Điển hình là cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp đã tác động mạnh mẽ và lan rộng sang một số quốc gia khác nhưItalia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha… Việt Nam là một nước đang phát triển, với thâ
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC HÌNH, BẢNG BIỂU
Hình 1: Cơ cấu nợ công Việt Nam 2016 15Hình 2: Nợ công vay trong nước và ngoài nước giai đoạn 2011 - 2016 16Hình 3: Cơ cấu đồng tiền của danh mục nợ công 17
Trang 2A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Nợ công là một phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của tất cả cácquốc gia trên thế giới Tuy nhiên, gánh nặng nợ công và những hệ quả vĩ mô của nó
đã trở thành nỗi lo thường trực của nhiều quốc gia Điển hình là cuộc khủng hoảng
nợ công ở Hy Lạp đã tác động mạnh mẽ và lan rộng sang một số quốc gia khác nhưItalia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha…
Việt Nam là một nước đang phát triển, với thâm hụt ngân sách kéo dài, vay nợliên tục qua việc phát hành trái phiếu chính phủ trên thị trường nội địa và vay mượn
ưu đãi nước ngoài đã dẫn đến tỷ lệ nợ tăng nhanh Tình trạng ngân sách cao và kéodài trong nhiều năm, đặc biệt một số năm đã vượt xa ngưỡng báo động đỏ theothông lệ quốc tế, trong khi tưng trưởng kinh tế bình quân nhìn chung không cao là
hệ quả tất yếu dẫn đến nợ công trên GDP của Việt Nam liên tục tăng lên
Báo cáo của Chính phủ về tình hình nợ công cho biết trên cơ sở kế hoạch vay
và trả nợ công năm 2017 và tình hình thực hiện đến 30/9/2017, dự kiến cuối năm
2017 dư nợ công khoảng 3,1 triệu tỷ đồng, tương đương 62,6% GDP, nếu chia trungbình cho 94 triệu dân, mỗi người dân đang gánh khoảng 33 triệu đồng Dư nợ chínhphủ khoảng 51,8% GDP và dư nợ nước ngoài của quốc gia khoảng 45,2% GDP.Như vậy, theo lý thuyết, các chỉ số nợ của Việt Nam vẫn ở mức an toàn, trong giớihạn được chính phủ cho phép Tuy nhiên, vấn đề đáng lo ngại là Việt Nam lại nằmtrong những quốc giá có tỷ lệ nợ trên GDP tăng nhanh nhất (tăng khoảng 10% trong
5 năm qua), cho dù với thành tích tăng trưởng kinh tế ấn tượng Theo đó, nếu bộichi ngân sách và mức bảo lãnh của Chính phủ vẫn duy trì như hiện nay thì tỷ lệ nợcông trên GDP của Việt Nam sẽ tăng vượt trần cho phép (65% GDP) trong nhữngnăm tới, kể cả khi tăng trưởng GDP có được duy trì ở mức cao và chi phí huy độngvẫn còn tương đối thuận lợi như hiện nay Nhận thấy được tính cấp thiết của vấn đề,nhóm nghiên cứu đã chọn chủ đề “Đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam”làm đề tài nghiên cứu và khuyến nghị một số giải pháp để giải quyết bài toán nợcông của Việt Nam
Trang 32. Mục tiêu nghiên cứu
Thứ nhất, bài nghiên cứu đánh giá một cách tổng quát tình hình nợ công của
Việt Nam
Thứ hai, nghiên cứu đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam dựa vào
khung nợ bền vững DSF (Debt Sustainability Framework) của Ngân hàng Thế giới(World Bnk –WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF)
Thứ ba, khuyến nghị một số giải pháp nhằm đảm bảo khả năng thanh toán nợ
và sử dụng nợ một cách hiệu quả trong tương lai
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nợ công Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu: Nợ công Việt Nam giai đoạn 2001-2017
Do phạm vi nghiên cứu của đề tài khá rộng mà thời gian là hạn chế, chúng
em đã cố gắng hết sức trong phạm vi khả năng nhưng chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót Rất mong nhận được đánh giá góp ý của Cô để bài nghiên cứu của chúng em được hoàn thiện hơn.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
B. NỘI DUNG
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong và ngoài nước
Nợ công vẫn luôn là vấn đề hấp dẫn với các nhà kinh tế học từ xưa đến nay.Hằng năm, rất nhiều các nghiên cứu mới được ra đời, phản ánh đa chiều các vấn đềkhác nhau về nợ công Do vậy, đề tài về tính bền vững của nợ công cũng đã đượcrất nhiều các nhà kinh tế học trong nước cũng như nước ngoài lựa chọn để nghiêncứu
1.1.1 Nước ngoài
Với các nghiên cứu quốc tế, ta có thể kể đến một số công trình như Nghiêncứu của Manasse và Roubini (2005) Đây là công trình nghiên cứu phân tích nợcông (chủ yếu là nợ nước ngoài của khu vực công) cũng như khả năng xảy ra vỡ nợcủa các quốc gia bằng mô hình cây nhị phân Các mẫu quan sát của mô hình đượclấy từ 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn 1970-2002 và được tập hơp lại thành
10 chỉ số được chia vào 3 nhóm biến số là: nhóm chỉ số kinh tế vĩ mô cơ bản, nhómchỉ số phản ánh biến động và nhóm chỉ số kinh tế chính trị Nghiên cứu đã chỉ rarằng các dấu hiệu của một quốc gia trước khi xảy ra khủng hoảng thường được phảnánh thông qua sự biến động của nhóm chỉ số kinh tế vĩ mô, chính trị đó Do vậy,việc sử dụng số liệu quá khứ và xây dựng mô hình hoàn toàn có thể giúp các nước
dự báo được khủng hoảng kinh tế trong ngắn hạn và đây cũng có thể coi là mộtkênh phân tích giúp Chính phủ điều chỉnh các chỉ số kinh tế cho phù hợp và antoàn
Ngoài ra khung nợ DSF của WB và IMF áp dụng cho các nước có thu nhậpthấp (công bố lần đầu năm 2005 và được cập nhập định kỳ) không chỉ đưa ra khung
nợ bền vững mà nó cũng là một trong những thước đo cho các xếp hạng về chínhsách thể chế của một quốc gia thông qua việc xác định chỉ số CPIA Các xếp hạngcũng như nghiên cứu nhằm mục đích đưa ra đánh giá tổng quan cho các nước để cónhững thay đổi về chính sách cũng như điều chỉnh nợ công cho phù hợp, sử dụng
nợ công hiệu quả
Hay nghiên cứu của nhóm tác giả Corsetti G và Roubini N (1991) đã dựa trên
bộ số liệu của 18 nước trong khối OECD với chuỗi dữ liệu thời gian từ 1960 –
Trang 51989 Các tác giả đã phát hiện có sự khác biệt về sự phát triển bền vững của cácquốc gia trong dài hạn Về cơ bản, các quốc gia phát triển không có khó khăn trongviệc kiểm soát nợ công, các quốc gia đang và kém phát triển có thể gặp trở ngạitrong việc chi trả nợ công Tác giả Anca Ruxandra (2011) đã sử dụng số liệu hàngnăm của 14 nước Châu Âu trong giai đoạn 1970 – 2012 để chỉ ra tỷ lệ nợ công củamột số nước vượt xa ngưỡng nợ của Hiệp ước Maastricht đề ra Tình trạng này trởnên tồi tệ hơn khi khủng hoảng tài chính toàn cầu xảy ra, tỷ lệ nợ công của các nước
có xu hướng tăng nhanh từ năm 2007, một trong số đó đạt đến mức báo động Cácnước như Đan Mạch, Phần Lan, Hà Lan và Thụy Điển là những nước không cónguy cơ đối mặt với rủi ro thanh khoản trong tương lai Vị thế tài chính bền vữngcủa họ nhờ vào một tỷ lệ nợ công không vượt quá ngưỡng và thặng dư ngân sách đủlớn
1.1.2 Trong nước
Từ khi WB và IMF công bố khung nợ DSF cho các nước có thu nhập thấp thì
đã có rất nhiều nhà phân tích sử dụng khung nợ DSF nhằm mục đích đánh giá tínhbền vững của nợ công Việt Nam cũng như xem xét liệu rằng nợ công của Việt Nam
có ở mức an toàn hay đã ở mức nguy hiểm Điển hình cho việc sử dụng khung nợnày cho nghiên cứu của mình có thể kể đến như: 2 bài nghiên cứu mang tên Nợcông Việt Nam có thực sự ở mức an toàn và Đánh giá tính bền vững nợ công ViệtNam theo mô hình DSF của Quỹ Tiền Tệ Quốc tế và Ngân Hàng thế giới của Phógiáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Thị Lan Hai bài nghiên cứu đều chỉ ra rằng Nợ công ViệtNam đang có mức độ rủi ro cao, thiếu bền vững dù đang ở dưới ngưỡng quy địnhcủa Quốc Hội Bên cạnh đó có bài nghiên cứu Khung đánh giá bền vững nợ và một
số khuyến nghị chính sách cho Việt Nam của tác giả Nguyễn Anh Tuấn và NguyễnThành Chung Bài viết chỉ ra rằng thời gian gần đây nợ công Việt Nam tăng cao làmtăng gánh nặng trả nợ trong ngắn hạn và đề ra các phương án khuyến nghị chínhsách để điều chỉnh, khắc phục tình trạng này
Nghiên cứu Nợ công, tính bền vững ở Việt Nam: Qúa khứ, hiện tại và tươnglai của nhóm tác giả Phạm Thế Anh, Đinh Tuấn Minh, Nguyễn Trí Dũng và TôTrung Thành năm 2013 cũng là một trong những nghiên cứu điển hình về vấn đềnày của Việt Nam Nghiên cứu này không chỉ đánh giá tác động của thâm hụt ngân
Trang 6sách đến nợ công mà còn xây dựng Mô hình cây nhị phân của Manasse và Roubini(2005) và Khung nợ bền vững DSF của IMF và WB (2005) để đánh giá tính bềnvững của nợ công nước ta năm 2011 Kết quả nghiên cứu cho thấy trong ngắn hạn,xác suất xảy ra vỡ nợ của Việt Nam là thấp Và cuối cùng, các tác giả đưa ra đượcbài học kinh nghiệm về các cuộc khủng hoảng thế giới từ đó rút ra bài học kinhnghiệm cho Việt Nam
Hay tác giả Nguyễn Văn Bổn (2016) thuộc Đại học Kinh tế thành phố Hồ ChíMinh đã áp dụng phương pháp chạy lượng để phân tích tác động hai chiều của nợcông và sự phát triển kinh tế Các tác giả đã đưa ra một số nhận định về khả năngkiểm soát tính bền vững của nợ công của Chính phủ Việt Nam
1.2 Cơ sở lí thuyết:
1.2.1 Cơ sở lí thuyết về nợ công:
1.2.1.1 Khái niệm nợ công:
Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam (Khoản 2 Điều 1 Luật số29/2009/QH12), nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ của Chính phủ, nợ đượcChính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương, trong đó:
- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước
ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc cáckhoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quyđịnh của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhànước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài
chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hànhhoặc uỷ quyền phát hành
Theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị Liên hợp quốc vềthương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công không chỉ bao gồm nợ chính phủ, nợđược chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương mà còn bao gồm các nghĩa
vụ nợ của ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm cả Doanhnghiệp Nhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền và một số khoản nợ ngầm định khác Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công lànghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương,
Trang 7các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập(nguồn vốn hoạt động do Ngân sách Nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc
sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay)
Như vậy, khái niệm nợ công của Việt Nam có phạm vi hẹp hơn nhiều so vớitheo thông lệ quốc tế Theo quan điểm của WB và IMF, nợ công là nợ của khu vựccông, bao gồm cả nợ của NHTW và nợ của doanh nghiệp nhà nước, trong khi nợcông của Việt Nam không tính đến nợ của Ngân hàng Nhà nước và nợ của doanhnghiệp nhà nước được Chính phủ bảo lãnh Việc không thống nhất khái niệm gây rakhó khăn trong công tác quản lý và kiểm soát nợ công
1.2.1.2 Phân loại nợ công:
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhautrong việc quản lý và sử dụng nợ công
Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay: Nợ công gồm có hai loại: Nợ
trong nước và nợ nước ngoài Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân,
tổ chức trong nước Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nướcngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài.Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trongquản lý nợ Việc phân loại này sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cânthanh toán quốc tế Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ,
vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc cácphương tiện thanh toán quốc tế khác
Theo phương thức huy động vốn: Nợ công có hai loại: Nợ công từ thỏa thuận
trực tiếp và Nợ công từ công cụ nợ Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợcông xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩmquyền với cá nhân, tổ chức cho vay Phương thức huy động vốn này xuất phát từnhững hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa các nhànước Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước
có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thờihạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thịtrường tài chính
Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công: Nợ công có ba
loại: Nợ công từ vốn vay ODA, Nợ công từ vốn vay ưu đãi và Nợ thương mại thôngthường
Trang 8Theo trách nhiệm đối với chủ nợ: Nợ công được phân loại thành Nợ công
phải trả và Nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ,chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ Nợ công bảo lãnh là khoản nợ màChính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được
nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ
Theo cấp quản lý nợ: Nợ công được phân loại thành Nợ công của trung ương
và Nợ công của chính quyền địa phương Nợ công của trung ương là các khoản nợcủa Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh Nợ công của địa phương là khoản nợcông mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ.Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì những khoản vay nợ củachính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách và được đưa vào cân đối,nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảo chi trả thông quakhả năng bổ sung từ ngân sách trung ương
Việc phân loại nợ công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sửdụng nợ công Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có giải pháp quản lý bảo đảm quy mô
nợ phù hợp, qua đó sẽ chủ động tăng hay giảm nợ để tạo nguồn thúc đẩy phát triểnkinh tế - xã hội
1.2.1.3 Tác động của nợ công đến nền kinh tế:
Vay nợ là một cách huy động vốn cho phát triển Bản chất nợ không phải làxấu Nợ đem lại rất nhiều tác động tích cực cho nền kinh tế của các nước đi vay.Thực tế, các nước muốn phát triển nhanh đều phải đi vay Những nền kinh tế lớnnhất thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản… lại cũng chính là những con nợ lớn
Nợ công có nhiều tác động tích cực, nhưng cũng có không ít tác động tiêu cực Tácđộng tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
Thứ nhất, nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cường
nguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộ của Nhànước Muốn phát triển cơ sở hạ tầng nhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quantrọng nhất Với chính sách huy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bướcđược giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nềnkinh tế;
Thứ hai, nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhàn rỗi trong dân
cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiết kiệm, thông qua việc Nhà
Trang 9nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗi này được đưa vào sử dụng, đem lại hiệuquả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư;
Thứ ba, nợ công tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chức tài
chính quốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế - ngoại giaoquan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đến các quốc gia nghèo,cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương Biết tận dụng tốt những cơ hội này,thì sẽ có thêm nhiều nguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sởtôn trọng lợi ích đối tác, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền đất nước
Bên cạnh những tác động tích cực, nợ công cũng gây ra những tác động tiêucực: Nợ công gia tăng sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc biệt là từ các khoảntài trợ ngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏng lẻo và thiếu cơ chếgiám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công sẽ dẫn đến tình trạng thamnhũng, lãng phí tràn lan Tình trạng này làm thất thoát các nguồn lực, giảm hiệu quảđầu tư và điều quan trọng hơn là giảm thu cho ngân sách Nhận biết những tác độngtích cực và tiêu cực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hếtsức cần thiết trong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công
Về bản chất, nợ công chính là các khoản vay để trang trải thâm hụt ngân sách.Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, nhà nước sẽ phải thuthuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng, nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gianđánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất làcách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho cáchoạt động chi ngân sách Tỷ lệ nợ công/GDP chỉ phản ảnh một phần nào đó về mức
độ an toàn hay rủi ro của nợ công Mức độ an toàn hay nguy hiểm của nợ côngkhông chỉ phụ thuộc vào tỷ lệ nợ/GDP mà quan trọng hơn, phụ thuộc vào tình trạngphát triển của nền kinh tế
Khi xét đến nợ công, chúng ta không chỉ cần quan tâm tới tổng nợ, nợ hàngnăm phải trả mà phải quan tâm nhiều tới rủi ro và cơ cấu nợ Vấn đề quan trọngphải tính là khả năng trả nợ và rủi ro trong tương lai, chứ không chỉ là con số tổng
nợ trên GDP
Trang 101.2.2 Tính bền vững của nợ công:
Theo World Bank (2006) thì khái niệm tính bền vững của nợ công: “Nợ công nước
ngoài của một quốc gia được xem là bền vững nếu như các nghĩa vụ nợ (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ mà không cần sử dụng đến các biện pháp tài trợngoại lệ (ví dụ như xin miễn giảm), hoặc không cần phải thực hiện những điều chỉnh lớn đối với cán cân thu nhập và chi tiêu của mình" (WB, 2006, A Guild to
LIC Debt Substainability Analysis) Như vậy, tính bền vững của nợ công có thể hiểu
là khả năng có thể chi trả các khoản nợ của một quốc gia mà không đòi hỏi xóa nợ hay tích lũy nợ từ phía chủ nợ
Đối với các quốc gia có thu nhập thấp, việc thực hiện nghĩa vụ nợ thường gặpkhó khăn khi các chủ nợ, bao gồm các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước, vàcác nhà tài trợ không cung ứng các khoản vay hoặc tài trợ mới đủ để tài trợ chothâm hụt tài khoá cơ bản Ngoài ra, việc thực hiện nghĩa vụ nợ cũng gặp rắc rối nếunhư nó có chi phí tiền lãi quá lớn
Để đánh giá tính bền vững của nợ công, tiêu chí tỉ lệ nợ công/GDP được coi làchỉ số đánh giá phổ biến nhất cho cách nhìn tổng quát về tình hình nợ công của mộtquốc gia Mức an toàn của nợ công được thể hiện qua việc nợ công có vượt ngưỡng
an toàn tại một thời điểm hay giai đoạn nào đó không Tiêu chí để đánh giá mức antoàn của nợ công được thể hiện cụ thể là:
Thứ nhất, giới hạn nợ công không vượt quá 50% - 60% GDP hoặc không vượt
quá 150% kim ngạch xuất khẩu Ngân hàng Thế giới đưa ra mức quy định ngưỡng
an toàn nợ công là 50% GDP Các tổ chức quốc tế cho rằng, tỷ lệ nợ hợp lý đối vớicác nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP
Thứ hai, dịch vụ trả nợ công không vượt quá 15% kim ngạch xuất khẩu và
dịch vụ trả nợ của Chính phủ không vượt quá 10% chi ngân sách Tuy nhiên, trênthực tế không có hạn mức an toàn chung cho các nền kinh tế Không phải tỷ lệ nợcông/GDP thấp là trong ngưỡng an toàn và ngược lại Mức độ an toàn của nợ côngphụ thuộc vào tình trạng mạnh hay yếu của nền kinh tế thông qua hệ thống chỉ tiêukinh tế vĩ mô Mỹ có tỷ lệ nợ công bằng 96% GDP nhưng vẫn được xem là ởngưỡng an toàn bởi năng suất lao động của Mỹ cao nhất thế giới là cơ sở bảo đảmbền vững cho việc trả nợ Nhật Bản có số nợ lên tới hơn 200% GDP vẫn được coi là
Trang 11ngưỡng an toàn Trong khi đó, nhiều nước có tỷ lệ nợ/GDP thấp hơn rất nhiềunhưng đã rơi vào tình trạng khủng hoảng nợ như: Venezuela năm 1981 với tỷ lệ nợcông chỉ là 15% GDP; Thái Lan năm 1996 với tỷ lệ nợ công là 40% GDP;Argentina năm 2001 với tỷ lệ nợ công là 45% GDP; Ucraina năm 2007 với tỷ lệ nợcông là 13% GDP;
Thứ ba, đánh giá nợ công trong mối liên hệ với các tiêu chí kinh tế vĩ mô Để
đánh giá đúng mức độ an toàn của nợ công không thể chỉ quan tâm đến tỷ lệnợ/GDP, mà cần phải xem xét nợ một cách toàn diện trong mối liên hệ với các chỉtiêu kinh tế vĩ mô, nhất là tốc độ và chất lượng tăng trưởng kinh tế, năng suất laođộng tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chí ICOR), tỷ lệ thâm hụt ngân sách,mức tiết kiệm nội địa và mức đầu tư xã hội… Bên cạnh đó, những tiêu chí như: cơcấu nợ công, tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ… cũng cần đượcxem xét khi đánh giá bản chất nợ công, tính bền vững của nợ công Khi nợ côngtăng cao, vượt quá xa giới hạn được coi là an toàn, nền kinh tế rất dễ bị tổn thương
và chịu nhiều sức ép cả bên trong và bên ngoài
Tóm lại, việc đánh giá đúng thực trạng nợ công và bản chất nợ công của mộtnền kinh tế, một quốc gia là vô cùng quan trọng, đặc biệt trong những thời điểmnhạy cảm Bởi lẽ, nếu chỉ chú trọng vào con số tỷ lệ nợ công cao một cách thuần túy
sẽ gây nên hiệu ứng tâm lý hoang mang, kích động, thiếu tin tưởng, làm gia tăngcăng thẳng xã hội, bị giới đầu cơ lợi dụng tấn công, dễ gây rối loạn nền kinh tế,thậm chí dẫn nền kinh tế đến bên bờ vực phá sản Ngược lại, nếu yên tâm với tỷ lệ
nợ công còn trong giới hạn an toàn mà không phân tích cẩn trọng, chú ý đúng mứcđến khoản nợ đó được hình thành như thế nào, bằng cách nào, thực trạng nền kinh
tế ra sao và khả năng trả nợ thế nào…, cũng dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáythâm hụt ngân sách, tác động tiêu cực đến tăng trưởng
1.3 Phương pháp đánh giá tính bền vững theo khung phân tích của WB và IMF
Phương pháp đánh giá tính bền vững và những rủi ro tài khoá đi kèm của nợcông dựa trên khung phân tích nợ bền vững (DSF - Debt Sustainability Framework)được IMF và WB giới thiệu lần đầu vào tháng 4 năm 2005, được cập nhật vào cácnăm 2006, 2009, 2012 và gần đây nhất là 2017 DSF bao gồm một tập hợp các
Trang 12ngưỡng nợ nguy hiểm, dựa vào đó có thể dự báo nợ công và nợ công nước ngoàitrong vòng 20 năm tới và đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của nợ Các ngưỡng chỉ số gánhnặng nợ phụ thuộc vào mức độ hỗ trợ của chính sách và khung thể chế của mộtquốc gia đối với tăng trưởng bền vững và giảm nghèo, được đo lường bằng chỉ sốCPIA (Country Policy and Institutional Assessment) của WB CPIA là một chỉ sốgồm 16 chỉ tiêu được nhóm lại thành 4 loại: (1) quản lý kinh tế, (2) chính sách cấutrúc, (3) chính sách xã hội và công bằng, (4) quản trị khu vực công và thể chế Cácnước được đánh giá tình trạng hiện tại của họ trong mỗi tiêu chí thực hiện, vớithang điểm từ 1 đến 6 Chỉ số này được cập nhật hàng năm cho tất cả các nướctrong Hiệp hội phát triển quốc tế.
Theo bản thông tin của IMF phương pháp này nhằm tới hai mục tiêu chính:
- Thứ nhất, khuôn khổ khung phân tích được thiết kế để hướng dẫn việc quyết địnhvay vốn của các quốc gia có thu nhập thấp một cách phù hợp với nhu cầu tài chínhcủa họ với khả năng trả nợ hiện tại và tương lai của họ, có tính đến hoàn cảnh củamỗi quốc gia
- Thứ hai, hướng dẫn những quyết định cho vay để đảm bảo rằng nguồn tài chínhđược cung cấp đến những quốc gia thu nhập thấp với những điều kiện nhất quán vớimục tiêu phát triển và khả năng chịu đựng của nợ dài hạn
Ngoài ra, nó giúp cải thiện đánh giá của WB và IMF cũng như những khuyếnnghị chính sách đối với khu vực này nhằm sớm giúp loại bỏ những khủng hoảngtiềm tàng có thể xảy ra
Trong phạm vi bài nghiên cứu, nhóm tác giả sử dụng Khung phân tích DSFphiên bản cập nhật năm 2017
Theo mô hình DSF (2017) để nhận biết được các yếu tố khác nhau ảnh hưởng
tới ngưỡng nợ tối đa một nước, mô hình DSF dùng một chỉ số hỗn hợp (composite indicator- CI) Chỉ số CI phản ánh tác động của các yếu tố khác nhau
bao gồm số bình quân của CPIA, tăng trưởng GDP thực của một nước, kiều hối, dựtrữ quốc tế và tăng trưởng toàn cầu
CI= β 1 CPIA + β 2 g+ β 3 + β 4 β 5 ] 2 + β 6 g w
(g và g w lần lượt là tăng trưởng quốc gia và tăng trưởng quốc tế, tất cả các biến
số đều ở dạng phần trăm, trừ chỉ số CPIA.)
Trang 13β1 = 0.385; β2 = 2.719; β3 = 2.022; β4 = 4.052; β5 = −3.990; β6 = 13.520
Việc tính toán chỉ số CI sẽ dựa trên số bình quân trong 10 năm của các biến số,trong đó 5 năm dựa trên dữ liệu quá khứ và 5 năm dự đoán Thời gian 10 năm đảmbảo một sự ổn định trong việc xếp hạng một nước đồng thời cũng giải quyết sự ảnhhưởng của chu kì kinh tế Việc sử dụng dữ liệu quá khứ và dự báo sẽ cân bằng cáckết quả trước đó cũng như các thay đổi được dự đoán trong một nước, đảm bảo rằng
cả những cải thiện được dự đoán trong tương lai và các kết quả trong quá khứ đềuảnh hưởng đến xếp hạng một quốc gia Với chỉ số CPIA, giá trị gần nhất sẽ đượctính cố định cho 5 năm dự báo
Có thể thấy với bản 2017 đã giới thiệu những thay đổi để đảm bảo ngưỡngDSF duy trì được sự phù hợp với bối cảnh tài chính thay đổi nhanh chóng của cácnước thu nhập thấp, đồng thời giúp ngưỡng DSF thực tế hơn, toàn diện hơn và tốthơn trong việc đo lường rủi ro nợ xấu DSF năm 2017 sử dụng nhiều các biến số cụthể của từng nwuocs để tăng khả năng dự báo hơn là DSF 2012 chỉ dùng chỉ sốCPIA DSF 2017 cũng đua vào các nhân tố tương lai ( điều này sẽ tăng sự liên kếtvới các cơ quan có thẩm quyền) trong khi DSF 2012 phân loại dựa vào các dự liệuquá khứ
Điểm CI sẽ quyết định xếp hạng một nước ở 1 trong 3 nhóm: yếu, trung bình, mạnh
hiện tại Tỷ lệ phần trăm nghĩa vụ nợ
khẩu Thu ngânsách
Nguồn: IMF Policy paper 2017
Bảng 2: Ngưỡng nợ nguy hiểm áp dụng cho tổng nợ công
Trang 14Nợ công/ GDP
Nguồn: IMF Policy paper 2017
Dựa trên những ngưỡng nguy hiểm trên, chúng ta có thể xếp hạng tình hình
nợ trong nước theo 4 mức nguy cơ được trình bày trong bảng sau
Bảng 3: Mức rủi ro vỡ nợ
Rủi ro vỡ nợ thấp Tất cả các chỉ số nợ đều thấp hơn so
với ngưỡng giới hạn
Rủi ro vỡ nợ trung bình Các chỉ số nợ đều thấp hơn so với
ngưỡng trong kịch bản cơ sở Tuynhiên, các chỉ tiêu này có thể cao hơncác giới hạn do các cú sốc ngoại sinhhoặc thay đổi chính sách vĩ mô độtngột
Rủi ro vỡ nợ cao Một hoặc nhiều chỉ tiêu về nợ trong
mô hình cơ sở vi phạm ngưỡng giớihạn trong một khoảng thời gian dài
Khủng hoảng nợ Quốc gia gặp khó khăn trong việc
thực hiện các nghĩa vụ nợ
CHƯƠNG 2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
2.1 Thực trạng nợ công của Việt Nam hiện nay :
Dư nợ công Việt Nam từ 2011 đến 2017 đã tăng hơn 2 lần từ 1.391 nghìn tỷ đồng đến 3.065 nghìn tỷ đồng Ngưỡng nợ công năm 2016 là 64,8% GDP rất sát ngưỡng quốc hội cho phép (65% GDP) Mức nợ công/GDP năm 2017 tại hội nghị tổng kết ngành ngày 8/1/2018 giảm xuống còn 61,3%
Nguồn: Bản tin nợ công số 5, các báo cáo của bộ tài chính
Cơ cấu nợ công Việt Nam
- Nợ công phân theo các cấp
Trang 15Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam (Khoản 2 Điều 1 Luật số29/2009/QH12), nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ của Chính phủ, nợ đượcChính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.
Bảng 5: cơ cấu nợ công theo GDP và tỷ trọng nợ công
Nguồn: bảng tin nợ công số 5, báo cáo khác của Bộ tài chính (2016,2017)
Về cơ cấu nợ công, số liệu từ Bộ tài chính cho thấy trong giai đoạn
2011-2017, nợ chính phủ luôn chiếm tỷ trọng lớn (khoảng 80%), tiếp đến là nợ đượcchính phủ bảo lãnh (khoảng 15-20%), thấp nhất là nợ chính quyền địa phương(khoảng 1-1,5%) So sánh với %GDP thì nợ chính phủ có xu hướng tăng dần từ2011-2016, đặc biệt tỷ lệ 53,6 % GDP của năm 2016 đã sát ngưỡng quy định 54%của quốc hội; tỷ lệ nợ được chính phủ bảo lãnh giảm dần từ 11,4% năm 2011 còn9,1% năm 2017, nợ chính quyền địa phương ít biến động
Hình 1: Cơ cấu nợ công Việt Nam 2016
- Nợ trong nước và nợ nước ngoài