1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công đánh giá tính bền vững của nợ công việt nam theo mô hình DSF (2017) của IFM và WB

25 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 59,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật Quản lý nợ công [29], thì Nợ được hiểu là “khoản phải hoàntrả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thờiđiểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được

Trang 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.Cơ sở lý thuyết

Sau khi tìm hiểu các công trình nghiên cứu đi trước và thảo luận, nhóm đềtài số 1 chúng em quyết định đưa ra khung lý thuyết như sau để bắt tay vàotiến hành nghiên cứu:

1.1 Nợ công:

a Khái niệm

b Phân loại nợ công

c Nguyên nhân gây ra nợ công

d Tác động của nó lên kinh tế xã hội

1.2 Tính bền vững của nợ công:

1.1 Nợ công:

a Khái niệm nợ công:

Cho đến nay các khái niệm liên quan đến nợ công vẫn còn rất nhiềutranh luận, vẫn chưa có sự thống nhất cao tại các quốc gia, nhất là các quốcgia đang phát triển, trên các phương tiện thông tin đại chúng, các diễn đànkhoa học, nghị trường của Quốc hội hay các văn bản quy phạm pháp luật củaNhà nước ta cũng như ở các quốc gia khác trên thế giới và các tổ chức quốc

tế Do vậy, để hiểu rõ hơn về nợ công, chúng ta phải xem xét một số kháiniệm để có sự thống nhất trong cách sử dụng

Khái niệm nợ: Theo IMF [43], “Nợ là toàn bộ số dư còn lại tại một thờiđiểm nhất định của các khoản vay mà một đối tượng nào đó có nghĩa vụ phảithanh toán (cả gốc và lãi) vào một hoặc nhiều thời điểm trong tương lai”

Theo định nghĩa của UNCTAD [55], “nợ là khoản mà người đi vayphải trả, trả vốn hoặc cả vốn lẫn lãi, trả bằng tiền hoặc bằng hàng hóa dịch vụcho người cho vay ở một hoặc nhiều thời điểm trong tương lai” Nợ như vậybao gồm nợ vay, nợ từ việc bán trái phiếu, tiền trả trước của khách hàng,nghĩa vụ chi trả khách (như lương hưu)

Trang 2

Hiện nay các tổ chức quốc tế trong đó có UNCTAD khuyến cáo cácnước nên tính toán và theo dõi nợ công theo nghĩa rộng này, bởi vì tại nhiềuquốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam, khu vực quốc doanh rất lớn

Theo Luật Quản lý nợ công [29], thì Nợ được hiểu là “khoản phải hoàntrả, bao gồm khoản gốc, lãi, phí và chi phí khác có liên quan tại một thờiđiểm, phát sinh từ việc vay của chủ thể được phép vay vốn theo quy định củapháp luật Việt Nam”

Theo cách hiểu này, nợ là khoản phải hoàn trả, bao gồm khoản gốc, lãi,phí và chi phí khác có liên quan tại một thời điểm, phát sinh và liên quan đếnviệc vay của người vay

Khái niệm nợ công: Hiện nay trên thế giới tồn tại hai cách quan niệm

về nợ công: theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp

Theo nghĩa rộng và theo chuẩn quốc tế được IMF định nghĩa thì nợ

công là: Nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của các tổ chức sau:

- Chính phủ trung ương và các cơ quan của nó;

- Chính quyền địa phương các cấp như bang, tỉnh, thành phố;

- Ngân hàng trung ương;

- Các tổ chức độc lập (Các công ty tài chính và phi tài chính; các ngânhàng thương mại, các đơn vị công ích…) khi:

+ Ngân sách của tổ chức đó là do Chính phủ báo cáo phê duyệt; + Chính phủ sở hữu hơn 50% số cổ phần có quyền biểu quyết hay hơnnửa số thành viên ban giám đốc là các đại diện của Chính phủ;

+Khi vỡ nợ, nhà nước sẽ phải chịu trách nhiệm trả nợ của tổ chức đó.(IMF, 2001, Guidelines for Public dept management)

Theo cách tính của UNCTAD thì nợ công, ngoài nợ của Chính phủ, nợđược Chính phủ bảo lãnh và nợ của các chính quyền địa phương còn bao gồmkhoản nợ của các doanh nghiệp Nhà nước theo cơ chế tự vay tự trả (có thể làCông ty TNHH Nhà nước một thành viên, Tập đoàn kinh tế của Nhà nước,các Tổng công ty của Nhà nước, các khoản nợ tương ứng với tỷ lệ % phầngóp vốn của Nhà nước tại các Công ty cổ phần; nếu các công ty này phá sảnNhà nước sẽ mất đi phần vốn này) với quỹ bảo hiểm xã hội mà Nhà nước sửdụng để mua trái phiếu, công trái Chính phủ, hay đầu tư vào các công trình

Trang 3

kinh tế trọng điểm của quốc gia và khoản tiền này Nhà nước phải chi trả chongười lao động nghỉ hưu trong tương lai

Trong hướng dẫn chung về khái niệm nợ công được phát hành bởi Hiệphội các cơ quan Kiểm toán tối cao INTOSAI đã định nghĩa nợ công như sau:

(1) Khoản phải trả hay các cam kết khác được gánh chịu trực tiếp bởicác cơ quan công quyền như là: Chính phủ trung ương, hay một Chính phủliên bang, tùy thuộc vào thể chế chính trị của từng nước; Các Chính phủbang, tỉnh, đô thị, khu vực và địa phương khác; Các doanh nghiệp, đơn vịkinh doanh do Nhà nước sở hữu hay quản lý; Các đơn vị Nhà nước khác

(2) Khoản phải trả hay các cam kết khác mà các cơ quan Nhà nước phảigánh vác với vai trò đại diện cho các doanh nghiệp tư nhân hay các đơn vịkhác

(3) Việc xử lý đối với các khản phải trả của Ngân hàng trung ương tùythuộc vào địa vị rõ ràng của các ngân hàng và mức độ độc lập của chúng từChính phủ trung ương INTOSAI [48]

Theo nghĩa hẹp định nghĩa trong Luật quản lý nợ công, “nợ công baogồm “nợ chính phủ; Nợ được Chính phủ bảo lãnh; Nợ chính quyền địaphương” Luật quản lý nợ công [29]

Như vậy, so với khái niệm nợ công mà các tổ chức quốc tế như WB,UNCTAD, INTOSAI khuyến cáo các nước nên theo, khái niệm nợ công củaViệt Nam chưa bao gồm các khoản vay của Chính phủ đối với Ngân hàngNhà nước và các khoản vay của khối các doanh nghiệp Nhà nước đối với các

tổ chức trong nước và nước ngoài có bảo lãnh và không có bảo lãnh củaChính phủ Để hiểu rõ hơn, ta có thể xem bảng:

Chỉ tiêu được tính trong nợ công VN: WB, UNCTAD, INTOSAI

Có thể do thể chế chính trị hay do quan điểm điều hành mà xuất hiệnnhững định nghĩa khác nhau theo các cách hiểu khác nhau về nợ công Tuynhiên, nếu định nghĩa không chính xác dẫn đến việc thống kê không đầy đủcác khoản nợ công Điều này sẽ gây khó khăn cho công tác quản lý, điềuhành kinh tế vĩ mô và xác định nghĩa vụ thanh toán đối với ngân sách nhànước Bên cạnh đó, việc thống kê không đầy đủ các khoản nợ công cũng dễ

Trang 4

dẫn đến các rủi ro tài chính, mất lòng tin đối với các chủ nợ, có khả năng bịcác tổ chức xếp hạng tín dụng quốc tế đánh giá thấp dẫn đến tăng chi phí lãivay và ảnh hưởng đến an ninh tài chính quốc gia

Tuy nhiên, trong khuôn khổ nghiên cứu, tác giả vẫn thống nhất với địnhnghĩa nợ công theo nghĩa hẹp, nợ công bao gồm: nợ Chính phủ và nợ của chủthể khác (doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức…) nhưng được Chính phủ bảolãnh thanh toán, và nợ của chính quyền địa phương

b Phân loại nợ công:

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩakhác nhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công

Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại:

nợ trong nước và nợ nước ngoài Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là

cá nhân, tổ chức Việt Nam Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay làChính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cánhân nước ngoài Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài khôngđược hiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợcông không phải là nợ trong nước

Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọngtrong quản lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽ giúp xác định chínhxác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Và ở một số khía cạnh, việcquản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ của Nhà nước ViệtNam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổihoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác

Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từthỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ

Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ nhữngthỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổchức cho vay Phương thức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồngvay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuận giữa Nhà nước ViệtNam với bên nước ngoài

Trang 5

Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhànước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợnày có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyểnnhượng trên thị trường tài chính

Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công

có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợthương mại thông thường

Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợcông phải trả và nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản nợ màChính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ Nợ công bảo lãnh làkhoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bênvay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ

Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công củatrung ương và nợ công của chính quyền địa phương Nợ công của trung ương

là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh Nợ công của địaphương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và cónghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của Luật NSNN năm 2002 thì nhữngkhoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách

và được đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương đượcChính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trungương

Ở nước ta theo Luật quản lý nợ công , Nợ công được phân theo tráchnhiệm với chủ nợ và bao gồm:

Nợ Chính phủ

Nợ được Chính phủ bảo lãnh

Nợ chính quyền địa phương

c Nguyên nhân gây ra nợ công:

Thứ nhất, do bội chi ngân sách lớn và kéo dài khiến vay nợ trở thànhnguồn lực chính để bù đắp vào thâm hụt ngân sách Đây là nguyên nhânchính khiến tình hình nợ công ngày càng trở thành gánh nặng cho nền kinh tế.Chi tiêu công mở rộng gây sức ép lên thâm hụt ngân sách của nhà nước

Trang 6

Thâm hụt thương mại luôn duy trì ở mức cao và kéo dài Một tỷ lệ khá lớnvốn tài trợ cho thâm hụt cũng đến từ bên ngoài, trong đó số tiền vay nợ (quaODA, vay thương mại, phát hành trái phiếu chính phủ quốc tế) ngày càng lớn.Thứ hai, vay nước ngoài quá nhiều sẽ gây những tác động nguy hại đếnnền kinh tế Thời gian đầu, một dòng ngoại tệ lớn chảy vào trong nước sẽ làmgiảm sức ép cân đối ngoại tệ Tuy nhiên, trong trung và dài hạn, việc Chínhphủ phải cân đối nguồn ngoại tệ trả nợ gốc và lãi sẽ đẩy nhu cầu ngoại tệ tăngcao, làm giá đồng nội tệ, tăng chi phí nhập khẩu máy móc thiết bị và nguyênliệu, tăng chi phí đầu vào của nền kinh tế, dẫn tới các nguy cơ lạm phát Tỷgiá tăng cao sẽ làm chi phí thanh toán nợ trở nên đắt đỏ hơn, càng làm tăngnguy cơ vỡ nợ, nếu quy mô nợ vượt quá sức chịu đựng của ngân sách nhànước Việc vay nợ nước ngoài lớn nhất bằng đồng JPY và USD sẽ rất bất lợi

vì hiện nay đồng JPY và USD đang có xu thế tăng giá, do đó tỷ giá JPY/VND

sẽ tiếp tục tăng lên, điều này sẽ làm tăng gánh nặng nợ nước ngoài của nhànước bởi: Một là, khi đa số các khoản vay nước ngoài là vay trung và dài hạnthì rủi ro tín dụng và rủi ro tỷ giá cao; Hai là, rủi ro kép với mức chênh lệchlãi suất được đánh giá theo lãi suất thị trường Nếu như chênh lệch lãi suấtquá lớn giữa thị trường trong nước và thị trường quốc tế để thực hiện cânbằng tài khoản vốn có thể gia tăng mức độ đôla hóa và tạo áp lực lên tỉ giá

Ba là, khi tính toán tỉ giá thực và sức mua ngang giá của tiền đồng vào từngthời kỳ Giữa số vốn vay và số vốn trả nợ khi đáo hạn vốn vay nước ngoài sẽchịu tác động của tỉ giá rất lớn, nếu như sử dụng và quản lý vốn vay không cóhiệu quả

Sự mất giá của tiền đồng Việt Nam đã tạo ra nhiều khó khăn hơn cho cácdoanh nghiệp trong việc trả nợ, khiến nợ công ngày càng gia tăng

Thứ ba, thâm hụt ngân sách đã trở thành căn bệnh kinh niên, đầu tư lạikhông ngừng mở rộng kéo theo lạm phát và lãi suất cao khiến cho việc hoàntrả nợ công ngày càng trở nên đắt đỏ Trong khi các nước phát triển vẫn duytrì mức lãi suất sàn thấp lịch sử nhằm kích thích sự phục hồi kinh tế và chấpnhận lạm phát trong chừng mực nhất định

Trang 7

Thứ tư, đầu tư công cao và kém hiệu quả trong bối cảnh tiết kiệm của nhànước giảm là một trong những nguyên nhân làm tăng nợ công Đầu tư côngchưa hiệu quả là nguồn gốc lớn nhất làm tăng nợ công Đầu tư công ở châu

Âu và Mỹ trở thành tâm điểm gây bất ổn kinh tế toàn cầu và đã dẫn đếnkhủng hoảng nợ công 2010

d Vai trò của nợ công:

Nghiên cứu làm rõ bản chất kinh tế của nợ công và quan điểm của kinh

tế học về nợ công sẽ giúp các nhà làm luật xây dựng các quy định pháp luậtphù hợp với tình hình kinh tế – xã hội nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng

nợ công ở Việt Nam

Bù đắp các khoản bội chi ngân sách của Chính phủ: Trong lĩnh vực tàichính công, một nguyên tắc quan trọng của NSNN được các nhà kinh tế học

cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫn được ghi nhận trong pháp luật ở hầuhết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sách thăng bằng Theo nghĩa cổ điển,ngân sách thăng bằng được hiểu là một ngân sách mà ở đó, số chi bằng với sốthu Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúp Nhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang phí,còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạn chế tình trạng Nhà nướclạm thu thông qua việc quyết định các khoản thuế Tuy nhiên, trong một sốthời điểm, Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt quá khảnăng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phảivay vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, điều đó làm phát sinh

nợ công Như vậy, nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn vàNhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả; hay nói cách khác, vai trò quan trọngnhất của nợ công là bù đắp các khoản bội chi ngân sách của Chính phủ

Tăng cường đầu tư phát triển: Đối với các quốc gia đang phát triển, đểphát triển hạ tầng, phát triển khoa học công nghệ… thì nguồn vốn vay là rấtquan trọng Nguồn vốn này càng hấp dẫn bởi nó còn được các nước phát triểncũng như các tổ chức tài chính quốc tế hỗ trợ với lãi suất ưu đãi, thời gian ânhạn lâu dài Chính vì vậy nguồn vốn vay sẽ hỗ trợ rút ngắn thời gian tiến tớicác mục tiêu phát triển giúp các quốc gia chậm phát triển cũng như các quốc

Trang 8

gia đang phát triển nhanh chóng phấn đấu để trở thành các quốc gia pháttriển

Kích thích tăng trưởng kinh tế: Hầu hết các quốc gia thực hiện nền kinh

tế thị trường đều có hoạt động vay nợ Việc vay nợ làm tăng sức hấp dẫn củamôi trường đầu tư trong nước, góp phần thu hút, mở rộng các hoạt động đầu

tư phát triển kinh tế đất nước, tạo niềm tin cậy của đất nước mình trên bìnhdiện Thế giới Nợ công an toàn với nền kinh tế sẽ tạo nguồn vốn bổ sung choquá trình phát triển và tăng trưởng kinh tế được bền vững, qua đó điều chỉnhtốt cán cân thanh toán quốc gia, góp phần hỗ trợ các nước vay nợ tiếp thucông nghệ tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý của các nhà tài trợ nướcngoài

e Tác động của tính bền vững nợ công đối với nền kinh tế, xã hội

Đầu tư:

Khi có một dự án yêu cầu nhiều về vốn hay công nghệ mà chính phủkhông đủ tiềm lực thì vay nước ngoài sẽ giải quyết được phần nào vấn đềvốn

Tiêu Cực:

Ảnh hưởng ngược từ các chính sách khi nợ công quá lớn:

Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắtlưng buộc bụng” để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng đểđược nhận sự hỗ trợ cần thiết từcác tổ chức tín dụng quốc tế Tuy nhiên, trongthời điểm hiện nay, khi nền kinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt

Trang 9

đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các gói kích thích kinh tế mà chínhphủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắt giảm chi tiêu,tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế, làmchậmtốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào “khủng hoảng kép”

Bị hạ bậc tín nhiệm:

Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báocáo của các tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc giakhác, niềm tin của người dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế dễtrở thành mục tiêu tấn công của các thế lực đầu cơ quốc tế Khi đó, các quỹđầu tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếu này, đồng thời từ chối mua vào trongcác đợt phát hành tiếp theo Nếu chính phủ muốn huy động tiền từ thị trườngtài chính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó, rơi vào vòng xoáy:tiếp tục bị tụt bậc tín nhiệm

Tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế:

Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trongdài hạn một khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sựtăng trưởng của sản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau: - Tăngcường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút.-Gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân.- Tăng thuế để trả lãi nợ vay chínhcông dân nước mình => Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích

về phúc lợi xã hội.Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chínhphủ sử dụng công cụ nợ để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao

vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chi tiêu của chính phủ tăng Phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì cónhững tác động phụ làm giảm tổng cầu.- Gây ra áp lực lạm phát, tác động tiêucực tới tốc độ tăng trưởng thực

lên).-Gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế cùng với rủi ro chênh lệch tỉ giá:

Nợ công ở mức cao sẽ kéo theo mức bội chi ngân sách lớn và dần dần

sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế.- Trong khi trong chiến lược phát triểnkinh tế của Việt Nam trong những năm gần đây, Chính phủ đang có kế hoạch

Trang 10

triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn như nhà máy điện nguyên tử, đường sắt caotốc,… nên tỷ lệ nợ nước ngoài sẽ tăng vọt Nhìn lại quá trình này, đã có lúcNhà nước phải đi vay với tỷ giá chỉ 11 nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1USD, thì ở thời điểm hiện tại tỷ giá quy đổi đã lên đến mức trên dưới 20nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1 USD Như vậy là khoản chênh lệch tỷgiá này toàn bộ nền kinh tế của chúng ta phải hứng chịu

b Các tiêu chí đánh giá tính bền vững của nợ công

Có 3 phương pháp quốc tế đánh giá tính bền vững của nợ công theo WB(2006) và IMF (2011)

Phân tích nợ công nặng của các quốc gia nghèo

Khung đánh giá nợ công của các quốc gia thu nhập thấp ( LIC-DFS)

Khung đánh giá nợ công của các quốc gia thu nhập trung bình ( DFS)

MIC-Những phương pháp này đề đưa ra chỉ số để dự báo các khoản vay vàbiến đổi kinh tế trong thời gian tối đa 20 năm và sử dụng để so sánh giá trị nợvới GDP, xuất khẩu và thu ngân sách

Để đánh giá nợ công có tính bền vững thường dựa vào các tiêu chí phổbiến sau đây:

Một là, đánh giá hiện trạng nợ công bao gồm việc xem xét quy mô hiện

tại, cơ cấu kì hạn, cơ cấu lãi suất cố định hay thả nổi, cơ cấu tiền tệ và chủ nợ

Hai là, xác định tính dễ tổn thương của cơ cấu nợ hiện tại hoặc rủi ro

chính sách để từ đó khuyến nghị những điều chỉnh thích hợp

Trang 11

Ba là, dự báo nợ công tương lai và đưa ra các khuyến nghị chính sách để

tránh sự đổ vỡ hoặc ổn định nợ công

Trong đó, phương pháp đánh giá theo mô hình DSF của IMF và WBđược chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất Trong khuôn khổ của nghiên cứu,chúng em tập trung đánh giá tính bền vững của nợ công VN dựa trên phươngpháp đánh giá theo mô hình DSF của IMF và WB

1.3 Phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ công theo mô hình DSFcủa IMF và WB

Nghiên cứu này sử dụng mô hình DSF dành cho các nước thu nhập thấp(LICs) được WB và IMF cập nhật gần đây nhất (2017) tại văn bản hướng dẫn

"Revisiting the Debt Sustainability Framework for Low - Income Countries"(IMF & WB, 2017) làm phân tích

Mục đích của phương pháp này là dựa vào mô hình DSF (tập hợpcác ngưỡng nợ nguy hiểm), để phân tích, dự báo gánh nặng nợ tổng thể và nợcông nước ngoài của quốc gia (được tính trên GDP, thu ngân sách nhà nước

và kim ngạch xuất khẩu) có đang gặp nguy cơ vỡ nợ hay không và đánh giánguy cơ tiềm ẩn của nợ công Các ngưỡng chỉ số nợ công phụ thuộc vào mức

độ hỗ trợ của chính sách và khung thể chế của một quốc gia đối với tăngtrưởng bền vững và giảm nghèo, được đo lường bằng chỉ số CI (CompositeIndicator)

Theo quy tắc của mô hình DSF, những nước có điểm CI trung bìnhthấp hơn hoặc bằng 2,69 được coi là có chính sách yếu, từ 2,69 đến dưới 3,05được coi là nước có chính sách trung bình, bằng hoặc lớn hơn 3,05 được coi

là có chính sách tốt

Trang 12

CHƯƠNG 2: ÁP DỤNG MÔ HÌNH DSF (2017) VÀO VIỆC ĐÁNH GIÁ

TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ CÔNG VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu về mô hình DSF

Để nghiên cứu tính bền vững của nợ công Việt Nam, nhóm chúng em sửdụng khung lý thuyết nợ bền vững (Debt Sustainability Framework for Low –Income Countries) Mô hình này còn được gọi là mô hình DSF, nghiên cứu vàphát triển bởi Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund- IMF) vàNgân hàng thế giới (World Bank- WB) Nó được sử dụng cho nhiều nhómnước khác nhau: Nhóm nước dễ tiếp cận thị trường vốn quốc tế (Market-Access Countries- MACs), và nhóm nước có thu nhập thấp (Low- IncomeCountres- LICs) Kể từ khi ra đời năm 2005, các ngưỡng nợ đã được cập nhậtvào năm 2006, 2009 và 2012

Mô hình của lý thuyết nợ bền vững DSF:

CI=

Với = 0.385, = 2.719, = 2.022, = 4.052, = -3.990, = 13.520

2.2 Phân tích về các biến trong mô hình

Trong mô hình, các biến là những chỉ số sau:

 CI (Composite Indicator): đây là chỉ số phản ánh sự tác động của cácnhân tố khác nhau như tăng trưởng GDP, lượng kiều hối, dự trữ ngoại tệ vàtốc độ tăng trưởng của thế giới để xếp loại các nước sử dụng mô hình vào loại

có chính sách yếu, trung bình hay mạnh

 CPIA (Country Policy and Institutional Assessment): đo lường mức độ

hỗ trợ của chính sách và khung thể chế của một quốc gia đối với tăng trưởngbền vững và giảm nghèo

 g phản ánh tốc độ tăng trưởng của đất nước qua các năm

 Remittances là lượng kiều hối từ nước ngoài đổ về Việt Nam

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:34

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w