Mục tiêu nghiên cứu Đề tài sẽ hướng đến ba mục tiêu tổng quát sau: 1 Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm đã được công bố, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa thâm
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 T ÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
3 Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2
4 B Ố CỤC TIỂU LUẬN 2
5 L ỜI CẢM ƠN 2
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 4
1.1 T ỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4
1.1.1 Trong nước 4
1.1.2 Nước ngoài 4
1.1.3 Khoảng trống trong nghiên cứu 5
1.2 C Ơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 6
1.2.1 Các khái niệm cơ bản 6
1.2.2 Thâm hụt ngân sách và các vấn đề liên quan đến thâm hụt ngân sách 7
1.2.3 Lý thuyết về thâm hụt ngân sách 10
1.2.4 Lí thuyết về tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế 12
1.2.5 Khung phân tích 13
1.3 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu 14
1.3.2 Phương pháp phân tích 14
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16
2.1 T HỰC TRẠNG THÂM HỤT NGÂN SÁCH N HÀ NƯỚC V IỆT N AM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 16
2.1.1 Qui mô thâm hụt ngân sách nhà nước 16
2.1.2 Về cơ cấu thâm hụt ngân sách 17
2.2 H IỆU QUẢ SỬ DỤNG NGÂN SÁCH N HÀ NƯỚC 19
2.3 N GHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM TÁC ĐỘNG CỦA NỢ CÔNG ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 22
CHƯƠNG 3: KHUYẾN NGHỊ CÁC GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC THÂM HỤT NGÂN SÁCH 33
3.1 C ÁC BIỆN PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC THÂM HỤT NGÂN SÁCH 33
3.2 C ÁC GIẢI PHÁP BÙ ĐẮP THÂM HỤT Ở V IỆT N AM 35
TÀI LIỆU THAM KHẢO 37
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Các nước trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng luôn phải đối mặt với những khó khăn, bất ổn gây ảnh hưởng đến nền kinh tế vĩ mô Một trong những vấn đề khó khăn đó là tình trạng thâm hụt ngân sách nhà nước Tình trạng này xảy ra thường xuyên hơn ở các quốc gia khu vực Đông Nam Á Đây được xem là vấn đề nan giải mà có thể nói chưa có một giải pháp nào hữu hiệu nhất để chống lại nó vì hầu hết các giải pháp đưa ra đều để lại hệ lụy về sau Thâm hụt ngân sách nghiêm trọng nhất bắt đầu từ năm 2009, khi cuốc khủng hoảng tài chính lan rộng và không thể kiểm soát Theo tổ chức hợp tác vàphát triển kinh tế (OECD), năm 2010 khu vực OECD thâm hụt khoảng 7.5% GDP (3.3 nghìn tỉ USD) và năm 2011 mức thâm hụt khoảng 6.1% GDP Đối với các nước phát triển đã thế, tình trạng thâm hụt tại Việt Nam càng thêm nghiêm trọng và phức tạp Thâm hụt ngân sách sẽ gây sức ép làm tăng lãi suất thị trường, do đó cản trở nhu cầu đầu tư cảu các nhà kinh doanh làm giảm sự tăng trưởng kinh tế, lãi suất tăng làm giá trị đồng nội tệ tăng, dẫn đến tình trạng siêu nhập Ngoài ra thâm hụt ngân sách còn ảnh hưởng tới tình trạng lạm phát
và tình trạng ổn định xã hội Từ những điều trên, chúng em đã tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”
2 Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài sẽ hướng đến ba mục tiêu tổng quát sau:
1) Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm đã được công bố, đồng thời làm rõ mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam trong mối quan hệ với các biến số kinh tế khác
Trang 32) Đánh giá thực nghiệm tác động của thâm hụt ngân sách lên tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam sử dụng ước lượng mô hình hồi quy và phân tích ảnh hưởng của các biến đến GDP, kiểm định và khắc phục các khuyết tật của mô hình đã ước lượng
3) Những khuyến nghị và gợi về chính sách để Việt Nam điều chỉnh các chính sách về thâm hụt ngân sách, phát triển kinh tế
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Mối quan hệ hồi quy giữa thâm hụt ngân sách và các
biến số liên quan đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam như tỷ lệ lạm phát, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, can thiệp của chính phủ, …
Phạm vi nghiên cứu: Số liệu về các biến số kinh tế được thống kê và công bố
bởi World Bank và IMF giai đoạn 1998 - 2018
4 Bố cục tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, cấu trúc của tiểu luận được xác định như sau:
Chương 1: Trình bày tổng quan các nghiên cứu trong nước và nước ngoài liên quan đến đề tài, cơ sở lý thuyết về thâm hụt ngân sách nhà nước và ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế, cũng như khung phân tích lí thuyết thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Mô tả thực trạng thâm hụt ngân sách ở Việt Nam trong giai đoạn 1998-2018, trình bày mô hình thực nghiệm và phương pháp nghiên cứu được sửdụng
Chương 3: Các giải pháp giải quyết thâm hụt ngân sách ở một số nước phát triển và áp dụng đối với Việt Nam
5 Lời cảm ơn
Trang 5CHƯƠNG1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ THUYẾT
Nguyễn Văn Tiến (2009): các nghiên cứu của ông cho rằng khi có thâm hụt
ngân sách thì chắc chắn ở các nước đang phát triển sẽ dẫn đến cán cân thương mại bị thâm hụt và cuối cùng là cán cân vãng lai bị thâm hụt từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Đỗ Ngọc Huỳnh (2007) sau khi phân tích dữ liệu của các nước đang phát
triển châu Á trong giai đoạn 1990-2006 đã đua ra lập luận rằng thâm hụt ngân sách càng thấp thì tỉ lệ tăng trưởng càng cao
Nguyễn Thị Thanh Thảo (2010) ứng dụng mô hình chuỗi thời gian (mô
hình VAR) để phân tích mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam trong giai đoạn 2001-2010 Bà cho rằng quan hệ giữa thâmhụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là cùng chiều trong các năm 2001-2007 và
có mối quan hệ ngược chiều trong các năm 2008-2010
Trang 6mô hình VAR bằng dữ liệu thu thập của các nước G7 trong khoảng thời gian 1964-1993 Ông phát hiện ra rằng thâm hụt ảnh hưởng tiêu cực đến cán cân thương mại Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách lại có ảnh hưởng mạnh và tích cực trong tăng trưởng kinh tế quốc gia
Fatimaet.al (2012) sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn
1978-2009 xem xét những ảnh hưởng logic của tham hụt ngân sách lên tăng trưởng kinh tế ở Pakistan thì tìm thấy bằng chứng về mối quan hệ nghịch biến của 2 biến này
Cinar & công sự (2014) xem xét vai trò của chính sách thâm hụt ngân sách
đối với tăng trưởng kinh tế Nghiên cứu khảo sát tại hai nhóm quốc gia phát triển và đang phát triển Kết quả cho rằng trong ngắn hạn thâm hụt tác động ngược chiều với tăng trưởng kinh tế ở cả hai nhóm quốc gia này Tuy nhiên đối với năm quốc gia đứng đầu (Luxembourg, Ireland, Slovakia, Slovenia, Finland) thì tác động này có ý nghĩa thống kê, còn năm quốc gia đứng chót (Austria, Belgium, Italy, Portugal, Greece) thì không có ý nghĩa thống kê Trong khi đó, trong dài hạn thì không tồn tại mối quan hệ giữa thâm hụt và tăng trưởng cho cảhai nhóm này
Bose (2007) nghiên cứu chi tiêu công và tăng trưởng kinh tế, thực hiện phân
tích riêng lẻ đối với các quốc gia đang phát triển đã tìm thấy mối quan hệ giữa
thâm hụt ngân sách và tăng trưởng kinh tế là cùng chiều Tuy nhiên, Ramzan & cộng sự (2013) nghiên cứu mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăng trưởng
kinh tế Pakistan Tác giả sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn
1980-2010 và phát hiện tồn tại mối quan hệ tuyến tính giữa GDP và thâm hụt ngân sách
Huynh (2007) tiến hành nghiên cứu dựa trên số liệu thu thập từ các nước
đang phát triển ở Đông Nam Á trong khoảng thời gian 1990-2006 Ông kết luậnthâm hụt ngân sách có tác động tiêu cực đến tăng trưởng GDP của các quốc gia.Ngoài ra ông cũng phát hiện tác động chèn lấn do gánh nặng thâm hụt ngân sách gia tăng làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân
Trang 71.1.3 Khoảng trống trong nghiên cứu
Như đã trình bày ở phần tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài, có khá nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và tăngtrưởng kinh tế, kết quả thu được cũng không giống nhau Kết quả thực nghiệm cho thấy tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế còn phụ thuộcvào nhiều yếu tố về mặt không gian, thời gian và cả yếu tố vĩ mô khác
Thêm vào đó, mặc dù nghiên cứu về mối quan hệ này đã được thực hiện rất nhiều ở nhiều quốc gia trên thế giới nhưng lại chưa được thực hiện nhiều tại Việt Nam Vì vậy, nghiên cứu này nhằm tìm kiếm bằng chứng thực nghiệm về tác động này với các phương pháp ước lượng dữ liệu bảng đáng tin cậy và các biến vĩ mô tại Việt Nam
1.2.1 Các khái niệm cơ bản
1.2.1.1 Khái niệm về tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là một phạm trù kinh tế, nó phản ánh quy mô tăng lên hay giảm đi của nền kinh tế ở năm này so với năm trước đó hoặc của thời kì này
so với thời kì trước đó Tăng trưởng kinh tế có thể biểu hiện bằng qui mô tăng trưởng và tốc độ tăng trưởng Qui mô tăng trưởng phán ánh sự gia tăng lên hay giảm di nhiều hay ít, còn tốc độ tăng trưởng được sử dụng với ý nghĩa so sánh tương đối và phản ánh sự gia tăng nhanh hay chậm của nền kinh tế giữa các năm hay các thời kì Để đo lường tăng trưởng kinh tế người ta thường dùng hai chỉ số chủ yếu: phần tăng, giảm qui mô của nền kinh tế (tính theo GDP) hoặc tốc độ tăng trưởng kinh tế (tính theo GDP)
1.2.1.2 Ngân sách nhà nước
Ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của nhà nước trong dự toán đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của nhà nước
Trang 8kinh tế mà còn tạo điều kiện phát triển sản xuất kinh doanh, đồng thời không bỏqua nhiệm vụ chống độc quyền Trong những giai đoạn khó khăn, cung cầu mất cân đối gây ảnh hưởng đến giá cả thị trường, ngân sách nhà nước bằng các công
cụ thuế, phí, quỹ dự phòng giúp bình ổn giá cả thị trường, chống lại những biến động gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế thị trường
1.2.2 Thâm hụt ngân sách và các vấn đề liên quan đến thâm hụt ngân sách
1.2.2.1 Thâm hụt ngân sách và phân loại
Xuất phát từ quản lí ngân sách nhà nước giữa các quốc gia và tổ chức, có nhiều quan điểm khác nhau về thâm hụt ngân sách nhà nước Hiểu một cách cơ bản nhất, thâm hụt ngân sách là tình trạng tổng chi ngân sách nhà nước mà chính phủ phải thức hiện lớn hơn các khoản thu mà chính phủ thu được tính trong một năm tài chính Ở phạm vi rộng hơn, thâm hụt ngân sách là hiện tượngngân sách nhà nước không cân đối được (thể hiện ở chênh lệch giữa cung và cầu về nguồn lực tài chính của nhà nước)
Theo điều 3 của Luật ngân sách Nhà nước (NSNN) Việt Nam được sửa đổi ngày 3/1/2014, thâm hụt ngân sách (bội chi NSNN) được xác định bằng chênh lệch lớn hơn giữa tổng chi ngân sách trung ương và tổng thu ngân sách trung ương
Theo cẩm nang thống kê tài chính chính phủ (GFS) do Quỹ tiền tệ quốc
tế (IMF) phát hành, thâm hụt ngân sách được xác định bởi chênh lệch giữa thu
và chi ngân sách Khi chênh lệch khoản thu (T) và các khoản chi ngân sách (G) nhỏ hơn 0 ta nói ngân sách chính phủ thâm hụt Có 3 loại thâm hụt ngân sách chủ yếu:
1 Thâm hụt cơ cấu: là các khoản thâm hụt được quyết định bởi
những chính sách tùy biến của chính phủ như quy định thuế suất, trợ cấp bảo hiểm xã hội hay quy mô chi tiêu cho giáo dục, quốc phòng, …
Trang 92 Thâm hụt chu kỳ: là các khoản thâm hụt gây ra bởi tình trạng của chu kỳ kinh tế Thâm hụt chu kỳ xảy ra tự động như nó là kết quả của chu kỳ kinh doanh và được tính bằng hiệu giữa thâm hụt thực tế và thâm hụt cơ cấu
3 Thâm hụt ngân sách thực tế: là thâm hụt khi số chi thực tế vượt số thu thực tế trong một thời kì nhất định
1.2.2.2 Các nguyên nhân gây thâm hụt ngân sách nhà nước
Thâm hụt ngân sách được cơ cấu bởi thu và chi ngân sách Do đó khi phân tích nguyên nhân thâm hụt chúng ta có thể đi sâu vào phân tích hai yếu tố này
Ta có thể chia các nguyên nhân thành hai nhóm: nhóm nguyên nhân khách quan
và nhóm nguyên nhân chủ quan
Nguyên nhân khách quan xuất phát từ chu kỳ kinh doanh và các nhân tố không mong muốn như thiên tai, bệnh dịch, chiến tranh… nằm ngoài dự toán ngân sách Trong các điều kiện trên xã hội không tránh khỏi những rối ren, thất nghiệp tăng, thu từ các nguồn lực giảm sụt nghiêm trọng dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước là khó tránh khỏi
Tuy nhiên các nhà kinh tế học thường quan tâm đến các nguyên nhân chủ quan như: do cơ cấu thu chi ngân sách nhà nước thay đổi chủ yếu là khi chính phủ thực hiện chính sách; do điều hành ngân sách nhà nước không hợp lí:
Thất thu thuế Nhà nước: Thuế là nguồn thu chính và bền vững nhất cho ngân sách nhà nước bên cạnh các nguồn thu khác như tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước, vay, nhận viện trợ… Tuy nhiên, do hệ thống pháp luật ta còn nhiều bất cập, sự quản lí chưa chặt chẽ đã tạo kẽ hở cho các cá nhân, tổ chức lợidụng để trốn thuế, gây thất thu một lượng đáng kể cho ngân sách nhà nước Điển hình, trong năm 2008 lượng thuốc lá nhập lậu vào nước ta đã làm thất thu thuế, lấy đi của ngân sách nhà nước 2500 – 3000 tỉ đồng Ngoài ra lượng thuốc
lá nhập lậu còn làm chảy máu ngoại tệ của đất nước khoảng 200 triệu USD., làm gia tăn g thất nghiệp, ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển kinh tế
Trang 10 Đầu tư công kém hiệu quả: Trong hai năm 2007 và 2008, nước ta đãtiếp nhận một lượng vốn rất lớn từ bên ngoài Nhằm đẩy mạnh đầu tư và phát triển kết cấu hạ tầng và các công trình trọng điểm của quốc gia phục vụ lợi ích phát triển của đất nước Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng đầu tư dàn trải gây lãng phí ở các địa phương vẫn chưa được khắc phục triệt để, tiến độ thi công các dự án trọng điểm của quốc gia còn chậm và thiếu hiệu quả, đã gây lãng phí nguồn ngân sách nhà nước và kiềm hãm sự phát triển của các vùng miền, là nguyên nhân chính gây thâm hụt ngân sách nhà nước.
Nhà nước huy động vốn để kích cầu: Chính phủ kích cầu qua 3 nguồn tài trợ chính là: phát hành trái phiếu Chính phủ, miễn giảm thuế và sử dụng Quỹ dự trữ nhà nước Sử dụng gói giả pháp kích cầu một mặt làm kích thích tiêu dùng, tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên sẽ làm mức thâm hụt ngân sách tăng rất cao khoảng 8 – 12% GDP
Chưa chú trọng mối quan hệ giữa chi đầu tư phát triển và chi
thường xuyên: Đây là một trong những nguyên nhân gây căng thẳng về áp lực bội chi ngân sách (nhất là ngân sách các địa phương) Chúng ta có thể thấy, thông qua cơ chế phân cấp nguồn thu và nhiệm vụ chi giữa các cấp ngân sách
và cơ chế bổ sung từ ngân sách cấp trên cho cấp dưới Ngân sách địa phương được phân cấp ứng với nguồn thu ứng với các nhiệm vụ chi cụ thể và đước xác định cụ thể trong dự toán ngân sách hàng năm Vì vậy, khi các địa phương vay vốn để đầu tư sẽ đòi hỏi bảo đảm nguồn chi thường xuyên để bố trí cho việc vậnhành các công trình đến khi hoàn thành và đi vào hoạt động cũng như chi phí duy tu, bảo dưỡng các công trình làm giảm hiệu quả đầu tư Chính điều đó luôn tạo sự căng thẳng về ngân sách Để có nguồn kinh phí hoặc phải đi vay để duy trì hoạt động hoặc yêu cầu cấp trên bổ sung ngân sách, cả hai trường hợp đều tạo áp lực bội chi ngân sách nhà nước
Quy mô chi tiêu của chính phủ quá lớn: Tăng chi tiêu chính phủ một mặt giúp cho nền kinh tế tăng trưởng tạm thời trong ngắn hạn, nhưng lại tạo
ra những nguy cơ bất ổn lâu dài như: lạm phát và rủi ro tài chính do sự thiếu
Trang 11hiệu quả của các khoản chi tiêu công và thiếu cơ chế giám sát bảo đảm sự hoạt động lành mạnh của hệ thống tài chính Lý thuyết kinh tế không chỉ ra một cách
rõ ràng về hướng tác động chi tiêu của chính phủ đối với tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên đa số các nhà kinh tế thường thống nhất rằng chi tiêu của chính phủ một khi vượt quá một ngưỡng nào đó sẽ làm cản trở tăng trưởng kinh tế do gây
ra phân bố nguồn lực một cách không hiệu quả dẫn tới thâm hụt ngân sách nhà nước và cuối cùng gây ra lạm phát
Con số thâm hụt ngân sách nhà nước Việt Nam thuộc diện cao nhất so với các nước trong khu vực, khoảng 6% GDP/năm Báo cáo kinh tế vĩ mô 2012 “Từbất ổn vĩ mô đến con đường tái cơ cấu” do Uỷ ban Kinh tế Quốc hội vừa công
bố chỉ ra rằng, thâm hụt ngân sách Việt Nam tăng nhanh trong thời gian qua.Báo cáo chỉ ra rằng thâm hụt ngân sách diễn ra liên tục trong khoảng hơn một thập kỉ qua và có mức độ ngày càng gia tăng Cụ thể, thâm hụt ngân sách không bao gồm chi trả nợ gốc của Việt Nam trung bình trong giai đoạn 2003-
2007 chỉ là 1,3% GDP, nhưng con số này đã tăng hơn gấp đôi lên 2,7%GDP trong giai đoạn 2008 – 2012
Bảng1: Thâm hụt ngân sách nhà nước qua các năm (% GDP)
2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011MoF1 -4.9 -4.9 -4.9 -5.0 -5.7 -4.6 -6.9 -5.6 -4.9MoF2 -1.8 -1.1 -0.9 -0.9 -1.8 -1.8 -3.7 -2.8 -2.1IMF -3,3 -4.8 -1.2 -3.3 -0.2 -2.5 -1.2 -9.0 -5.7
ADB -2,3 -2.2 0.2 -1.1 1.3 -1.0 0.7 -6.6
Ghi chú: MoF 1 : Thâm hụt gồm cả chi trả nợ gốc
MoF 2 : Thâm hụt không gồm chi trả nợ gốc
(Nguồn IMF, 2011)
1.2.3 Lý thuyết về thâm hụt ngân sách
Trang 12Việc chi tiêu chính phủ vượt qua thu chính phủ từ thuế, phí, lệ phí và một số nguồn thu khác sẽ dẫn đến bội chi ngân sách nhà nước, thêm vào đó là
sự thất thu thuế dẫn đến thâm hụt ngân sách nhà nước Với cùng bản chất như vậy nhưng luôn có các quan điểm khác nhau tồn tại giữa các nhà kinh tế học
Đối với các nhà kinh tế học trường phía tân cổ điển, một nguyên tắc quan trọng và nhất quán về quản lí ngân sách nhà nước là nguyên tắc ngân sách cân bằng, thu và chi bằng nhau Họ cho rằng tăng thâm hụt ở hiện tại sẽ kéo theo sự gia tăng về gánh nặng thuế trong tương lai và do đó trong trường hợp này, tiết kiệm quốc gia sẽ giảm xuống Khi tiết kiệm quốc gia giảm, lãi suất trênthị trường tăng và lãi suất tăng sẽ làm giảm đầu tư, qua đó tạo ra hiện tượng thoái lui đầu tư (crowding out) Vì thế, trường phái này cho rằng thâm hụt ngân sách sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Trường phái này còn cho rằng tài trợ thâm hụt ngân sách thông qua vay nợ trong nước sẽ gây áp lực làm tăng lãi suất trong nền kinh tế, do vậy sẽ làm giảm đầu tư của khu vực tư nhân Theo đó, tăng thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến tăng giá và giảm sản lượng sảnxuất trong nền kinh tế Một giải thích khác là khi chính phủ vay nợ trên thị trường trong nước, lãi suất sẽ bị đẩy lên và khi mặt bằng lãi suất bị đẩy lên, khu vực tư nhân sẽ giảm nhu cầu huy động vốn của mình, theo đó sẽ hạn chế đến sự
mở rộng sản xuất của khu vực tư nhân Hay nói cách khác, sự gia tăng về cầu của chính phủ thông qua chi tiêu (tăng thâm hụt ngân sách) đã “chèn lấn” cầu khu vực tư nhân (Saleh, 2003)
Trong khi đó trường phái Keynes lại cho rằng tăng thâm hụt ngân sách sẽtác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Khi Chính phủ tăng chi ngân sách (gây thâm hụt ngân sách) thì tổng cầu của nền kinh tế sẽ tăng làm cho các nhà đầu tư tư nhân trở nên lạc quan về triển vọng kinh tế và sẽ quan tâm hơn đến việc tăng đầu tư, do đó kinh tế tăng trưởng Tuy nhiên, trường phái này cũng cho rằng tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế chỉ có ý nghĩa trong ngắn hạn Hơn nữa, việc sử dụng thâm hụt ngân sách để kích thích tăng trưởng chỉ có thể mang lại hiệu quả trong bối cảnh tổng cầu sụt giảm (ví dụ
Trang 13như trưởng hợp xảy ra suy thoái) Khi nền kinh tế đang hoạt động ở mức toàn dụng nhân công (không có dư thừa về các yếu tố sản xuất), việc tăng thâm hụt ngân sách không những không có tác động đến tổng cầu mà còn có nguy cơ đưa
nề kinh tế trước những rủi ro mới, trong đó đáng kể nhất là sự gia tăng về sức éplạm phát
Khác với hai trường phái nói trên, quan điểm của trường phái Ricardo cho rằng, thâm hụt ngân sách không tác động đến các biến số kinh tế vĩ mô cả trong ngắn hạn lẫn trong dài hạn Ảnh hưởng của thâm hụt ngân sách và thuế đối với tiêu dùng là tương đương nhau vì tăng thâm hụt ngân sách do giảm thuế
ở thời điểm hiện tại sẽ phải trả giá bằng việc tăng thuế trong tương lai, bao gồm trả lãi cho các khoản vay Với hàm ý này, người tiêu dùng hiện tại sẽ tiết kiệm một khoản cần thiết để trả cho mai sau hay quyết định tiêu dùng của họ không chỉ dựa vào thu nhập hiện tại mà còn dựa vào thu nhập kì vọng trong tương lai Hơn nữa, khi thâm hụt ngân sách tăng do giảm thuế thì thu nhập khả dụng của người dân tăng lên, đồng thời họ ý thức được cắt giảm thuế trong hiện tại sẽ dẫnđến tăng thuế trong tương lai do vậy họ sẽ biết tiết kiệm nhiều hơn Trong khi
đó, thâm hụt ngân sách làm cho tiết kiệm của khu vực nhà nước giảm xuống Theo đó tiết kiệm quốc gia được hiểu là tổng tiết kiệm tư nhân và tiết kiệm nhà nước sẽ không đổi Do vậy, thâm hụt ngân sách sẽ không tác động đến tiết kiệm, đầu tư, tăng trưởng
1.2.4 Lí thuyết về tác động của thâm hụt ngân sách đến tăng trưởng kinh tế
1.2.4.1 Ảnh hưởng tích cực
Thâm hụt ngân sách ở một mức độ nhất định thì sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế phát triển
Tăng bội chi ngân sách nhằm chống suy thoái
Thâm hụt ngân sách tạm thời trong giai đoạn suy thoái sẽ kích thích đầu tư phát triển, góp phần đưa đến tăng trưởng cao
Trang 14 Khi nề kinh tế gặp khủng hoảng, việc tăng chi tiêu Chính phủ sẽ kích thích kinh tế phát triển tạo ra việc làm lâu bền cho người lao động góp phần làm cho doanh thu từ thuế tăng và trợ cấp thất nghiệp giảm
sự ổn định kinh tế vĩ mô, khả năng duy trì tốc đọ tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế, gây nguy cơ lạm phát và vỡ nợ quốc gia
Việc gia tăng thâm hụt ngân sách có thể dẫn đến giảm tiết kiệm đầu tư nội địa, giảm đầu tư tư nhân, hay gia tăng thâm hụt cán cân vãng lai Thâm hụt ngân sách cao và kéo dài còn làm xói mòn niềm tin đối với năng lực điều hành
vĩ mô của Chính phủ Nó cũng làm tăng mức lạm phát kỳ vọng của người dân
và các nhà đầu tư vì họ cho rằng Chính phủ trước sau gì cũng phải in thêm tiền
để tài trợ thâm hụt
Trang 151.2.5 Khung phân tích
Như đã trình bày ở phần tổng quan nghiên cứu, trên thế giới có 3 luồng quan điểm khác nhau
Thứ nhất, quan điểm của Adam Smith Ông cho rằng thâm hụt ngân sách
sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế và làm tăng gánh nợ cho thế hệ sau
Thứ hai, theo quan điểm của trường phái Keynes, thâm hụt ngân sách
trong ngắn hạn sẽ có ảnh hưởng tích cực đến nền kinh tế do tác động đến tổng cầu làm gia tăng đầu tư
Thứ ba, luồng quan điểm cho rằng thâm hụt ngân sách sẽ không ảnh
hưởng đến tăng trưởng kinh tế cả trong ngắn hạn và dài hạn
Chúng tôi lựa chọn phát triển theo luồng quan điểm thứ hai “thâm hụt ngân sách trong ngắn hạn sẽ ảnh hưởng tích cực đến nề kinh tế”
Quan điểm của Keynes được đưa ra dựa trên hai giả thuyết cơ bản là đầu
tư chịu ảnh hưởng của tổng cầu và giả thiết nền kinh tế không trong trạng thái toàn dụng Keynes đề xuất khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng thì Chính
có thể tăng chi ngân sách (làm thâm hụt ngân sách) để kích cầu để có thể kích thích đầu tư để làm tăng trưởng kinh tế
Quan điểm của Keynes cũng vấp phải sự phản đối của những người theo trường phái kinh tế Ricardo khi họ cho rằng chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ không có tác động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức tiết kiệm nhiều hơn
để trả thuế tăng lên trong tương lai Tác động ròng lên tổng cầu là bằng không
1.3.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu đã cho thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số chéo, thể hiện thôngtin về các yếu tố được thu thập từ năm 1998 – 2018 tại Việt Nam Số liệu được thu thập từ trang web chính thức của IMF và tổng cục thống kê việt Nam, tổng
Trang 16cục thuế, trang web chính thức của Bộ tài chính, tổng cục Hải quan, cổng thông tin điện tử chính phủ.
1.3.2 Phương pháp phân tích
Chạy phần mềm hồi quy Gretl hồi quy mô hình bằng phương pháp ước lượng bình phương nhỏ nhất (OLS) để ước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến từ phần mềm Gretl ta thực hiện các phương pháp sau:
Xét phân tử phóng đại phương sai VIF nhận biết khuyết tật đa cộng tuyến
Dùng kiểm định White để kiểm định khuyết tật phương sai sai số thay đổi và Robust Standard Errors hồi quy mô hình theo phương pháp sai số chuẩn mạnh
Dùng kiểm định F để nhận xét sự phù hợp của mô hình và kiểm định t đểước lượng khoảng tin cậy cho các tham số trong mô hình
Dùng Correlation matrix trong phần mềm Gretl để tìm ma trận tương quan giữa các biến
Kiểm định Ramsey’s RESET để kiểm định dạng đúng của mô hìnhKiểm định R2 để xem mức đọ ý nghĩa của mô hình
Mô hình định lượng
gr GDP= ^β0+ ^β1 FDI+ ^β2.INF + ^β3.POP+ ^β4.OPEN+^β5.BD + ^β6 sq_BD +u1 Bảng 2: Mô tả dữ liệu và nguồn dữ liệu
gr_GDP Biểu thị cho tốc độ tăng trưởng kinh
tế ở Việt Nam, được đo bằng tăngtrưởng GDP hằng năm
BD Thâm hụt ngân sách so với GDP (%) Cổng thông tin điện
tửOPEN Mức độ mở của nề kinh tế, đo bằng Tổng cục hải quan
Trang 17tổng giá trị xuất nhập khẩu (%GDP)Sq_BD Bình phương tỉ lệ thâm hụt ngân sách WB
Trang 18CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
2.1 Thực trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước Việt Nam
những năm gần đây
2.1.1 Qui mô thâm hụt ngân sách nhà nước
Hình1: Thâm hụt ngân sách nhà nước của một số nước Đông Nam Á năm 2018
Được coi là ngôi sao đang lên của Đông Nam Á, Việt Nam được Fitch nâng xếphạng mức tín nhiệm của Việt Nam từ BB- lên BB hồi tháng 5 Mức xếp hạng cao hơn nhờ tỷ lệ dự trữ ngoại hối và những tăng trưởng mạnh mẽ gần đây Tuy nhiên, triển vọng tài chính lại là vấn đề đáng lo ngại
Fitch ước tính thâm hụt ngân sách của Việt Nam vào khoảng 4,6% năm 2018, cao hơn mức trung bình là 3,2% đối với các quốc gia xếp hạng tín nhiệm BB và mức 3,7% mà chính phủ đặt ra Trong khi đó, Malaysia chỉ có 2,7% GDP, philippines là 3% GDP, Indonesia là 2,4% GDP
Việt Nam cần tập trung ổn định và cải cách cơ cấu hơn là cố tăng trưởng nhanh
Trang 19nghĩa là, người dân muốn hưởng những dịch vụ đó (giao thông, y tế, giáo dục )thì lại phải chi trả, bên cạnh chi trả thuế, nhiều hơn trước đây.
Bảng 3: Thu chi NSNN giai đoạn 2015-2017
cấpchính quyền theo lãnh thổ đồng thời là một cấp ngân sách (như ngân sách cấp TƯ, tỉnh(TP trực thuộc TƯ), thành phố (thị xã), huyện,xã) (Ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương)
Cơ cấu ngang của ngân sách Nhà nước:
Đó là phần thu - chi, gồm:-Các khoản thu: Từ thuế, phí, lệ phí, các
khoản đóng góp của các tổ chức và cánhân, các khoản viện trợ, các khoản thu khác theo quy định của pháp luật, các khoản do Nhà nước vay để bù đắp bội chi, được đưa vào cân đối Ngân sách nhà nước
Các khoản chi: Chi phát triển KT - XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảmhoạt động bộ máy Nhà nước, chi trả nợ của nước ngoài,
Trang 20Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội 9 tháng năm 2018 của Tổng cục Thống kêcho thấy, tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/9/2018ước tính đạt 898.300 tỷ đồng, bằng 68,1% dự toán năm, trong đó thu nội địa710.100 tỷ đồng, chiếm 79% tổng thu; thu từ dầu thô 43.500 tỷ đồng, chiếm4,8%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 140.900 tỷ đồng,chiếm 15,7% tổng thu Cụ thể, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu cân đối thungân sách Nhà nước tăng từ 80,1% năm 2016 lên 82% năm 2018; thu từ hoạtđộng xuất nhập khẩu và dầu thô (là những khoản thu thiếu ổn định) giảm từ19,9% năm 2016 xuống còn 18% năm 2018
Theo PGS TS Nguyễn Thị Thanh Hoài, Học viện Tài chính, cơ cấu thu ngânsách đang có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng thu nội địa ngàycàng tăng lên Tỷ trọng thu nội địa tăng là do hoạt động sản xuất – kinh doanhcủa người nộp thuế có hiệu quả hơn, số lượng doanh nghiệp mới thành lập giatăng Bên cạnh đó, Nhà nước áp dụng các ưu đãi thuế, đơn giản hóa thủ tụchành chính, cải thiện môi trường kinh doanh, tạo điều kiện cho sản xuất – kinhdoanh phát triển thuận lợi Cơ quan thu NSNN, đặc biệt là cơ quan thuế đãthực hiện các biện pháp tăng cường quản lý thu, đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra,chống thất thu nội địa
“Tỷ trọng thu từ hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu thời gian gần đây giảm là doViệt Nam đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế, thực hiện cắt giảm mạnh thuếquan theo lộ trình”, PGS Nguyễn Thị Thanh Hoài cho hay
Số liệu từ Bộ Tài chính cho thấy năm 2018, dự kiến tổng thu cân đối ngân sách Nhà nước cả nước trên 1.420 nghìn tỷ đồng, đạt trên 107% so dự toán
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết đây là năm thứ 3 liên tiếp thu ngân sách Nhà nước vượt dự toán đề ra Tính chung 3 năm 2016 – 2018, tỷ lệ huy động thu ngân sách Nhà nước đạt xấp xỉ 25% GDP; trong đó huy động thuế và phí đạt 21% GDP