1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công

33 126 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 121,51 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì vậy việc xây dựng vàhoàn thiện các tiêu chí đánh giá tính bền vững nợ công, tìm hiểu các nhân tốt ảnhhưởng đến tính bền vững của nợ công và xây dựng một chế độ quản lý nợ công p

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU

Nợ công là một phần không thể trong tài chính của mỗi quốc gia Đây là cáchthức các quốc gia trên thế giới huy động nguồn vốn cho đầu tư và phát triển Không cónước nào có thể phát triển mà không vay mượn Theo số liệu thống kê cho thấy nhữngnền kinh tế lớn trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, Trung Quốc cũng là những con nợkếch xù

Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng được hoàn thiện cả về lượng

và chất, kéo theo đó là xu thế tất yếu hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng giao lưu, tăngcường hợp tác hóa, chuyên môn như hiện nay, toàn cầu hóa với những thế mạnh của nóđang là những mục tiêu chiến lược quan trọng cần được quan tâm và đề cao ở mỗiquốc gia, mỗi khu vực và trên toàn thế giới Không chỉ tạo động lực cho sự phát triểnkinh tế nói chung và trên phạm vi toàn cầu, mở ra nhiều cơ hội và hướng đi sáng lạncho các thành phần kinh tế cá biệt, thúc đẩy phát huy nội lực và ngoại lực một cách cóhiệu quả Tuy nhiên, bên cạnh của toàn cầu hóa cũng tiềm ẩn không ít rủi ro, khi màdưới tác động mạnh mẽ của nó, một biến cố xảy đến với quốc gia này có thể làm lunglay nền kinh tế đến quốc gia khác trong mối quan hệ tác động qua lại giữa chúng

Từ đầu năm 2010 đến nay, thế giới liên tục tiếp nhận vô vàn thông tin về tìnhhình nợ công, những biện pháp đặc biệt được đưa ra, những gói cứ trợ khẩn cấp đượcđưa ra từ nhiều tổ chức kinh tế khác nhau để giảm thiểu nguy cơ vỡ nợ của chính phủ.Việc vay nợ để phát triển với một quốc gia cũng giống như của một doanh nghiệp Đó

là một cách huy động vốn cho phát triển quen thuộc trên thế giới Nợ công, dùng để

Trang 2

phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của Chính Phủ nhằm các mục đích khácnhau, chiếm một phần trong những khoản vay đó Tuy nhiên, thực tế các nước cho thấyviệc vay nợ và chi tiêu miễn phí, sử dụng kém hiệu quả đồng nợ của Chính phủ đãkhiến cho nước rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ công.

Trong thời gian qua, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu mà bắt đầu từ Hy Lạpgây ảnh hưởng rất lớn đến nền kinh tế thế giới, khiến cho các quốc gia phải xem xét lạichính sách và cơ chế quản lý nợ công của chính mình Chính vì vậy việc xây dựng vàhoàn thiện các tiêu chí đánh giá tính bền vững nợ công, tìm hiểu các nhân tốt ảnhhưởng đến tính bền vững của nợ công và xây dựng một chế độ quản lý nợ công phùhợp, kiểm soát rủi ro nợ công đang là vấn đề cấp bách của mỗi quốc gia

Chính vì những lý do kể trên, chúng em đã quyết định lựa chọn đề tài nghiêncứu cho tiểu luận của mình là “Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và

các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công”

Mặc dù đã cố gắng, song do những hạn chế về hiểu biết, thông tin, số liệu không được cậpnhật cụ thể vì thế đề tài của chúng em vẫn còn rất nhiều thiếu sót Chúng em mong muốnnhận được sự góp ý của cô để tiểu luận được hoàn thiện hơn

Trang 3

CHƯƠNG I KHÁI QUÁT VỀ NỢ CÔNG

1. Khái niệm nợ công

Nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp, xung quanh khái niệm và nội hàm của nợ công vẫn còn nhiều quan điểm chưa thống nhất

Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2002), nợ của chính phủ (nợ công) bao gồm nợ củachính phủ trung ương và nợ của chính quyền địa phương

Theo Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF,2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khuvực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyềnđịa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động

do NSNN quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà nước và trong trường hợp

vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay) Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợcủa Chính quyền Trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ của các tổ chứcđộc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán Quan niệm về nợ công của WB và IMFcũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễnđàn Thương mại và Phát triển Liên hợp quốc, bao gồm bốn nhóm chủ thể:

(1) Nợ của Chính quyền Trung ương và các Bộ, ban, ngành Trung ương;

(2) Nợ của các cấp chính quyền địa phương;

(3) Nợ của Ngân hàng Trung ương;

(4) Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việcquyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là ngườichịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ

Hiện nay, tùy thuộc vào thể chế kinh tế - chính trị, quan niệm về nợ công ở mỗiquốc gia cũng có sự khác biệt

Trang 4

Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công 29/2009/QH12 quy định, nợ công bao gồm

nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Theo đó, nợchính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết,phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do BộTài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ chínhphủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thựchiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợcủa doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chínhphủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành

2. Thực trạng nợ công tại một số quốc gia trong những năm gần đây

Bảng 1.1Tình hình nợ công của một số quốc gia trên thế giới gần đây

Nguồn: https://ieconomics.com/government-debt-to-gdp

Trong đó:

Mỹ

Trang 5

Bảng 1.2 Tỷ lệ nợ công trên GDP của Mỹ tính đến năm 2015:

Nguồn: World Bank

Bảng 1.3 Nợ công chính phủ Mỹ từ 9/4/2016 đến 9/4/2017

Nguồn: http://www.tradingeconomics.com | U.S Department of the Treasury

Sau khủng hoảng tài chính năm 2008 Mỹ chi tiêu rất nhiều để kích thích tăngtrưởng kinh tế cũng như chi cho các vấn đề an sinh xã hội Điều đó đẩy nợ công của

Mỹ tăng lên

Mặc dù hiện tại, nợ chính phủ Mỹ đã giảm xuống còn 19846420 triệu Đô la Mỹtrong Tháng 3 từ 19959594 Triệu USD vào tháng Hai năm 2017 Mức nợ trung bìnhđạt 4077711.20 Triệu USD từ năm 1950 cho đến năm 2017, đạt mức cao nhất là

19976827 triệu USD vào tháng 12 năm 2016 và mức thấp kỷ lục là 253400 triệu USDvào tháng 4 năm 1951 nhưng nhìn chung mức nợ công của Mỹ vẫn tăng rất nhanhtrong thời gian gần đây cho thấy quốc gia này đang phải chịu một gánh nặng nợ ngàycàng lớn

Trang 6

Trong trường hợp nợ lớn như thế, về lâu dài nó sẽ ảnh hưởng đến sự cân đối củanền kinh tế, đặc biệt là đầu tư và tiêu dùng, nguy cơ khủng hoảng có thể xảy ra với bất

kỳ nền kinh tế nào có nợ công lớn Tuy nhiên, với kinh tế Mỹ, khả năng xảy ra khủnghoảng là thấp bởi vì nếu Mỹ vỡ nợ thì kịch bản xảy ra sẽ rất xấu cho các chủ nợ củaMỹ

Nhật Bản

Bảng 1.4 Tình hình nợ công của Nhật Bản giai đoạn 2003 – 2016

Nguồn: ministry of finance japan.

Tăng trưởng GDP của Nhật Bản những năm gần đây khá thấp, bên cạnh đó, mức

độ gia tăng và tỷ lệ nợ công/GDP của Nhật Bản cũng đang ở mức cao kỷ lục, theoWorld Bank, nợ công của Nhật Bản đã tăng từ mức 168.475% năm 2010 lên mức250.4% vào năm 2016 Tăng trưởng kinh tế chậm, nợ công tăng cao, đồng Yên tiếp tụcgiảm giá, áp lực thâm hụt thương mại, đó là các vấn đề mà nền kinh tế Nhật Bản đangphải đối mặt

Trang 7

Tuy nhiên chỉ tiêu tổng nợ/GDP hay nợ công/GDP chưa thể phản ánh đầy đủtình hình vay nợ và hiệu quả sử dụng nợ của các quốc gia Đối với trường hợp NhậtBản, mặc dù quy mô và tỷ lệ nợ công/GDP ở mức cao, nhưng cũng phải thấy rắng,Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế đứng thứ ba thế giới và là nước chủ nợ lớn nhấtthế giới, vị trí đã được duy trì suốt 24 năm cho đến nay.

Trang 8

CHƯƠNG II ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ CÔNG

1. Khái niệm tính bền vững của nợ công

Theo định nghĩa của IMF: Nợ công nước ngoài của một quốc gia được coi làbền vững nếu như các nghĩa vụ nợ (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ màkhông cần sử dụng đến các biện pháp tài trợ ngoại lệ (vì tính bền vững của nợ công, do

đó ảnh hưởng đến các khả năng thanh toán, thanh khoản và khả năng điều chỉnh củamột quốc gia), hoặc không cần phải thực hiện những điều chỉnh lớn đối với cán cân thunhập và chi tiêu của mình Đối với các quốc gia có thu nhập thấp, việc thực hiện nghĩa

vụ nợ thường gặp khó khăn khi các chủ nợ, bao gồm các tổ chức quốc tế và chính phủcác nước, và các nhà tài trợ không cung ứng các khoản vay hoặc tài trợ mới đủ để tàitrợ cho thâm hụt tài khoá cơ bản Ngoài ra, việc thực hiện nghĩa vụ nợ cũng gặp rắc rốinếu như nó có chi phí tiền lãi quá lớn

2. Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công

Việc phân tích tính bền vững của nợ công được dựa trên phương pháp luận củaWorldBank (2006) và IMF (2011) Mục tiêu của phương pháp phân tích tính bền vữngcủa nợ (DSA) là:

• Đánh giá hiện trạng nợ công bao gồm việc xem xét quy mô hiện tại, cơ cấu kì hạn, cơcấu lãi suất cố định hay thả nổi, cơ cấu tiền tệ và chủ nợ;

• Xác định tính dễ tổn thương của cơ cấu nợ hiện tại hoặc rủi ro chính sách để từ đókhuyến nghị những điều chỉnh thích hợp; và

• Dự báo nợ công tương lai và đưa ra các khuyến nghị chính sách để tránh sự đổ vỡ hoặc

ổn định nợ công

Hiện nay, trên thế giới, khi phân tích tính bền vững của nợ công, các quốc giathường sử dụng một trong hai phương pháp là ứng dụng theo kiểu phân tích toán kinh

Trang 9

tế hoặc phân tích chuỗi thời gian Phương pháp tối ưu hóa danh mục nợ là phươngpháp sử dụng toán kinh tế, dựa vào xác suất thống kê để xem xét sự biến động của chiphí nợ, phương pháp này tuy đã xem xét đến độ an toàn của danh mục nợ nhưng chưaxét đến tính bền vững của nợ công Do vậy, ngày nay hầu hết các quốc gia đều sử dụngphương pháp phân tích tính bền vững của nợ DSA, phương pháo này đánh giá tính bềnvững dựa trên các chỉ số phân tích nợ gắn với các chỉ số an toàn nợ công Quy trìnhđánh giá tính bền vững của nợ theo phương pháp này như sau:

2.1. Xác định ngưỡng chuẩn phù hợp để đánh giá

Các chỉ tiêu cần xác định ngưỡng chuẩn là các chỉ số: Giá trị hiện tại ròng của

nợ công so với GDP, Giá trị hiện tại ròng của nợ công so với kim ngạch xuất khẩu, Giátrị hiện tại ròng của nợ công/thu ngân sách nhà nước,…Tuy nhiên, hiện nay trên thếgiới chưa có một sự thống nhất nào về ngưỡng cụ thể cho các chỉ số này, vì khi ápdụng vào mỗi quốc gia, các chỉ số thể hiện ý nghĩa cũng như mức độ ảnh hưởng làkhác nhau

Kinh nghiệm thực tiễn của IMF và WorldBank về ngưỡng an toàn nợ:

Bảng 2.1 Kinh nghiệm thực tiễn của IMF và WB về ngưỡng an toàn nợ

Giá trị hiện tại nợ/GDP 21-49 26-58

Giá trị hiện tại nợ/XK 79-300 83-276

Giá trị hiện tại nợ/thu NSNN 143-235 138-264

Nghiên cứu của IMF và WorldBank chỉ ra rằng có tới 20-25% các nước có tìnhtrạng nợ thuộc khoảng trên dễ bị rơi vào khủng hoảng nợ Do vậy, khi xem xét cácngưỡng chuẩn cần đặt trong bối cảnh kinh tế vĩ mô cũng như điều kiện phát triển của

Trang 10

quốc gia đó Hay cũng có thể dựa trên khuyến nghị về gánh nặng nợ an toàn theokhung DSF (IMF 2011) như sau:

Bảng 2.2 Khuyến nghị về gánh nặng nợ an toàn theo khung DSF (IMF 2011)

Giá trị hiện tại của nợ công so với

Xuấtkhẩu GDP Thu ngân sáchnhà nước Xuất khẩu Thu ngânsách nhà

tế nhận thấy cần xây dựng thêm các ngưỡng an toàn đối với nợ trong nước và nợ nướcngoài để đảm bảo mức độ chính xác khi phân tích Cụ thể trong bảng dưới đây:

Các ngưỡng cho phép đối với gánh nặng nợ trong nước theo chỉ số đánh giá thể chế vàchính sách quốc gia (CPIA) của WB

Bảng 2.3 Ngưỡng cho phép đối với gánh nặng nợ trong nước theo chỉ số đánh giá thể chế và chính sách quốc gia (CPIA) của WB

Trang 11

2.2. Xác định thời gian dự kiến và thu thập số liệu

2.2.1 Xác định khoảng thời gian: thời kỳ thu thập số liệu phân tích thường từ 5-10

năm đến năm dự báo đầu tiền (số liệu lịch sử); 10-20 năm sau đó (số liệu dựbáo)

2.2.2 Thu thập số liệu: để phân tích tình hình nợ, cần phải gắn với các biến số kinh tế

vĩ mô thích hợp bao gồm:

Tăng trưởng nền kinh tế: Đóng vai trò quyết định đảm bảo nguồn trả nợ.

Thông tin về tình hình ngân sách nhà nước: Số thu, ngân sách nhà nước, tỉ lệ

thu, chi so với GDP, cơ cấu bù đắp bội chi (từ nguồn trong nước và nguồn nướcngoài)

• Cán cân thanh toán: Cán cân thanh toán vãng lai, hoạt động XNK

• Lãi suất: lãi suất thực tế có tác động mạnh đến qui mô và chi phí nợ, đặc biệt đốivới nợ có lãi suất thay đổi Đối với vay trong nước, thường lấy lãi suất trái phiếuChính phủ là công cụ để tham chiếu Đối với lãi suất nước ngoài, tham chiếu lãisuất trên thị trường quốc tế

Trang 12

• Tỷ giá: đối với tỷ giá lịch sử, lấy nguồn từ cơ quan có trách nhiệm công bốchính thức Đối với tỷ giá dự báo, cần kết hợp các dự báo của các tổ chức quốc

tế như IMF/WB

• Lạm phát: tỷ lệ lạm phát tăng nhanh cùng với tỷ giá hối đoái thực tế cao có thể

là dấu hiệu trước khủng hoảng

2.3. Tiến hành phân tích, đánh giá

Việc đánh giá tính bền vững của nợ công theo khung DSA dựa vào các kịch bản

cơ sở, hệ thống các chỉ số phân tích giả định có tính đến các yếu tố kinh tế vĩ mô, điềukiện phát triển thị trường Các chỉ số phân tích bao gồm:

2.3.1 Nhóm chỉ số về gánh nặng nợ:

Nhóm chỉ số này phản ánh mức độ nợ công được đảm bảo chi trả từ nguồn lựcđược tạo ra trong nền kinh tế hay nguồn thu từ hoạt động xuất khẩu, nguồn thu từ ngânsách Nhà nước Nhóm chỉ số này bao gồm 3 chỉ số cơ bản sau:

a Chỉ số nợ công so với GDP

Nợ công/GDP = *100%

Chỉ số này phản ánh mức độ nợ công hiện tại so với năng lực tạo ra nguồn thunhập để trả nợ công Trong đó, NPV ròng của nợ công khác với tổng nợ danh nghĩa ởchỗ dùng tỉ lệ chiết khấu để qui đổi dòng tiền tương lai về giá trị hiện tại Do tỷ lệ chiếtkhấu thường cao hơn lãi suất phải trả nợ nên nợ tính bằng NPV ròng thường thấp hơntổng nợ danh nghĩa nhưng chỉ số này phản ánh gần với giá trị thực tế so với nợ danhnghĩa Tuy nhiên, để có được giá trị hiện tại ròng, cần thu thập số liệu cụ thể về từngkhoản vay, kỳ hạn nợ, lãi suất phải trả và độ dài kỳ ân hạn nếu có Theo công thức trê,

tỷ lệ nợ công trên GDP phụ thuộc vào giá trị hiện tại ròng của nợ công và GDP thực tế,

Trang 13

nếu giá trị hiện tại ròng tăng nhưng GDP thực tế tăng cao hơn tỷ lệ nợ công trên GDP

sẽ giảm và ngược lại

b Chỉ số nợ công so với kim ngạch xuất khẩu

c Chỉ số nợ công/ thu ngân sách nhà nước

Nợ công/ Thu NS = *100%

Chỉ số này phản ánh khả năng trả nợ từ nguồn thu ngân sách của quốc gia Dokhông phải khoản vay nào đều có khả năng trả nợ nên nguồn để trả nợ vẫn chính là từnguồn thu NSNN Tuy nhiên, nguồn thu NSNN ngoài việc phụ thuộc vào chính sáchthu của quốc gia còn phụ thuộc vào sự đóng góp do đầu tư phát triển kinh tế từ nhữngkhoản vay đó nên chỉ sô này còn gắn khả năng trả nợ với sự dụng khoản nợ để đambảo khả năng chi trả

Trong nhóm chỉ số về gánh nặng nợ, tỷ lệ nợ công so với GDP là chỉ số đượccác quốc gia quan tâm nhất bởi vì chỉ số này thể hiện khả năng trả nợ lâu dài của nềnkinh tế Hiện nay, theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế IMF và WB, tỷ lệ nợ công

so với GDP cho thấy các quốc gia đang phát triển là < 50% và các quốc gia pháp triển

là <60% Tuy nhiên, không một giới hạn an toàn nào chung cho các nền kinh tế, điềunày có nghĩa là không phải tỷ lệ nợ công so với GDP thấp là trong ngưỡng an toàn vàngược lại Mức độ an toàn của nợ công còn phụ thuộc vào khả năng trả nợ từ ngưỡngthu ngân sách hay từ kim ngạch xuất khẩu; đồng thời, còn phụ thuộc vào tình trạng yếu

Trang 14

hay mạnh của toàn bộ nền kinh tế thông qua các chỉ tiêu vĩ mô Chính vì vậy, để xácđịnh đúng đắn mức độ an toàn của nợ công không được chỉ quan râm đến tỷ lệ nợ sovới GDP mà cần xem xét toàn diện hệ thống chỉ tiêu đánh giá nợ công đặt trong mốiquan hệ với hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như tăng trưởng nền kinh tế, thâm hụt ngânsách nhà nước, mức tiết kiệm, đầu tư xã hội, hiệu quả sử dụng vốn

c Chỉ số chi trả lãi so với kim ngạch xuất khẩu:

Lãi trả nợ/ XK = * 100%

Trang 15

Chỉ số này phản ảnh khả năng chi trả của các khoản lãi vay từ nguồn xuất khẩuđặc biệt đối vớ những khoản lãi vay nợ nước ngoài đến hạn phải trả Nếu như không đủnguồn để thanh toán các khoản vay nợ sẽ gây khó khăn đối với những khoản vay tiếptheo.

Nhóm chỉ số thanh khoản phản ánh khả năng thanh toán các khoản nợ phải trảhàng năm được sử dụng từ nguồn thu xuất khẩu hay ngân sách nhà nước, được sử dụngkèm với nhóm chỉ số về gánh nặng nợ để xem xét những khoản nợ có trả đúng hạn haykhông bao gồm cả gốc lẫn lãi Đối với những khoản vay nợ nước ngoài chủ yếu căn cứvào thu ngoại tệ từ hoạt động xuất khẩu, còn đối với khoản vay trong nước phụ thuộcvào NSNN Nhóm chỉ số này được sử dụng trong điều kiện tính toán đưuọc đầy đủdòng tiền trả nợ và số lãi suất hàng năm, tránh xảy ra trường hợp không có nguồn trả

nợ khi các khoản nợ đến hạn, có thể ảnh hưởng đến khoản vay mới trên thị trường

2.2.3 Nhóm chỉ số khác

Đánh giá mức độ bền vững của nợ công không chỉ dừng lại ở một nhóm chỉ sốđơn lẻ, mà cần xem xét tổng hợp các nnhoms chỉ tiêu trong bối cảnh kinh tế - xã hội.Một số các chỉ số khác: chỉ số về tính linh hoạt (tốc độ tăng của nợ/GDP, sự thay đổicủa nợ/ sự thay đổi của kim ngạch xuất khẩu); gánh nặng nợ nước ngoài (nợ nướcngoài/ GDP, nợ nước ngoài/ XK, nợ nước ngoài/ thu NS từ viện trợ, nợ nước ngoài trên

dự trữ ngoại hối ) Phân tích mức độ bền vững nợ có ý nghĩa quan trọng trong quátrình quản lý vì phải đảm bảo khả năng chịu nợ của một quốc gia trước các cú sốc bênngoài Khi phân tích tính bền vững của nợ công không chỉ dừng lại ở việc phân tíchthông qua các chỉ số mà cần quan tâm đến cơ cấu nợ Cơ cấu nợ trong nước với cơ cấu

nợ nước ngoài; cơ cấu lãi suất tiền tệ; cơ cấu kỳ hạn trả nợ

Trang 16

CHƯƠNG III CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TÍNH BỀN

VỮNG CỦA NỢ CÔNG

Nợ công của một quốc gia được coi là bền vững nếu như các nghĩa vụ nợ (trảgốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ mà không cần sử dụng đến các biện pháptài trợ ngoại lệ (ví dụ như xin miễn giảm), hoặc không cần phải thực hiện những điềuchỉnh lớn đối với cán cân thu nhập và chi tiêu của mình Đối với các quốc gia có thunhập thấp, việc thực hiện nghĩa vụ nợ thường gặp khó khăn khi các chủ nợ, bao gồmcác tổ chức quốc tế và chính phủ các nước, và các nhà tài trợ không cung ứng cáckhoản vay hoặc tài trợ mới đủ để tài trợ cho thâm hụt tài khoá cơ bản Ngoài ra, việcthực hiện nghĩa vụ nợ cũng gặp rắc rối nếu như nó có chi phí tiền lãi quá lớn Mặc dù

nợ nước ngoài thường có quy mô lớn và thường là nguyên nhân chính gây ra các cuộckhủng hoảng nợ, nợ trong nước ở các nền kinh tế phát triển cũng không hề nhỏ Hơnnữa, không giống như nợ nước ngoài, nợ trong nước thường có lãi suất rất cao và dễthay đổi theo môi trường kinh tế vĩ mô ở các nước thu nhập thấp Đặc biệt, nợ trongnước thường có kì hạn ngắn nên nó có thể làm nảy sinh những rủi ro đi liền với nhucầu đảo nợ hàng năm

Để đảm bảo được tính bền vững của nợ công, Chính phủ phải đảm bảo được tỷ lệ

nợ công so với GDP là ổn định, qua đó tăng hiệu quả quản lý nợ, quản lý thâm hụt ngânsách và làm tốt các công tác dự báo, lập kế hoạch Ngân sách Nhà nước, góp phần ổn địnhnền kinh tế vĩ mô Để làm được điều đó, cần phải nắm rõ các nhận tố ảnh hưởng đến tínhbền vững nợ công, nhận biết các tác động, ngăn chặn từ đầu, phòng tránh và giải quyết kịpthời các tác động có khả năng gây bất ổn tới tỷ lệ này

Tính bền vững nợ công chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, trong đó phải kểđến nhóm nhân tố trong ràng buộc ngân sách và một số nhân tố khác cụ thể như:

- Những nhân tố trong ràng buộc ngân sách:

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1Tình hình nợ công của một số quốc gia trên thế giới gần đây - Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công
Bảng 1.1 Tình hình nợ công của một số quốc gia trên thế giới gần đây (Trang 4)
Bảng 1.2 Tỷ lệ nợ công trên GDP của Mỹ tính đến năm 2015: - Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công
Bảng 1.2 Tỷ lệ nợ công trên GDP của Mỹ tính đến năm 2015: (Trang 5)
Bảng 1.4 Tình hình nợ công của Nhật Bản giai đoạn 2003 – 2016 - Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công
Bảng 1.4 Tình hình nợ công của Nhật Bản giai đoạn 2003 – 2016 (Trang 6)
Bảng 2.1 Kinh nghiệm thực tiễn của IMF và WB về ngưỡng an toàn nợ - Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công
Bảng 2.1 Kinh nghiệm thực tiễn của IMF và WB về ngưỡng an toàn nợ (Trang 9)
Bảng 2.2 Khuyến nghị về gánh nặng nợ an toàn theo khung DSF (IMF 2011) Giá trị hiện tại của nợ công so với - Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công
Bảng 2.2 Khuyến nghị về gánh nặng nợ an toàn theo khung DSF (IMF 2011) Giá trị hiện tại của nợ công so với (Trang 10)
2.2.2 Thu thập số liệu: để phân tích tình hình nợ, cần phải gắn với các biến số kinh tế vĩ mô thích hợp bao gồm: - Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công và các nhân tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công
2.2.2 Thu thập số liệu: để phân tích tình hình nợ, cần phải gắn với các biến số kinh tế vĩ mô thích hợp bao gồm: (Trang 11)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w