Nói cáchkhác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được nhu cầuchi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củamình và chị
Trang 1ỜI MỞ ĐẦU
Đối với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn nhất định trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh
tế, Nhà nước có lúc cần huy động nhiều hơn nguồn lực từ trong và ngoài nước Nói cáchkhác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được nhu cầuchi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ củamình và chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó - thường được gọi là nợ công.Tại Việt Nam, nợ công có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Lànguồn tài trợ hàng đầu cho đầu tư phát triển kinh tế của đất nước thông qua ngân sáchNhà nước (NSNN) và là nguồn cung cấp vốn đứng thứ 2 của nền kinh tế với tỷ trọng vốn
16 - 17% vốn đầu tư toàn xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cuộc khủng hoảngtài chính toàn cầu, nợ công khu vực đồng tiền chung châu Âu và những khó khăn nội tạicủa nền kinh tế trong nước đã có ảnh hưởng nhất định đến tình hình nợ công của ViệtNam cả về quy mô, cơ cấu, nghĩa vụ trả nợ và các chỉ số an toàn nợ công
Chính vì lẽ đó nhóm lựa chọn đề tài : Quy mô và cơ cấu nợ công của Việt Nam trong giaiđoạn 2006-2017 để nghiên cứu Đề tài được chia thành ba chương :
- Chương 1: Nợ công và những vấn đề liên quan
- Chương 2: Quy mô và nợ công Việt Nam từ 2006-2017
- Chương 3: Giải pháp xây dựng quy mô và cơ cấu nợ công hợp lý để phát triển bền vữngTrong phạm vi hẹp của một đề tài tiểu luận không tránh khỏi những thiếu sót về nội dung,rất mong nhận được sự quan tâm góp ý của cô
Chúng em xin chân thành cảm ơn
Trang 2
Trang 2MỤC LỤC
TRANG BÌA 1
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG I: NỢ CÔNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN 5
1.1 Tổng quan chung 5
1.1.1 Khái niệm về nợ công 5
1.1.2 Đặc điểm của nợ công 6
1.2 Nhân tố tác động đến quy mô và cơ cấu nợ công 7
1.2.1 Nhân tố ảnh hưởng 7
1.2.2 Nhóm các yếu tố khác 9
1.3 Chỉ tiêu đánh giá quy mô và cơ cấu nợ công 9
1.4 Tác động của quy mô và cơ cấu nợ công đến tính bền vững của nợ công và nền kinh tế 10
1.4.1 Tác động tích cực 10
1.4.2 Tác động tiêu cực 10
1.5 Tình hình nợ công của một số quốc gia trên thế giới 10
CHƯƠNG II: QUY MÔ VÀ CƠ CẤU NỢ CÔNG VIỆT NAM 2006-2017 15
2.1 Năm 2006-2009 15
2.1.1 Quy mô: 15
2.1.2 Cơ cấu 16
2.2 Năm 2010: 19
2.2.1 Quy mô 19
2.2.2 Cơ cấu 20
2.3 Năm 2011: 22
2.3.1 Quy mô 22
2.3.2 Cơ cấu: 22
2.4 Năm 2012 25
2.4.1 Quy mô 25
2.4.2 Cơ cấu 26
2.5 Năm 2013 28
Trang 3Trang 3
Trang 42.6 Năm 2014 31
2.6.1 Quy mô 31
2.6.2 Cơ cấu nợ công 32
2.7 Năm 2015 35
2.7.1 Quy mô 35
2.7.2 Cơ cấu nợ công 36
2.8 Năm 2016 38
2.8.1 Quy mô 38
2.8.2 Cơ cấu nợ công 38
2.9 Năm 2017 ( dự báo) 40
2.9.1 Quy mô 40
2.9.2 Cơ cấu nợ công 41
2.10 Đánh giá thay đổi quy mô và cơ cấu nợ công Việt Nam giai đoạn 2006-2017 41 2.10.1 Về quy mô 41
2.10.2 Về cơ cấu 42
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP XÂY DỰNG QUY MÔ VÀ CƠ CẤU NỢ CÔNG VIỆT NAM ĐỂ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG 45
3.1 Phương hướng, Nghị quyết của Chính phủ 45
3.2 Đề xuất giải pháp 46
KẾT LUẬN 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51
Trang 5sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợcông hoàn toàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của mộtquốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổ
chức, cá nhân) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi.
Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công, theo nghĩa rộng,
là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ Trung ương, cáccấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập ( nguồn vốnhoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nướcgồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ củacác tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán
Theo khoản 2, Điều 1 Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12, nợ công của Việt Nam bao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương,
trong đó, nợ chính phủ bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài Theo đó:
Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoảnvay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định củapháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trựcthuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành Như vậy, các khoảnvay như vay vốn ODA, phát hành trái phiếu chính phủ (trong cũng như ngoàinước), trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoàiđược chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công
Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Nam được đánh giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế
Trang 5
Trang 6Một cách khát quát nhất, có thể hiểu “nợ công ( nợ Chính phủ hay nợ quốc gia) là tổnggiá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ Trung ương đến địa phương đi vaynhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách” Vì thế, nợ Chính phủ, nói cách khác, làthâm hụt ngân sách lũy kế tính đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợChính phủ, người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổngsản phẩm quốc nội (GDP).
b Nguồn gốc của nợ công
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của chính phủ lớn hơn
số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoài nước) để trang trảithâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước
sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thờigian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất làcách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạtđộng chi ngân sách Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế hệphải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế) Hầu hết bất kì quốc gia nàocũng phải chi tiêu cho những việc phục vụ lợi ích của nước nhà như các công trình côngcông, các dịch vụ điện đường trường trạm…Hay khi các doanh nghiệp rơi vào tình trạngphá sản, Nhà nước cũng phải có những chính sách ưu đãi giảm thuế hay hỗ trợ kinh phícho các doanh nghiệp Tất cả những chi tiêu đó đều phải lấy từ ngân sách nhà nước Khingân sách không đủ buộc chính phủ phải đi vay Nó hình thành nên nợ công ở các nước,đặc biệt là những nước nghèo
1.1.2 Đặc điểm của nợ công
Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhànước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy.Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trực tiếp và trả nợgián tiếp
Trả nợ trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do
đó, cơ quan nhà nước sẽ chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay
Trả nợ gián tiếp là trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh đểmột chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì tráchnhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh
Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhànước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảmbảo hai mục đích:
Trang 6
Trang 7Một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa làđảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia.
Hai là, đề đạt được những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việcquản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội.Nguyên tắc quản lý nợ công Việt Nam là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công
từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu cơbản trên
Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế - xãhội vì lợi ích cộng đồng Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãnnhững lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của cộngđồng Ở Việt Nam, xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi íchchung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản
nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích của nhân dân, cụ thể là đề phát triểnkinh tế - xã hội của đất nước và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất
1.2 Nhân tố tác động đến quy mô và cơ cấu nợ công
1.2.1 Nhân tố ảnh hưởng
a Nhóm các yếu tố kinh tế vĩ mô
Nợ công và các yếu tố kinh tế vĩ mô có mối quan hệ với nhau
Các yếu tố tác động đến nợ công bao gồm thâm hụt NSNN, tăng trưởng GDP thực tế, lãi suất thực tế, tỷ giá và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác
Thâm hụt ngân sách
Cân đối NSNN là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nợ công Từ bản chất nợ công có thểthấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trị tuyệt đối của nợ chính phủ Nếu NSNNthâm hụt cơ bản, nhu cầu vay nợ của Nhà nước sẽ gia tăng và làm trầm trọng thêm tìnhhình nợ công Ngược lại, nếu NSNN thặng dư cơ bản, nhu cầu vay nợ giảm hoặc Chínhphủ có thêm nguồn tài chính để mua lại trái phiếu chính phủ (TPCP) trước hạn làm chomức nợ công giảm xuống
Thâm hụt ngân sách là nguyên nhân của nợ nước ngoài tăng nhanh;“Nợ trong nước là mộttrong những cách ngắn hạn để tài trợ thâm hụt tài khóa Phương pháp này giúp Chính phủ
bù đắp được thâm hụt mà không ảnh hưởng đến dự trữ và cung tiền, nhưng cũng khiếntăng thâm hụt ngân sách theo thời gian do gia tăng nghĩa vụ nợ”; tỷ lệ thâm hụt NSNN và
tỷ lệ nợ công có mối quan hệ cùng chiều
Lãi suất thực tế
Sự biến động của lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản nợ công
có lãi suất thả nổi và những khoản vay mới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãi suất thả nổi
Trang 7
Trang 8trong tổng nợ càng cao thì sự ảnh hưởng của lãi suất đến nợ công càng lớn Mặt khác,ngay cả những khoản vay có lãi suất cố định thì sự biến động của lãi suất thị trường cũng
sẽ ảnh hưởng đến giá cả của các công cụ nợ, nghĩa là, gián tiếp ảnh hưởng tới quy mô nợcông Bởi khi lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ (trả lãi và phí) tăng lên, các khoản vay củaChính phủ sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn, làm gia tăng nợ công
Tăng trưởng GDP thực tế
Trong thời kỳ kinh tế mở rộng, tăng trưởng GDP thực tế cao, các khoản vay của Chínhphủ sẽ trở nên dễ dàng hơn, điều này làm cho lãi suất thực tế giảm và tăng trưởng kinh tếnhanh góp phần củng cố nguồn thu NSNN, cải thiện cân đối tài khóa cơ bản Ngược lại,trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm, làm các chỉ tiêu kinh tế xấu đi và điềunày cũng làm gia tăng chỉ tiêu nợ công trên GDP (Marek, 2014)
Tỷ giá
Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ, do đó, sựbiến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nợ công Nếu nợ vay bằng ngoại tệ, đặcbiệt là những ngoại tệ có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thì ảnh hưởng của sựbiến động tỷ giá đến nợ công càng lớn
Các yếu tố kinh tế vĩ mô khác
Đánh giá nợ công phải đặt trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, ngoài các yếu
tố cơ bản gồm thâm hụt ngân sách, tăng trưởng kinh tế, lãi suất thực tế và tỷ giá nêu trên,cần phải xem xét thêm các yếu tố khác như lạm phát, mức độ thâm hụt cán cân vãng lai,mức độ thâm hụt cán cân thương mại, dòng vốn vào (như vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- FDI, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài - FPI, vốn hỗ trợ phát triển chính thức - ODA…),năng suất lao động tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), độ mở của nềnkinh tế… để dự báo và đảm bảo nguồn lực thanh toán nghĩa vụ nợ Ngoài ra, chính sáchquản lý kinh tế vĩ mô và quản lý nợ công có ảnh hưởng tới nợ công Nợ công không được
cơ cấu tốt về thời hạn, lãi suất, đồng tiền vay nợ có thể làm tăng quy mô, rủi ro và nghĩa
vụ nợ Ngược lại, chính sách quản lý nợ công tốt có thể kiểm soát được rủi ro và quy mô
nợ Điều này một mặt làm giảm thiểu rủi ro và chi phí trong quản lý nợ công trung và dàihạn; mặt khác giúp Chính phủ có sự chủ động trong tài trợ chi tiêu của mình
Sachs và Larrain (1993) chỉ ra rằng, thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụt ngân sách làmgia tăng nợ công: “Thâm hụt tài khoản vãng lai trong những năm 1980 đã khiến Hoa Kỳ từ vịtrí của một chủ nợ trở thành con nợ lớn nhất thế giới” Alfaidi (2002) xem xét các yếu tố tácđộng đến nợ nước ngoài của các nước đang phát triển bao gồm các yếu tố bên trong và bênngoài Trong đó, các yếu tố bên trong bao gồm đầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội,hiệu quả sử dụng vốn, thâm hụt cán cân thanh toán; các yếu tố bên ngoài bao gồm lãi suất,giá dầu và các nguyên liệu thô khác Pirtea, Nicolescu và Mota (2014) cho rằng, FDI
Trang 8
Trang 9là một yếu tố tác động đến nợ công do FDI làm tăng năng suất lao động và làm giảm tỷ lệ
nợ công trên GDP Akitoby, Komatsuzaki và Binder (2014) cho rằng, lạm phát cao có thểgiảm nợ công do lạm phát làm giảm giá trị của các khoản nợ
1.2.2 Nhóm các yếu tố khác
Về cơ cấu nợ: nợ nước ngoài trong tổng số nợ công
Cơ cấu nợ công gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính
quyền địa phương Trong nợ Chính phủ gồm nợ nước ngoài và nợ trong nước Nợ nướcngoài và nợ trong nước của Chính phủ thông qua việc phát hành trái phiếu Chính phủ cùng với việc thu hút vốn ODA từ nước ngoài
1.3 Chỉ tiêu đánh giá quy mô và cơ cấu nợ công
Theo nhiều chuyên gia, quy mô nơ ̣công thưc ̣ tếcóthểcao hơn so với mức công bốdo cách thức xác định nợ công của Việt Nam và một số tổ chức quốc tế có sự khác biệt Cu ̣thể, nơ ̣ công theo tiêu chuẩn ViêṭNam dựa trên nguyên tắc: Trách nhiêṃ thanh toán thuôc ̣ vềchủ thểđi vay; còn nợ công theo tiêu chuẩn quốc tếđươc ̣ xác đinḥ trên cơ sở: Chủsởhữu thưc ̣ sư
̣hay pháp nhân đứng sau chủthểđi vay phải cótrách nhiêṃ thanh toán Theo đó, nơ ̣công theo tiêu chuẩn quốc tếse ̃bằng nơ ̣công theo tiêu chuẩn ViêṭNam công ̣ với nợ của: Ngân hàng Nhà nước, các doanh nghiệp nhà nước, tổ chức bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội và một số địa phương
Theo thông lệ quốc tế, ngưỡng nơ ̣công tối ưu (nhằm đảm bảo nợ công là động lực giúptăng trưởng kinh tế) thông thường cho các nước phát triển là90%, các nước đang phát triểncónền tảng tốt là60% vàcónền tảng kém là30 - 40% Vì vậy, mức ngưỡng nợ công/GDPđược Quốc hội đề ra 65% là phù hợp với thông lệ quốc tế; và việc vươṭ ngưỡng tối ưu cóthểtiềm ẩn rủi ro
Nếu chỉ số nợ công/GDP của một quốc gia thể hiện quy mô nợ công so với quy mô củanền kinh tế thì chỉ số nợ công trên bình quân đầu người thể hiện trung bình mỗi người dâncủa quốc gia này đang gánh bao nhiêu nợ
Đối với các chỉ tiêu đánh giá về quy mô nợ, ngoài chỉ số nợ công/GDP nêu trên, còn cóchỉ số nợ chính phủ/GDP, nợ nước ngoài của quốc gia/GDP
Cơ cấu nợ hàm chứa những thông tin quan trọng về mức độ rủi ro của việc vay nợ Thôngthường rủi ro sẽ cao khi tỷ trọng nợ ngắn hạn, tỉ lệ nợ thương mại và tỉ lệ nợ song phươngcao
Trang 9
Trang 101.4 Tác động của quy mô và cơ cấu nợ công đến tính bền vững của nợ công và
tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế
Nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân cư Một bộphận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ
mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tếcho cả khu vực công lẫn khu vực tư
1.4.2 Tác động tiêu cực
Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoản tài trợngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chế giám sát chặtchẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng tham nhũng, lãng phí trànlan Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quả đầu tư và điều quantrọng hơn là giảm thu cho ngân sách
Nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân (private saving), dẫn đến hiện tượng thoái luiđầu tư tư nhân Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tíchlũy vốn tư nhân sẽ được thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ Thay vì sở hữu cổ phiếu, tráiphiếu doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu trái phiếu chínhphủ làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của chính phủ lại tăng lên, từ đó đẩylãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫn đến hiện tượng “thoái lui đầu tư” khu vực
tư nhân (crowding-out effect)
Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách "thắt lưng buộcbụng" để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cầnthiết từ các tổ chức tín dụng quốc tế, thế nhưng, "thắt lưng buộc bụng" lại dẫn tới nhữngcuộc biểu tình phản đối của quần chúng, gây căng thẳng, bất ổn chính trị, xã hội, bởinhững người nghèo, những người yếu thế trong xã hội là những người bị tác động mạnhnhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu của chính phủ
1.5 Tình hình nợ công của một số quốc gia trên thế giới
Nhằm tận dụng nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân, sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chứctài chính quốc tế, các quốc gia huy động và sử dụng nợ công để phục vụ cho công cuộcphát triển kinh tế-xã hội
Trang 10
Trang 11Như vậy, vay nợ để đầu tư cho tăng trưởng kinh tế là điều bình thường nhưng nợ baonhiêu là an toàn lại là một bài toán khó giải Nền kinh tế Hy Lạp đã lao đao khi nợ côngcủa nước này ở mức cao trên 100% GDP, trong khi Nhật Bản vẫn “ung dung” với mức nợcông cao nhất trong số các nước phát triển.
Trong lịch sử nợ công thế giới có hai cuộc khủng hoảng nợ công lớn đáng chú ý, trong đócuộc khủng hoảng nợ công tại Eurozone đến nay vẫn chưa có hồi kết Cuộc khủng hoảngnày xảy ra ngay sau giai đoạn bùng nổ tín dụng, lãi suất cho trích lập rủi ro thấp, dư thừathanh khoản, đòn bẩy tài chính cao và bong bóng bất động sản Một nguyên nhân khác làtình trạng tăng chi hoặc giảm thu ngân sách thiếu kiểm soát của các nước Eurozone, màsâu xa hơn là do chính sách tài khóa của các nước chưa hài hòa và thiếu cơ chế phối hợpứng phó
Theo các chuyên gia, nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu là do chínhsách tài khóa thiếu bền vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ của các quốc gia Một ví dụ
cụ thể là Hy Lạp, kể từ khi gia nhập Eurozone vào năm 2001 đến khủng hoảng tài chính năm
2008, thâm hụt ngân sách của nước này trung bình khoảng 5% GDP/năm, so với mức 2%GDP của Eurozone, và Hy Lạp đã không thể duy trì được thâm hụt ngân sách và nợ nướcngoài theo quy định của EU Tuy vậy, Hy Lạp không phải là quốc gia duy nhất vì hầu hếttrong số 28 thành viên EU đều không đạt được cam kết này vào thời điểm đó
Trước đó, cuộc khủng hoảng nợ diễn ra ở các quốc gia Mỹ Latinh trong những năm 1970
và 1980 được coi là thảm họa lớn nhất kể từ sau Đại khủng hoảng hồi thập kỷ 1930 vàđây cũng là cuộc khủng hoảng nợ công đầu tiên trong lịch sử kinh tế hiện đại Cuộckhủng hoảng bắt đầu từ Mexico (1982) khi nước này tuyên bố vỡ nợ, sau đó hầu hết cácquốc gia trong khu vực (gồm Argentina, Bolivia, Brazil và Ecuador) cũng đều khôngtránh khỏi vòng xoáy đó
Mỹ luôn được xem nước dẫn đầu về nền kinh tế nhưng Mỹ cũng không tránh khỏi cuộckhủng hoảng về nợ công.Theo những số liệu mới nhất thì tổng số nợ lên tới 13.000 tỷ USD,chiếm khoảng 93% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và theo đánh giá của các chuyên gia thì
Ở khu vực Châu Âu điển hình của khủng hoảng nợ công là đất nước Hy Lạp.Khi mà mứctăng trưởng vẫn chỉ đạt âm thì tổng số nợ công đã chiếm 124% GDP.Tình hình kinh tế ởquốc gia này vẫn đang rất bất ổn khi mà chưa tìm được lối thoát hợp lý cho quốc gia khỏicơn khủng hoảng thì họ vẫn tiếp vay vốn của ngân hàng thế giới để khôi phục nợ côngchưa biết hiệu quả ra sao nhưng con số nợ công chắc hẳn sẽ vẫn tiếp tục tăng lên
Cùng với đó là quốc gia đang là nền kinh tế thứ 2 thế giới chính Trung Quốc cũng như Mỹkhông thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng này.Trung Quốc cũng được biết đến ông chủ củanhiều quốc gia nhưng con số nợ công của quốc gia cũng không nhỏ khi mà chính quyền ở
Trang 12các địa phương đã vay mượn tổng cộng trên 11 nghìn tỷ nhân dân tệ (tương đương với1,68 nghìn tỷ USD Mỹ) từ năm 2004 cho tới cuối năm ngoái.Cùng với đó là các khoản nợchưa được thanh toán làm thâm hụt ngân sách Nhà nước.
Còn rất nhiều quốc gia trên thế giới cũng chịu cuộc khủng hoảng nay song đây là 3 quốctiêu biểu đại diện cho 3 châu lục khác nhau được giới chuyên gia đánh giá nhiều tới
Ở các nước đang phát triển, trong điều kiện khu vực kinh tế tư nhân còn nhỏ, không đủ
năng lực để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thì kinh tế nhà nước có vai trò đặc biệt quantrọng Để đạt được tốc độ phát triển nhanh, chính phủ các nước đang phát triển thường sửdụng chính sách tài khoá mở rộng, tăng chi tiêu chính phủ, giảm thuế sẽ kích thích tổngcầu tăng, đẩy mạnh sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, thực hiện chínhsách tài khoá mở rộng đồng nghĩa với việc gia tăng thâm hụt ngân sách, chính phủ phảivay nợ để bù đắp thâm hụt Việc sử dụng chính sách tài khoá mở rộng trong thời gian dài
sẽ làm gánh nặng nợ lớn dần lên Trong trường hợp tốc độ tăng thu ngân sách không theokịp với tốc độ tăng của các nghĩa vụ trả nợ, chính phủ buộc phải sử dụng biện pháp vaymới để trả nợ cũ Tình trạng này kéo dài sẽ dẫn tới nguy cơ mất khả năng trả nợ của chínhphủ, nếu tổng số nghĩa vụ nợ phải trả vượt quá khả năng thu của ngân sách
Nhìn chung, trang trải thâm hụt ngân sách bằng vay trong nước hay vay nước ngoài đều cónhững ảnh hưởng bất lợi tới môi trường kinh tế vĩ mô Ở các nước đang phát triển, thâm hụtngân sách thường được tài trợ bằng một giải pháp hỗn hợp giữa vay trong nước và vay nướcngoài Kết cấu hỗn hợp này phụ thuộc vào khả năng huy động nguồn vốn trong nước, lãi suất
và các điều kiện vay nước ngoài Trong trường hợp thâm hụt ngân sách được tài trợ bằng vốnvay trong nước, khi đó một phần nguồn lực tài chính của nền kinh tế sẽ được chuyển dịch từkhu vực tư nhân sang khu vực nhà nước thông qua kênh trái phiếu chính phủ Việc huy độngnày sẽ tác động đến thị trường vốn nói chung, làm tăng cầu tín dụng, đẩy lãi suất lên cao Lãisuất tăng đến lượt nó làm tăng chi phí đầu tư, giảm nhu cầu đầu tư của nền kinh tế, có thể dẫnđến “hiệu ứng kéo lùi đầu tư” (crowding-out effect) Trong trường hợp thâm hụt được tài trợbằng vay nước ngoài, tác động kéo lùi đầu tư có thể được hạn chế, do chính phủ sử dụng cácnguồn lực bổ sung từ bên ngoài thay vì dùng các nguồn lực của khu vực tư nhân trong nước.Việc sử dụng một phần vốn vay nước ngoài để tài trợ cho thâm hụt ngân sách có thể làmgiảm bớt căng thẳng trên thị trường tín dụng trong nước, qua đó giảm bớt các yếu tố bất ổntrong nền kinh tế Tuy nhiên, vay nước ngoài lại có những tác động khác nguy hại đến nềnkinh tế Trong thời gian đầu, một dòng ngoại tệ lớn chảy vào trong nước sẽ làm giảm sức épcân đối ngoại tệ Mặc dù sẽ có những tác động nhất định lên tỷ giá hối đoái theo hướng làmtăng giá đồng nội tệ và ảnh hưởng đến cán cân thương mại, song những tác động này chỉtrong ngắn hạn Trong trung và dài hạn, việc chính phủ phải cân đối nguồn ngoại tệ trả nợ gốc
và lãi sẽ đẩy nhu cầu ngoại tệ tăng cao, làm giảm giá đồng nội tệ, tăng chi phí nhập khẩu máymóc thiết bị và nguyên liệu (thường chiếm tỷ
Trang 13trọng lớn ở các nước đang phát triển), tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế, dẫn tới cácnguy cơ lạm phát Tỷ giá tăng cao sẽ làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, cànglàm tăng nguy cơ vỡ nợ, nếu như quy mô nợ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách nhànước Xét về mặt này, vay trong nước an toàn hơn vay nước ngoài, vì trong trường hợpgánh nặng nợ trong nước vượt quá khả năng thu ngân sách, chính phủ vẫn còn mộtphương sách cuối cùng là phát hành tiền để trang trải các khoản nợ và chấp nhận các rủi
ro về tăng lạm phát, trong khi không thể làm như vậy đối với các khoản nợ nước ngoài.Bên cạnh những hậu quả về mặt kinh tế, chính sách tài khoá không bền vững và nhữngnguy cơ vỡ nợ có thể sẽ đưa quốc gia đó tới nguy cơ suy giảm chủ quyền chính trị, khiphải chịu những áp lực to lớn từ phía các chủ nợ và các tổ chức tài chính quốc tế nhằm cải
tổ lại các thể chế kinh tế theo hướng tự do hoá Bài học của Agentina năm 2001 cho thấymột ví dụ cụ thể về những tác động chính trị khi một quốc gia lâm vào tình trạng tuyên bốchậm nợ Thông thường, đó là những sức ép về việc thắt chặt chi tiêu, tăng thuế khoá,giảm trợ cấp xã hội, và đi xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộmáy quản lý, thay đổi các định hướng kinh tế theo hướng tự do hoá nhiều hơn Ngoài ra,việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoản vay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế chínhtrị của quốc gia trong các mối quan hệ song phương cũng như đa phương với các đối tác
là các nước chủ nợ
Để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỷ lệ nợ công/GDP được coi là chỉ số đánh
giá phổ biến nhất cho cái nhìn tổng quát về tình hình nợ công của một quốc gia, đánh giá mức
an toàn của nợ công Mức độ an toàn được thể hiện qua việc nợ công có vượt ngưỡng an toàntại một thời điểm hay giai đoạn nào đó Để bảo đảm an toàn của nợ công, các nước thường sửdụng các tiêu chí sau làm giới hạn vay và trả nợ: Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá50% - 60% GDP hoặc không vượt quá 150% kim ngạch xuất khẩu Thứ hai, dịch vụ trả nợcông không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ trả nợ của chính phủ không vượtquá 10% chi ngân sách Ngân hàng Thế giới cũng đưa ra mức quy định ngưỡng an toàn nợcông là 50% GDP Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp cácnước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP Tuy nhiên, trên thực tế không có hạn mức antoàn chung cho các nền kinh tế; không phải tỷ lệ nợ công trên GDP thấp là trong ngưỡng antoàn và ngược lại Mức độ an toàn của nợ công phụ thuộc vào tình trạng mạnh hay yếu củanền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Chẳng hạn, Hoa Kỳ có tỉ lệ nợ bằng96% GDP, nhưng vẫn được xem là ở ngưỡng an toàn bởi năng suất lao động cao nhất thế giới
là cơ sở đảm bảo bền vững cho việc trả nợ Nhật Bản có số nợ tương đương với 200 % GDPvẫn được coi là ở ngưỡng an toàn Trong khi đó, nhiều nước có tỷ lệ nợ trên GDP thấp hơnrất nhiều nhưng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như: Venezuela năm 1981 tỷ lệ đó là15% GDP, tương tự với Thái Lan năm 1996; trường hợp Argentina năm 2001 là 45% GDP;Ukraina năm 2007 chỉ với 13 % GDP và Rumani là 20% GDP Mới đây là trường hợp của HyLạp với tỷ lệ nợ lên đến 113,5 %
Trang 14GDP, Ireland ước khoảng 98,5 % GDP Chính vì vậy, để xác định, đánh giá đúng đắnmức độ an toàn của nợ công, không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ trên GDP, mà cần phảixem xét nợ công một cách toàn diện trong mối liên hệ với hệ thống các chỉ tiêu kinh tế vĩ
mô của nền kinh tế quốc dân, nhất là: tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suấtlao động tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỉ lệ thâm hụt ngân sách,mức tiết kiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội Bên cạnh đó, những tiêu chí như: cơcấu nợ công, tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần được phântích kỹ lưỡng khi đánh giá tính bền vững nợ công
Vậy còn tại Việt Nam, câu chuyện về nợ công đang diễn ra như thế nào? Chương 2 sẽ tiếnhành phân tích cụ thể vấn đề quy mô và cơ cấu nợ công Việt Nam trong giai đoạn từ năm2006-2017
Trang 15CHƯƠNG II: QUY MÔ VÀ CƠ CẤU NỢ
CÔNG VIỆT NAM 2006-2017
Theo khoản 2, Điều 1 Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12, nợ công của Việt Nambao gồm: nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ chính quyền địa phương, trong
đó, nợ chính phủ bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài Nợ chính phủ là khoản nợphát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danhNhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, pháthành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồmkhoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệtrong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chứctài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyềnđịa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết,phát hành hoặc uỷ quyền phát hành
Tuy nhiên để có thể nhìn nhận và đánh giá cơ cấu nợ công Việt Nam một cách chính xácnhất, đề tài dựa theo cách phân loại cơ cấu nợ công chủ yếu theo hai hình thức như sau:
Theo nguồn hình thành
Theo phương thức huy động
Theo cách phân loại này sẽ giúp đánh giá rõ nét hơn mức độ bền vững và an toàn của nợcông Việt Nam
2.1 Năm 2006-2009
2.1.1 Quy mô:
Tình hình kinh tế vĩ mô giai đoạn 2006-2009 như sau: Các cân đối kinh tế vĩ mô cơ bản ổnđịnh, lạm phát được kiềm chế trong những năm cuối kỳ kế hoạch Tỷ lệ huy động vào ngânsách nhànước bình quân 5 năm ở mức khoảng 28% GDP, bội chi ngân sách bình quân chỉ5,7% An ninh tài chính quốc gia được bảo đảm Dư nợ ngoài nước của quốc gia so GDP ởmức an toàn cho phép Chính sách tiền tệ điều hành linh hoạt theo nguyên tắc thị trường, gópphần tích cực vào việc kiềm chế lạm phát, thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế vĩ mô Hệthống ngân hàng thương mại có sự phát triển cả về quy mô và chất lượng tín dụng; tỷ lệ antoàn vốn tối thiểu của hầu hết các ngân hàng đều đạt chuẩn mực quốc tế trên 8%
Theo số liệu của Bộ Tài chính, năm 2006 nợ công của nước ta rơi vào khoảng 24 tỷ USD, chiếm 44.5% GDP Mức nợ công trên đầu người năm 2006 là 291.68 USD/người/năm Còn năm 2009, nợ công là 49,4% GDP
Nợ công trong giai đoạn này được biểu diễn bằng đường gấp khúc Nợ công có xu
hướng tăng chậm tuy nhiên mức nợ đã tiệm cận giới hạn 50% GDP và có khả năng vượt
Trang 15
Trang 16qua giới hạn này trong năm tiếp theo 2010-2020 khi nhu cầu về vốn phục vụ cho quá trìnhcông nghiệp hóa phát triển đất nước là rất lớn.
Nếu so sánh với một số nước gặp khủng hoảng nợ công như Hy Lạp, Tây Ban Nha, BồĐào Nha hoặc Mỹ thì tình hình nợ công của Việt Nam vẫn được đánh giá là an toàn.Trong khu vực châu Á, Việt Nam là nước có tỷ lệ nợ công/ GDP cao hơn nhiều so vớiTrung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Philippines
2.1.2 Cơ cấu
Theo nguồn hình thành
Trong giai đoạn 2006-2010, nợ nước ngoài có xu hướng tăng, nhưng không tăng nhanh bằng tốc độ tăng nợ công Cụ thể:
Trang 17Biểu đồ: Tình hình nợ công trong nước và nợ nước ngoài Việt
Namgiai đoạn 2006-2010
Nợ nước ngoài ( Tỷ USD) Nợ trong nước ( Tỷ USD)
Con số nợ nước ngoài đã tăng cả về tuyệt đối lẫn tương đối so với năm 2009, khi tổng dư
nợ nước ngoài là 27,92 tỷ USD, chiếm 39% GDP Và con số này cũng khác xa con số dựkiến trong Quyết định số: 527/QĐ-TTG về Tổng số dư nợ cuối kỳ là 35,9 tỷ USD tươngứng 30,5%GDP
Con số dư nợ nước ngoài không theo tốc độ tịnh tiến đều Năm 2007 tăng thêm khoảng3,6 tỷ USD; 2008 khoảng 2,6 tỷ USD; 2009 trên 6,1 tỷ USD
Có điểm trùng hợp là ở những giai đoạn thị trường ngoại hối xuất hiện căng thẳng, hiệpđịnh vay vốn nước ngoài thường được thông qua Năm 2009 dự trữ ngoại hối ghi nhận sựsụt giảm lớn, thâm hụt tới 8,8 tỷ USD Ngoài ra còn có sự đánh đổi giữa tăng trưởng đạtthấp trong năm 2009 ( 6,78%) với những rủi ro tăng lên cùng khối nợ nước ngoài nở rộngnhanh
Tuy nhiên, về tổng thể cơ cấu nợ nước ngoài của Việt Nam tương đối ổn định, đồng tiền
nợ chủ yếu là đồng Yên và SDR là những đồng tiền tương đối ổn định nên khả năng gặprủi ro tỷ giá là ít, nợ trong nước đang có xu hướng tăng thay thế vị trí số một của vốnnước ngoài
Nguồn: Bộ Tài chính, Bản tin nợ nước ngoài số 7, tháng 7/2011
Theo phương thức huy động các khoản nợ
Trang 17
Trang 18 Các khoản nợ huy động bằng phát hành trái phiếu Chính phủ
Năm 2006 phát hành 15.500 tỷ đồng trái phiếu chính phủ với các kỳ hạn 5 năm, 7 năm,
Nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ ODA
Nợ nước ngoài và nợ trong nước của Chính phủ có xu hướng gia tăng, việc phát hành tráiphiếu chính phủ thành công cùng với việc thu hút vốn ODA từ nước ngoài làm cho tổngmức nợ nước ngoài của chính phủ tăng lên trung bình đạt 30% GDP trong suốt giai đoạn
Cấu trúc nợ công nước ngoài của Việt Nam, giai đoạn 2006-2009
Nguồn: Bộ Tài chính, Bản tin nợ nước ngoài số 7, tháng 7/2011
Cơ cấu nợ công của Việt Nam năm 2006 – 2009 gồm nợ chính phủ chiếm 78,1%, còn lại
là nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Trong nợ chính phủ, nợnước ngoài chiếm 61,9%, nợ trong nước chiếm 38,1% Trong nợ nước ngoài, ODA chiếm
tỷ trọng lớn Cụ thể năm 2009, nợ công của Việt Nam gồm nợ chính phủ chiếm 79,2%, nợđược chính phủ bảo lãnh chiếm 17,6% và nợ chính quyền địa phương chiếm 3,1%, trong
nợ chính phủ, nợ nước ngoài chiếm 60%, trong đó có 85% là ODA
Theo báo cáo kiểm toán năm 2010 về niên độ ngân sách 2009, đến 31/12/2009, dư nợ củaChính phủ ở mức 705.000 tỷ đồng, tương đương 42% GDP năm 2009, nếu tính cả nợ tráiphiếu của Ngân hàng phát triển Việt Nam và Ngân hàng chính sách xã hội, dư nợ Chính
Trang 18
Trang 19phủ so với GDP năm 2009 là 56.5% Dư nợ nước ngoài của quốc gia ở mức 36.5 tỷ USD,chiếm 39% GDP năm 2009.
2.2 Năm 2010:
2.2.1 Quy mô
Theo báo cáo của Cục quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, tính đến ngày 31/12/2010, tổng
số dư nợ công ở mức 1.122 nghìn tỷ đồng, tương đương 56.7% GDP
Theo The Economist Intelligence Unit, nợ công của Việt Nam năm 2001 mới là 11,5 tỷ USD,tương đương 36% GDP, bình quân mỗi người gánh số nợ công xấp xỉ 144 USD Nhưng tínhđến hết năm 2010, nợ công đã tăng lên 55.2 tỷ USD, tương đương 54,3% GDP và được xếpvào nhóm nước có mức nợ công trên trung bình Trong vòng 10 năm từ 2001 đến 2010, quy
mô nợ công đã tăng gấp 5 lần với tốc độ tăng trưởng nợ trên 15% mỗi năm
Trang 20Trong tháng 8/2011, mặc dù hãng định mức tín nhiệm Fitch Ratings công bố duy trì mứctín nhiệm nợ công Việt Nam là B+, nhưng cho rằng, họ chưa thấy sự chuyển biến rõ rệttrong việc cắt giảm chi tiêu công, điểm căn bản để xác định điểm nợ công của Việt Nam.Hãng này cũng cho rằng, nợ công Việt nam vượt ngưỡng 50% GDP là cao hơn mức trungbình 37% đối với hạng B.
2.2.2 Cơ cấu
Theo nguồn hình thành
Trang 21Tổng số nợ nước ngoài của Việt Nam ( chỉ bao gồm nợ Chính phủ trung ương, địaphương và nợ được Chính phủ bảo lãnh) tính đến cuối năm 2010 đã vượt 32,5 tỷ USD Tỷ
lệ nợ trong nước là 44,4% còn nợ nước ngoài là 55,6%
Tổng dư nợ nước ngoài so với GDP ở mức 42.2%, nếu so với tiêu chí của Ngân hàng Thế
giới thì thuộc diện vừa phải Tuy nhiên, tỷ lệ dư nợ nước ngoài so với GDP tăng rất nhanh, điều này đồng nghĩa với giới hạn an toàn bị đe dọa Chỉ trong 3 năm từ 2008
đến cuối năm 2010, chỉ tiêu này đã tăng 10%, tiến rất gần đến trần nợ quy định của Thủtướng là 50% GDP
Trong khi khoản nợ nước ngoài tăng lên thì dự trữ ngoại hối của Việt Nam lại giảm đi.Nếu như năm 2007 chỉ tiêu này đang là gấp gần 102 lần thì đến năm 2010 chỉ còn chưađến 2 lần Có 2 khả năng giải thích cho sự thay đối này, một là dự trữ ngoại hối đanggiảm nhanh, hai là nợ ngắn hạn đang tăng lên nhanh chóng
Cùng lúc với dư nợ nước ngoài tăng nhanh và dự trữ ngoại hối vơi đi, tỷ giá tiếp nối vàorủi ro nợ của Việt Nam Theo bản tin số 7 của Bộ Tài chính, tỷ giá của VND so với USD
đã giảm khoảng 10.26% so với năm 2009, so với Euro giảm 11.14%
Theo phương thức huy động
Nợ do chính phủ bảo lãnh
Trong con số 32,5 tỷ USD nợ nước ngoài, tổng dư nợ nước ngoài của Chính phủ là 27.86
tỷ USD, chiếm 85,7% tổng dư nợ, tương đưong 42.2% GDP năm 2010
Nợ huy động bằng phát hành trái phiếu chính phủ
Năm 2010 ghi nhận thêm khoản nợ mới từ phát hành trái phiếu Chính phủ quốc tế với lợisuất trên 7% mà thời hạn kéo dài trong 10 năm, rơi vào năm 2020
Cũng trong năm này, ngân sách phải trả cho các chủ nợ nước ngoài là 1.67 tỷ USD, trong
đó riêng tiền lãi và phí hơn 616 triệu USD, tăng gần 30% so với năm 2009 Bộ Tài chínhcho biết lãi suất vay nợ đang có xu hướng tăng lên do nước ta đang bị giảm mức nhận ưuđãi vì gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình Theo cơ cấu dư nợ nước ngoài củaChính phủ phân theo lãi suất thì phần lớn nợ nước ngoài của Chính phủ có lãi suất thấp từ0% đến dưới 3% Dư nợ các khoản vay có lãi suất thả nổi theo LIBOR 6 tháng và EURO
6 tháng tăng rất ít trong năm 2010, tổng cộng là 1,96 tỷ USD Tuy nhiên có trên 2,15 tỷ
dư nợ có lãi suất 3% đến dưới 6%, tăng tới 43% so với những năm trước và 1,89 tỷ USDnhững khoản vay có lãi suất 6% - 10%
Hiện các chủ nợ chính của Việt Nam vẫn là Nhật Bản, Pháp, ADB,… Các chủ nợ này đãnâng lượng nắm giữ trái phiếu chính phủ Việt Nam lên hơn 2 tỷ USD trong năm 2010
Trang 21
Trang 22ODA cho Việt Nam năm 2010 đạt 8,063 tỷ USD, tăng 3 tỷ USD so với năm 2009, và làmức cao nhất cho đến năm 2010 Trong số hơn 8 tỷ USD này, 1,4 tỷ USD là vốn viện trợkhông hoàn lại và 6,6 tỷ USD vốn vay Ngân hàng thế giới là nhà tài trợ lớn nhất với 2,5
tỷ USD, tiếp đó là Nhật Bản với 1,64 tỷ USD Trong số này, có 80 triệu USD là vốn việntrợ không hoàn lại, số còn lại chủ yếu là vốn vay ưu đãi Ngân hàng phát triển Châu Á(ADB) cho vay 1,5 tỷ USD
2.3 Năm 2011:
2.3.1 Quy mô
Theo bản tin số 1 về nợ công của Việt nam giai đoạn 2010-2011, tổng số dư nợ công củanước ta năm 2011 là 66.8 tỷ USD, chiếm 54.9% GDP Nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ sovới thu ngân sách là 15.6% Còn theo chuẩn quốc tế thì nợ công Việt Nam lên đến 128 tỷUSD, bằng khoảng 106% GDP – gần gấp đôi mức Việt Nam công bố chính thức Mức nợcông trên đầu người là 760 USD/người/năm
Nợ công tăng cao khiến thâm hụt ngân sách của Việt Nam tăng cao, 65,8 nghìn tỷ đồng,
so với GDP, thâm hụt đã tăng lên mức 4.4% GDP năm 2011
Tính trong giai đoạn 2006-2011, nợ công Việt Nam đã tăng khoảng 25%, đạt mức tăngtrung bình 5%/năm
2.3.2 Cơ cấu:
Theo nguồn hình thành:
Nợ trong nước: Tỷ trọng nợ trong nước là 43.3% và nợ nước ngoài là 56,7%
Nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP là 41.5%
Theo phương thức huy động
Nợ ODA
ODA cho năm 2011 đạt 7,9 tỷ USD, chủ yếu dành cho cơ sở hạ tầng, công trình giao thông
và biến đổi khí hậu Trong con số này, 3,3 tỷ đến từ các nhà tài trợ song phương, riêng NhậtBản là 1,76 tỷ USD, đối tác đa phương là 4,6 tỷ USD Đây là lần đầu tiên cho đến thời điểm
Trang 22
Trang 23này, vốn ODA sụt giảm Trước đó nguồn vốn hỗ trợ phát triển liên tục trong xu hướngtăng, từ 3,7 tỷ USD hồi 2005 lên 8 tỷ năm 2009.
Tổng số vốn vay ODA và vay ưu đãi nước ngoài tính đến cuối năm 2011 đạt 71,7 tỷUSD, trong đó số vốn đã được ký kết ( thông qua các hiệp định vay/thỏa thuận viện trợkhông hoàn lại) là 54,1 tỷ USD Vốn ODA đã được giải ngân cho các chương trình, dự án
Trái phiếu Chính phủ nội tệ 13,5% 12,7%
Nợ trong nước của Chính phủ 16,6% 15,3%
Trái phiếu Chính phủ ngoại tệ 2,3% 2,0%
Nợ nước ngoài của Chính phủ 24,6% 24,0%
Phát hành trái phiếu chính phủ trong nước năm 2010 được 68.292 tỷ đồng, năm 2011 đạt80.477 tỷ đồng Tính đến đến thời điểm 31/12/2011, tổng số vốn cam kết vay thương mạinước ngoài là 4.08 tỷ USD, tổng số vốn đã rút là 3.06 tỷ USD, dư nợ là 2.9 tỷ USD 68%
dư nợ vốn vay nước ngoài của Chính phủ được đưa vào cân đối ngân sách, 32% cho vaylại các dự án đầu tư có khả năng thu hồi vốn
Bên cạnh đó, tổng trị giá vay nước ngoài của Chính phủ đã giải ngân để cho vay lại tươngđương 12.6 tỷ USD Dư nợ các dự án cho vay lại của Chính phủ tương đương 10.3 tỷ USD,bằng 8.5% GDP, tập trung vào điện, dầu khí, công nghiệp tàu thủy, cấp nước, nông nghiệp,đường cao tốc, hàng không, cảng biển, công nghiệp xi măng, phát triển hạ tầng đô thị…
Trang 23
Trang 24Các khoản nợ trực tiếp của chính phủ chiếm 78% và bằng 43.1% GDP Nợ được Chínhphủ bảo lãnh chiếm khoảng 21% và bằng 11.7% GDP Nợ chính quyền địa phương chiếmkhoảng 1,0% và bằng 0,5% GDP.
Về cơ cấu các chủ nợ, các nhà đầu tư trái phiếu Chính phủ trong nước chiếm 28% Còn trong
số các chủ nợ nước ngoài thì Nhật Bản vẫn là chủ nợ lớn nhất, chiếm 17%, Ngân hàng thếgiới chiếm 13%, Ngân hàng phát triển Châu Á chiếm 8% và còn lại từ các chủ nợ khác.Cùngvới xu hướng gia tăng về nợ công, chi phí vay nợ cũng có xu hướng gia tăng
Trang 252.4 Năm 2012
2.4.1 Quy mô
Năm 2012, theo số liệu thống kê thì nợ công trung bình của Việt Nam là 762,2 USD/người
Tính đến ngày 31/12/2012, tổng số nợ công của Việt Nam là 1.642.916 tỷ đồng, bằng 58,4% GDP năm 2012.
Theo Đồng hồ nợ công toàn cầu (Global debt clock) trên trang The Economist.com, tínhđến ngày 4/9/2012, nợ công của Việt Nam đang ở mức trên 68,119 tỷ USD; bình quân nợcông theo đầu người là 762,2 USD; nợ công chiếm 49,9% GDP Cùng thời điểm, nợ côngtoàn cầu đang ở mức trên 48.947 tỷ USD Và tính đến 31/12/2012 nợ công sẽ là 58,4%GDP (trong khi cuối năm 2011 là 54,6% GDP) Việt Nam đang phải đối mặt với mức quy
mô nợ công tăng cao và tăng nhanh hợn bao giờ hết
Trước đó, số liệu mà Economist đưa ra, tổng mức nợ công của Việt Nam nằm trong nhómnước có mức nợ công trung bình của thế giới Cụ thể, nợ công của Việt Nam vào khoảng67,6 tỷ USD, tương đương 50% GDP, tăng 11,2% so với năm 2011 Mức nợ công bìnhquân đầu người của Việt Nam đang là 762,2 USD Còn nợ công toàn cầu 48.771 tỷ USD.Dịch vụ nợ công Việt Nam tăng Dịch vụ nợ nước ngoài năm 2011 là 12,5% và 2012 là13,5% tổng thu ngân sách Nhà nước
Năm 2012, nợ công Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức
Thách thức thứ nhất là quy mô nợ tăng nhanh vượt dự báo Tính đến 31/12/2012, tỷ lệ nợChính phủ là 45,7% GDP, nợ nước ngoài là 42,2%; nợ công là 57,3% Trong kế hoạchtrình Quốc hội, đến 31/12/2011, nợ công là 54,6%, đến 31/12/2012 là 58,4% GDP Ngày8/11/2011, Quốc hội đã thông qua nâng trần nợ công Việt Nam đến 2015 không quá 65%GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 50% GDP và dư nợ quốc gia không quá 50% GDP.Thách thức thứ hai, điều kiện nợ ngày càng ngặt nghèo hơn: trong tổng nợ công của ViệtNam, cuối năm 2009 vay ODA chiếm tỷ trọng 74,67%, vay ưu đãi chiếm 5,41%, vaythương mại 19,92% Sang năm 2010, vay nợ với lãi suất thấp 1-2,99%/năm chiếmkhoảng 65,5% tổng dư nợ
Đặc biệt, các khoản vay có lãi suất cao từ 6-10%/năm trong năm 2010 đã lên tới 1,89 tỷUSD, gấp hơn 2 lần năm 2009 Hiện các chủ nợ chính của Việt Nam vẫn là Nhật Bản,Pháp, ADB, WB…
Thách thức thứ ba là dịch vụ nợ tăng nhanh, hệ số an toàn nợ giảm: dịch vụ nợ nướcngoài của Việt Nam trong năm 2010 là 1,67 tỷ USD, trong đó riêng tiền lãi và chi phí hơn
616 triệu USD, tăng gần 30% so với con số 1,29 tỷ USD của năm 2009