Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và
Trang 1MỤC LỤC
Lời mở đầu 4
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài về quản lý nợ công 6
1.1.1 Tổng quan về nợ công 6
1.1.2 Tình hình quản lý nợ công tại Việt Nam 7
1.2 Cơ sở lý thuyết 9
1.2.1 Khái niệm quản lý nợ công 9
1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nợ công 9
1.2.2.1 Quản lý nợ công trước hết để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn nợ và an ninh của nền tài chính quốc gia 9
1.2.2.2 Quản lý để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn vay 11
1.2.2.3 Nhu cầu quản lý nợ xuất phát từ yêu câu đòi hỏi khắt khe của người cho vay, bên tài trợ 11
1.2.3 Nội dung quản lý nợ công 12
1.2.3.1 Xây dựng chiến lược và kế hoạch quản lý nợ công 13
1.2.3.2 Ban hành khung thể chế, xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý nợ công từ trung ương đến địa phương 14
1.2.3.3 Đánh giá nợ công 14
1.2.3.4 Kiểm soát và Đánh giá việc sử dụng các khoản nợ 20
1.2.3.5 Đánh giá khả năng trả nợ hiện có của nền kinh tế 21
1.3 Phương pháp nghiên cứu 22
Chương II: Kết quả và thảo luận 23
2.1 kết quả nghiên cứu 23
2.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 23
2.3 Tình trạng nợ công ở Việt Nam 34
2.4 Những rủi ro tiềm ẩn của nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam 36
Chương III Kết luận và một số kiến nghị 40
T r a n g 2 | 49
Trang 23.2 Kết luận 40 3.2 Một số giải pháp khác 43 Danh mục tài liệu tham khảo 49
Trang 3Lời mở đầu
1 Sự cần thiết của đề tài nghiên cứu
Đối với mỗi quốc gia, mỗi giai đoạn nhất định trong quá trình quản lý xã hội và nền kinh tế, Nhà nước có lúc cần huy động nhiều hơn nguồn lực từ trong và ngoài nước Nói cách khác, khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được nhu cầu chi tiêu, Nhà nước phải quyết định vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó - thường được gọi là nợ công.Trong bối cảnh nền kinh thế thế giới phát triển mạnh mẽ và có nhiều chuyển biến khólường, điển hình là khủng hoảng kinh tế toàn cầu xảy ra cuối năm 2008, đầu năm 2009, khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đang lan sang một số nước Châu Âu thì nợ công và quản
lý nợ công trở thành vấn đề nóng được các nhà lãnh đạo các quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Tại Việt Nam, nợ công có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự phát triển của đất nước Là nguồn tài trợ hàng đầu cho đầu tư phát triển kinh tế của đất nước thông qua ngân sách Nhà nước (NSNN) và là nguồn cung cấp vốn đứng thứ 2 của nền kinh tế với tỷtrọng vốn 16 - 17% vốn đầu tư toàn xã hội Tuy nhiên, trong những năm gần đây, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, nợ công khu vực đồng tiền chung châu Âu và những khókhăn nội tại của nền kinh tế trong nước đã có ảnh hưởng nhất định đến tình hình nợ công của Việt Nam cả về quy mô, cơ cấu, nghĩa vụ trả nợ và các chỉ số an toàn nợ công Chính
vì lẽ đó vấn đề quản lý tổ tức mô hình quản lý nợ công là hết sức quan trọng và có một vai trò vô cùng to lớn
Đứng trước những chuyển biến và sự thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế trong nước, khu vực và toàn thế giới thì việc đổi mới bộ máy quản lý nợ công ở việt nam sao cho phù hợp và hiệu quả là vấn đề cần được quan tâm
2 Mục đích của đề tài
Đề tài nhằm mục tiêu cơ bản sau:
Trang 4+Thức nhất: hệ thống hóa những vấn đề lý thuyết về quản lý nợ công, xem xét một
số bài học kinh nhiệm về quản lý nợ công của các quốc gia trên thế giới
+Thứ hai: tập trung nghiên cứu về thực trạng quản lý nợ công của việt nam trong giai đoạn hiện nay, rút ra hạn chế và tìm ra nguyên nhân Cuối cùng trên cơ sở phân tích thực trạng quản lý nợ công Việt Nam hiện nay đề tài đưa ra một số các đề xuất nhằm tăng cường hiệu quả trong công tác quản lý nợ công trong tương lai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung vào việc phân tích hệ thống quản lý nợ công từ các quan điểm điểm quản lý nợ công hiệu quả và tình hình thực trạng nợ công và đưa ra đổi mới trong việcquản lý nợ công tại việt Nam
+Phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của đề tài gồm công tác quản lý nợ công và các chính sách kinh
tế vĩ mô ảnh hưởng tới tính bền vững của nợ công trong giai đoạn 2010-2016
Được sự giúp đỡ nhiệt tình của cô giáo TS Nguyễn Thị Lan, nhóm xin được lựa chọn
đề tài Đổi mới bộ máy quản lý nợ công ở Việt Nam để nghiên cứu đề tài nghiên cứu gồm
ba phần:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên
cứu Chương II:Kết quả và thảo luận
Chương III: Kết luận kèm theo gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp
Trong phạm vi của một đề tài tiểu luận không thể không tránh khỏi những thiếusót về nội dung, rất mong được sự quan tâm góp ý của cô giáo và các bạn đọc
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp
Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính quyền trung ương, chính quyền địa phương và các khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh Ở hầu hết các quốc gia, nợcông bao gồm nợ Chính phủ và nợ do Chính phủ bảo lãnh Ở một số quốc gia, nợ công cũng bao gồm các khoản nợ của chính quyền địa phương (như Việt Nam, Đài Loan, Rumani ) và nợ của doanh nghiệp nhà nước (như Cộng hoà Macedonia và Thái Lan ).Theo các tổ chức quốc tế và một số quốc gia, “nợ công” được định nghĩa theo nghĩa rộng Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) thường coi nợ công là “nợcủa Chính phủ nói chung và trong một số trường hợp là khoản nợ của toàn bộ khu vực công” và các khoản nợ thu được từ các công cụ nợ Theo báo cáo của Quỹ Tiền tệ Quốc
tế, “nợ công” được coi là nợ của toàn bộ khu vực công, “bao gồm các doanh nghiệp tài chính, doanh nghiệp phi tài chính và ngân hàng trung ương”
Cách tiếp cận này tương tự như khái niệm nợ công trong Hệ thống phân tích Tài chính
và Quản lý nợ của Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển,trong Hướng dẫn
về khái niệm và công khai thông tin về nợ công của Tổ chức Quốc tế các cơ quan kiểm toán tối cao, và ở một số quốc gia như Cộng hoà Mô-rítx và Moldova
Không thể phủ nhận rằng “mức độ rộng hẹp của khu vực công thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật quản lý nợ công ở mỗi quốc gia phụ thuộc vào bản chất khuôn khổ thể chế
Trang 6và chính trị” Trên thực tế, thành viên của các tổ chức quốc tế trên đều không nhất thiết phải tuân thủ các khái niệm về nợ công, bởi đó chỉ là những hướng dẫn trong việc thống
kê nơ công nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các chuyên gia thống kê và người sử dụng
dữ liệu thống kê phù hợp với mục đích nghiên cứu Các nước thành viên của IMF được khuyến khích thu thập, tổng hợp và báo cáo dữ liệu nợ công theo chuẩn mực của IMF nhằm đảm bảo tính nhất quán trong việc thống kê, tổng hợp và phân loại nợ công, đồng thời cho phép so sánh dữ liệu nợ công giữa các quốc gia
1.1.2 Tình hình quản lý nợ công tại Việt Nam
Trên thực tế, nợ công ở Việt Nam đã tăng rất nhanh trong một thời gian dài, trong khiviệc quản lý nợ công chỉ được tập trung vào những năm gần đây, đánh dấu bằng việcban hành Luật Quản lý nợ công năm 2009 Trong thời gian gần đây, nhà nước đã banhành nhiều văn bản pháp luật tạo cơ sở pháp lý quan trọng điều chỉnh hoạt động quản
lý nợ công Tình hình quản lý nợ công ở Việt Nam hiện nay như sau:
Trước hết, hiện nay các khoản nợ công đều được thanh toán đầy đủ và đúng hạn, do
đó Việt Nam vẫn chưa rơi vào tình trạng vỡ nợ công Các chỉ số nợ công so với GDPphù hợp với mục tiêu của Chiến lược về nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020.” Theo đánh giá của IMF, Ngân hàng Thế giới và Ngân hàng phát triển Châu Á, “Việt Nam có mức độ rủi ro thấp đối với nợ nước ngoài… và tổng nợ ởmức thấp hơn các ngưỡng nguy hiểm”, góp phần gia tăng xếp hạng tín nhiệm quốc gia và giảm chi phí huy động vốn của quốc gia Tuy nhiên, do việc quản lý nợ công
có thể bị ảnh hưởng bởi các rủi ro tiềm ẩn như rủi ro về lãi suất, rủi ro tỷ giá và việc gia tăng nợ trong nước có thể dẫn đến tác động tiêu cực đối với nền kinh tế, do đó việc quản lý nợ công cần được theo dõi cẩn thận
Thứ hai, nợ công được huy động dưới nhiều hình thức và các đồng tiền đa dạng nhằmđáp ứng nhu cầu về đầu tư phát triển và cân đối ngân sách nhà nước Nhiều dự án cơ
sở hạ tầng, chương trình xóa đói giảm nghèo, các dự án tạo việc làm, chương trình cảithiện phúc lợi xã hội và môi trường được tài trợ bằng các nguồn vốn từ nợ công Tuy nhiên, quy mô của thị trường trái phiếu Chính phủ vẫn nhỏ, chỉ chiếm 14% GDP và 63% của quy mô thị trường trái phiếu Do đó, rất khó để Chính phủ tiếp tục tăng quy
T r a n g 7 | 49
Trang 7mô huy động vốn trong nước trong những năm tới.
Thứ ba, việc sử dụng nợ công không hợp lý, kịp thời và hiệu quả Trước hết là do "sựchậm trễ trong việc giải ngân nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và quỹ trái phiếu Chính phủ diễn ra khá thường xuyên,” đặc biệt là trong quá trình xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng Khó khăn này “cùng với việc thiếu kỷ luật tài chính trong đầu tư công và trong hoạt động của Doanh nghiệp nhà nước dẫn đến đầu tư rải rác, lãng phí, mất vốn đầu tư”, do đó, Việt Nam phải đối mặt với nhiều rủi ro trong quản
lý nợ công Lý do thứ hai là hiệu quả đầu tư thấp được chứng minh thông qua chỉ số
về hiệu quả đầu tư vốn (ICOR) trên cơ sở tỷ lệ giữa lượng vốn phải bỏ ra để thu về một đơn vị lợi nhuận ICOR càng thấp thì đầu tư càng hiệu quả Ở Việt Nam, chỉ số ICOR tăng cao (lớn hơn 8) trong năm 2016, trong khi đầu tư là 42% GDP và tốc độ tăng trưởng chỉ đạt 5% Điều này có nghĩa là Việt Nam phải bỏ ra 8 đồng vốn để thu
về được 1 đồng
Thứ tư, "Việt Nam chỉ chú ý đến việc quản lý các khoản nợ bắt buộc, chứ không chú
ý đến các khoản nợ ngầm” Các khoản nợ ngầm không thuộc trách nhiệm trả nợ củaChính phủ nhưng lại gắn với các chức năng kinh tế xã hội của nhà nước Trên thực tế,các khoản nợ ngầm không ổn định, khó để tính toán, do đó chúng có thể tạo ra nhữngrủi ro tiềm ẩn đối với sự bền vững của nợ công Một ví dụ điển hình về nợ ngầm là trường hợp Tập đoàn Công nghiệp Tàu thuỷ Việt Nam, là tập đoàn kinh tế nhà nước (Vinashin) “Trong năm 2016, Chính phủ đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu quốc
tế để tài trợ cho Vinashin Hơn nữa, Vinashin vẫn còn vay ít nhất 600 triệu USD từ các ngân hàng nước ngoài, đồng thời tập đoàn cũng nhận được các khoản tín dụng từ các ngân hàng thương mại nhà nước được chính phủ bảo lãnh Tuy nhiên, do sự quản
lý kém hiệu quả trong nhiều dự án đầu tư và nạn tham nhũng, tính đến tháng 6 năm
2016, tổng nợ của Vinashin lên đến ít nhất là 4.6 tỉ USD, chiếm 83% tổng tài sản.” Khi Vinashin bị vỡ nợ, Chính phủ đã phải đổ rất nhiều tiền để tái cấu trúc tập đoàn, dẫn tới gánh nặng lớn cho ngân sách nhà nước và ảnh hưởng tiêu cực đến sự bền vững nợ công của quốc gia
Thứ năm, thông tin và số liệu về nợ công ở Việt Nam chưa được tổng hợp và công bố
Trang 8đầy đủ Trên thực tế, Bộ Tài chính chỉ công khai các thông tin và số liệu về nợ côngtrong Bản tin về nợ công vào cuối năm 2013 Do đó, nhà nước và người dân rất khó
có thể giám sát và thực hiện quản lý nợ công hiệu quả
1.2 Cơ sở lý thuyết
1.2.1 Khái niệm quản lý nợ công.
Theo nghĩa hẹp: “Quản lý nợ” bao hàm việc khống chế mức gia tăng nợ trong quan
hệ tỷ lệ với năng lực tăng trưởng GDP và tăng trưởng khả năng xuất khẩu của đất nước,hay nói cách khác, giữa mức nợ công tương ứng với năng lực trả nợ của một nước.Cụ thểhơn là giảm mức nợ gốc, nợ lãi phải trả cho tương xứng với khả năng kinh tế của nướcvay nợ và tránh nợ chồng chất vượt quá mức vay nợ thận trọng của quốc gia ,đảm bảokhả năng thanh toán của quốc gia
Theo nghĩa rộng: “Quản lý nợ công” hàm chứa trong nó một hệ thống điều hành vĩ
mô sao cho vốn được sử dụng có hiệu quả và không gia tăng đến mức quá khả năngthanh toán để không làm tích lũy thêm nợ Hay nói cách khác, quản lý nợ công là đảmbảo một cơ cấu vốn vay hợp lý thích hợp với các yêu cầu phát triển của nền kinh tế, thựchiện phân bổ một cách hợp lý và kiểm soát tình trạng nợ và sử dụng vốn vay
Như vậy quản lý nợ công được hiểu là một phần của công tác quản lý nền kinh tế vĩ
mô bao gồm việc hoạch định, thực hiện vay-sử dụng-trả nợ thuận lợi cho tăng trưởngkinh tế, giảm tình trạng nghèo đói và tiếp tục duy trì sự phát triển mà không tạo ra nhữngkhó khăn trong thanh toán.Quản lý nợ công không thể tách rời quản lý chính sách vĩ mô,quản lý ngân sách nhà nước ,dự trữ ngoại tệ và cán cân thanh toán
1.2.2 Sự cần thiết của quản lý nợ công
1.2.2.1 Quản lý nợ công trước hết để giảm thiểu rủi ro, đảm bảo an toàn nợ và an ninh của nền tài chính quốc gia.
Một quốc gia phát triển bền vững phải được xây dựng trên nền tảng nền tài chínhvững mạnh, ổn định nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu
Trang 9rộng.Việc quản lý nợ trong đó quản lý nợ công của chính phủ là một việc hết sức quantrọng Kinh nghiệm quản lý nợ công ở nhiều nước trên thế giới trong những năm vừa qua
có thể kể đến cuộc khủng hoảng nợ ở các nước Mỹ Latinh như Argentina, Peru … haygần đây nhất là cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp sau đó lan rộng ra các nước thuộcliên minh Châu Âu.Cho thấy một thực tế rằng: “Việc quản lý nợ công không chặt chẽcùng các sai lầm trong chính sách vĩ mô có thể đưa nước đó đối mặt với tình trạng khókhăn về tài chính, thậm chí còn rơi vào một cuộc khủng hoảng Nợ”.Do vậy trong bốicảnh nền kinh tế thề giới có nhiều diễn biến phức tạp,việc quản lý vay và sử dụng nợcông cần phải được chính phủ các nước xem xét cẩn trọng trên cơ sở cân đối giữa tiêudùng hiện tại và tiêu dùng trong tương lai nhằm phát huy tối đa tác động đến nền kinh tếcủa các nguồn vốn vay đồng thời không khiến các nước vay nợ có nguy cơ trở thành con
nợ trầm trọng
Nợ công đặc biệt là các khoản vay nợ nước ngoài luôn luôn tiềm ẩn rủi ro cho nềnkinh tế Để hạn chế và khắc phục những rủi ro đó cần sự quản lý chặt chẽ vốn vay từ cơquan hữu quan mà ở đây đại diện là chính phủ.Các khoản vay của chính phủ từ người dântrong nước được coi là khoản vay an toàn tuy nhiên các khoản vay nước ngoài bao gồm
cả khoản viện trợ và các khoản vay thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công lạitiềm ẩn nhiều rủi ro
Trước hết và là rủi ro lớn nhất là rủi ro lãi suất.Lãi suất vay thương mại cao, lại
thường xuyên biến động theo lãi suất thị trường vốn quốc tế.Do vậy nước đi vay rất dễlâm vào tình trạng khó khăn trong thanh toán nếu như lãi suất tăng đột biến
Rủi ro tiếp theo là rủi ro tỷ giá.Các khoản vay chủ yếu thường từ đối tác nước ngoài, sử
dụng ngoại tệ mạnh làm đồng tiền thanh toán chính.Các biến động bất lợi của đồng tiềnnày trong thời gian đi vay dài có thể chứa đựng những nguy cơ bất lợi cho người vay đặcbiệt đối với các khoản vay bằng đồng tiền có xu hướng tăng giá như EURO, NDT ,JPY…Ngoài ra gánh nặng nợ nần cũng trở nên trầm trọng hơn khi đồng nội tệ bị mất giá do tỷ
lệ lạm phát trong nước cao, do thâm hụt cán cân thương mại.Việc này đẽ đẩy các nướcđến một cuộc khủng hoảng nợ.Điều này dễ dàng nhận ra trong lịch sử ở các nền kinh tếđang phát triển
T r a n g 10 | 49
Trang 10Rủi ro tiếp theo là trình độ và kinh nghiệm quản lý nợ vốn vay ơ các nước tiếp nhận thường thấp.Vay vốn đã khó –quản lý và sử dụng vốn này còn khó và phức tạp
hơn.Thực tế chỉ ra rằng: Các khoản nợ của chính phủ thường có hiệu quả sử dụng thấpcộng vào đó là những sai lầm trong khâu quản lý.Hậu quả nghiêm trọng là chính phủ đivay rơi vào tình trạng nợ nần nặng nề trong khi hiệu quả kinh tế không được cảithiện.Tình trạng này sẽ trầm trọng hơn nếu như kết hợp với các điều kiện bất lợi trên thịtrường quốc tế như lãi suất, tỷ giá,hay khủng hoảng kinh tế thế giới…
1.2.2.2 Quản lý để tăng cường hiệu quả sử dụng vốn vay
Mọi quốc gia đều muốn giải quyết câu hỏi: “Việc vay vốn bao nhiêu hợp lý, sửdụng vốn như thế nào để đạt hiệu quả cao”.Để làm được việc này đòi hỏi công tác quản
lý, giảm sát chặt chẽ mọi khâu từ huy động-giải ngân-sử dụng vốn-trả nợ.Đặc biệt là cáckhoản vay nước ngoài, dù là chính phủ trực tiếp đi vay hay chính phủ bảo lãnh, dù dướihình thức viện trợ ưu đãi hay vay thương mại thì đều phải trả cả gốc và lãi đúng hạn.Dovậy việc sử dụng vốn đó như thế nào vừa để thúc đẩy kinh tế phát triển vừa không tạo ragánh nặng nợ nần cho thế hệ tương lai là vần đề hết sức quan trọng cần được chính phủcác nước xem xét kỹ lưỡng
1.2.2.3 Nhu cầu quản lý nợ xuất phát từ yêu câu đòi hỏi khắt khe của người cho vay, bên tài trợ.
Mặc dù mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu cần hướng tới đối với người cho vay tuyvậy nhưng một yếu tố khác mà không một nhà đầu tư nào bỏ qua khi thực hiện lại khôngnhắc đến đó là sự an toàn.Không chỉ các khoản vay thương mại mà ngay cả các nguồnvốn hỗ trợ phát triển chính thức ODA, nhà tài trợ cũng rất quan tâm đến số tiền của họđược sử dụng như thế nào, có đúng mục đích không, hiệu quả của vốn đến đâu.Việc quản
lý kém hiệu quả của bên đi vay có thể dẫn đến tình trạng rút vốn, cắt giảm thậm chíngừng hỗ trợ.Do vậy công tác quản lý đòi hỏi sát sao, liên tục trong suốt các khâu vay –
Trang 11giải ngân- sử dụng vốn vay đảm bảo tiết kiệm, hiệu quả nhằm mang lại niềm tin, sự hàilong của bên cho vay hoặc bên tài trợ.
Tóm lại Quản lý nợ công có mối quan hệ mật thiết với quản lý vĩ mô nền kinh tế vìnhững tác động to lớn của khoản nợ này đến toàn bộ nền kinh tế.Chất lượng quản lý nợcông liên quan trực tiếp đến hiệu quả vốn đầu tư và tác động đến hiệu quả chung của nềnkinh tế Do vậy Quản lý nợ công đã trở thành vấn đề bức thiết mà các chính phủ đangmuốn giải quyết trong giai đoạn hiện nay
1.2.3 Nội dung quản lý nợ công
Là một công việc phức tạp, đặc thù và liên quan đến nhiều cơ quan chính phủ , dovậy nội dung của công tác quản lý nợ công cũng đa dạng và phức tạp không kém.Quản lý
nợ bao gồm khía cạnh kỹ thuật và khía cạnh thể chể Khía cạnh kĩ thuật tập trung vàođịnh mức nợ công cần thiết như quy mô, cơ cấu nợ, giám sát sử dụng và đảm bảo khảnăng trả nợ trong tương lai.Khía cạnh thể chế liên quan đến việc xây dựng chiến lược nợ,xây dựng khung pháp lý, sắp xếp thể chế, chức năng nhiệm vụ của các cơ quan quản lýđảm nhiệm,giám sát thông tin nợ Công việc này được cụ thể bằng sơ đồ:
Trang 12QUẢN LÝ QUY MÔ
QUẢN LÝ CƠ CẤU
KHÍA CẠNH KỸ
GIÁM SÁT SỬ DỤNG THUẬT
KHẢ NĂNG TRẢ NỢQUẢN LÝ NỢ
KHUNG PHÁP LÝ
KHÍA CẠNH THỂ CHẾ CHỨC NĂNG NHIỆM
VỤ CỦA CƠ QUAN QLÝ GIÁM SÁT THÔNG TIN
1.2.3.1 Xây dựng chiến lược và kế hoạch quản lý nợ công
Một trong những công cụ quản lý nợ của chính phủ là chiến lược và kế hoạch quản
lý nợ.Chiến lược vay trả nợ được lập trong dài hạn trong khi kế hoạch vay trả nợ đượclập trong trung và ngắn hạn
+Chiến lược vay trả nợ công là một văn kiện đưa ra mục tiêu, định hướng ,các nhóm giải
pháp, chính sách đối với quản lý nợ công được xây dựng trong chiến lược tổng thể vềhoạt động vốn đầu tư cho nền kinh tế; phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế- xã hộitrong khoảng thời gian 5-10 năm.Nội dung chính của chiến lược là đánh giá tình hình nợcông, công tác quản lý nợ trong thời gian vừa qua Mục tiêu, định hướng, các giải pháp,chính sách đối với quản lý nợ công
+Chương trình quản lý nợ công trung hạn là văn kiện đưa cụ thể hóa nội dung chiến lược
nợ trong khoảng 3-5 năm được xây dựng phù hợp với chính sách kinh tế , tài chính trongtrung hạn của chính phủ.Nội dung chủ yếu là đánh giá tình hình, dự báo các điều kiện củathị trường vốn trong nước va quốc tế, cân đối ngoại tệ, biến động tỷ giá, lãi suất từ đó
Trang 13điều chỉnh chính sách vay trả nợ phù hợp với từng thời kỳ ;xây dựng các phương án huyđộng vốn vay, ngưỡng an toàn, cơ chế sử dụng vốn vay Đề xuất các giải pháp và phương
án xử lý nợ cơ cấu danh mục nợ nhằm xử lý nợ xấu và giảm nhẹ nghĩa vụ trả nợ
+Kế hoach hàng năm là văn kiện được xây dựng trên cơ sở chương trình quản lý nợ tuy
nhiên bám sát với tình hình kinh tế -xã hội thực tế diễn ra nhằm phân tích tình hình vaytrả nợ công, đánh giá rủi ro, lên kế hoạch huy động-sử dụng-trả nợ hiệu quả, hợp lý
1.2.3.2 Ban hành khung thể chế, xây dựng cơ chế, tổ chức bộ máy quản lý nợ công
từ trung ương đến địa phương.
Một trong những nhiệm vụ hàng đầu của nhà nước trong việc giám sát, quản lýnhà nước về nợ công là phải xây dựng được một khuôn khổ pháp lý, thể chế quản lý nợcông.Trong đó phải phân định rõ ràng trách nhiệm, quyền hạn của quốc hội, chính phủ ,các cơ quan nhà nước được ủy quyền của chính phủ trong việc vay, trả nợ các khoản nợ
+Khung pháp lý: Do tính chất phức tạp và tác động mạnh mẽ của nợ công đối với toàn bộ
nền kinh tế do vậy sự phân định trách nhiệm trong công tác quản lý cần phải được luậtpháp hóa bằng các văn bản pháp luật như Luật Quản Lý Nợ Công, Luật Ngân Sách NhàNước, các Thông Tư có liên quan.Hệ thống văn bản pháp luật này cần phải chặt chẽ, nhấtquán, đồng bộ để thuận tiện cho công tác thực hiện
+Tổ chức bộ máy quản lý là một nội dung vô cùng quan trọng trong công tác quản lý nợ
công.Việc vay nợ, sử dụng vốn vay có hiệu quả chỉ có thể đạt được dựa trên một bộ máy
tổ chức hành chính gọn nhẹ, thống nhất, hoạt động hiệu quả.Trước hết là cơ quan lậppháp-Quốc hội phải chịu trách nhiệm điều chỉnh, hoàn thiện, thông qua các dự luật về Nợ
và các kế hoạch Nợ Công hàng năm do chính phủ đề xuất.Tiếp theo đó là kể đến vai tròcủa Chính Phủ với các cơ quan hành pháp chịu trách nhiệm triển khai, thực hiện các nộidung quản lý Nợ.Thông thường thì Bộ Tài Chính là cơ quan trực tiếp nhận trách nhiệm
về vay nợ Tiếp đến là vai trò của ngân hàng Nhà Nước, Bộ Kế Hoach và Đầu Tư, ChínhQuyền địa phương trong việc xây dựng ,đề xuất chiến lược Nợ Công phù hợp với tìnhhình kinh tế -xã hội chung của đất nước và với từng địa phương mình nói riêng
1.2.3.3 Đánh giá nợ công
T r a n g 14 | 49
Trang 14Đối với tất cả các quốc gia đang phát triển trên thế giới nói chung và Việt Nam nóiriêng, việc tăng cường vay nợ đặc biệt là vay nợ ở khu vực Công để đáp ứng nhu cầu vềvốn để phát triển đất nước đã trở thành tất yếu.Tuy nhiên việc vay bao nhiêu, cơ cấu nhưthế nào để tránh những tác động tiêu cực của nợ công cho thế hệ tương lai cần phải đượcxem xét kỹ lưỡng trên cơ sở vận dụng lý thuyết nghiên cứu tình hình thực tế.
+Tính bền vững của nợ công là khái niệm được các tổ chức quốc tế như IMF, WB, hay
UNCTAD, các cơ quan quản lý nợ của các nước cho vay, đi vay và các chuyên gia kinh
tế nói đến rất nhiều trong thời gian gần đây đặc biệtkhi cuộc khủng hoảng nợ công sảy ra
ở Hi lạp và lan rộng ra EUROZONE đầu năm 2010.Một định nghĩa của cơ quan pháttriển quốc tế (IDA thuộc WB) và quỹ tiền tệ quốc tế IMF phát biểu như sau:
“Tính bền vững nợ là khái niệm dùng để chỉ trạng thái nợ của quốc gia tại đó nước vay
nợ có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ tả nợ cả gốc và lãi một cách đầy đủ-không phải nhờ đến các biện pháp miễn giảm hay cơ cấu lại khoản nợ nào, cùng những biện pháp hoãn nợ, đồng thời nền kinh tế vẫn phải đạt được một tỷ lệ trăng trưởng chập nhận được.”
Định nghĩa về tính bền vững –an toàn của nợ nói trên đưa ra một khuôn khổ mangtính chất nguyên tắc, trên cơ sở này các nước xây dựng hệ thống quản lý nợ công hiệuquả.Chính sách kết hợp hài hòa giữa chính sách vĩ mô và chính sách vay trả nợ nhằmđảm bảo an toàn cho nền tài chính quốc gia đồng thời tạo điều kiện để phát triển kinh tế
được gọi là “Chính Sách Nợ Công bền vững”.
Để việc vay nợ đảm bảo hiệu quả, không dẫn đến những xáo trộn kinh tế vĩ mô trong ngắn hạn cũng như trong dài hạn,Chính phủ cần phải xem xét tới các yếu tố sau:
+Mức nợ tích lũy và tốc độ tăng của nợ công tại thời điểm hiện tại
Đánh giá quy mô của nợ công là việc làm hết sức quan trọng trong đánh giá tình trạng nợcông của một quốc gia nhằm đưa ra chiến lược vay trả nợ phù hợp.Quy mô tuyệt đối cho
ta biết chính xác về số công nợ của chính phủ nhưng lại không thấy được mối tương quanvới các yếu tố khác của nền kinh tế như GDP, thâm hụt ngân sách nhà nước ….Do vậy tacần xem xét quy mô tương đối của nợ công được thể hiện qua các chỉ số nợ:
T r a n g 15 | 49
Trang 15-Tỷ lệ nợ công/ GDP được đo bằng tỉ lệ phần trăm giữa tổng nợ công tích lũy trên
tổng sản phẩm trong nước hàng năm
Tổng dư nợ công cuối năm
Tỷ lệ nợ công so với GDP = x 100%
GDP trong năm
Tỷ lệ này thể hiện mối tương quan giữa tổng khoản nợ với năng lực tạo ra thunhập chịu thuế(nguồn dùng để thanh toán nợ công).Do phụ thuộc vào thu nhập chịu thuếnên tỷ lệ này được đánh giá cao hay thấp là tùy thuộc vào mức độ ổn định của nền kinh tế
và năng lực thu thuế của chính phủ.Ví dụ ở Việt Nam tỷ lệ này được cho là an toàn nếunhư < 50% ở các nước thuộc liên minh Châu Âu (EU) mức nợ công /GDP chấp nhậnđược là không quá 60% theo tiêu chí của Mastricht
-Nợ nước ngoài trên /GDP được đo bằng tỷ lệ phần trăm giữa tổng nợ nước ngoài
và và tổng sản phẩm trong nước hàng năm
Tổng dư nợ nước ngoài cuối năm
Tỷ lệ nợ nước ngoài so GDP = x 100%
GDP trong nămNhư đã nói ở trên chỉ số nợ nước ngoài trên GDP có thể được biểu diễn bằng tổng
nợ danh nghĩa trên GDP hoặc giá trị hiện tại ròng của tổng nợ trên GDP.Đây là chỉ sốtổng hợp tổng hợp nhất để đánh giá gánh nặng nợ quốc gia.Nó cũng biển hiệu mối tươngquan giữa tổng nợ nước ngoài so với năng lực tạo ra thu nhập để trả nợ
-Nợ Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ Chính phủ so với thu
nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm 31/12 hàng năm
Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ Chính phủ cuối năm
Trang 16Tỷ lệ nợ Chính phủ so với GDP = x 100%
GDP trong năm
-Nợ vay thương mại của Chính phủ so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ
vay thương mại nước ngoài Chính phủ so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và đượctính tại thời điểm 31/12 hàng năm
Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ Chính phủ cuối năm
Tỷ lệ nợ vay thương mại = x 100%nước ngoài Chính phủ so
với GDP
GDP trong năm
-Nợ được Chính phủ bảo lãnh so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ được
Chính phủ bảo lãnh so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thời điểm31/12 hàng năm
Chỉ số này được tính như sau:
Tổng dư nợ bảo lãnh cuối năm
Tỷ lệ nợ được Chính phủ = x 100%
bảo lãnh so với GDP
GDP trong năm
-Nợ chính quyền địa phương so với GDP: Chỉ số này phản ánh quy mô nợ của
Chính quyền địa phương so với thu nhập của toàn bộ nền kinh tế và được tính tại thờiđiểm 31/12 hàng năm
Chỉ số này được tính như sau:
Trang 17Tỷ lệ nợ địa phương so với =
Tổng dư nợ địa phương cuối năm x 100%
GDP
GDP trong nămViệc phân tích mức độ nợ công được thực hiện dựa trên kinh nghiệm thực tế vềvay và trả nợ của các nước đang phát triển đi trước có điều kiện kinh tế tương đối giốngViệt Nam từ đó xây dựng một mức trần để từ đó đánh giá gánh nặng nợ nần củamình.Mỗi chỉ số thể hiện một khía cạnh khác nhau của mức độ nợ công của một nước.Đểđánh giá mức độ nợ và khả năng trả nợ của nước đó cần xem xét tất cả các chỉ số trongmối quan hệ với nhau.Tuy nhiên chỉ số tổng nợ công /GDP, nợ nước ngoài /GDP là quantrọng nhất bởi lẽ nó thể hiện khả năng trả nợ lâu dài của nền kinh tế.Vì vậy khi dùng cácchỉ số này để đánh giá mức nợ không nên chỉ dùng duy nhất một chỉ số mà nên kết hợpchúng với nhau để có những kết luận chính xác.Thứ nhất là nợ công không vượt quá 50-60% GDP hoặc không quá 150% kim ngạch xuất khẩu.Thứ hai là dịch vụ trả nợ côngkhông vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và dịch vụ trả nợ của chính phủ không vượtqua 10% chi ngân sách.Ngân hàng thế giới đưa ra ngưỡng an toàn nợ công là 50% vàtheo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý cho các quốc gia đang phát triểnnên ở mức dưới 50%.Tuy nhiên không có hạn mức an toàn nào chung cho các nền kinh
tế, không phải tỷ lệ nợ công /GDP thấp là trong ngưỡng an toàn và ngược lại.Mức độ antoàn của nợ công còn phụ thuộc vào tình trạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua
hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô.Ví dụ cho điều này là Hoa Kỳ có tỷ lệ nợ công là96%GDP, Nhật Bản có mức nợ công vào loại cao nhất thế giới 200% GDP nhưng donăng suất lao động cao đảm bảo cho nợ công của hai nước là bền vững.Trong khi đónhiều nước lại có chỉ số nợ trên GDP thấp hơn lại rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ nhưVenezuela năm 1981 là 15% GDP, Argentina năm 2001 là 45% GDP,Ukraina năm 2007chỉ với 13% GDP , Rumani là 20%.Hay gần đây nhất là Hy lạp lên đến 113,5%,Irelandkhoảng 98,5% GDP.Chính vì vậy mà để xác định đánh giá đúng đắn mức độ an toàn của
nợ công không chỉ quan tâm đến tỷ lệ nợ trên GDP mà cần phải xem xét nó một cáchtoàn diện trong mối lien hệ với hệ thống chỉ tiêu kinh tế vĩ mô của nền kinh tế như tốc độ
Trang 18và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn,thâm hụt ngân sách, mức tiết kiệm nội địa và mức đầu tư toàn xã hội… bên cạnh đó cònphải xem xét các chỉ tiêu về cơ cấu nợ như: lãi suất, kì hạn trả nợ….
Bảng 1.1Các chỉ số dùng để đánh giá mức độ nợ của ngân hàng thế giới, UNDP và dự
án VIE/01/010
Đối với nợ công
NPV của nợ/thu ngân sách trừ khoản hỗ trợ 250%
Dịch vụ nợ /nguồn thu ngân sách trừ khoản hỗ trợ 10%
Đối với nợ nước ngoài:
Mức nợ nước ngoài Đánh giá sức mạnh của thể chế và chính sách
Kém CPIA<3 Vừa 3<CPIA<3,9 Mạnh CPIA>3,9
Trong đó: “Mạnh” là tình trạng nợ nghiêm trọng và “Kém” là không gặp vấn đề về nợ
Đối với nợ trong nước
Trang 19Dịch vụ nợ/ thu ngân sách 28%-63%
+Quản lý cơ cấu các khoản nợ công Bao gồm việc quản lý:
Cơ cấu nợ trung dài hạn- nợ ngắn hạn đối với nợ công và nợ nước ngoài
Cơ cấu nợ vay trong nước (tín phiếu, trái phiếu) và nước ngoài (ODA, thương mại…) của chính phủ
Lãi suất vay trung bình của các khoản vay được tính trên cơ sở bình quân gia quyền của các khoản vay với điều kiện vay khác nhau
Kỳ hạn trung bình của các khoản vay tính trên cơ sở bình quan gia quyền của các khoản vay với kỳ hạn khác nhau
Đối với cơ cấu tiền tệ, không nên tập trung các khoản nợ vào một số các đồng tiền,đặc biệt là các đồng tiền thường xuyên biến động và các khoản vay đa tiền tệ nhằm tránhrủi ro tỷ giá dẫn đến gia tăng gành nặng nợ.Để chủ động bảo vệ mình,nước đi vay có thểlinh hoạt áp dụng các công cụ tài chính sẵn có trên thị trường như các hợp đồng quyềnchọn, kỳ hạn, tương lai… để làm cho cơ cấu tiền vay và cơ cấu ngoại tệ thi được phù hợpvới nhau.Bên cạnh đó các quốc gia đi vay cần cân đối giữa cơ cấu tiền đi vay với cơ cấungoại tệ thu được từ hoạt động xuất khẩu và cơ cấu dự trữ ngoại hối để đề phòng rủi rothanh khoản có thể sảy ra.Đối với thời hạn vay, nên cân đối giữa vay ngắn hạn và vay dàihạn nhằm giảm rủi ro vốn đổi chiều đột ngột.Đối với lãi suất nên cân đối tối đa giữa lãisuất thả nổi và lãi suất cố định.Đối với các công cụ tài chính sử dụng, lựa chọn cácnghiệp vụ sao cho có lợi nhất trong đó có các nghiệp vụ như chuyển nợ thành vốn,chuyển nợ thành các trái quyền khác, chuyển nợ thành nợ, mua bán lại nợ nhằm giảm đếnmức tối đa các khoản nợ quá hạn.Tuy nhiện việc tái cơ cấu các khoản nợ này chỉ đượcxem như là các biện pháp tạm thời khi chính phủ rơi vào tình trạng không có khả năng trả
nợ và có thành công hay không phụ thuộc vào quan hệ giữa chủ nợ và chính phủ đi vay
1.2.3.4 Kiểm soát và Đánh giá việc sử dụng các khoản nợ
Kiểm soát việc sử dụng vốn vay
T r a n g 20 | 49
Trang 20Kiểm soát việc sử dụng vốn từ các khoản nợ công là quá trình theo dõi những hoạtđộng sử dụng vốn để biết chắc chúng có được sử dụng theo đúng kế hoạch và để sửachữa những sai lệch sảy ra và tìm biện pháp khắc phục.Như vậy công tác kiểm soát thựchiện vốn vay là công tác quan trọng không thể thiếu để đảm bảo cho các chương trình, dự
án thành công và đảm bảo cho các chương trình dự án cũng như việc cung ứng nhân lực,phương tiện, vốn… được thực hiện theo kế hoạch đặt ra.Nội dung của khâu kiểm soát cầntập trung vào các điểm nút của dự án như tiến độ, vật lực, tài lực, nhân lực…các chủ thểthực hiện việc kiểm soát các chương trình dự án chủ yếu gồm các cơ quan quản lý nhànước liên quan đến vốn nợ công như Bộ tài chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, ngân hàng nhànước, chính quyền địa phương… mức độ, cách thức thực hiện việc kiểm soát phải nhằmmục tiêu cuối cùng là nâng cao hiệu quả của dự án, chương trình
1.2.3.5 Đánh giá khả năng trả nợ hiện có của nền kinh tế
Ngoài các chỉ số như nợ/ xuất khẩu hay nợ/ thu ngân sách nhà nước dùng để đánh giátính bền vững của nợ cũng có thể được sử dụng để đánh giá khả năng trả nợ của nền kinh
tế thì tập hợp các chỉ số kinh tế vĩ mô của quốc gia vay nợ cho phép đánh giá một cáchkhả chính xác nguồn lực có thể huy động cho việc trả nợ, mức độ chắc chắn của việcđúng hạn, đồng thời có thể chỉ báo tình trạng mất khả năng trả nợ(khủng hoảng nợ) sắpxảy ra.Phân tích động thái của các chỉ số này sẽ cho quốc gia cái nhìn khái quát toàn cảnh
về tình trạng nợ của mình
+ Tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế đóng vai trò quyết định đối với độ lớn của nguồn tài chính thuđược để trả nợ.Tốc độ tăng trưởng giảm dần đồng thời xuất hiện thêm các vấn đề như chiphí nợ vay tăng, tính cạnh tranh của quốc gia giảm sút, các vấn đề tín dụng trong nước…
là dấu hiệu chỉ báo tình trạng mất khả năng thanh toán trong tương lai.Bài học có thể thấy
rõ điều này chính là cuộc khủng hoảng tại Thái lan năm 1998
+ Tình trạng của cán cân thanh toán.
Đối với các nước đang phát triển, tình trạng của cán cân thanh toán phản ánh lượngngoại tệ có để trả nợ.Tình trạng thặng dư hay thâm hụt của cán cân liên quan đến dự trữ ngoại hối quốc gia.Việc nhập khẩu quá lớn so với xuất khẩu làm thâm hụt cán cân thương
Trang 21mại, qua đó làm tăng thêm tình trạng thâm hụt cán cân thanh toán quốc tế chỉ ra rằng khả năng hạn chế trả nợ trong tương lai.
+ Lãi suất –tỷ giá-lạm phát
Ba yếu tố quan trọng này tác động mạnh mẽ đến tình hình kinh tế của quốc gia vàkhả năng trả nợ của quốc gia.Lãi suất cao, lạm phát và tỷ giá biến động làm ảnh hưởngđến chi phí vay nợ, đồng thời gây khó khăn cho khả năng tiếp cận tín dụng của doanhnghiệp trong nước ảnh hưởng đến nền kinh tế trong nước do vậy ảnh hưởng đến khả năngtrả nợ của chính phủ
+ Quản lý nợ là công việc hết sức quan trọng mà hầu hết các quốc gia trên thế giới đềurất quan tâm nhằm mục tiêu có thể vay được khối lượng vốn lớn mong muốn với chiphí và rủi ro thấp nhất
+ Phải thành lập cơ quan quản lý nợ để thống nhất các khoản vay nợ trong và ngoài nước
+ Nợ phải được theo dõi thường xuyên, thận trọng tỷ mỷ để có những quyết sách kịp thời đảm bảo an toàn tài chính
Chương 1 đã hệ thống hóa các vấn đề lý thuyết chung về quản lý nợ công, vai trò củaquản lý nợ công trong việc đảm bảo an toàn tài chính quốc gia
1.3 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài áp dụng tổng hợp các phương pháp thống kê, phân tích thống kê, so sánh,
mô hình toán, phương pháp định lượng kết hợp lý thuyết với thực tiễn nhằm giải thích đánh giá những vấn đề quan trọng phục vụ mục đích nghiên cứu.
Đề tài sử dụng số liệu thống kê về tăng trưởng, xuất nhập khẩu, đầu tư… của Việt Nam được lấy từ nguồn chính thức do tổng cục thống kê công bố trên website của Tổng cục.Các số liệu thống kê về nợ chủ yếu lấy từ nguồn cơ sở dữ liệu của quỹ tiền tệ thế giới IMF , ngân hàng thế giới WB, của tạp chí The Ecomomist…
Trang 22Chương II: Kết quả và thảo luận2.1 kết quả nghiên cứu
Theo Luật Quản lý nợ công năm 2009 của Việt Nam, nợ công gồm: Nợ chính phủ, Nợ được Chính phủ bảo lãnh và Nợ chính quyền địa phương Tuy nhiên, để đánh giá đúng đắn bản chất, vai trò của nợ công như là một nguồn lực chính yếu cho sự phát triển kinh
tế - xã hội (KT-XH) của một nước, cần đánh giá các nhân tố có ảnh hưởng, tác động qualại đến nợ công qua đẳng thức cơ bản sau:
d = B/(gy-i)
Trong đó, d là tỷ lệ nợ công so với GDP; B là tỷ lệ bội chi NSNN/GDP (không bao gồm
nợ vay); gy là tốc độ tăng trưởng GDP, i là lãi suất
Như vậy, nợ công chịu ảnh hưởng bởi các nhân tố chủ yếu sau: Bội chi ngân sách nhànước (B);Tăng trưởng hay suy thoái kinh tế, thông qua chỉ tiêu GDP (gy); Lãi suất trên thị trường đồng nội tệ và ngoại tệ (i) Ngoài ra, nợ công nếu vay nước ngoài thì còn chịu rủi ro về biến động tỷ giá hối đoái Còn trong quá trình sử dụng theo thời gian, nó sẽ chịuảnh hưởng bởi nhân tố lạm phát
Thực tế cho thấy, nợ công đã và đang trở thành nguồn lực quan trọng thúc đẩy tăngtrưởng kinh tế ở nhiều nước như: Mỹ, Singapore, Trung Quốc với điểm chung là Chínhphủ sử dụng nợ công với tỷ trọng khá cao Điểm nhấn ở đây là, việc huy động, phân bổ,
sử dụng nợ công luôn gắn liền với các chương trình, dự án KT-XH thiết thực, có khả năng thu hồi vốn cao, luôn gắn với tỷ lệ bội chi NSNN trong giới hạn kiểm soát được (khoảng 5%/năm) và ngược lại Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu các năm 2009-
2012 càng làm sáng tỏ nhận định trên
2.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu
Ở Việt Nam, những năm qua, nợ công đã góp phần quan trọng vào sự phát triển KT-XHnước ta, thể hiện ở các mặt sau:
T r a n g 23 | 49
Trang 23- Về quy mô nợ công, trong giai đoạn 2011- 2015, quy mô huy động từ vay nợ đạt bình quân 14% GDP, chiếm khoảng 44% vốn đầu tư toàn xã hội, với tốc độ tăng bình quân 19%/năm Về tỷ lệ nợ công trên GDP, nếu năm 2001 là 36,5% thì đến năm 2015
là 61,3% GDP và năm 2016 đã là 64,73% GDP
- Về cơ cấu nợ công, trong giai đoạn 2011 - 2015, vay nợ Chính phủ chiếm bình quân 76%gấp 3,1 lần so với 5 năm trước, bảo lãnh Chính phủ chiếm 19%, gấp 2,2 lần và vay của chính quyền địa phương chiếm 4,2% Riêng năm 2015, vay nợ Chính phủ chiếm tỷ
trọng 80,8%, năm 2016, vay nợ Chính phủ chiếm tỷ trọng 80,5% Có thể nói, vay nợChính phủ ngày càng mang tính chi phối trong nợ công