năm trở lại đây, Việt Nam vẫn trong tình trạng bội chi ngân sách mặc dù các khoản thu ngân sách vẫn tăng hằng năm Nghị quyết của quốc hội số 73/2018/QH14 về phân bổ ngân sách trung ương năm 2019 có nội dung
dự toán mức thu và chi ngân sách trong năm 2019 lần lượt là 810.099 và 1.019.599 tỷ đồng Do đó, mức thâm hụt ước tính khoảng 210 tỷ đồng Nguồn thu ngân sách quan trọng đến từ các loại thuế, phí, lệ phí Trong khoảng 2016 - 2018, các nguồn thu này đạt giá trị 20% GDP; trong khi động viên vào ngân sách Nhà nước trong cùng khoảng thời gian đó dao động từ 24 - 25% GDP (thông tin từ Bộ Tài chính) Nguồn thu từ dầu thô và
từ các hoạt động xuất nhập khẩu giảm cũng gây trở ngại cho việc gia tăng thu ngân sách Chi tiêu ngân sách hiện nay tập trung chủ yếu vào chi bổ sung cân đối cho ngân sách địa phương, chi đầu tư phát triển, chi trả nợ lãi và chi thường xuyên (chiếm tỷ lệ cao trong các khoản chi được dự toán cho năm 2019) Việc chi nhiều khiến cho thâm hụt luôn ở mức cao, luôn ở khoảng 5% GDP của Việt Nam, kéo theo sự gia tăng nợ công Theo báo cáo của Bộ Tài chính, nợ công năm 2018 là 58.4% GDP, nợ chính phủ là 50%, nghĩa vụ
Trang 8trả nợ trực tiếp của thu ngân sách là 15.9% Việc thâm hụt ngân sách và nợ công tăng nhanh sẽ dẫn đến những khó khăn trong dài hạn và ảnh hưởng đến khả năng tài trợ cho các khoản đầu tư phát triển của quốc gia Do đó cần phải có các giải pháp để cải thiện tình hình thâm hụt và đẩy mạnh chi tiêu hiệu quả
2 Giải pháp cải thiện thâm hụt ngân sách:
Đứng trước tình trạng thâm hụt ngân sách, chính phủ đã có những động thái nhằm cải thiện tình hình Sau khi hoàn thiện dự toán ngân sách cho năm 2019, Bộ Tài chính đã yêu cầu các cơ quan có liên quan thắt chặt kỷ luật, đảm bảo chi ngân sách sát với dự toán, giải ngân theo kế hoạch, vay trong hạn mức… Để hạn chế chi tiêu, Bộ Tài chính cũng đã có yêu cầu tinh giản biên chế, xây dựng thứ tự ưu tiên cho các dự án, quy định tổng mức hỗ trợ vốn đầu tư phát triển hằng năm của Ngân sách Trung ương cho Ngân sách địa phương để thực hiện một số chương trình, dự án lớn, đặc biệt quan trọng
có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương tối đa không vượt quá 30% tổng chi đầu tư xây dựng cơ bản của Ngân sách Trung ương Đối với nguồn thu, Bộ yêu cầu phấn đấu trong năm 2020 là 20% GDP đối với thuế, phí; trong khi dự toán thu nội địa trong năm 2020 tăng khoảng 10% - 12% so với 2019 tùy tốc độ tăng trưởng của từng vùng; tiến hành rà soát, bãi bỏ những chính sách kém hiệu quả
II Các vấn đề về thuế xuất nhập khẩu:
1 Thuế xuất khẩu:
Vì chính sách kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn đang ưu tiên đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa trong nước, hạn chế nhập khẩu từ nước ngoài đặc biệt là thành phẩm, nên thuế suất thuế nhập khẩu thường cao và quy trình khắt khe hơn rất nhiều so với xuất khẩu
Việt Nam cam kết xóa bỏ thuế xuất khẩu đối với phần lớn các mặt hàng, chỉ còn lại một số mặt hàng đặc biệt phải chịu thuế xuất khẩu, chủ yếu là tài nguyên thiên nhiên như cát, đá phấn, đá cẩm thạch, đá granit, quặng, dầu thô, lâm sản, và phế liệu kim loại, v.v… Mức thuế suất giao động từ 0% đến 40%
2 Thuế nhập khẩu:
a Tổng quan thuế nhập khẩu ở Việt Nam:
Hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam mà thuộc mặt hàng phải chịu thuế thì sẽ bị áp một trong ba mức thuế suất gồm: thuế suất thông thường, thuế suất ưu đãi và thuế suất ưu đãi đặc biệt
Thuế suất ưu đãi được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ các nước thực hiện đối Tối huệ quốc (MFN) trong quan hệ thương mại với Việt Nam, Hiện tại, có trên
172 nước
Thuế suất ưu đãi đặc biệt được áp dụng cho hàng hóa nhập khẩu từ những nước hoặc khu vực có hiệp định thương mại ưu đãi đặc biệt, hiệp định thương mại song phương, đa phương với Việt Nam Ví dụ như các hiệp định: FTA giữa các nước thành viên ASEAN, giữa các nước thành viên ASEAN và Nhật Bản, Trung Quốc,
Trang 9Ấn Độ, Hàn Quốc, Úc- New Zealand, Việt Nam và Nhật Bản, Chile, Hàn Quốc, Cam-pu-chia, Lào,
Thuế suất thông thường áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu không thuộc các trường hợp 1 và 2 nêu trên Thuế suất thông thường được quy định bằng 150% thuế suất ưu đãi của từng mặt hàng tương ứng
Sẽ có những mặt hàng nhập khẩu vừa được hưởng mức thuế suất ưu đãi vừa được hưởng mức thuế suất ưu đãi đặc biệt, để được hưởng mức thuế suất nào thấp hơn là còn tùy thuộc vào việc doanh nghiệp sử dụng C/O - giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa nào
Đối với một số hàng hóa đặc biệt như: máy móc thiết bị, phương tiện vận tải chuyên dùng, vật tư xây dựng (trong nước chưa sản xuất được) nhập để phục vụ xây dựng công trình công, dự án ưu đãi đầu tư, hoạt động dầu khí, hay phục vụ các hoạt động
an sinh xã hội, khắc phục thiên tai dịch bệnh, được miễn thuế nhập khẩu
Ngoài ra, hàng hóa khi nhập khẩu vào Việt Nam, bên cạnh thuế nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế bảo vệ môi trường, thuế GTGT thì còn có một số loại thuế khác có thể bị đánh vào trong một số trường hợp nhất định, ví dụ như là thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp và thuế tự vệ,
Từ 1/1/2018 trở đi, theo cam kết trong Hiệp định Thương mại tự do (FTA) thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt tại các Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt giảm nhanh Đặc biệt, thuế NK ưu đãi đặc biệt giảm xuống 0% trong nội khối ASEAN (gọi tắt
là Biểu thuế ATIGA - Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN giai đoạn 2018 – 2022)
Vì thế Chính phủ đã ban hành Nghị định số 125/2017/NĐ-CP sửa đổi Nghị định số 122/2016/NĐ-CP về Biểu thuế xuất nhập khẩu ưu đãi, thuế hỗn hợp, và thuế nhập khẩu ngoài hạn ngạch thuế quan để góp phần ổn định thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng
cơ hội, nâng cao khả năng cạnh tranh Sự kiện xóa bỏ dần thuế nhập giữa các khu vực kinh tế như vậy tạo ra rất nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với đất nước Trong ngắn hạn nó có thể làm gia tăng xuất khẩu các mặt hàng chủ lực của Việt Nam như các mặt hàng nông sản (tiêu, điều, hồ, chè…) hay hàng gia công (linh kiện, giày dép, ) bằng việc được xóa bỏ rào cản thuế quan nhưng bù lại chúng ta cũng phải áp dụng ưu đãi tương tự với hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam
Cụ thể là cùng với việc ký ban hành Nghị định số 125/2017/NĐ-CP, Chính phủ cũng đã ký ban hành một loạt mười Nghị định về Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam giai đoạn 2018-2022/2023 Mười Nghị định này đều có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018, ví dụ:
Biểu thuế VKFTA (Hiệp định FTA Việt Nam - Hàn Quốc giai đoạn 2018 - 2022)
đã giảm thuế suất của 653 dòng thuế so với năm 2017 và giảm thuế suất của 704 dòng xuống 0%, tập trung ở các nhóm hàng thủy sản, bột mỳ, chế phẩm bánh kẹo, nhiên liệu diesel, nhiên liệu bay, sơn, chế phẩm giặt tẩy, nhựa sắt thép và sản phẩm sắt thép, máy móc thiết bị điện, điện tử
Trang 10 Biểu thuế VN-EAEU FTA (Hiệp định FTA Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á-Âu
2018 – 2022) có 5.535 dòng thuế được cắt giảm về 0%, tập trung nhiều vào các nhóm mặt hàng là nguyên liệu đầu vào phục vụ sản xuất XK như nguyên phụ liệu dệt may, da giày, linh kiện điện tử, nhựa nguyên liệu, phân bón, ngô, lúa mì
Biểu thuế ACFTA(Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN - Trung Quốc giai đoạn 2018-2022) đã giảm thuế suất của 588 dòng thuế từ 5%, 10% xuống 0% gồm các mặt hàng chính thịt gà, cà phê, chè nguyên liệu, chế phẩm bánh kẹo, thực phẩm chế biến, hóa chất, thuốc kháng sinh, nguyên liệu dệt, vải may mặc, quần áo, sắt thép và sản phẩm sắt thép, máy móc thiết bị điện, điện tử, tàu thuyền Cùng với các biểu thuế VCFTA (Việt Nam và Chi Lê giai đoạn 2018-2022), ASEAN – Nhật Bản, ASEAN – Australia – Newzealand,…
Thực tế hàng sản xuất trong nước vốn đã có sức cạnh tranh yếu so với hàng ngoại, nay nguồn hàng hóa và nguyên liệu chất lượng chảy vào Việt Nam tự do với giá rẻ rất nhiều, tạo ra sức ép rất lớn đến các hoạt động sản xuất trong nước
b Nhập khẩu ô tô ở Việt Nam:
Một trong những hàng hóa chịu thuế suất nhập khẩu cao nhất và được sự quan tâm nhiều nhất đó chính là ô tô Ô tô ở Việt Nam được xem như một mặt hàng xa xỉ, nếu
so ngang giá, giá xe ở Việt Nam đắt hơn gần gấp ba lần giá xe ở các nước phát triển Hiện tượng này diễn ra là do hầu hết các hãng xe nhập về Việt Nam đều nhập theo điều kiện thương mại quốc tế CIF (Cost, Insurance, Freight), giá nhập về bao gồm giá xuất xưởng tại nước sản xuất (Cost), phí bảo hiểm hàng hoá (Insurance) và cước phí vận chuyển về Việt Nam (Freight), giá nhập khẩu đã cao cộng thêm việc chịu thêm rất nhiều lần thuế khiến giá xe bị đội lên rất nhiều lần Với mục đích bảo hộ và kích thích sự phát triển ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp và chế tạo ô tô - một trong những ngành trọng điểm của nền kinh tế, Nhà nước áp đặt mức thuế nhập khẩu xe ô tô từ các nước ASEAN là 30% và từ ngoài khu vực là 70%, ngoài ra còn thuế tiêu thụ đặc biệt rơi vào khoảng từ 40 – 150% và thuế giá trị gia tăng VAT được tính 10% của giá sau thuế tiêu thụ đặc biệt, cộng thêm rất nhiều khoản phí trước bạ, phí đăng kiểm, Không chỉ xe mới, xe cũ đã qua
sử dụng khi vào Việt Nam cũng bị đánh thuế rất cao Ngoài các thuế phí trên, người mua
xe cũ còn phải chịu thêm thuế và hàng loạt điều kiện khắt khe về triệu hồi, bảo dưỡng trước đó của Nghị định 116
Tuy nhiên sau hơn 20 năm đặt chế độ bảo hộ, ngành công nghiệp ô tô Việt Nam lại không phát triển như mong đợi, vẫn chỉ là một ngành công nghiệp lắp ráp với công việc chính là nhập khẩu linh kiện, lắp ráp, dây chuyền sản xuất chủ yếu cho 3 công đoạn chính là hàn, tẩy rửa sơn, lắp ráp Trong toàn bộ linh kiện phụ tùng để sản xuất lắp ráp một chiếc ô tô, chỉ có một số ít phụ tùng đơn giản được sản xuất trong nước (gương, kính, ghế ngồi, ắc quy,…) Tỷ lệ nội địa hoá thấp (khoảng 10% đến 40%, tuỳ theo loại xe) Ô tô lắp ráp nội địa vẫn có giá cao không kém giá ô tô nhập bởi vì linh kiện chính vẫn phải nhập vào từ nước ngoài và vẫn phải chịu thuế Chất lượng xe lắp ráp, sản xuất trong nước mặc dù đã cải thiện nhưng vẫn không bằng xe nhập khẩu Các doanh nghiệp