1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công đánh giá tính bền vững của nợ công việt nam theo mô hình DSF (2017) của IMF và WB

32 34 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 32
Dung lượng 345,98 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Lời mở đầu1 Tính cấp thiết của đề tài Thông tin tại Hội nghị tổng kết công tác ngành tài chính – ngân sách Nhà nước năm 2018 và triển khai nhiệm vụ tài chính – ngân sách Nhà nước năm 201

Trang 1

Mục lục

Trang 2

Lời mở đầu

(1) Tính cấp thiết của đề tài

Thông tin tại Hội nghị tổng kết công tác ngành tài chính – ngân sách Nhà nước năm

2018 và triển khai nhiệm vụ tài chính – ngân sách Nhà nước năm 2019 chiều 9/1, Bộtrưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết, Bộ Tài chính đã ban hành kế hoạchhành động của ngành tài chính, với 166 nhiệm vụ/đề án cụ thể để thực hiện Nghị quyết

số 07 của Bộ Chính trị về chủ trương, giải pháp cơ cấu lại ngân sách nhà nước(NSNN), quản lý nợ công để bảo đảm nền tài chính quốc gia an toàn, bền vững Có thểnói nợ công luôn là một trong những vấn đề hàng đầu được bộ tài chính quan tâm vàđiều chỉnh hàng năm Nếu như năm 2017, nợ công của Việt Nam ở mức 62.6% GDP,thì năm 2018, với những nỗ lực trong công tác quản lý nợ công, bà Nguyễn Xuân Thảocho biết, nợ công của Việt Nam năm 2018 dự kiến bằng 61,1% GDP, đảm bảo tronggiới hạn Quốc hội cho phép và thấp hơn dự kiến trong kế hoạch tài chính trung hạn.Tuy nhiên,nợ công Việt Nam lại có xu hướng tăng nhanh trong những năm gần đây, áplực trả nợ trong ngắn hạn đang đến gần, trong khi năng lực trả nợ rất hạn chế Do vậy,

nợ công của Việt Nam đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, nên triển vọng là không bền vững.Nếu không có một chương trình và kế hoạch hành động ứng phó kịp thời và hiệu quảthì nguy cơ mất kiểm soát nợ công, thậm chí vỡ nợ công trong tương lai là điều có thểxảy ra Vấn đề đặt ra là: liệu mức nợ công hiện nay của Việt Nam có thực sự an toàn

và bền vững hay không? Chính phủ Việt Nam cần có những quyết sách gì trong quản

lý nợ công?

Thực tế nói trên đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết là cần có các nghiên cứu về tính bềnvững của nợ công Việt Nam, để trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp để nâng caotính bền vững của nợ công Việt Nam thời gian tới

(2) Mục đích nghiên cứu đề tài

(1) Đánh giá tổng quan tình hình nợ công của Việt Nam giai đoạn 2012 - 2017

(2) Đánh giá tính bền vững của nợ công ở Việt nam dựa vào mô hình DSF (DebtSustainality Framework) của Ngân hàng Thế giới (World Bank – WB) và Quỹ Tiền tệQuốc tế (International Monetary Fund – IMF) và WB (2017)

Trang 3

(3) Đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm nâng cao tính bền vững của nợ công ViệtNam trong thời gian tới.

(3) Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng: Tính bền vững của nợ công

- Phạm vi: Tìm hiểu tổng quan về nợ công Việt Nam và dựa vào mô hình DSF để đánhgiá tính bền vững của nợ công Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý chính sách nhằm sửdụng hiệu quả nợ công

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

1.1. Tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài

Thứ nhất là nghiên cứu : “Đánh giá tính bền vững của nợ công Việt Nam theo mô hình

Cây nhị phân” của TS Nguyễn Thị Lan được đăng trên Tạp chí Kinh tế Đối ngoại Số

97, tháng 08/2017 Nghiên cứu đã sử dụng mô hình Cây nhị phân để đánh giá tính bềnvững của nợ công Việt Nam Theo phân tích Cây nhị phân, tác giả đưa ra kết luận: Nợcông của Việt Nam hiện tại vẫn an toàn khi mà các số liệu cho đến năm 2016 đều thỏamãn điều kiện an toàn nợ công của nô hình Cây nhị phân Tuy nhiên, tác giả cũng lưu

ý là phương pháp đánh giá nợ công theo mô hình cây nhị phân chỉ đưa ra nguy cơ rơivào khủng hoảng nợ tại một thời điểm nào đó dựa vào dữ liệu quá khứ mà không chỉ

ra được những nguyên nhân tiềm ẩn ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công như:tốc độ nợ công tăng nhanh, rủi ro về lãi suất, kỳ hạn nợ, khả năng thanh toán…Nhậnthấy rõ được tầm quan trọng của việc quản lý nợ công hiệu quả, từ những phân tích vềcác con số nợ công của quốc gia từ năm 2011-2016, tác giả đã đưa ra các khuyến nghịnhằm nâng cao tính hiệu quả của quản lý nợ công Việt Nam Tuy nhiên, trong bàinghiên cứu này, tác giả mới chỉ sử dụng một phương pháp để đánh giá tính bền vữngcủa nợ công và chưa cập nhất năm 2017

Thứ hai là nghiên cứu: “Nợ công và tính bền vững ở Việt Nam: quá khứ, hiện tại và

tương lai” do Ủy ban Kinh tế Quốc hội và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc thựchiện năm 2011 Nghiên cứu sử dụng hai mô hình là mô hình Cây nhị phân của PaoloManasse và Nouriel Roubini và khung nợ bền vững của WB (2006) và IMF (2011).Theo mô hình Cây nhị phân, nghiên cứu kết luận các số liệu thống kê về nợ nước

Trang 4

ngoài hiện tại cho thấy Việt Nam không/chưa có nguy cơ rơi vào cuộc khủng hoảng

nợ Tuy nhiên, do số liệu của Việt Nam sai lệch lớn so với số liệu của các tổ chức tàichính quốc tế và chưa được thống kê đầy đủ, do vậy nhiều thống kê trong nghiên cứu

là khá nhạy cảm và dễ thay đổi Từ đó tác giả đưa ra ba giả định về kịch bản khác nhau

để đánh giá rủi ro khủng hoảng nợ trong tương lai của Việt Nam Theo khung nợ bềnvững, nghiên cứu chỉ ra rằng: tính đến hết năm 2011, tổng nợ công của Việt Nam làvào khoảng 54,9% GDP, trong đó nợ công nước ngoài và nợ công trong nước lần lượt

là 30,9% và 24,0% GDP Tuy nhiên, rủi ro tiềm tàng lớn nhất đối với nợ công của ViệtNam có lẽ không phải ở những khoản nợ được ghi nhận trên sổ sách Những khoản nợxấu của khu vực DNNN mà rất có thể sẽ phải dùng ngân sách nhà nước để trả mới làmầm mống đe doạ tính bền vững của nợ công Việt Nam Nhận thấy rõ được tầm quantrọng của việc quản lý nợ công hiệu quả, từ những phân tích về các con số nợ công củaquốc gia trong năm 2011, tác giả đã đưa ra các khuyến nghị nhằm nâng cao tính hiệuquả của quản lý nợ công Việt Nam Tuy nhiên, tính đến nay, mô hình DSF và các sốliệu trong nghiên cứu đã khá cũ và các tác giả mới chỉ sử dụng hai trong ba mô hìnhđánh giá tính bền vững của nợ công

Thứ ba là nghiên cứu “Public debt Sustainability in developing Asia”, thực hiện bởi

Benno Ferrrarini, Raghbendra Jha and Arief Ramayandi , ADB, 2012 Nghiên cứu chỉ

ra rằng sự bền vững nợ công ở châu Á đang phát triển sau cuộc khủng hoảng kinh tếtoàn cầu năm 2008, đưa ra những gợi ý cho con đường tương lai của nợ công ,nêu lêntầm quan trọng của sự bền vững của nợ công, các cách đánh giá sự bền vững của nợcông (DSA) và tính bền vững nợ ở các quốc gia có thu nhập không thấp với việc tiếpcận thị trường vốn Đặc biệt trong nghiên cứu này, các tác giả đã nghiên cứu về sự bềnvững của nợ công ở 3 quốc gia điển hình là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Ấn Độ vàViệt Nam Phân tích sự bền vững của nợ công, tác giả tập trung đặc biệt vào việc đolường các khoản nợ tiềm ẩn, và trả lời câu hỏi nợ và mối đe dọa nghiêm trọng đối vớităng trưởng Đồng thời, tác giả cũng đánh giá các lợi ích tiềm năng từ việc minh bạchtài chính lớn hơn về tính chất và mức độ của các khoản nợ tiềm ẩn, cả về các quyếtđịnh chính sách đã được thông báo theo quan điểm về rủi ro tài chính mà các khoản nợtạo ra, tránh khả năng đầu cơ không kiểm soát được của chính phủ Đối với Ấn Độ, tácgiả tập trung vào những thách thức mà đất nước phải đối mặt về trách nhiệm tài chính,

Trang 5

quản lý nợ ở cấp Trung ương , cấp tiểu bang Tác giả cũng đưa ra các thảo luận nhằmđưa ra những hàm ý về chính sách quản lí tính bền vững nợ công của Ấn Độ nhất làchính sách quản lí nền kinh tế vĩ mô Đối với Việt Nam, tác giả đã chỉ ra các thànhcông Việt Nam đã đạt được từ những năm 1980 nhờ các cải cách kinh tế Tuy nhiên tácgiả đặc biệt nhấn manh, Việt Nam cũng giống như Trung Quốc cần đặc biệt chú ý đếnvấn đề nợ tiềm tàng trong ngành ngân hàng, tác động của lãi suất đối với ngân sách,rủi ro của tỷ giá và rủi ro di chuyển.

1.2. Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

1.2.1. Cơ sở lý thuyết

1.2.1.1. Khái niệm nợ công

Nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp Tuy nhiên, hầu hết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của

một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanhnghiệp, tổ chức, cá nhân) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia

Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu công quá lớn của Chính phủ Chi tiêu công

nhằm: Thứ nhất, phân bổ nguồn lực; Thứ hai, phân phối lại thu nhập; Thứ ba, ổn định

kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, chi tiêu công quá lớn hay kém hiệu quả cũng sẽ gây ra nhữngbất ổn cho nền kinh tế Nhu cầu chi tiêu quá nhiều (đặc biệt cho các khoản đầu tưcông) so với nguồn thu có được (từ thuế, phí, lệ phí thu được) sẽ dẫn đến thâm hụtngân sách buộc Chính phủ phải đi vay tiền (trong hoặc ngoài nước) để trang trải thâmhụt ngân sách dẫn đến nợ công Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công giatăng.Nợ công là do sự mất cân đối thu chi và dẫn tới thâm hụt ngân sách Nhu cầu chitiêu quá nhiều trong khi các nguồn thu không đáp ứng nổi buộc chính phủ phải đi vaytiền thông qua nhiều hình thức (như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng)

và vay tiền trực tiếp từ các ngân hàng thương mại, các thể chế tài chính quốc tế… để

bù vào khoản thâm hụt, từ đó dẫn đến tình trạng nợ

Theo Ngân hàng Thế giới (WB) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Nợ công, theo nghĩa rộng, là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ của Chính phủ trung

Trang 6

ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độc lập (nguồn vốn hoạt động do ngân sách nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc sở

hữu nhà nước và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay) Theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền

địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán Quan

niệm về nợ công của Ngân hàng Thế giới cũng tương tự như quan niệm của Hệ thốngquản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liên hợpquốc, bao gồm bốn nhóm chủ thể: (1) nợ của Chính phủ Trung ương và các Bộ, ban,ngành trung ương; (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (3) nợ của Ngân hàngTrung ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn,hoặc việc quyết lập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ

là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ

Theo Luật Quản lý nợ công hiện hành (năm 2009) của Việt Nam, nợ công bao gồm nợChính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương Nợ Chínhphủ, là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài, được ký kết, pháthành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tàichính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chínhphủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng nhà nước (NHNN) Việt Nam phát hànhnhằm thực hiện chính sách tiền tệ (CSTT) trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảolãnh, là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nướcngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương, là khoản nợ do ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền pháthành

Như vậy, có thể thấy quan điểm về nợ công của Việt Nam có sự khác biệt đáng chú ý

về việc xác định phạm vi của nợ công Theo quan điểm của IMF và WB thì nợ công là

nợ của khu vực công, trong đó bảo gồm cả nợ của NHTW để thực hiện CSTT và nợcủa DNNN, trong khi nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ của NHNN và nợ củaDNNN

Trang 7

Từ đó dẫn đến sự khác nhau trong cách tính nợ công của Việt Nam so với IMF và WB.

1.2.1.2. Tính bền vững

Theo Ngân hàng Thế giới thì:” Nợ công nước ngoài của một quốc gia được coi là bềnvững nếu như các nghĩa vụ nợ (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ màkhông cần sử dụng đến các biện pháp tài trợ ngoại lệ (ví dụ như xin miễn giảm), hoặckhông cần phải thực hiện những điều chỉnh lớn đối với cán cân thu nhập và chi tiêucủa mình” (WB, 2006, A Guild to LIC Debt Substainability Analysis)

Như vậy, tính bền vững nợ công được hiểu là việc vay nợ công vẫn được quốc gia đảmbảo trả nợ gốc và lãi theo định kỳ như trong cam kết hợp đồng vay trả và việc trả nợnằm trong tầm kiểm soát chi trả của một quốc gia

1.2.2. Các phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công

Hiện nay, có ba phương pháp đánh giá tính bền vững nợ công được biết đến, đó là:Phương pháp đánh giá theo khung nợ bền vững DSF (Debt Sustainability Framework)của IMF và WB; Phương pháp đánh giá theo mô hình Cây nhị phân của Manasse vàRoubini (2005) và phương pháp định lượng kiểm tra tính dừng của chuỗi thời gian của

nợ công của Corsetti, G và Roubini, N (1991) và kiểm định theo điều kiện giới hạnngân sách liên thời gian của Campbell và Shiller (1987)

1.2.2.1. Mô hình cây nhị phân

Phương pháp Cây nhị phân được sử dụng để đánh giá khả năng hay xác suất xảy rakhủng hoảng nợ ở một quốc gia sử dụng số liệu ở một thời điểm nào đó Manasse vàRoubini đã ứng dụng phương pháp này vào phân tích rủi ro nợ công trong nghiên cứu

“Rules of Thumb for Sovereign Debt Crises” cho IMF vào năm 2005

Dựa trên số liệu quan sát theo năm của 47 nền kinh tế mới nổi trong giai đoạn

1970-2002, Manasse và Roubini đã tiến hành xây dựng Cây thực nghiệm nhị phân để phântích rủi ro nợ công Khủng hoảng nợ được hai nhà kinh tế này định nghĩa rằng, nếu

Trang 8

như quốc gia mất khả năng chi trả gốc và lãi nợ nước ngoài đúng hạn theo như phânloại của tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế Standard & Poor’s, hoặc khi phải nhận cáckhoản vay phi ưu đãi vượt quá 100% hạn mức của IMF thì quốc gia đó sẽ rơi và khủnghoảng nợ Khả năng thanh toán phần lớn dựa vào quy mô của khoản nợ so với khảnăng chi trả, đo lường theo GDP hoặc tổng thu của Chính phủ Ngoài ra, khủng hoảng

nợ cũng phụ thuộc vào sự sẵn sàng chi trả của các quốc gia vay nợ; sự sẵn lòng chi trảnày lại phụ thuộc vào chi phí của việc xù nợ so với chi phí của việc tiếp tục thực hiệnnghĩa vụ nợ Giữa hai loại chi phí này đều có sự đánh đổi ví dụ như khả năng tiếp cậnthị trường vốn quốc tế hay tăng trưởng kinh tế mà quốc gia đó phải xem xét, đánh giá

kĩ lưỡng trước khi đưa ra quyết định đối với khoản nợ đó Hơn nữa, các thước đo vềkhả năng thanh khoản cũng cần được đánh giá khi nghiên cứu về rủi ro khủng hoảng

nợ, ví dụ như tỉ lệ nợ ngắn hạn/dự trữ, cung tiền M2/dự trữ hoặc các thước đo về gánhnặng trả nợ và lãi

Để giải thích cho khả năng xảy ra khủng hoảng nợ công, Manasse và Roubini đã sửdụng khoảng 50 biến và được chia thành ba nhóm: (1) nhóm biến vĩ mô căn bản, (2)nhóm biến phản ánh sự bất ổn, (3) nhóm biến phản ánh kinh tế - chính trị Trong đó,Manasse và Roubini đặc biệt chú ý sử dụng đến các chỉ số phản ánh gánh nặng nợnước ngoài và tổng nợ công, các chỉ số về khả năng thanh khoản và các biến nằmtrong hệ thống cảnh báo sớm (EWS) của IMF nhằm xem xét đến khả năng liên kếtgiữa khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng,các chỉ số phản ánh gánh nặng nợ nước ngoài (bao gồm cả nghĩa vụ nợ) là tương đốithấp ở những năm không có khủng hoảng nợ, chúng tăng dần ở những năm trước khixảy ra khủng hoảng nợ và hầu hết tăng tiếp trong những năm diễn ra khủng hoảng Sau

đó, các chỉ số này lại giảm dần trong năm trước khi nước đó thoát khỏi khủng hoảngmặc dù chúng vẫn còn cao hơn so với mức trước khi khủng hoảng nợ xảy ra Cácthước đo về tổng nợ công cũng có hiện tượng tương tự Từ đó, Manasse và Roubini đãchỉ ra: nợ công nước ngoài là tác nhân chính gây ra sự biến động của tổng nợ công bởichúng thường chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nợ công ở nhiều quốc gia mới nổi

Để xây dựng mô hình Cây nhị phân, Manasse và Roubini đã lựa chọn ra 10 biến sốquan trọng nhất trong số 50 biến thuộc ba nhóm nói trên, có tác động mạnh nhất đếnrủi ro của nợ công, đó là: tỷ lệ nợ nước ngoài trên GDP, tốc độ tăng trưởng GDP thực,

Trang 9

nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại hối, nợ công nước ngoài trên tổng thu ngân sách nhànước (NSNN), số năm đến cuộc bầu cử tổng thống, lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ, lạmphát, nhu cầu tài trợ đầu tư từ nước ngoài, định giá tỷ giá, và sự biến động của tỷ giá.Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng xác định ba loại rủi ro có thể gây ra khủng hoảng

nợ là: (1) rủi ro về tính không bền vững của nợ công; (2) Rủi ro thanh khoản và (3)Rủi ro tỷ giá hối đoái Trong đó, rủi ro về tính không bền vững của nợ công được phảnánh bởi các chỉ số: nợ nước ngoài vượt quá 49,7% GDP , sự mất cân đối về tài khóahoặc tiền tệ và nhu cầu tài trợ từ bên ngoài lớn Rủi ro thanh khoản được xác định bởiquy mô nợ vừa phải nhưng có nợ ngắn hạn vượt quá 134% dự trữ ngoại hối quốc gia,cộng với sự bất ổn chính trị và các thị trường vốn quốc tế bị kiểm soát chặt chẽ Cònrủi ro tỉ giá hối đoái là sự kết hợp của tăng trưởng thấp và tỉ giá tương đối cố định Mỗimột loại rủi ro này sẽ là tác nhân gây ra khủng hoảng nợ công ở những khả năng khácnhau

Các quốc gia trong mẫu nghiên cứu sẽ được xếp vào vùng an toàn hoặc rủi ro tuỳthuộc vào giá trị của các biến số nói trên của quốc gia đó Ví dụ, một quốc gia đượccoi là nằm trong vùng an toàn nếu như nó có tổng nợ nước ngoài thấp (< 49,7% GDP);

nợ ngắn hạn nước ngoài thấp (< 134% dự trữ ngoại hối); nợ công nước ngoài thấp (<215% tổng thu ngân sách), và tỉ giá không bị định giá quá cao (<48%)

Cây nhị phân là phương pháp được dùng chủ yếu để phân loại và dự báo rủi ro khủngkhoảng nợ công theo dạng hình cây, mỗi điểm nút mẹ được phân tách thành hai điểmnút con sau đó mỗi điểm nút con này lại tiếp tục được phân thành hai điểm nút connữa, quá trình cứ như vậy cho đến khi đến được điểm nút cuối cùng chính là kết quảcần tìm (xem Hình 1) Dựa trên các quy tắc phân nhánh này, các mẫu quan sát có thểđược xếp vào vùng rủi ro hoặc vùng an toàn Các mẫu quan sát trong một nút nào đóđược phân vào vùng rủi ro (hoặc an toàn) nếu trong nút đó tỉ lệ số quan sát có khủnghoảng lớn hơn (hoặc thấp hơn) tỉ lệ trung bình đó trong cả mẫu nghiên cứu

Trang 10

Tuy nhiên, phương pháp này chỉ có khả năng chỉ ra xác suất/ nguy cơ xảy ra khủnghoảng nợ của một quốc gia nào đó dựa trên các nghiên cứu thực nghiệm trong quákhứ Do đó khi đánh giá rủi ro xảy ra khủng hoảng, cần kết hợp phân tích thực trạng

Trang 11

liên quan đến các rủi ro về cơ cấu, kì hạn, lãi suất, khả năng thanh toán/thanh khoản,v.v của nợ công, để có thể đưa ra kết luận đáng tin cậy.

1.2.2.2. Kiểm định tính dừng

Nghiên cứu thực nghiệm trong kinh tế vĩ mô chủ yếu dựa vào chuỗi thời gian, vì cácchỉ số kinh tế luôn biến động theo xu hướng Theo xu hướng đó, chuỗi dữ liệu thờigian có thể cố định hoặc không

Chuỗi số liệu thời gian cố định (tính dừng) có thuộc tính giá trị trung bình, phương sai,giữa hai giá trị quan sát bất kỳ không có tương quan với nhau và không có biến độngđịnh kỳ Do đó, nếu chuỗi thời gian của nợ công không dừng, nghĩa là tỷ lệ nợthực/GDP liên tục tăng và vượt quá giá trị hiện tại của các khoản thặng dư NS trongtương lai thì nợ công sẽ không bền vững (Theo Corsetti G Và Roubini N 1991)Trên thực tế, có khá nhiều nhà nghiên cứu đã sử dụng các kiểm tra về tính dừng trongphân tích Corsetti G và Roubini N (1991) đã dựa trên bộ số liệu của 18 nước trongkhối OECD với chuỗi dữ liệu thời gian từ 1960 – 1989 Các tác giả đã phát hiện có sựkhác biệt về sự phát triển bền vững của các quốc gia trong dài hạn Các nước lớn (Mỹ,Nhật, Đức, Pháp, Anh và Canada) không gặp trở ngại về khả năng thanh toán Trongkhi đó, một số nước nhỏ (Bỉ, Ireland, Hà Lan và Hy Lạp) lại gặp phải vấn đề phát triểnbền vững Điểm chung của các quốc gia này là có tỷ lệ nợ công/GDP lớn (trên 100% ở

Bỉ và Ireland)

Cơ bản có ba cách để khảo sát tính dừng của một chuỗi thời gian: (1) phân tích đồ thị(graphical analysis), (2) giản đồ tự tương quan (correlogram), và (3) kiểm định nghiệmđơn vị (unit root test) Phân tích đồ thị là một phương pháp đơn giản, mang tính trựcquan và không chính thức để kiểm định tính dừng Thường thì một phân tích khôngchính thức như thế sẽ cho biết một dấu hiệu sơ bộ nào đó để biết một chuỗi có dừnghay không Tuy nhiên phương pháp thứ 3- kiểm định nghiệm đơn vị là phương phápchính xác nhất và hay được sử dụng nhất

Để kiểm tra tính dừng của nợ công thì phải tiến hành kiểm định đơn vị cho giá trị hiệntại của nợ công (discounted value for public debt) Cách tiếp cận truyền thống và hiệu

Trang 12

quả, được nhiều người sử dụng đó là kiểm định tính dừng Augmented Dickey-Fuller(1979) dựa theo phương trình:

Phương trình trên sẽ được tính toán riêng rẽ, sử dụng biến phụ thuộc là giá trị hiện tạicủa nợ Giả thuyết H0 (giả thuyết nghiệm đơn vị) là φ = 0 và µ1=0 Nếu giá trị t tínhtoán của hệ số ước lượng lớn hơn (về mặt giá trị tuyệt đối) tất cả các giá trị phê phánADF ở 1%, 5% và 10%, và nếu p-value nhỏ hơn 5%, chúng ta bác bỏ giả thuyếtnghiệm đơn vị - nghĩa là, chúng ta kết luận rằng chuỗi thời gian đang xem xét là mộtchuỗi dừng

1.2.2.3. Mô hình LIC - DSF của IMF và World Bank

Mô hình LICs DSF – Debt Sustainability Framework for Low Income Countries, đượcnghiên cứu và xây dựng bởi IMF và WB, dành riêng cho các nhóm nước có thu nhậpthấp để đánh giá tính bền vững của nợ công Mục tiêu của mô hình DSF là hỗ trợ cácnước thuộc nhóm thu nhập thấp (LICs) để đạt được các mục tiêu phát triển trong khigiảm thiểu rủi ro mà gánh nặng nợ công đem lại Mô hình này giúp xác định tính rủi rocủa tình trạng nợ công, tính đến khả năng mang nợ của quốc gia và gánh nặng nợ dựkiến theo dự báo cơ bản (baseline projections) và kịch bản sốc (shock scenerios) Bên cạnh mô hình dành cho các nước có thu nhập thấp (LICs), IMF cũng đưa ra môhình dành cho các nước dễ tiếp cận thị trường vốn quốc tế (Market-Access Countries –MACs)

Mục đích của phương pháp này là dựa vào mô hình DSF (tập hợp các ngưỡng nợnguy hiểm), để phân tích, dự báo gánh nặng nợ tổng thể và nợ công nước ngoài củaquốc gia (được tính trên GDP, thu ngân sách nhà nước và kim ngạch xuất khẩu) cóđang gặp nguy cơ vỡ nợ hay không và đánh giá nguy cơ tiềm ẩn của nợ công Cácngưỡng chỉ số nợ công phụ thuộc vào chỉ số tổ hợp CI của từng quốc gia

Mô hình DSF được công bố lần đầu năm 2005, cập nhật vào 2006, 2009, 2012 và mớinhất là 2017 Mô hình 2017 có nhiều điểm mới so với phiên bản gần đây nhất năm

2012, có thể kể đến như: việc sử dụng thêm các công cụ thực tế, mở rộng mô hình nợ,

Trang 13

và đặc biệt là việc phân loại các quốc gia để chỉ ra các ngưỡng nợ dựa trên chỉ số tổhợp CI, bao gồm CPIA và các biến khác (kiều hối, nhập khẩu, GDP, tốc độ tăng trưởngcủa nước đó và tốc độ tăng trưởng của cả thế giới) Ngoài ra, mô hình mới cũng loại

bỏ đi một ngưỡng về khối lượng nợ, là ngưỡng của chỉ số Nợ nước ngoài/thu NSNN DSF dựa trên khung kinh tế vĩ mô và thông tin cụ thể theo quốc gia khác để phân loạicác quốc gia dựa trên khả năng mang nợ của họ Các quốc gia khác nhau có sự khácbiệt về chính sách và thể chế, tính hiệu quả của nền kinh tế, khả năng phản ứng với các

cú sốc và khả năng giải quyết nợ công

Để nắm bắt các yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến khả năng mang nợ của một quốc gia,DSF sử dụng một chỉ báo tổng hợp CI, chỉ số CI được tính theo công thức dưới đây:

CI = β1 CPIA + β2.g + β3.(Kiều hối)/GDP+ β4 (Dự trữ ngoại hối)/(Nhập khẩu)+ β5.(〖(Dự trữ ngoại hối)/(Nhập khẩu))〖^2+ β6.gw

Với:

- g và gw lần lượt là tốc độ tăng trưởng của Việt Nam và thế giới

-CPIA (Country Policy and Institutional Assessment): là chỉ số đánh giá thể chế vàchính sách quốc gia, thang điểm từ 1 đến 6, được tính toán hàng năm bởi World Bank,bao gồm 16 chỉ số CPIA nhỏ hơn, chia làm 4 nhóm CPIA ở đây là trung bình của 16chỉ số nhỏ này

- Tất cả các biến đều ở dạng phần trăm, trừ chỉ số CPIA

- Các hằng số được cho như sau: β1 = 0.385; β2 = 2.719; β3 = 2.022; β4 = 4.052; β5 =-3.990; β6 = 13.520

Chỉ số CI được tính dựa trên cở sở trung bình 10 năm của các biến số, gồm 5 năm quákhứ và 5 năm dự đoán Trên cơ sở chỉ số CI, các quốc gia sẽ được phân làm 3 loại:yếu, trung bình và mạnh, với các ngưỡng nợ tương ứng.Điều cần chú ý là theo như văn bản hướng dẫn của IMF và WB, chỉ số CI này sẽ đượctính toán bởi IMF và WB sau khi khung nợ này chính thức có hiệu lực vào tháng 7năm 2018 Trong giai đoạn chuyển giao giữa hai cách phân loại quốc gia (dựa vàoCPIA như cách cũ và CI như cách mới), các quốc gia sẽ vẫn được IMF và WB phânloại bằng cách cũ (chỉ số CPIA)

Trang 14

Bảng 1 Ngưỡng nợ áp dụng cho nợ công nước ngoài

Nguồn: IMF và WB (2017)

Điều đáng lưu ý là theo như hướng dẫn của DSF 2017, IMF và WB chỉđưa ra ngưỡng nợ cho giá trị hiện tại của tổng nợ công trên GDP màkhông có ngưỡng cho giá trị danh nghĩa của tổng nợ công trên GDP.Vậy nên tiểu luận này sẽ lấy ngưỡng cho giá trị danh nghĩa của tổng

nợ công trên GDP của DSF 2012

Bảng 2 Ngưỡng nợ áp dụng cho tổng nợ công

Nguồn: IMF và WB (2017+ 2012)

Dựa trên những ngưỡng cơ bản ở trên, WB và IMF đã đưa ra xếphạng tình hình nợ

công theo 4 mức nguy cơ sau đây:

Giá trị nợ nước ngoàitheo tỉ lệ % của ngoài theo tỉ lệ % củaNghĩa vụ trả nợ nướcGDP Kim ngạchxuất khẩu

Kimngạchxuấtkhẩu

Thu ngân sáchnhà nước

nợ công/GDPYếu

Trang 15

Mức 1 (Rủi ro thấp): Tất cả các chỉ số gánh nặng nợ đều thấp hơn sovới ngưỡng.

Mức 2 (Rủi ro trung bình): Các chỉ số gánh nợ đều thấp hơn so vớingưỡng trong kịch bản cơ sở, nhưng các ngưỡng có thể bị vi phạm doảnh hưởng từ cú sốc bên ngoài hoặc thay đổi đột ngột về chính sáchđiều hành vĩ mô

Mức 3 (Rủi ro cao): Một hoặc nhiều chỉ số gánh nặng nợ vi phạm cácngưỡng của kịch bản cơ sở trong thời gian dài

Mức 4 (Tình trạng báo động): Quốc gia gặp khó khăn trong trả nợ.Theo lộ trình, Việt Nam chính thức dừng nhận các khoản vay ưu đãi

từ IDA vào tháng 7/2017, trong khi phần lớn các dữ liệu dùng đểnghiên cứu nợ công Việt Nam thuộc giai đoạn 2011–2016, thời kì ViệtNam vẫn thuộc nhóm có thu nhập thấp (LICs), sang đến 2017 thìsang nửa năm sau Việt Nam mới chính thức tốt nghiệp các nước thunhập thấp Do vậy, khung nợ thích hợp dùng để đánh giá tính bềnvững của nợ công Việt Nam hiện nay là khung nợ dành cho các nước

có thu nhập thấp (LICs)

Dấu hiệu rủi ro (Risk signal)

Từ việc so sánh giữa các chỉ số gánh nặng nợ và ngưỡng nợ công(threshold) trong mô hình DSF, ta có thể nhận biết các dấu hiệu củarủi ro vỡ nợ Khung phân tích này cung cấp thêm dấu hiệu rủi ro dựatrên điểm chuẩn về rủi ro tài chính liên quan đến thị trường trongkịch bản cơ sở

Dấu hiệu của nguy cơ vỡ nợ theo mô hình DSF xuất phát từ việc sosánh các chỉ số nợ công nước ngoài dự kiến với các ngưỡng củachúng trong 10 năm đầu tiên trong cả kịch bản cơ sở và stress test.Các dấu hiệu rủi ro được xác định như sau:

Rủi ro vỡ nợ thấp nếu không có chỉ số về gánh nặng nợ công nướcngoài nào vượt quá ngưỡng trong kịch bản cơ sở hoặc stress test.Rủi ro vỡ nợ vừa phải nếu không có chỉ số về gánh nặng nợ nướcngoài nào vượt ngưỡng trong kịch bản cơ sở và ít nhất 1 chỉ số viphạm stress test

Rủi ro vỡ nợ cao nếu bất cứ chỉ số gánh nặng nợ nước ngoài nào vượtngưỡng trong kịch bản cơ sở

1.3. Khung phân tích

Trang 16

Bài tiểu luận sử dụng mô hình DSF của IMF và World Bank phiên bản

2017 là khuôn khổ phân tích

1.3.1. Phương pháp thu thập nghiên cứu

1.3.1.1. Phương pháp thu thập số liệu:

Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ các nguồn thông tin thứ cấpđược công bố chính thức và có độ tin cậy cao Cụ thể:

- Với các số liệu liên quan tới nợ công tại Việt Nam, nghiên cứu chủyếu sử dụng các số liệu trên website của Bộ Tài chính, các bản tin nợcông 1–5 và Bản tin Nợ nước ngoài 1-7; các báo cáo của Ủy banGiám sát Tài chính Quốc gia (UBGSTCQG); cơ sở dữ liệu của WB (TheWorld Bank Data) và IMF (IMF Country Report)

- Ngoài ra, đối với các số liệu khác tác giả tổng hợp từ nhiều nguồn

thống kê hàng năm của Tổng cục Thống kê, Trading Economics,Statista, VTV Kinh Tế, Cafef,…

1.3.1.2. Phương pháp nghiên cứu:

Đối với mục tiêu (1): Sử dụng phương pháp thống kê mô tả để đánh

Đối với mục tiêu (3): Đưa ra các giải pháp dựa trên kết quả phân tíchtính bền vững từ mô hình trên

Chương 2: Kết quả nghiên cứu

2.1.1 Thực trạng nợ công của Việt Nam

2.1.1.2.1 Quy mô nợ công Việt Nam

Theo số liệu từ Bộ Tài chính và UBGSTCQG, nợ công Việt Nam đãtăng từ mức 54,9% GDP năm 2011 lên mức 62,6% năm 2017 và đã

tiến sát ngưỡng cho phép (65% GDP) của Quốc hội Tốc độ tăng bình

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:34

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3. Nợ côngViệt Nam giai đoạn 2011–2017 - tiểu luận tài chính công đánh giá tính bền vững của nợ công việt nam theo mô hình DSF (2017) của IMF và WB
Bảng 3. Nợ côngViệt Nam giai đoạn 2011–2017 (Trang 17)
2.1.2 Phân tích thực nghiệm qua mô hình DSF - tiểu luận tài chính công đánh giá tính bền vững của nợ công việt nam theo mô hình DSF (2017) của IMF và WB
2.1.2 Phân tích thực nghiệm qua mô hình DSF (Trang 21)
số CI để lựa chọn ngưỡng nợ tương thích theo mô hình DSF (2017) sử dụng để so sánh. - tiểu luận tài chính công đánh giá tính bền vững của nợ công việt nam theo mô hình DSF (2017) của IMF và WB
s ố CI để lựa chọn ngưỡng nợ tương thích theo mô hình DSF (2017) sử dụng để so sánh (Trang 22)
2.1.2.1 Ngưỡng nợ công nước ngoài đánh giá qua mô hình DSF - tiểu luận tài chính công đánh giá tính bền vững của nợ công việt nam theo mô hình DSF (2017) của IMF và WB
2.1.2.1 Ngưỡng nợ công nước ngoài đánh giá qua mô hình DSF (Trang 24)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w