Việc xử lý thâm hụt ngân sách nhà nước NSNN là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉtác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vữngcủa mỗi quốc gia.. 1
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG KHOA TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Sinh viên thực
hiện:
: : :
TS Nguyễn Thị Lan TCH431(1-1718).2_LT Bùi Văn Nghiêm - 1513330080 Đặng Hoàng Long -1513330067
Lê Thị Khánh Hà - 1513330037
Hà Nội ngày 1/1/2018
Trang 2Mục lục
1Tổng quan nghiên cứu, cơ sơ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 4
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ngoài nước 4
1.2 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 8
1.2.1 Cơ sở lý thuyết 8
1.2.1.1 Thực trạng ngân sách của Việt Nam và các nước trên thế giới 8
1.2.1.2 Nguyên nhân gây ra thâm hụt ngân sách ở Việt Nam 14
1.2.1.3 Tác động của thâm hụt ngân sách 20
1.2.2 Khung phân tích 21
1.3 Phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên cứu 22
1.3.1 Dữ liệu nghiên cứu 23
1.3.2 Phương pháp nghiên cứu( mô hình ) 25
2Kết quả và thảo luận 30
2.1 Kết quả 30
2.2 Thảo luận kết quả 34
3Kết luận, gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp 35
3.1 Kết luận 35
3.2 Gợi ý và kiến nghị giải pháp 35
Tài liệu tham khảo 40
2
Trang 3Lời nói đầu
Như chúng ta điều biết, thâm hụt ngân sách là một vấn đề mà mọi quốc giatrên thế giới đều gặp phải Ngay cả một cường quốc kinh tế như Mỹ cũng phải đauđầu và vật lộn với vấn đề này, và tất nhiên Việt Nam cũng không ngoại lệ Việc xử
lý thâm hụt ngân sách nhà nước (NSNN) là một vấn đề nhạy cảm, bởi nó không chỉtác động trước mắt đối với nền kinh tế mà còn tác động đến sự phát triển bền vữngcủa mỗi quốc gia Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có những biến động lớnnhư: Anh rời khỏi EU, ông Donald Trump đắc cử tổng thống thứ 45 của Mỹ và sau
đó là việc Mỹ rời khỏi TPP hay tình trạng lạm phát diễn ra nhiều nước trên thếgiới…, việc tìm ra giải pháp để điều chỉnh thâm hụt ngân sách ở các quốc gia trênthế giới nói chung và ở tại Việt Nam nói riêng là hết sức cấp bách và cần thiết Ởnước ta, mức độ thâm hụt ngân sách ngày càng gia tăng và ngày càng tác động tiêucực tới đời sống nhân dân cũng như tới toàn bộ nền kinh tế Đây chính là một trongnhững nguy cơ làm khủng hoảng nền kinh tế, gia tăng lạm phát gây khó khăn chochính phủ trong việc thực hiện các chính sách tài khóa và tiền tệ Để tìm hiểu sâu
về vấn này chúng tôi đã quyết định chọng đề tài “ Nghiên cứu ảnh hưởng của thâmhụt ngân sách nhà nước đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam ” Thông qua việc chạy
mô hình chúng ta có thể phần nào thấy được tình trạng ngân sách của Việt Namhiện nay Bài viết dựa trên quan điểm của nhóm nghiên cứu nên sẽ có nhiều thiếusót Xin trân thành cảm ơn !
Trang 41 Tổng quan nghiên cứu, cơ sơ lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Tìm hiểu được mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và sự phát triển kinh tếcủa một quốc gia là vấn đề quan trọng để quốc gia đó có thể cân đối được giữa cânbằng thu chi ngân sách và sự phát triển kinh tế, từ đó có các chính sách thu-chingân sách công cho phù hợp
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Trong nước:
Các nghiên cứu về tài chính công ở Việt Nam bàn về mối quan hệ giữa nợcông và tăng trưởng kinh tế khá nhiều, còn đối với tác động của thâm hụt ngânsách lên phát triển kinh tế vẫn còn khiêm tốn
Nghiên cứu của Huỳnh (2007) sử dụng dữ liệu từ Việt Nam trong giai đoạn từ1990-2006 cho thấy thâm hụt ngân sách liên tục có tác động tiêu cực đối với tốc độtăng trưởng GDP của đất nước Nghiên cứu của Đặng Văn Cường và Phạm Lê TrúcQuỳnh (2015) khi tìm hiểu mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh
tế của các quốc gia Đông Nam Á trong đó có Việt Nam từ năm 2001-2013 bằng môhình hiệu ứng cố định cho dữ liệu bảng cho thấy thâm hụt ngân sách, tín dụng khu vực
tư có tác động tiêu cực đối với tăng trưởng kinh tế, đầu tư nước ngoài tác động tíchcực đến tăng trưởng kinh tế còn lạm phát thì không có ý nghĩa thống kê
Còn 2 tác giả Vien Bui Van và Tatchalerm Sudhipongpracha (2015) cũng đãnghiên cứu về kinh tế Việt Nam sau thời kỳ đổi mới, từ năm 1989-2011 Tuy nhiêncông trình thực nghiệm của các tác giả đã không tìm thấy được mối quan hệ trực tiếp
4
Trang 5giữa chi tiêu chính phủ và tăng trưởng kinh tế, lạm phát hay môi trường kinhdoanh Nghiên cứu này nhấn mạnh hơn vai trò của đầu tư trực tiếp nước ngoài FDIđối với nền kinh tế và khuyến nghị chính phủ nên cái cách quản lý và cải cáchpháp luật để có thể đảm bảo sử dụng được hiểu quả các nguồn lực cũng như thuhút được thêm nguồn vốn nước ngoài vào Việt Nam, thay vì mở rộng chi đầu tư
Nước ngoài:
Trên thế giới đã có rất nhiều những công trình nghiên cứu mối quan hệ giữathâm hụt ngân sách và phát triển kinh tế của 1 quốc gia hoặc của một nhóm cácquốc gia Tuy nhiên kết quả của các nghiên cứu này không đồng nhất với nhau, lý
do có thể bởi phạm vi và thời gian nghiên cứu cũng như mô hình mà các tác giảxây dựng không giống nhau
Trong số các nghiên cứu đã được thực hiện, có nhiều nghiên cứu cho thấy cómối quan hệ cùng chiều giữa thâm hụt ngân sách và phát triển kinh tế, phù hợp với
lý thuyết kinh tế theo trường phái kinh tế của Keynes khi cho rằng việc thâm hụtngân sách sẽ có tác động thúc đẩy (crowd-in) nền kinh tế Lý thuyết này chỉ rathâm hụt ngân sách làm tăng tổng cầu, do vậy làm tăng đầu tư và thu nhập cá nhân,tuy nhiên lý thuyết này cũng nhấn mạnh tới hiệu quả của chi tiêu công, khi thâmhụt là do việc chi tiêu hiệu quả như xây dựng các công trình công cộng
Nghiên cứu của Al-Khedar (1996) sử dụng mô hình VAR, thu thập dữ liệu của cácnước G7 trong khoảng thời gian từ năm 1964-1993 đã phát hiện thâm hụt ngânsách có ảnh hưởng mạnh và tích cực đến tăng trưởng kinh tế quốc gia, dù nó làmtăng lãi suất và ảnh hưởng đến cán cân thương mại Bose, Haque và Osborne(2007) đã nghiên cứu riêng lẻ đối với 30 nước đang phát triển từ năm 1970-1980
và tìm thấy mối quan hệ cùng chiều giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh
tế Tuy nhiên nghiên cứu này cũng nhấn mạnh đến chất lượng các khoản chi tiêu,
Trang 6mà chi tiêu trong giáo dục có ảnh hưởng lâu dài đối với sự phát triển kinh tế Cùngvới đó, Risti và đồng sự (2013) khi sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian từ 2000-2010của đất nước Romania đã cho thấy hai biến số thâm hụt ngân sách và tăng trưởngkinh tế của đất nước này là cùng chiều nếu như mức thâm hụt vượt quá 3%GDP.Tuy nhiên nếu mức thâm hụt dưới 1.5%GDP thì thâm hụt ngân sách không có ảnhhưởng đến phát triển kinh tế Khi nghiên cứu nền kinh tế của Kenya từ năm 1970-
2007, Odhiambo et.al (2013) đã kết luận răng thâm hụt tài chính có thể giúp thúcđẩy nền kinh tế vì nó làm tăng hiệu quả tái cấu trúc nền kinh tế, tăng phúc lợi xãhội cũng như cải tiến chất lượng giáo dục của quốc gia
Tuy nhiên , khi xem xét theo chiều hướng của mô hình tân cổ điển(Neoclassical model) thì mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh
tế và ngược chiều với nhau Bởi mô hình tân cổ điển về nợ nhấn mạnh khi chínhphủ khởi xướng một dự án, dù được tài trợ bằng thuế hay nợ thì các nguồn lực nàyđược lấy từ khu vực tư nhân, làm giảm đầu tư từ khu vực này Giả thuyết chèn lấnnày đã được chứng minh từ nhiều các nghiên cứu khác nhau trên thế giới
Nghiên cứu của Qureshi và Ali (2010) đã xem xét mối quan hệ nợ công và tăngtrưởng kinh tế ở Pakistan trong giai đoạn 1981-2008 bằng phương pháp ước lượngOLS, từ đó cho thấy mối quan hệ ngược chiều giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.Sau đó, Fatima và đồng sự (2012) cũng nghiên cứu nền kinh tế Pakistan từ 1978-2009,xem xét những ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đối với tăng trưởng kinh tế củanước này Các tác giả đã tìm thấy được bằng chứng cho mối quan hệ ngược chiều giữa
2 biến số này Cinar và đồng sự (2014) đã nghiên cứu hai nhóm quốc gia là nhómquốc gia phát triển và nhóm quốc gia đang phát triển trong khu vực sử dụng đồngEuro, khi xem xét tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ nợ và các biến số thâm hụt ngân sách củacác quốc gia này với trọng tâm là giai đoạn suy thoái kinh tế năm 2007-2009 Các tácgiả đã sử dụng mô hình bảng ARDL cho giai đoạn từ quý 1 năm
6
Trang 72000 đến quý 4 năm 2011 và thấy được tác động ngược chiều của thâm hụt ngânsách đối với tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn Tuy nhiên kết quả này chỉ có ýnghĩa thống kế đối với 5 quốc gia đứng đầu (Luxembourg, Ireland, Slovakia,Slovenia, Finland) còn đối với 5 quốc gia đứng cuối (Austria, Belgium, Italy,Portugal, Greece) thì không có ý nghĩa thống kê Napoleon Kurantin, PhD (2017)khi nghiên cứu quốc gia Ghana từ năm 1994-2014 cũng thấy được tác động tiêucực của thâm hụt ngân sách đối với quá trình phát triển kinh tế, đồng thời khuyếnnghị thực hiện đảo ngược thâm hụt ngân sách để nền kinh tế có thể tăng trưởng bềnvững và phát triển trong trung và dài hạn.
Một trường phái khác theo mô hình Ricardo do Robert Barro (1974) xây dựnglại lập luận rằng thâm hụt ngân sách không có tác động đến nền kinh tế bởi thâm hụtngân sách sẽ được bù đắp bằng việc tăng thuế trong tương lai, và giá trị hiện tại của nó
sẽ bằng với giá trị thâm hụt Điều này khiến cho các khoản lãi suất và tiêu dùng cánhân không bị ảnh hưởng Barro đã chứng minh định lý này bằng cách kiểm tra tácđộng của sự thâm hụt ngân sách đối với tăng trưởng và đầu tư của 98 quốc gia từ năm1960-1985, và kết luận rằng không có mối quan hệ nào giữa hai biến số này
Có nhiều nghiên cứu cũng đã đưa ra kết quả rằng thâm hụt ngân sách không có ảnhhưởng đến phát triển kinh tế Khi nghiên cứu 17 quốc gia phát triển từ năm 1949-
1981, Guess và Koford (1984) đã thấy rằng các khoản thâm hụt ngân sách không
có ảnh hưởng đến lạm phát, năng suất kinh tế cũng như đầu tư công, nên cũngkhông ảnh hưởng đến phát triển kinh tế Nghiên cứu của Landau (1983) trên 100quốc gia và nghiên cứu của Kormendi và Mequire (1985) trên 47 quốc gia từ 1950-
1977 đã cho thấy không có mối quan hệ đáng kể giữa thâm hụt và tăng trưởng kinh
tế được tìm thấy trong hai nghiên cứ này Nur Hayati Abd Rahman (2012) cũng đãnghiên cứu mối quan hệ này ở Malaysia bằng cách sử dụng số liệu hàng quý từnăm 2000-2011 nhưng không tìm được bằng chứng nào có thể chứng minh được sự
Trang 8tại của mối quan hệ dài hạn giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế Cùngvới đó, Ahmad (2013) đã khảo sát tác động của thâm hụt ngân sách ở Pakistan từnăm 1971-2007 và kết luận rằng dù thâm hụt ngân sách có ảnh hưởng tích cực đốivới tăng trưởng kinh tế nhưng ảnh hưởng đó là không đáng kể.
Từ các lý thuyết và nghiên cứu được chỉ ra ở trên, có thể thấy mối quan hệgiữa thâm hụt ngân sách và phát triển kinh tế là khá phức tạp và cần nghiên cứutừng quốc gia trong từng giai đoạn cụ thể mới có thể kết luận được chiều hướngcủa mối quan hệ này như thế nào, cùng chiều, ngược chiều hay mang tính trung lập
1.2 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
1.2.1 Cơ sở lý thuyết
1.2.1.1 Thực trạng ngân sách của Việt Nam và các nước trên thế giới
Việt Nam
8
Trang 9Bội chi ngân sách qua các năm300000
Việt Nam đã thâm hụt ngân sách liên tục trong 15 năm trở lại đây với tỷ lệthâm hụt ngân sách trên GDP luôn ở trên mức trên dưới 5% Mức thâm hụt nàythuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực
Theo thống kê sơ bộ trong giai đoạn 2011-2014 thì trên thế giới chỉ có 25/178quốc gia có ngân sách dương Mức độ thâm hụt ngân sách thường được xác định bằng
tỷ lệ thâm hụt trên GDP Hiện Việt Nam có thâm hụt ngân sách hàng năm ở mứckhoảng ~5% GDP Tuy nhiên chỉ số này chỉ phản ánh chính xác tương đối Các đolường khác như thâm hụt trên tổng thu ngân sách hoặc thâm hụt chia GNP sẽ có
Trang 10ý nghĩa hơn Đặc biệt với trường hợp Việt Nam khi gần một nửa GDP hiện do khốidoanh nghiệp nước ngoài làm ra trong khi nguồn thu từ khối này không chiếm tỷ lệlớn (do vấn đề chuyển giá, ưu đãi đầu tư,…) Đồng thời phải cân đối với số dư nợcông và vay nợ nước ngoài Ở các chỉ tiêu này Việt Nam đều cao hơn rất nhiều sovới các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin (thâm hụt số dư tương đươngThái Lan nhưng thu ngân sách chỉ bằng một nửa, hoặc thâm hụt và vay nợ nước ngoài đều cao hơn Philippin).
Các nước trên thế giới
Số liệu ngân sách được công bố ở nhiều nước cho thấy không chỉ các nướctrong khu vực châu Á (Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia…) mà ngay cả các nền kinh
tế lớn (Mỹ, Pháp, Đức, Nga, Italia…) cũng đang phải vật lộn với việc thâm hụtNSNN khổng lồ, do thất thu từ thuế Trong khi đó, các khoản chi (chi cho trợ cấpthất nghiệp, bảo hiểm thất nghiệp, chi trợ cấp năng lượng…) ngày càng tăng cao
Mỹ: lần đầu tiên trong 5 năm qua (kể từ năm 2011), thâm hụt ngân sách Mỹ
tăng lên, đảo ngược xu hướng giảm thâm hụt trong giai đoạn phục hồi của nền kinhtế.Thâm hụt ngân sách mở rộng đến 587 tỷ USD trong năm tài khóa kết thúc vào 30/9,
Bộ Tài chính Mỹ công bố vào thứ Sáu (14/10), tăng 34% so với năm tài khóatrước.Khoản tăng lên này đưa thâm hụt chiếm 3,2% GDP, tương đương với mức trungbình Mỹ đã duy trì trong 40 năm qua và tăng từ 2,5% GDP của năm 2015 Tính toánbằng phần trăm trong GDP, đây là lần đầu tiên thâm hụt tăng lên từ năm 2009.Thâmhụt đã giảm trong những năm gần đây, do cắt giảm chi tiêu và nền kinh tế mạnh lên đãhạn chế các khoản chi phí và tăng thu chính phủ Nhưng con số người nhận bảo hiểm
y tế chính phủ cho người già, người thu nhập thấp và phúc lợi an ninh xã hội tăng lên,cũng như việc nhích lên nhẹ trong lãi suất của các khoản nợ công, đưa tổng chi tiêulên 5% năm 2016, trong khi đó tổng thu chỉ tăng 1% Luật được
10
Trang 11thông qua vào cuối năm ngoái cũng cộng thêm hàng tỷ USD mới vào khoản chitiêu và hạ thấp nguồn thu khi mở rộng phạm vi miễn giảm thuế.Tăng trưởng việclàm nhanh chóng trong năm vừa rồi đã mang lại nguồn thu từ thuế thu nhập cánhân và lương, tăng 4% Nhưng nguồn thu từ thuế thu nhập doanh nghiệp giảm11%, một phần vì lợi nhuận bị kiềm chế bởi tăng trưởng năng suất ì ạch, cầu nướcngoài yếu và một thị trường việc làm khắt khe đẩy tăng lương.
Tổng thu tăng 18 tỷ USD, so sánh với 12 tháng đến tháng 9/2015, thấp hơn1% Trong đầu quá trình mở rộng kinh tế, tổng thu chính phủ thường tăng 6% hoặcnhiều hơn hàng năm 166 tỷ USD tăng lên trong chi tiêu ngân sách Liên bang trong
12 tháng qua tạo ra bởi một số nhân tố chính Khoản phúc lợi an ninh xã hội tăng3%, hay 33 tỷ USD Bảo hiểm y tế tăng 9%, hay 58 tỷ USD, nhờ có nhiều ngườinhận phúc lợi hơn và phí dịch vụ cao hơn Tỷ lệ lãi suất ròng của nợ công cũng đilên
Thâm hụt được dự đoán sẽ tăng trong dài hạn Trong tháng Tám, Văn phòngNgân sách Quốc hội phi đảng phái (CBO) đã ước tính thâm hụt sẽ tăng trong 10năm tới, chạm ngưỡng 4,6% GDP vào năm 2026, khi mà nền kinh tế tăng trưởngchậm hơn kỳ vọng trước đó Nhưng văn phòng cũng tính toán tỷ lệ lãi suất sẽ giữthấp hơn trong dài hạn, giảm chi phí lãi suất trên nợ công Chi tiêu chính phủ sẽtiếp tục tăng, một phần do tăng chi cho quỹ phúc lợi an ninh xã hội và chăm sóc y
tế khi dân số già hơn
Trung Quốc: Thâm hụt ngân sách của Trung Quốc đã tăng lên mức tương
đương 2,3% GDP năm 2015, so với 2,1% GDP năm 2014 Theo Hiệp ướcMaastricht năm 1992 của Liên minh châu Âu, mức thâm hụt ngân sách 3% GDPthường được coi là giới hạn đỏ không nên vượt qua Trung Quốc đã duy trì mụctiêu thâm hụt ngân sách là 3% tổng sản phẩm quốc nội vào năm 2017, không thayđổi so với năm ngoái
Trang 12Nhóm tư vấn cũng đề xuất mục tiêu tăng trưởng 12% trong tổng tài trợ vốntrong toàn xã hộ (Total social financing – TSF) vào năm 2018, với chính sách tiền
tệ đủ 'dễ chịu' để đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế, nhưng cũng đủ chặt chẽ đểkiềm chế sự tăng trưởng quá mức của các rủi ro tài chính
Nhóm tư vấn cho biết họ đã đề xuất rằng mục tiêu GDP của Trung Quốc
được đặt ra khoảng 6,5% Trước đó, Reuters trích dẫn các nguồn chính sách cho
biết Trung Quốc sẽ duy trì mục tiêu 6,5% trong khi các nhà hoạch định chính sáchcân bằng nhu cầu tăng trưởng ổn định với nỗ lực giải quyết gánh nặng nợ nần củađất nước
Kinh tế Trung Quốc đã tăng trưởng 6,8% trong quý thứ ba so với một nămtrước, đưa đất nước này lên con đường vượt mục tiêu của chính phủ là tăng trưởng6,5% trong năm nay
Nhật Bản: Từ thập kỷ 1990, tài chính công của Nhật Bản ngày càng đi xuống và Nhật Bản trở thành một trong những quốc gia có vấn đề tài chính đáng lo
ngại nhất trong số các nền kinh tế phát triển Tuy là nền kinh tế lớn thứ 3 trên thếgiới nhưng Nhật Bản lại là nước có mức nợ công cao nhất trong số các nước pháttriển, lên tới 10.000 tỷ USD, gấp đôi GDP (5.000 tỷ USD) Theo Quỹ Tiền tệ Quốc
tế (IMF), tổng nợ công của Chính phủ Nhật Bản hiện đã lên đến 229% GDP(7/2011)
Đặc biệt, tháng 11/2013, theo bộ trưởng bộ tào chính của Nhật Bản công bố,nước này có mức thâm hụt ngân sách kỉ lục là 1,29 nghìn tỉ yên, tương đương với12,6 tỉ đô la Mỹ Khoảng thời gian thâm hụt ngân sách 17 tháng này là mức thâmhụt ngân sách kéo dài nhất tính từ năm 1979 tới nay
Các nước châu Âu: Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt đầu từ nửa sau năm
2009 với sự gia tăng mức nợ công của nhóm PIIGS (Bồ Đào Nha, Ireland, Ý, HyLạp và Tây Ban Nha) Hy Lạp là quốc gia đầu tiên bước vào vòng xoáy này, với 12
Trang 13việc mức thâm hụt ngân sách đạt tới 13,6% GDP Nợ công Hy Lạp cũng lên tới 236 tỉeuro, chiếm khoảng 115% GDP của Hy Lạp vào năm 2009 Đây là kết quả của mộtquá trình thực hiện chính sách tài khóa không bền vững nhằm kích thích kinh tế sausuy thoái toàn cầu cuối năm 2007 Những con số chính thức về thâm hụt ngân sách và
nợ công Hy Lạp là một cú sốc lớn đối với giới đầu tư Mặc dù chính phủ Hy Lạp đãđưa ra những kế hoạch nhằm cắt giảm thâm hụt ngân sách năm 2010 xuống chỉ còn8,7% bằng cách các biện pháp giảm chi tiêu công và tăng thuế từ 19 lên 21%, nhưngcác nhà đầu tư vẫn nghi ngờ khả năng thanh toán của quốc gia này
Bước sang năm 2010, EU và IMF đã phải đưa ra một gói cứu trợ trị giá 110 tỉeuro nhằm cứu lấy Hy Lạp Đi kèm với gói cứu trợ này là các điều khoản buộc HyLạp phải cắt bỏ nhiều khoản lương thưởng đối với nhân công, không tăng lương chínhphủ trong vòng 3 năm, thuế giá trị gia tăng tăng từ 21% lên 23% Ngoài ra chính phủcũng nâng tuổi nghỉ hưu từ 60 lên 65 đối với nam và 55 lên 60 đối với nữ Tình hìnhcủa Hy Lạp lúc này làm dấy lên nỗi bất an trong giới đầu tư vào các quốc gia nhưIreland, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha do đây cũng là các quốc gia vay nợ nhiều Vàotháng 11/2010, Ireland chính thức trở thành nạn nhân thứ hai của cơn bão khủnghoảng nợ công khi phải cầu viện tới EU và IMF Bản chất của khủng hoảng ở Irelandvẫn là thâm hụt ngân sách trầm trọng, nhưng nguồn gốc chính lại không giống như HyLạp Chính phủ Ireland đã phải bỏ ra 50 tỉ euro nhằm cứu lấy sáu ngân hàng lớn củaquốc gia này trước sự đổ vỡ của bong bóng tài sản Nguồn chi này làm cho thâm hụtngân sách lên tới 32% GDP Cụ thể hơn, chính phủ đã tạo ra một định chế tài chínhmới, gọi tắt là NAMA (National Asset Management Agency) nhằm biến những khoản
nợ tư nhân thành những tài sản công
Trang 141.2.1.2 Nguyên nhân gây ra thâm hụt ngân sách ở Việt Nam
1.2.1.2.1 Nguyên nhân khách quan
Tác động của chu kì kinh doanh
Ở giai đoạn khủnghoảng làm cho thu nhập của Nhà nước co lại, nhưng nhu cầuchi lại tăng lên, để giải quyết những khó khăn mới về kinh tế và xã hội Điều đólàm cho mức bội chi NSNN tăng lên Ở giai đoạn kinh tế phồn thịnh, thu của Nhànước sẽ tăng lên, trong khi chi không phải tăng tươngứng Điều đó làm giảm mứcbội chi NSNN Mức bội chi do tác động của chu kỳ kinh doanh gây ra được gọi
là bội chi chu kỳ
Do hậu quả các tác nhân gây ra
Xã hội luôn phải đối mặt với những rủi ro thiên tai, dịch bệnh và đôi khi cả nhữngrủi ro do chính con người gây ra như chiến tranh, khủng bố tình trạng dân số gia tăng…mặc dù khi lập dự toán ngan sách các quôc gia đã có những biên pháp dự phòng nhưng đôi khi rủi ro vượt ra ngoài dự đoán để xử lý các tình trạng khản cấp nhắm ổn định các hoạt dộng kinh tế xã hội, nhà nước phải tăng chi và thâm hụt ngân sách sảy ra ngoài mong muốn của nhà nước
1.2.1.2.2 Nguyên nhân chủ quan
Thất thu thuế nhà nước
Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh
các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện
trợ…tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ
14
Trang 15đã tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợi dụng để trốn thuế, gây thất thu một lượngđáng kể cho ngân sách nhà nước… Bên cạnh đó, việc giãn thuế, giảm thuế và miễnthuế một mặt giúp các doanh nghiệp có thêm nguồn vốn đầu tư, duy trì và mở rộngsản xuất Tuy nhiên,việc miễn thuế, giảm thuế hoặc chậm thu làm ảnh hưởng tớicác khoản chi ngân sách khác gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
Đầu tư công kém hiệu quả
Thời gian qua, tổng vốn đầu tư của toàn xã hội liên tục tăng mạnh, với tỷ lệtăng bình quân là 12.7%/năm Trong đó, vốn đầu tư công luôn chiếm tỷ trọng lớn,bình quân là 40% và tăng trưởng nhanh, tỷ lệ tăng bình quân là 12%/năm
Bên cạnh những thành công đóng góp tích cực vào quá trình phát triển đấtnước thì việc sử dụng nguồn vốn đầu tư công của Việt Nam vẫn tồn tại nhiều hạnchế, nhất là hiệu quả đầu tư còn thấp Một số chương trình, dự án sử dụng vốn đầu
tư công chưa đạt hiệu quả cao như mong đợi, đã làm hiệu quả sử dụng vốn đầu tưgiảm sút và ảnh hưởng nặng nề đến nền kinh tế
Có thể thấy, tốc độ gia tăng tổng vốn đầu tư toàn xã hội cũng như vốn đầu tưcông khá cao qua các năm nhưng tốc độ tăng trưởng GDP luôn duy trì ở mức thấp.Đặc biệt, trong năm 2009 và 2012, tốc độ tăng của vốn đầu tư công rất cao (tươngứng là 37,31% và 19,01%) nhưng tăng trưởng GDP chỉ đạt tương ứng là 5,32% và5,03%
Vấn đề này được nhìn nhận rõ hơn bằng việc xem xét hệ số suất đầu tư haycòn gọi là hệ số sử dụng vốn So với tiêu chuẩn của Ngân hàng Thế giới, hệ số hiệuquả đầu tư trên đồng vốn (ICOR) ở các nước đang phát triển đạt mức 3.0, thì ViệtNam có ICOR khá cao, giai đoạn 2007-2014 là trên 5 Tuy đã có sự cải thiện ở giaiđoạn 2015-2016 (<5) nhưng chỉ số này của Việt Nam vẫn còn cao hơn so với cácnước trong khu vực
1
Trang 16Nguyên nhân của những yếu kém trong việc sử dụng vốn đầu tư công được xácđịnh như sau:
Một là, hệ thống thể chế về quản lý đầu tư công chưa được thống nhất dẫn đến phạm vi đầu tư công chưa rõ ràng Luật Đầu tư công (2015) quy định vốn đầu
tư công bao gồm vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếuchính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương vốn ODA và vốn vay ưu đãi củacác nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từnguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, cáckhoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư
Trong khi đó, Luật Ngân sách nhà nước lại tập trung vào vốn ngân sách nhànước, các văn bản quản lý của Thủ tướng Chính phủ cũng chỉ tập trung vào vốnngân sách nhà nước và vốn trái phiếu chính phủ
Hai là, quá trình tái cơ cấu đầu tư công chưa thực sự toàn diện, cụ thể Thời
gian qua, việc tái cơ cấu đầu tư chủ yếu mang tính ngắn hạn theo các nghị quyết,chỉ thị, quyết định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ Thực hiện phân bổ, quản
lý vốn đầu tư theo kế hoạch trung hạn chưa cân đối khiến các bộ, ngành, địaphương bị động
Ba là, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát đầu tư công vẫn còn nhiều bất cập Trung ương khó kiểm soát hết được đầu tư của địa phương, việc đầu tư vẫn
còn phân tán, dàn trải, kém hiệu quả và mất cân đối ở các bộ, ngành và địa phương.Bên cạnh đó, công tác xác định và lựa chọn tiêu chí đánh giá hiệu quả kinh tế - xãhội của một số công trình, dự án đầu tư công còn khó khăn
Nhà nước huy động vốn để kích cầu
Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: Phát hành trái phiếu Chính phủ,miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giải pháp kích cầumột mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, sẽ làm mức
16
Trang 17thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8-12%GDP
Chưa chú trọng giữa chi đầu tư phất triển và chi thường xuyên
Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về ngân sách áp lực bộichi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương) Chúng ta có thể thấy, thông qua
cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách và cơ chế bổsung từ ngân sách cấp trên cho ngân sách cấp dưới Ngân sách địa phương đượcphân cấp nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và được xác định cụ thể trong
dự toán ngân sách hằng năm
Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thườngxuyên để bố trí cho việc vận hành các công trình khi hoàn thành và đi vào hoạtđộng cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình, làm giảm hiệu quả đầu tư.Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách.Để có nguồn kinh phí hoặc phải
đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trườnghợp đều tạo áp lực bội chi NSNN
Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn
Lý thuyết kinh tế thường không chỉ ra một cách rõ ràng về tác động của chi tiêuchính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên hầu hết các nhà kinh tế đều thốngnhất với nhau rằng, trong một số trường hợp sự cắt giảm quy mô chi tiêu chính phủ
có thể thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, và trong một số trường hợp khác sự gia tăngchi tiêu chính phủ lại có lợi cho tăng trưởng kinh tế Cụ thể, các nghiên cứu đã chỉ
rõ ra rằng nếu chi tiêu chính phủ bằng không sẽ dẫn đến tăng trưởng kinh tế rấtthấp, bởi vì việc thực thi các hợp đồng kinh tế, bảo vệ quyền sở hữu tài sản, pháttriển cơ sở hạ tầng… sẽ rất khó khăn nếu không có chính phủ Nói cách khác, một
số khoản chi tiêu của chính phủ là cần thiết để đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế
17
Trang 18Tuy nhiên, chi tiêu chính phủ - một khi đã vượt quá ngưỡng cần thiết nói trên - sẽcản trở tăng trưởng kinh tế do gây ra sự phân bổ nguồn lực một cách không hiệuquả Đường cong phản ánh mối quan hệ giữa quy mô chi tiêu chính phủ và tăngtrưởng kinh tế đã được xây dựng bởi nhà kinh tế Richard Rahn (1986), và được cácnhà kinh tế sử dụng rộng rãi khi nghiên cứu vai trò của chi tiêu chính phủ đối vớităng trưởng kinh tế Đường cong Rahn hàm ý tăng trưởng sẽ đạt tối đa khi chi tiêuchính phủ là vừa phải và được phân bổ hết cho những hàng hoá công cộng cơ bảnnhư cơ sở hạ tầng, bảo vệ luật pháp và quyền sở hữu Tuy nhiên chi tiêu chính phủ
sẽ có hại đối với tăng trưởng kinh tế khi nó vượt quá mức giới hạn này Tuy cácnhà kinh tế còn bất đồng về con số chính xác nhưng về cơ bản họ thống nhất vớinhau rằng, mức chi tiêu chính phủ tối ưu tối với tăng trưởng kinh tế dao động trongkhoảng từ 15 đến 25% GDP
Điểm tối ưu tăng trưởng trên đường cong Rahn là một trong chủ đề nghiên cứu gâytranh cãi trong nhiều thập niên qua Các nhà kinh tế nói chung kết luận điểm nàynằm trong khoảng từ 15% đến 25% GDP, mặc dù rất có thể những ước tính này làquá cao do những nghiên cứu thống kê bị hạn chế bởi sự sẵn có của số liệu Bảng
18
Trang 191 cho thấy Hồng Kông, Đài Loan, Singapore và Ấn Độ là những nước châu Á cóquy mô chi tiêu chính phủ nhỏ nhất, chỉ chiếm khoảng xấp xỉ 15% GDP Trong khi
đó quy mô chi tiêu ngân sách của Việt Nam đang nằm ở phía bên kia dốc củađường Rahn, chiếm khoảng 30% GDP trong những năm gần đây Tất nhiên thànhtựu kinh tế không chỉ phụ thuộc duy nhất vào chính sách tài khoá Các chính sáchtiền tệ, thương mại, lao động… cũng có vai trò quyết định quan trọng Tuy nhiênđây là một con số đáng ngại đối với tính hiệu quả và mục tiêu thúc đẩy tăng trưởngcủa các khoản chi tiêu công ở Việt Nam
Trang 201.2.1.3 Tác động của thâm hụt ngân sách
tăng trưởng trong dài hạn
- Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với năng lựcđiều hành vĩ mô của chính phủ Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ
vọng của người dân và của các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước
sau gì cũng sẽ phải in thêm tiền để tài trợ thâm hụt
- Thâm hụt ngân sách cao và lâu dài tất yếu dẫn tới việc nhà nước buộc phảiphát hành thêm tiền để tài trợ thâm hụt, và điều này đến lượt nó dẫn tớilạm phát Gia tăng thâm hụt ngân sách sẽ làm tăng nợ quốc gia, khiến sự tăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại
- Thâm hụt còn làm cho các nhà hoạt động chính sách không thể hoặc khôngsẵn sàng sử dụng các gói kích thích tài chính đúng thời điểm
- Để bù lại các khoản thâm hụt chính phủ buộc phải tăng thuế hoặc vay nợthông qua phát hành trái phiếu Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn
thất vô ích về phúc lợi xã hội và các doanh nghiệp phải chịu chi phí lớn
hơn, làm giảm động lực sản xuất và khả năng cạnh tranh Đồng thời mức
tiêu dùng cũng giảm->giảm tổng cầu
- Thâm hụt tài khóa sẽ làm giảm tiết kiệm chính phủ, giảm tiết kiệm quốc gia,
do vậy làm giảm cung và làm tăng lãi suất vốn vay trên thị trường Sự gia tăngcủa lãi suất cuối cùng sẽ làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân Đây chính là hiệu ứng lấn át đầu tư tư nhân của chi tiêu công
20
Trang 211.2.2 Khung phân tích
Ban đầu các mô hình tăng trưởng tân cố điển như Solow (1956) và Swan(1956) không tính đến vai trò của chính phủ và do vậy không thể trực tiếp phân tíchhiệu ứng của chính sách tài khoá đối với tăng trưởng Tốc độ tăng trưởng trong dàihạn của nền kinh tế hoàn toàn được quyết định bởi tốc độ tăng của các biến ngoạisinh như dân số hay tiến bộ công nghệ Theo thời gian, nhiều nhà kinh tế đã cốgắng đưa vai trò của chính sách tài khoá vào các mô hình tăng trưởng tân cổ điển
Ví dụ điển hình như Arrow và Kurz (1969), Fisher và Turnovsky (19980, nhiềunghiên cứu thực nghiệm cũng được thực hiện bởi nhiều nhà kinh tế như Aschauer(1989), Barro (1990, 1991), Easterly và Rebelo (1993), Grier và Tullock (1987),Summers và Heston (1988) và nhiều bài báo khác Nói chung, hầu hết các bài báođều cho thấy sự gia tăng đầu tư công có tác động tích cực đối với tăng trưởng kinhtế; trái lại, sự gia tăng tiêu dùng chính phủ có thể làm giảm tăng trưởng kinh tế.Các số liệu thống kê cho thấy chi tiêu ngân sách của Việt Nam trong những nămgần đây có xu hướng tăng nhanh và chiếm một tỷ trọng lớn trong GDP Trong năm
2000 và 2006, tỷ trọng chi tiêu ngân sách của Việt Nam so với GDP lần lượt chiếm23,36% và 29,79%, trong khi con số này của Thailand là 17,33% và 16,38%, củaIndonesia là 15,83% và 20,07%, và của China là 16,29 và 19,20%.1 Cùng với sựgia tăng chi tiêu ngân sách là sự gia tăng sức ép thâm hụt ngân sách và lạm phát
Do vậy một trong những nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho các nhà hoạch định chínhsách trước khi tiến hành các chương trình cải cách cơ cấu chi ngân sách là phảiđánh giá được tầm quan trọng hay hiệu quả tương đối của các khoản chi tiêu khácnhau đối với tăng trưởng kinh tế và công cuộc xoá đói giảm nghèo ở Việt Nam