Nói cách khác, khi các khoản thu truyềnthống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, Nhà nướcphải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trác
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 4
PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRẦN NỢ CÔNG 5
I Khái niệm “Trần nợ công” 6
II Tại sao có Trần nợ công 8
III Lịch sử và Nguyên nhân dẫn đến Trần nợ công 8
IV Trần nợ công xuất hiện khi nào 9
V Điều gì xảy ra nếu Trần nợ công không tăng? 9
VI Cuộc khủng hoảng Trần nợ công nổi tiếng 10
1 Mùa hè năm 2011 10
2 Cuộc khủng hoảng năm 2013 13
VII Trần nợ công Việt Nam 15
1 Thực trạng Nợ công Việt Nam tính đến năm 2016 15
2 Nguyên nhân NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN 16
3 Các biện pháp giải quyết tình trạng NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN 18
PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN NỢ CÔNG 25
I Mô hình hóa 28
II Giải pháp rõ ràng 35
III Thời gian để đạt đến trần nợ tối ưu 37
IV Phân tích kinh tế 38
V Các nhận xét kết luận 45
PHẦN 3: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG 46
I Cơ sở đánh giá thực trạng nợ 48
II Tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ 50
III Nhu cầu về vốn đầu tư phát triển 50
IV Hệ số tín nhiệm của quốc gia 52
V Tham khảo khuyến nghị của IMF/Ngân hàng thế giới (WB) 53
VI Các nhân tố khác 55
PHẦN KẾT LUẬN 58
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
Trong quá trình quản lý nền kinh tế, Nhà nước có lúc cần huy động nguồnlực nhiều hơn từ cả trong và ngoài nước Nói cách khác, khi các khoản thu truyềnthống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhu cầu chi tiêu, Nhà nướcphải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình và chịu trách nhiệmtrong việc chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công Nợ công đã trở thànhmột vấn đề nóng bỏng trên toàn cầu, ở tất cả các quốc gia, kể cả nhóm các nướcphát triển cũng như nhóm các nước đang phát triển Từ câu chuyện nợ công của HyLạp cùng một số nước trong khu vực sử dụng đồng tiền chung Châu Âu đến nhữngcuộc tranh cãi trong Thượng – Hạ viện Mỹ về nâng trần nợ công là một hồi chuôngcảnh báo cho nhiều quốc gia trên thế giới phải có một cái nhìn cẩn trọng về vấn đề
nợ công Tại Việt Nam, nhiều chuyên gia nghiên cứu đã cảnh báo nợ công đang ởmức nguy hiểm và có xu hướng tăng nhanh, có rất nhiều rủi ro tiềm ẩn trong chitiêu công, trả nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam Tuy nhiên, không phải lúcnào nợ công cao cũng gây ra những hậu quả nghiêm trọng Thực tế cho thấy,những cuộc khủng hoảng nợ công chỉ diễn ra khi Chính phủ của một quốc giakhông thể trả nợ đúng hạn cả gốc và lãi nên phải tuyên bố quốc gia phá sản hoặccầu cứu sự trợ giúp từ quốc tế Vì vậy, các quốc gia phải đưa ra một ngưỡng nợcông an toàn trong quá trình quản lý nợ công
Nhận thức được tầm quan trọng của việc xác định ngưỡng nợ công an toàn,chúng em xin lựa chọn đề tài “Trần nợ công và các phương pháp xây dựng trần
nợ công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định trần nợ công” Chúng em xin
chân thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Lan.Trong quá trình làm bài, do kiến thức còn hạn chế và mới mẻ nên chúng em khôngthể tránh khỏi những thiếu sót, khiếm khuyết Vậy chúng em kính mong nhận được
sự góp ý quý báu của cô
Trang 3PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ TRẦN NỢ CÔNG
Trang 4I Khái niệm “Trần nợ công”
Trần nợ công là giới hạn do Quốc hội ấn định đối với khoản nợ mà chínhphủ có thể nắm giữ trong bất kỳ thời điểm nào Mức trần nợ là một con số tổnghợp áp dụng cho tổng nợ, bao gồm nợ trong tay của công chúng và trong các tàikhoản trong chính phủ (Khoảng 0,5% nợ không được quy định bởi mức trần.) Docác khoản chi được luật pháp quy định riêng, trần nợ không trực tiếp hạn chế thâmhụt của chính phủ Trong thực tế, nó chỉ có thể cản trở Kho bạc từ việc chi trả cáckhoản chi tiêu và các nghĩa vụ tài chính khác sau khi đã đạt đến giới hạn, nhưng đãđược phê duyệt (trong ngân sách) và sử dụng
Khi trần nợ thực sự đạt đến mà không có sự gia tăng giới hạn đã được banhành, Kho bạc sẽ cần phải sử dụng "các biện pháp phi thường" để tạm thời chi chocác khoản chi tiêu và nghĩa vụ của chính phủ cho đến khi có thể giải quyết được.Kho bạc chưa bao giờ đạt đến mức phải mất các biện pháp bất thường, dẫn đếnviệc vỡ nợ mặc dù trong một số trường hợp, Quốc hội dường như sẽ cho phép mặcđịnh diễn ra Nếu tình huống này xảy ra, không rõ là Bộ Tài chính sẽ có thể ưu tiênthanh toán nợ để tránh tình trạng vỡ nợ của các khoản nợ trái phiếu của mình,nhưng ít nhất nó cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ thanh toán không phải là tráiphiếu Một trường hợp vỡ nợ kéo dài có thể gây ra nhiều vấn đề kinh tế bao gồmkhủng hoảng tài chính và sự sụt giảm sản lượng có thể đưa đất nước rơi vào suythoái kinh tế trầm trọng
Cụ thể trong trường hợp của Mỹ, quản lý nợ công của Hoa Kỳ là một phầnquan trọng của nền kinh tế vĩ mô của nền kinh tế và hệ thống tài chính Hoa Kỳ, vàtrần nợ là một hạn chế đối với khả năng quản lý của nền kinh tế Hoa Kỳ Tuynhiên, vẫn có tranh luận về cách thức quản lý nền kinh tế Mỹ và liệu trần nợ có làmột cơ chế thích hợp để kiềm chế chi tiêu của chính phủ hay không
Vào ngày 2 tháng 11 năm 2015, Quốc hội Mĩ đã đình chỉ trần nợ công vào khithông qua đạo luật Ngân sách Bipartisan năm 2015 (Pub L 114-74) Mức trần được
Trang 5giữ lại cho đến ngày 15 tháng 3 năm 2017 Khoản nợ phải trả cho giới hạn nàykhông thể cao hơn một xu nào so với mức $ 19.808 tỷ trong thời gian đó.
(Nguồn: Zero Hedge, 17/03/2017, "The Debt Ceiling Deadline Has Passed,").
Mức trần nợ công trước đây là $18.113 nghìn tỷ Mỹ đã đạt được mức trần
đó vào ngày 15 tháng 3 năm 2015 Đáp lại, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Jacob Lew đãbắt đầu giai đoạn tạm ngừng cấp nợ Điều đó có nghĩa là ông sẽ có những biệnpháp phi thường để giữ nợ vượt quá giới hạn Chẳng hạn, ông đã ngừng trả tiềncho nhân viên chính phủ Liên bang và các quỹ hưu trí của nhân viên Bưu điện.Ông cũng bán các khoản đầu tư của các quỹ này
(Nguồn: Báo cáo hoạt động và tình trạng quỹ, Bộ Tài chính, 29/01/2016,
"Meet the New Debt Ceiling,", CNN Money, 17/03/2015).
Mức trần nợ cũng tương tự như giới hạn mà công ty thẻ tín dụng dành chokhoản chi tiêu của bạn Nhưng có một sự khác biệt đáng kể Quốc hội cũng chịutrách nhiệm về khoản nợ bổ sung cho nợ với mức thâm hụt ngân sách năm Nóicách khác, Quốc hội đang đặt ra một giới hạn cho chính các hoạt động của mình.Quốc hội thường sử dụng đủ để vượt qua trần nợ đã đặt Điều đó giống như công
ty thẻ tín dụng của bạn cho phép bạn chi tiêu vượt quá giới hạn của nó và sau đó từchối thanh toán cho các cửa hàng mua hàng của bạn
Về mặt kỹ thuật, trần nợ chỉ áp dụng cho "Hạn mức nợ theo Luật định." Đó
là khoản nợ tồn đọng trong các khoản tiền của Kho bạc Mỹ sau khi đã điều chỉnhcho các khoản chiết khấu chưa thanh toán, nợ cũ, nợ của Ngân hàng Tài chính Liênbang và khoản nợ được bảo lãnh Số tiền này chỉ thấp hơn một chút so với tổng nợcủa Mỹ được ghi nhận bởi đồng hồ nợ quốc gia Nó cũng bao gồm nhiều khoản nợ
mà chính phủ nợ chính mình, chủ yếu là Quỹ Uỷ thác An sinh Xã hội Khoản nợthuộc về tất cả mọi người gọi là nợ công Chỉ có khoảng 70% tổng nợ
Trang 6II Tại sao có Trần nợ công
Như đã nói ở trên, Trần nợ công là hạn mức nợ có thể cản trở khả năng củaKho bạc để quản lý tài chính của chính phủ Trong trường hợp cực đoan, khi nợgần với giới hạn quy định của nó, Chính phủ phải có các biện pháp để giải quyếttình trạng nợ công vượt trần
Bên cạnh đó, Giới hạn nợ cũng cung cấp cho Quốc hội những chuỗi kiểmsoát túi tín dụng của các địa phương, cho phép Quốc hội khẳng định các đặc quyềnhiến pháp của mình để kiểm soát chi tiêu Giới hạn nợ cũng áp đặt một hình thứctrách nhiệm tài chính buộc Quốc hội phải có hành động rõ ràng để có thể khốngchế tình trạng chi tiêu vượt hơn thu nhập Theo lời của một tác giả, giới hạn nợ
"thể hiện sự tôn kính quốc gia về ý tưởng tiết kiệm và quản lý kinh tế về các vấn đề tài chính của chính phủ".
III Lịch sử và Nguyên nhân dẫn đến Trần nợ công
Vào năm 1917, Quốc hội Mĩ đã tạo ra trần nợ thông qua Đạo luật cho vay tự dolần thứ hai Điều này cho phép Bộ Tài chính phát hành Trái phiếu Chính phủ để Hoa
Kỳ có thể tài trợ cho các chi phí quân sự của Chiến tranh thế giới thứ I Các trái phiếudài hạn này có khoản thanh toán lãi thấp hơn các khoản dự phòng ngắn hạn Kho bạc
sử dụng trước Đạo luật Quốc hội Mĩ bấy giờ đã có khả năng kiểm soát tổng thể chitiêu của chính phủ lần đầu tiên Trước đó, trần nợ chỉ cấp phép cho các khoản nợ cụthể, chẳng hạn như Kênh đào Panama hoặc các khoản ghi chú ngắn hạn khác
(Nguồn: CRS Báo cáo Quốc hội, 2008, “The Debt Limit: History and Recent
Increases”).
Tuy nhiên, đến năm 1974, Quốc hội đã tạo ra quy trình ngân sách cho phépkiểm soát chi tiêu Đó là lý do tại sao Quốc hội thường tăng trần nợ Khi quá trìnhngân sách hoạt động trôi chảy, cả hai viện của Quốc hội và Tổng thống đã thốngnhất mức chi tiêu của chính phủ
(Nguồn: Đại học California Berkeley, Đạo luật kiểm soát ngân sách năm 1974)
Trang 7Các quan chức được bầu cử có nhiều áp lực để tăng thâm hụt ngân sách hàngnăm của Hoa Kỳ và đẩy nợ quốc gia ngày càng cao Điều này xuất phát từ việckhông có nhiều khích lệ cho các chính trị gia để hạn chế chi tiêu của chính phủ Họđược tái đắc cử để tạo ra các chương trình có lợi cho cử tri và các nhà tài trợ của
họ Họ cũng ở lại làm việc nếu họ cắt giảm thuế Nói chung, thâm hụt chi tiêu đã,đang và sẽ tạo ra tăng trưởng kinh tế
IV Trần nợ công xuất hiện khi nào
Quốc hội phải tăng trần nợ để Hoa Kỳ không mặc toán nợ của mình Điều đóthường không phải là một vấn đề Trên thực tế, trong 10 năm qua, Quốc hội đãtăng trần nợ 10 lần - bốn lần trong năm 2008 và năm 2009
Khi nhìn vào lịch sử trần nợ, sẽ thấy rằng Quốc hội thường không nghĩ đếnviệc nâng trần nợ Trần nợ chỉ là vấn đề khi Tổng thống và Quốc hội không thểthống nhất về chính sách tài khóa Điều đó xảy ra vào năm 1985, 1995-1996, 2002,
2003, 2011 và gần đây nhất vào năm 2013 Đó là một phương sách cuối cùng đểthu hút sự chú ý của đảng không thuộc đa số trong Quốc hội Họ có thể cảm thấy bịxem nhẹ bởi quá trình ngân sách
Mức trần nợ và chi tiêu của chính phủ cũng có thể trở thành mối quan tâmnếu tỷ lệ nợ / GDP tăng quá cao Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế, mức đó là 77% đối vớicác nước phát triển Sau đó, chủ nợ trở nên lo ngại rằng một quốc gia không thể tạo
ra đủ doanh thu để trả nợ trở lại
V Điều gì xảy ra nếu Trần nợ công không tăng?
Khi nợ đến gần mức trần, Kho bạc có thể ngừng phát hành và vay từ quỹhưu trí của mình (không bao gồm An Sinh Xã Hội hoặc Trung tâm Y tế) Kho bạc
có thể rút khoảng 800 tỷ đô la được giữ tại ngân hàng dự trữ liên bang
Trong khoảng thời gian từ năm 2008-2010, Fed đã tăng đáng kể khoản tiềncủa Kho bạc mà chính nó mang lại, một chính sách được gọi là Định lượng Giảmbớt Cựu nghị sĩ Ron Paul (R-Texas), Chủ tịch Ủy ban giám sát Fed, cho rằng Fed
Trang 8đã tha thứ hoặc hoãn thanh toán khoản nợ 1,6 nghìn tỷ đô la mà họ sở hữu Điều đó
có thể làm trì hoãn việc tăng trần nợ
Một khi trần nợ đã đạt được, Kho bạc không thể bán đấu giá Kho bạc mới
Nó phải dựa vào doanh thu đến để chi trả chi phí chính phủ liên bang hiện hành.Điều đó đã xảy ra vào năm 1996, và Bộ Tài chính tuyên bố nó không thể gửi séc
An Sinh Xã Hội
Nếu Kho bạc đã không thanh toán lãi suất, ba điều sau đây sẽ xảy ra:
Thứ nhất, chính phủ liên bang không còn có thể thực hiện thanh toán
hàng tháng Nhân viên sẽ được nghỉ hưu, và các khoản thanh toán hưu trí sẽ không
đi ra ngoài Tất cả những người nhận trợ cấp An Sinh Xã Hội, Medicare, và
Medicaid sẽ không có Các tòa nhà và dịch vụ liên bang sẽ đóng cửa
Thứ hai, sản lượng kho bạc bán trên thị trường thứ cấp sẽ tăng Điều
đó sẽ tạo ra lãi suất cao hơn, tăng chi phí kinh doanh và mua nhà Nó làm chậm tăng trưởng kinh tế
Thứ ba, chủ sở hữu Kho bạc Mỹ sẽ bán phá giá cổ phiếu của họ Điều
đó sẽ làm cho đồng đô la sụt giảm, có thể loại bỏ tình trạng của nó như là đồng tiền
dự trữ của thế giới Mức sống ở Mỹ sẽ giảm Điều này sẽ khiến cho Hoa Kỳ khó cóthể trả nợ
Vì tất cả những lý do này, Quốc hội không nên nâng cao trần nợ mà không
có các kế hoạch đã định trước Bên cạnh đó, nếu các thành viên quan tâm đến chi
tiêu của chính phủ, họ nên nghiêm túc trong việc áp dụng một chính sách tài khóa bảo thủ hơn trước khi trần nợ tăng lên.
VI Cuộc khủng hoảng Trần nợ công nổi tiếng
Trang 9băng nhóm họp chỉ bỏ phiếu để tăng trần nợ nếu luật pháp bao gồm các biện pháp
có thể cắt giảm chi tiêu và cải thiện nợ quốc gia đã tích lũy
Tuy nhiên, các đảng viên Cộng hòa của đảng Dân chủ cũng không đồng ý vớiviễn cảnh của bất kỳ biện pháp nào có thể được hiểu là tăng thuế Các thành viênĐảng “Tea Party” đặc biệt kiên quyết về những yêu cầu này và một số thậm chí đã từchối không tăng trần nợ trong bất kỳ trường hợp nào Hơn nữa, bởi vì 60 trong số 242thành viên của phái đoàn Cộng hòa Nhà được xác định là thuộc Đảng “Tea Party”, cácthành viên này ở một vị trí nhất định để thúc đẩy các cuộc đàm phán Như vậy, cácyêu cầu của đảng Cộng hòa chạy ngược lại với những dự tính của Tổng thống BarackObama và đảng Dân chủ Quốc hội - những người hy vọng rằng bất kỳ cắt giảm chitiêu của liên bang sẽ được kết hợp với nguồn thu nhập tăng thêm
Sau nhiều cuộc đàm phán và những tranh đấu trong các hoạt động giữa các bên,cuối cùng, vào ngày 2 tháng 8, với viễn cảnh chỉ vài giờ, Chủ tịch Obama đã ký mộtkhoản nợ dài hạn tăng lên luật Luật pháp cuối cùng tăng trần nợ lên tới 2,4 nghìn tỷ
đô la, đủ để ngăn Quốc hội bỏ phiếu về trần nợ một lần nữa trước kỳ bầu cử năm
2012 Các điều khoản của Luật pháp đã kêu gọi 917 tỷ đô la để cắt giảm trực tiếp chochi tiêu liên bang Ngoài ra, Ủy ban hỗn hợp đặc biệt chung sẽ được yêu cầu xác định1,5 nghìn tỷ đô la cho các khoản bổ sung cắt giảm Tuy nhiên, nếu ủy ban khôngthành công, hoặc nếu Quốc hội thất bại trong việc ban hành các khuyến nghị, kếhoạch yêu cầu cắt giảm thêm, chia đều giữa bảo vệ và chi tiêu trong nước
Mặc dù quốc gia tránh mặc định, Hoa Kỳ vẫn phải chịu đựng những hậu quả.Trước cuộc khủng hoảng trần nợ, chính phủ liên bang có xếp hạng tín dụng AAA,bảng xếp hạng cao nhất có thể Điều này cho phép chính phủ vay tiền với lãi suất thấp
và phản ánh mức độ cao của các nhà đầu tư tự tin đặt vào khả năng trả nợ của chínhphủ Khoảng một tuần trước cuộc họp báo của ông Obama, vào ngày 14 tháng 7, cơquan xếp hạng tín nhiệm Standard and Poor's đã chuyển chính phủ liên bang tới danhsách "CreditWatch with negative implications" Standard and Poor's đưa ra
Trang 10một tuyên bố lưu ý rằng "chúng tôi tin rằng có nguy cơ gia tăng về một chính sáchbất ổn kéo dài vượt quá bất kỳ thỏa thuận nào gần đây để nâng trần nợ." Về cơbản, Standard and Poor tin rằng môi trường đảng phái quá độc hại đến mức có một
cơ hội đáng kể mà chính phủ sẽ không tăng trần nợ trước ngày kết thúc tháng 8
Vào ngày 5 tháng 8 năm 2011, bất chấp sự gia tăng thành công trong trần nợ,Standard Và Poor đã hạ xếp hạng tín dụng của chính phủ liên bang từ xếp loại AAAxuống AA+ Lần đầu tiên chính phủ liên bang bị hạ cấp Thị trường chứng khoán sụtgiảm Một lần nữa, Standard and Poor's đưa ra một tuyên bố, lần này tuyên bố rằng
"việc hạ cấp phản ánh quan điểm của chúng tôi rằng sự hiệu quả, sự ổn định và khảnăng dự đoán của các nhà hoạch định chính sách của Mỹ và các thể chế chính trị đãyếu đi trong thời điểm những thách thức về tài chính và kinh tế đang diễn ra
" Đáng chú ý, hai thành viên còn lại của tổ chức xếp hạng tín dụng 'Big Three',Moody's Investor Services và Fitch Ratings, không hạ cấp chính phủ liên bang.Tuy nhiên, biểu tượng đằng sau sự hạ cấp của Standard and Poor là rõ ràng, chothấy tài chính hiện tại của quốc gia là không bền vững và chính phủ liên bangkhông cho thấy dấu hiệu của việc có thể đưa tình hình đi vào kiểm soát
b Kết luận
Cuộc khủng hoảng năm 2011 trình bày một ví dụ trong đó một Quốc hội bịchia rẽ với đảng Cộng hòa trong việc kiểm soát Hạ viện đã làm trầm trọng thêmcuộc khủng hoảng trần nợ Không có động cơ nào cho các đảng viên Đảng Cộnghòa tăng trần nợ một cách hài hòa vì làm như vậy chắc chắn sẽ tăng cường vị thếbầu cử của Tổng thống Obama và đảng Dân chủ
Trên bề mặt, quyết định của Obama về việc khen ngợi kế hoạch Gang of Six có
vẻ khó hiểu Tuy nhiên, quyết định của ông Obama phản ánh mong muốn không mấysay mê của ông để đạt được kiểu thỏa hiệp lưỡng đảng mà ông đã hứa trong chiếndịch của ông Cuối cùng, Obama đã phản ứng quá mức với kế hoạch của Gang of Six
và bỏ qua việc thực sự xem xét thực tế rằng thoả thuận này không được hình
Trang 11thành đầy đủ và hầu như không thể điều hướng qua Hạ viện với các khoản thunhập Quyết định của ông đã trở thành một sự tính sai lầm đáng kể, một trong số
đó là một số nguồn tin nội bộ trong Đảng Cộng hòa do sự thiếu kinh nghiệm về lậppháp của Obama Cuối cùng, tính sai lầm đã quét qua những hy vọng tốt nhất chomột món hời lớn và một thỏa thuận giảm thâm hụt sâu rộng
2 Cuộc khủng hoảng năm 2013
Vào ngày 11 tháng 2 năm 2014, Chủ tịch Hạ viện John Boehner thông qua dựluật đình chỉ trần lãi suất cho đến ngày 15 tháng 3 năm 2015 Ngưỡng nợ sẽ tự độngtrở thành mức nợ vào thời điểm đó Dự luật đã được thông qua mà không có bất kỳđính kèm Ông không có 218 phiếu của đảng Cộng hòa để làm như vậy Thay vào đó,ông đã thông qua nó với 193 đảng viên đảng Dân chủ và 28 đảng viên Cộng hòa
Ông đã bị chỉ trích nặng nề bởi những người đảng Cộng hòa trong NhàTrắng, người đã gọi đó là " sự khai thác hoàn toàn phần của Người Phát ngôn vàchứng tỏ rằng ông đã mất khả năng lãnh đạo Hạ viện" Họ, và Thượng nghị sĩ TedCruz, là những người duy nhất nghĩ rằng mối đe dọa về nợ vỡ nợ là một công cụhữu ích để buộc chính phủ cắt giảm chi tiêu Tuy nhiên, không có đủ nguồn lực để
sử dụng công cụ này
Vào ngày 17 tháng 10 năm 2013, Quốc hội đã đồng ý thỏa thuận cho phépKho bạc phát hành nợ cho đến ngày 7 tháng 2 năm 2014 Nếu không, Kho bạckhông thể bán đấu giá bất kỳ khoản tiền mới nào để thanh toán hóa đơn Tại thờiđiểm đó, Kho bạc ước tính nó có 30 tỷ đô la tiền mặt Đây là lịch biểu của dự luậtsắp đến hạn:
Ngày 23 tháng 10: Khoảng 12 tỷ đô la về trợ cấp An Sinh Xã Hội.
Ngày 31 tháng 10: Khoản thanh toán lãi 6 tỷ USD, 3 tỷ USD tiền lương nhân viên
liên bang và 2 tỷ USD cho các nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khoẻ củaMedicare
Trang 12Ngày 1 tháng 11: 58 tỉ đô la sẽ dành cho trợ cấp An sinh Xã hội và trợ cấp tàn tật,
Medicare và tiền lương quân sự Sẽ không có đủ doanh thu từ ngày 17 tháng 10đến ngày 1 tháng 11 để kiếm được khoản tiền lớn
Ngày 14 tháng 11: Các khoản phúc lợi An sinh xã hội là 12 tỷ đô la.
Ngày 15 tháng 11: Khoản thanh toán trị giá 29 tỷ USD đối với Kho bạc chưa thanh
toán sẽ không được thanh toán Hoa Kỳ có thể bị vỡ nợ lần đầu tiên trong lịch sửcủa mình
Bộ trưởng Tài chính Jack Lew cảnh báo vào ngày 25 tháng 9 năm 2013 rằngtrần nợ sẽ đạt được vào ngày 17 tháng 10 Nhiều đảng viên Cộng hòa nói rằng họchỉ tăng trần nếu tài trợ cho Obamacare đã được đưa ra khỏi ngân sách năm 2014.Thoạt đầu, dường như Nhà diễn thuyết John Boehner sẽ vượt qua trần nợ nếukhông có họ Ông không muốn đảng Cộng hòa bị đổ lỗi cho một thất bại khác nhưcuộc khủng hoảng trần nợ năm 2011
Vào ngày 20 tháng 9, Boehner thay đổi ý định của mình Ông hứa sẽ lừa dốiObamacare, bằng mọi cách cần thiết - dù nó có nghĩa là ngân sách hay trần nợ sẽ bịgiữ làm con tin Một cuộc khủng hoảng khác đang được tiến hành
Vào ngày 1 tháng 10 năm 2013, Quốc hội cho phép chính phủ đóng cửa dokhông có dự luật tài trợ đã được thông qua Thượng viện sẽ không chấp nhận một
dự luật lừa đảo hoặc trì hoãn Obamacare Nhà không chấp nhận một dự luật tài trợcho nó Boehner tuyên bố ông sẽ không tăng trần nợ trừ khi đảng Dân chủ đồng ýđàm phán cắt giảm các chương trình bắt buộc, như Medicare, Medicaid vàObamacare Tổng thống Obama sẽ không thương lượng ngân sách cho đến khi Hạviện thông qua dự luật tài trợ và tăng trần nợ Vào phút chót, Thượng viện và Hạnghị viện đã đồng ý thỏa thuận mở lại chính phủ và tăng trần nợ Để biết thêmthông tin, hãy xem phần Chính phủ Shutdown
Đầu năm đó, vào tháng Giêng, Quốc hội đã sử dụng mối đe doạ không tăngtrần nợ buộc chính phủ Liên bang phải cắt giảm chi tiêu trong ngân sách năm 2013
Trang 13Vị trí của nó là một đồng đô la chi tiêu phải được cắt giảm cho mỗi đồng đô la trần
nợ đã được nâng lên Tổng thống Obama trả lời ông sẽ không đàm phán, vì khoản
nợ nảy sinh để trả các dự luật mà Quốc hội đã chấp thuận May mắn thay, doanhthu tốt hơn dự kiến có nghĩa là cuộc tranh luận về trần nợ đã được hoãn lại
(Nguồn: Atlanta Blackstar, Debt Ceiling Postponed, ngày 23 tháng 1 năm 2013)
VII Trần nợ công Việt Nam
1 Thực trạng Nợ công Việt Nam tính đến năm 2016
Theo Báo cáo của Chính phủ vào cuối tháng 3/2016, nợ công (bao gồm nợcủa doanh nghiệp nhà nước, nợ của chính quyền địa phương) của Việt Nam đãchiếm 65% GDP, riêng nợ nước ngoài của Chính phủ đã vượt ngưỡng 50% chophép, chiếm 50,3% GDP Còn trong báo cáo mới nhất điểm lại nửa chặng đườngcủa năm 2016, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đánh giá rủi ro nợ công vượt trần (65%GDP) đang dần hiện hữu
Theo nhận định của HSBC, vấn đề nợ của Việt Nam ngày càng trầm trọnghơn do lạm phát chậm lại (ảnh hưởng đến GDP danh nghĩa) và đồng tiền Việt Nammất giá (làm tăng giá trị nợ nước ngoài) Dự báo tỷ lệ nợ công trên GDP của ViệtNam sẽ tăng lên 64,5% GDP trong năm 2016, đạt ngưỡng giới hạn của Quốc hội
đề ra 65% trong 2017 Nhìn chung, Nợ công Việt Nam sắp đến ngưỡng giới hạn
cho phép.
Tại báo cáo triển vọng thị trường Việt Nam do Ngân hàng HSBC mới pháthành, khối phân tích của ngân hàng này đánh giá, biên độ dao động cho chính sáchtài chính của Việt Nam đang bị giới hạn
Theo HSBC, thâm hụt ngân sách tăng là vấn đề do tỷ lệ nợ công của Việt Nam
đã thực sự cao Báo cáo ước tính nợ công Việt Nam (bao gồm nợ nước ngoài và trongnước - đáng chú ý là của chính quyền trung ương và địa phương, cộng với bảo lãnhchính phủ) đã tăng từ 59,6% năm 2014 lên 63,3% GDP vào cuối năm 2015
Trang 14Vấn đề nợ ngày càng trầm trọng hơn do lạm phát chậm lại (ảnh hưởng đếnGDP danh nghĩa) và đồng tiền Việt Nam mất giá (làm tăng giá trị nợ nước ngoài).HSBC dự báo tỷ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam sẽ tăng lên 64,5% GDP trongnăm 2016, đạt ngưỡng giới hạn của Quốc hội đề ra 65%.
Diễn biến tỉ lệ nợ công Việt Nam (HSBC)
2 Nguyên nhân NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN
Hiện, nợ công của Việt Nam vẫn đang tiếp tục tăng cao và nghĩa vụ trả nợcũng ngày càng lớn Điều này xuất phát từ những nguyên nhân chính dưới đây:
Thực trạng sử dụng ngân sách không hiệu quả đang diễn ra phổ biến trên
cả nước, cụ thể như: Dự án đạm Ninh Bình phải bỏ dở chừng vì đầu tư 12.000 tỷ
đồng, mỗi năm lỗ 2.000 tỷ đồng Nhà máy xơ sợi Đình Vũ (Hải Phòng) đã chi 7.000
tỷ đồng đến nay vẫn đắp chiếu, mặc cho máy móc, thiết bị hoen rỉ dần… Nhiều dự
án đầu tư công chậm tiến độ, đội vốn… như dự án đường sắt trên cao Cát Linh - HàĐông (Hà Nội) khởi công tháng 10/2011, dự kiến hoàn thành vào năm 2015 Tuynhiên, đến nay dự án này vẫn chưa đi vào sử dụng mà vốn đã đội vốn gần 7000 tỷ
Trang 15đồng, Dự án đường 5 kéo dài có tổng mức đầu tư là 3.532 tỷ đồng, đã chậm tiến độtới 6 năm và mức đầu tư cho dự án cũng tăng gần gấp đôi
Bà Phạm Chi Lan, chuyên gia kinh tế nêu ý kiến: “Đầu tư công khi dự toán
là một, đến lúc thực hiện tăng lên gấp 2, gấp 3 lần Cái đó thể hiện sự kém hiệu quả của đầu tư công, trong đó có thể là lãng phí, có thể thất thoát … vì vậy, đầu tư công trở nên kém tin cậy Khi tính là một thì có hiệu quả nhưng khi thực tế tăng lên gấp 2, gấp 3 thì hiệu quả sẽ hoàn toàn biến mất”.
Trong khi đó, báo cáo của Bộ Tài chính cho thấy, hiện cả nước dư thừakhoảng 7.000 chiếc xe công, điển hình như: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nôngthôn thừa 176 xe, Bộ Công Thương thừa 57 xe Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành, địaphương vẫn tiếp tục đề nghị được mua xe mới
Tổng hợp báo cáo kiểm toán năm 2015 của Kiểm toán Nhà nước cho thấy vẫn
còn nhiều doanh nghiệp có vốn nhà nước làm ăn kém hiệu quả, thua lỗ, như: mỗi
năm Tổng Công ty hàng hải Việt Nam (Vinalines) lỗ 3.400 tỷ đồng; Tổng Công tyXây lắp dầu khí lỗ 3.500 tỷ đồng; Binh đoàn 15 lỗ 470 tỷ đồng Các chuyên gia chorằng, các khoản nợ trong nước của các doanh nghiệp này thường được Chính phủ hỗtrợ dưới các hình thức bổ sung vốn, khoanh nợ, giãn nợ, chuyển nợ, xóa nợ và để bùđắp phần chi tiêu ngân sách cho khu vực doanh nghiệp nhà nước Chính phủ sẽ buộcphải phát hành trái phiếu cũng khiến nợ công tăng cao
Ông Nguyễn Đức Kiên, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội cho biết:
“Trong một nền kinh tế vận hành bình thường thì các doanh nghiệp tự vay tự trả.
Vì nền kinh tế của ta là nền kinh tế đang phát triển, cho nên phải vận dụng rất linh hoạt việc tạo điều kiện cho doanh nghiệp, để họ phát triển thì Chính phủ phải đứng ra bảo lãnh để họ vay vốn và doanh nghiệp phải có trách nhiệm trả nợ Nhưng trong tình huống xấu nhất thì đúng là nhà nước phải chịu”.
Trang 16Theo số liệu mới nhất từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư, tổng thu ngân sách nhànước trong 8 tháng (2015-2016) đạt 603 nghìn 700 tỷ đồng nhưng đã phải chi ra
715 nghìn 200 tỷ đồng, tức là bội chi đã lên đến 111 nghìn 300 tỷ đồng Ông BùiNgọc Sơn, Phó Trưởng phòng Phòng Kinh tế thế giới, Viện Kinh tế và Chính trịthế giới cho rằng, với điều kiện tăng trưởng kinh tế thấp như hiện nay, thu ngânsách khó có thể bảo đảm dự toán và nếu kinh tế tăng trưởng không đạt mục tiêu thì
nợ công và bội chi cũng sẽ tăng Nợ công và kể cả nợ nước ngoài có giai đoạn đãbắt đầu chồng lấp và mức độ tăng lên chính là vì như vậy
Nhưng đáng lo ngại, theo ông Sơn, là triển vọng kinh tế của ta chưa sáng Rõràng khi vay nợ nhiều, nguồn thu để trang trải nợ trong chi tiêu của Chính phủ, trongngân sách của nhà nước tính đến năm sau có thể lên đến 30% là nguy hiểm Nếu nhưthế thì thu được bao nhiêu đi trả nợ hết, hoặc là vay xong lại đi trả nợ luôn
Theo các chuyên gia kinh tế, nợ công trong mấy năm gần đây tăng nhanh là
do Việt Nam phải vay nợ mới để trả nợ cũ, và nếu đà nợ công vẫn cứ tăng đều như
hiện nay thì nợ công sẽ vượt trần
3 Các biện pháp giải quyết tình trạng NỢ CÔNG VƯỢT TRẦN
Trong năm 2017, Thủ tướng yêu cầu các cơ quan chức năng phải có cải cáchđột phá trong tư duy ngân sách, kiểm soát nợ công và đảm bảo khả năng trả nợ Vềphía Bộ Tài chính, một trong những giải pháp mà Bộ này sẽ triển khai trong nămmới là không chuyển vốn vay về cho vay lại, bảo lãnh Chính phủ thành vốn cấpphát ngân sách Nhà nước Mặt khác, Bộ Tài chính cũng khẳng định sẽ thực hiệnđầy đủ các yếu tố tác động lên nợ công và khả năng trả nợ trong trung hạn trướckhi thực hiện các khoản vay mới Một số biện pháp cụ thể được đề ra như sau:
Trang 17a Hướng tới cân bằng Thu – Chi NSNN
Trong Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 18/11/2016, Bộ Chính trị đặt mục tiêu:
Cơ cấu lại ngân sách nhà nước (NSNN) và quản lý nợ công theo hướng bảo đảm nềntài chính quốc gia an toàn, bền vững, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô; tăng cường huyđộng, quản lý, phân bổ và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính, thúc đẩy pháttriển kinh tế, xã hội, thực hiện tốt các nhiệm vụ phát triển văn hóa, con người, bảođảm an sinh xã hội, tăng cường phúc lợi xã hội, bảo vệ môi trường, ứng phó với biếnđổi khí hậu, bảo đảm quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế, góp phần nâng cao vịthế và uy tín của nước ta trong khu vực và trên thế giới
Cụ thể, Bộ Chính trị xác định: Tỉ lệ huy động vào NSNN giai đoạn
2016-2020 bình quân khoảng 20-21% GDP, phấn đấu tổng thu ngân sách bằng khoảng1,65 lần giai đoạn 2011-2015 Trong tổng thu NSNN, tỉ trọng thu nội địa khoảng84-85%, tỉ trọng thu dầu thô và thu xuất nhập khẩu khoảng 14-16%; tỉ trọng thungân sách Trung ương 60-65% Sau năm 2020, tỉ lệ huy động vào ngân sách nhànước so với GDP được duy trì ở mức ổn định, hợp lý
Tỉ lệ chi NSNN giai đoạn 2016-2020 bình quân khoảng 24-25% GDP Trongtổng chi NSNN, tỉ trọng chi đầu tư phát triển khoảng 25-26%; tỉ trọng chi thườngxuyên dưới 64%; ưu tiên đảm bảo chi trả nợ, chi dự trữ quốc gia Sau năm 2020,quy mô chi xác định phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, khả năng cânđối nguồn lực, bảo đảm an toàn nợ công
Giữ vững an ninh tài chính quốc gia; bảo đảm cân đối ngân sách tích cực, giảmdần tỉ lệ bội chi NSNN, đến năm 2020 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuốngkhoảng 3% GDP, hướng tới cân bằng thu – chi NSNN Quy mô nợ công hằng nămtrong giai đoạn 2016-2020 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP
và nợ nước ngoài quốc gia không quá 50% GDP Đến năm 2030, nợ công
Trang 18không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốcgia không quá 45% GDP.
b Xóa bỏ cơ chế “xin – cho”
Về quan điểm chỉ đạo, Bộ Chính trị xác định: Cơ cấu lại NSNN và quản lý
nợ công phải đặt trong tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế, gắn với đổi mới mô hìnhtăng trưởng, bảo đảm hiệu quả, toàn diện, công bằng, bền vững, động viên hợp lýcác nguồn lực
Thực hành triệt để tiết kiệm, chống lãng phí; xác định tiết kiệm là quốc sách
hàng đầu; chỉ chi trong khả năng của nền kinh tế và chỉ vay trong khả năng trả
nợ.
Siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính – NSNN, tăng cường công khai, minhbạch và trách nhiệm giải trình của các cấp về thu, chi NSNN, sử dụng vốn vay và
xử lý nợ công, hạn chế và tiến tới xóa bỏ cơ chế “xin – cho”
Kết hợp hài hòa giữa giải quyết các vấn đề quan trọng, cấp bách với các vấn
đề cơ bản, dài hạn, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững Bảo đảm vai trò chủđạo của ngân sách Trung ương, phát huy sự chủ động, sáng tạo của các bộ, ngành,địa phương; thu hút tối đa nguồn lực của xã hội
Điều chỉnh quan hệ giữa tích lũy và tiêu dùng, giữa chi thường xuyên và chiđầu tư phát triển; tiết kiệm chi thường xuyên để tăng tỉ trọng chi đầu tư phát triển,chi trả nợ trong tổng chi NSNN và giảm bội chi NSNN Thực hiện huy động, phân
bổ, sử dụng nguồn lực NSNN gắn với các ưu tiên chiến lược của nền kinh tế
Đổi mới công tác quản lý tài chính – NSNN phù hợp với thông lệ và chuẩnmực quốc tế, hỗ trợ hiệu quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm độc lập,
tự chủ, chủ quyền đất nước
Trang 19Bên cạnh đó, Bộ Chính trị đề ra 6 chủ trương và giải pháp chủ yếu để thựchiện các mục tiêu, quan điểm chỉ đạo nêu trên Đồng thời giao nhiệm vụ cụ thể chocác cơ quan tổ chức thực hiện.
c Hoàn thiện pháp luật về thu, chi NSNN
Cụ thể, Bộ Chính trị giao các tỉnh ủy, thành ủy, ban đảng, ban cán sự đảng,đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương, đảng ủy đơn vị sự nghiệp Trung ương
tổ chức học tập, quán triệt, xây dựng kế hoạch, chương trình hành động thực hiệnNghị quyết phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của ngành, địaphương, đơn vị Xác định cụ thể nội dung cơ cấu lại NSNN trong phạm vi đượcgiao theo nguyên tắc triệt để tiết kiệm chi, chống lãng phí, tổ chức sắp xếp lại bộmáy, biên chế theo hướng tinh gọn, tập trung; đẩy mạnh cải cách khu vực sựnghiệp công lập, thúc đẩy xã hội hóa, thu hút mạnh mẽ các nguồn lực đầu tư ngoàinhà nước cho phát triển Chú trọng công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghịquyết Đề cao trách nhiệm người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị
Nghị quyết giao, Đảng đoàn Quốc hội, Ban Cán sự Đảng Chính phủ lãnhđạo việc rà soát, sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về quản lý thu, chi NSNN, nợ công,tài sản công; khu vực hành chính, sự nghiệp công lập; về quản lý giá, tài chính, đầu
tư, kế toán, kiểm toán ; rà soát, điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ và kiện toàn tổchức của các bộ, ngành, cơ quan Trung ương, địa phương theo hướng tinh gọn, gắntrách nhiệm quyết định chi ngân sách, vay nợ công với trách nhiệm quản lý NSNN
và trả nợ công
Ban Cán sự Đảng các Bộ: Tài chính, Kế hoạch và Đầu tư, Nội vụ, Y tế, Giáodục và Đào tạo, NHNN Việt Nam tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, Bộ Tài chính chủ trì triển khai các nội dung liên quan đến cơ cấu
lại NSNN, quản lý nợ công
Trang 20Thứ hai, Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì triển khai các biện pháp nâng cao
chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triểnkinh tế, xã hội; xây dựng, điều hành kế hoạch đầu tư công trung hạn và hằng năm;đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lạiđầu tư công
Thứ ba, NHNN Việt Nam chủ trì triển khai thực hiện chính sách tiền tệ phù
hợp với kế hoạch phát triển kinh tế, xã hội; quản lý nợ nước ngoài tự vay, tự trả củacác doanh nghiệp, bảo đảm nhất quán với việc quản lý nợ công, nợ quốc gia; đẩymạnh thực hiện cơ cấu lại các tổ chức tín dụng, xử lý căn bản, triệt để nợ xấu vàcác tổ chức tín dụng yếu kém
Thứ tư, Bộ Nội vụ chủ trì, rà soát, đôn đốc, kiến nghị các giải pháp tiếp tục
tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; nghiên cứuxây dựng phương án sắp xếp lại bộ máy nhà nước theo hướng tinh gọn, xác định rõtrách nhiệm quản lý NSNN và trả nợ công, trách nhiệm quản lý tài chính, tài sảnnhà nước tại các doanh nghiệp
Thứ năm, Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng với các cơ quan liên quan
xây dựng và triển khai thực hiện các giải pháp đổi mới khu vực sự nghiệp công lậptheo phạm vi trách nhiệm được giao
d Không nên nới Trần nợ công
Nợ công là vấn đề được nhiều đại biểu Quốc hội quan tâm trong phiên thảoluận tổ chiều 22/10/2016 Theo Phó Thủ tướng Chính phủ Vương Đình Huệ, hiện
có một số ý kiến đề nghị nâng trần nợ công, nhưng điều này sẽ ảnh hưởng đến khảnăng trả nợ
Trang 21Phó Thủ tướng cho rằng, chỉ tiêu về nợ công đã được Chính phủ bàn bạc, cânnhắc, tính toán rất kỹ lưỡng và quyết định giữ trần nợ công chung là 65% Thực sự,việc giữ được ở mức trần này đã là một sự cố gắng, phấn đấu mệt mỏi, gian nan.
Đồng quan điểm về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũngphân tích rõ hơn, về kế hoạch tài chính 5 năm, trên tinh thần là phải bám vào cácchỉ tiêu của Nghị quyết Đại hội Đảng, các chỉ tiêu trong Nghị quyết của Quốc hội
đã thông qua Trong giai đoạn 2016 – 2020, đề xuất của Chính phủ vẫn giữ trần nợcông là 65% GDP Như vậy, khi trần chung vẫn được giữ đồng nghĩa với việc sẽcắt nợ chính phủ bảo lãnh, mà thực chất điều này đã cắt
Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng cho biết thêm: Việc giữ trần là quan trọng,
nhưng quan trọng hơn hết là chúng ta có được những chỉ tiêu tài chính tốt Vấn
đề quan trọng hơn, nợ chúng ta vay về phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả Trần nợ công được giữ vững sẽ giúp vị thế, tín nhiệm quốc gia của Việt Nam được nâng lên trên trường quốc tế.
Bộ trưởng Bộ Tài chính phân tích thêm, sắp tới đây, tỷ lệ nắm giữ trái phiếucủa hệ thống ngân hàng thương mại sẽ giảm, tăng tỷ trọng nắm giữ của các tổ chứcbảo hiểm, công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, Như vậy, cơ sở nhà đầu tư trên thịtrường trái phiếu sẽ được thay đổi theo chiều hướng tích cực Các ngân hàng vẫn
có vai trò quan trọng, nhưng khi có thêm các tổ chức khác tham gia thì kỳ hạn tráiphiếu sẽ được kéo dài
Trả lời cho câu hỏi, tại sao Chính phủ phải kiên quyết giữ trần nợ công? Bộtrưởng Đinh Tiến Dũng cho rằng, thời hạn trả nợ mặc dù đã được tái cơ cấu theohướng kéo dài hơn, nhưng nhìn chung vẫn còn ngắn Cùng với đó, so với giai đoạn2011-2013 lãi suất nợ vay đã giảm rất nhiều, gần như một nửa; nhưng so với mặt
Trang 22bằng chung quốc tế vẫn còn cao Hơn nữa, nghĩa vụ trả nợ của ngân sách vẫn còncao.
e Phấn đấu tăng lương
Cụ thể, trong giai đoạn 2011-2015, ngân sách đã thực hiện một phần lộ trìnhcải cách tiền lương: điều chỉnh tăng tiền lương cơ sở 3 lần, 1 lần thực hiện phụ cấpcông vụ 25%, 1 lần điều chỉnh tăng 8% đối với lương hưu, trợ cấp ưu đãi người cócông và tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang có thunhập thấp (hệ số lương từ 2,34 trở xuống)
Tuy nhiên, cơ quan giải trình cho rằng đây cũng thể hiện sự cố gắng rất lớncủa Chính phủ trong việc thực hiện cải cách tiền lương, đặc biệt trong bối cảnh quy
mô thu ngân sách tăng chậm, trong khi áp lực chi đầu tư phát triển, chi trả nợ vàthực hiện các chính sách an sinh xã hội rất lớn
Trong giai đoạn 2016-2020, để góp phần nâng cao đời sống cho ngườihưởng lương, trên cơ sở định hướng thu, chi ngân sách 5 năm, Chính phủ trìnhQuốc hội dự kiến bố trí nguồn để điều chỉnh mức lương cơ sở, lương hưu và trợcấp ưu đãi người có công tăng bình quân khoảng 7%/năm
Căn cứ tình hình thực tế, mức điều chỉnh cụ thể sẽ được Quốc hội xem xét,quyết định trong dự toán ngân sách hằng năm, Chủ nhiệm Uỷ ban Tài chính - Ngânsách Nguyễn Đức Hải cho biết
Tiếp thu ý kiến các vị đại biểu, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội đề nghị Chínhphủ, trong điều hành, cần căn cứ khả năng thu, phấn đấu điều chỉnh tăng lương cơ
sở, lương hưu, trợ cấp ưu đãi với mức tăng bình quân cao hơn so với mức Chínhphủ trình
Trang 23PHẦN 2: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN NỢ CÔNG
Trang 24Cách xác định mức trần nợ tối ưu trong trường hợp “Can thiệp không giới hạn”
Chúng tôi trình bày một mô hình lý thuyết cho một chính phủ muốn kiểmsoát nợ của mình bằng cách áp dụng một giới hạn trên hoặc trần đối với tỷ lệ nợ/GDP Chúng ta có một công thức rõ ràng về mức trần nợ tối ưu của chính phủ(hoặc tương đương với mức trần tối ưu của tỷ lệ nợ) Hơn nữa, chúng tôi rút ra đềxuất về quản lý nợ của chính phủ dựa trên mức tối đa của nợ chính phủ
Công thức mà chúng ta thu được được tạo riêng cho từng quốc gia, theo nghĩa
nó phụ thuộc vào các biến số cụ thể như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất nợ, chi phíbiên giảm nợ, biến động nợ, món nợ Do đó, mỗi quốc gia có mức trần nợ tối ưu khácnhau tùy thuộc vào các biến số này Điều này phù hợp với quan sát của Wyplosz(2005) rằng không áp dụng mức trần thống nhất cho các nước có tỷ lệ nợ lớn, chủ yếu
là do mức tỷ suất nợ hiện tại cho thấy các quốc gia khác nhau có thể giải quyết cácmức nợ khác nhau mà không nhất thiết phải nảy sinh trong vấn đề nợ
Chúng tôi xem xét một chính phủ muốn kiểm soát tối ưu tỷ lệ nợ của đấtnước Chúng tôi giả định rằng trong những khoảng thời gian mà chính phủ khôngcan thiệp, sự năng động của tỷ lệ nợ theo một chuyển động của Browni Mô hìnhnày là phiên bản ngẫu nhiên của động lực tỷ lệ nợ chuẩn trình bày trong sách giáokhoa kinh tế vĩ mô
Chúng tôi thừa nhận rằng nợ công có thể có lợi cho nền kinh tế, nhưng cũng cónhững hậu quả bất lợi về tài chính và thực tế Vì chúng ta đang xác định một mô hìnhlấy cảm hứng từ những cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Âu, chúng tôi cho rằng nhữngbất lợi vượt xa những lợi thế Do đó, chúng tôi giả định rằng nợ tạo ra chi phí cho đấtnước, và rằng chi phí này là một chức năng tăng và lồi của tỷ lệ nợ (chúng tôi gọi nó
là chi phí có nợ) Chính phủ có thể giảm tỷ lệ nợ, nhưng có một chi phí liên quan đếnviệc giảm này (chúng tôi gọi nó là chi phí can thiệp) Chi phí này được tạo ra bởi cácđiều chỉnh tài chính, có thể dưới hình thức tăng thuế hoặc giảm chi
Trang 25phí Để theo dõi các can thiệp (tích lũy) chúng ta xác định biến kiểm soát: một quátrình không giảm, không giảm mà đại diện cho việc giảm tỷ lệ nợ.
Chúng tôi xác định tổng chi phí là tổng của chi phí có nợ và chi phí liênquan Trong khuôn khổ này, chính phủ phải đối mặt với sự mất cân bằng: quá trìnhkiểm soát càng lớn, chi phí can thiệp càng lớn, và giảm chi phí để có nợ; Và cáchkhác xung quanh Chính phủ muốn tìm ra sự kiểm soát tối ưu, đó là sự kiểm soát
để giảm thiểu tổng chi phí dự kiến Chức năng cho tổng chi phí dự kiến tối thiểuđược gọi là hàm giá trị
Chúng tôi chỉ ra rằng kiểm soát tối ưu và chức năng giá trị có thể được kếthợp với trần tỷ lệ nợ, mà chúng tôi gọi là trần tỷ lệ nợ tối ưu của chính phủ Bằngcách xây dựng, đó là mức nợ tối thiểu mà chính phủ nên can thiệp Do đó, chínhphủ không nên can thiệp khi tỷ lệ nợ thấp hơn tỷ lệ nợ tối ưu trần Nếu tỷ lệ nợ caohơn trần nợ tối ưu, chính phủ sẽ tạo ra thặng dư đầu tiên tích cực để giảm tỷ lệ nợ
Chúng tôi muốn nhấn mạnh rằng trần nợ tối ưu, nợ tối ưu, nợ giới hạn, và trầntín dụng (hoặc giới hạn tín dụng) là các khái niệm khác nhau Ví dụ đầu tiên, nếu nợthực tế của một quốc gia nằm dưới mức trần nợ tối ưu, thì đó là tối ưu để chính phủkhông can thiệp để kiểm soát nợ Ngược lại, nếu nợ thực tế của một quốc gia nhỏ hơn
nợ tối ưu thì có thể can thiệp tối đa (miễn là chi phí can thiệp không quá cao) Ví dụthứ hai, nếu tỷ lệ nợ thực tế lớn hơn hoặc bằng trần nợ tối ưu, điều đó hàm ý rằngchính phủ can thiệp can thiệp để giảm tỷ lệ nợ; Không có liên quan gì đến khủnghoảng Ngược lại, nếu tỷ lệ nợ thực tế bằng với giới hạn nợ thì cuộc khủng hoảng sẽxảy ra Cuối cùng, vì mức trần tín dụng (hoặc giới hạn tín dụng) được xác định bởinhận thức của người cho vay về đất nước, thuật ngữ này không liên quan đến sự tối
ưu (theo quan điểm của đất nước) hoặc khủng hoảng nợ
Chúng tôi thành công trong việc có được một giải pháp rõ ràng cho vấn đềkiểm soát nợ của chính phủ Cụ thể, chúng ta có được một công thức rõ ràng cho
Trang 26trần tỷ giá nợ tối ưu của chính phủ cũng như cho chức năng giá trị Do đó, chúng ta cóthể thực hiện statics so sánh để phân tích tác động của các tham số cơ bản Chúng tôithấy rằng, trong số các kết quả khác, tăng tỷ lệ tăng trưởng GDP làm tăng trần nợ tối
ưu của chính phủ Việc cải thiện các đặc điểm của nợ và sự tăng lên của sự biến động
nợ có cùng hiệu quả Ngược lại, khi lãi suất nợ tăng, trần nợ tối ưu của chính phủgiảm Hơn nữa, như mong đợi, tăng tỷ lệ tăng trưởng kinh tế, hoặc cải thiện các đặcđiểm của nợ, giảm tổng chi phí dự kiến, và do đó tạo ra một kết quả tốt hơn cho chínhphủ Các thông số khác có tác động ngược lại với tổng chi phí dự kiến
I Mô hình hóa
Xem xét một không gian xác suất hoàn chỉnh (Ω, F, P) có một bộ lọc:
F = {Ft, t ∈ [0, ∞)}, đó là sự gia tăng P của sự lọc được tạo ra bởi một chuyển động Browni một chiều W.
Biến nhà nước là tỷ số nợ X = {Xt, t ∈ [0, ∞)} của một quốc gia, nơi nợ công cộng tại thời điểm t
Tổng nợ công là tổng số tích lũy của tất cả các khoản vay của chính phủ trừ đi cáckhoản hoàn trả; nghĩa là nó bao gồm nợ chính phủ trung ương và địa phương, nợ ởnước ngoài và bên ngoài Định nghĩa nợ này phù hợp với trần nợ ở Mỹ, và côngviệc thực nghiệm về chủ đề này (xem, ví dụ như Uctum và Wickens 2000) Hơnnữa, định nghĩa về tỷ lệ nợ này là tiêu chuẩn trong văn học kinh tế Chúng ta lưu ýrằng cả nợ công và GDP đều tính bằng đồng nội tệ
Chúng ta giả sử rằng X = {Xt, t ∈ [0, ∞)} là một quá trình stochastic thích nghi F theo động lực học
28
Trang 27Hoặc, tương đương,
Trong đó μ: = (r - g) ∈ R và σ ∈ (0, ∞) là hằng số, và W là chuyển động của Brownian.
Ở đây r ∈ [0, ∞) đại diện cho lãi suất thực tế của nợ, g ∈ R tốc độ tăng trưởng kinh tế, và σ sự biến động nợ Chúng tôi biểu thị tỷ lệ nợ ban đầu của đất nước bằng x ∈
(0, ∞) Đôi khi, chính phủ can thiệp để giảm tỷ lệ nợ của quốc gia Quá trình Z đạidiện cho số dư ban đầu tích lũy được chính phủ tạo ra một cách chính xác thôngqua các can thiệp ngân sách với mục đích cụ thể để kiểm soát tỷ lệ nợ Chúng tôilưu ý rằng sự biến động nợ có nguồn gốc từ thặng dư / thặng dư ban đầu (xemphần Chú giải 2.1 bên dưới) hoặc cấu trúc của khoản nợ Đối với lần trước, chúngtôi nhớ lại rằng dư thừa âm cuối cùng là nợ chính phủ nhiều hơn (và thặng dư tíchcực trở nên ít nợ hơn) Ví dụ như đối với trường hợp sau, nếu một phần nợ đượcphát hành bằng ngoại tệ, sau đó σ tính đến sự biến động của tỷ giá hối đoái Chúngtôi lưu ý rằng tất cả các thông số trên (r, g, σ, x) đều cụ thể cho từng quốc gia Cụthể, nếu một khoản nợ của một quốc gia được đại diện bởi một chuỗi thời gian trôichảy, thì mức độ biến động tương ứng của chúng sẽ nhỏ
Ghi chú: Lý do của phương trình (2.2) xuất phát từ bản sắc kinh tế nổi tiếng trong
thời gian rời rạc (xem, ví dụ, Blanchard 2009)
Hoặc, trong thời gian liên tục (xem, ví dụ, Blanchard và Fischer 1989),
29
Trang 28Trong đó X là tỷ lệ nợ, r là lãi suất nợ, g là tốc độ tăng trưởng GDP, s là số dư banđầu, và Z là số dư ban đầu tích luỹ Vì trong thực tế chúng ta có sự không chắcchắn, chúng tôi mở rộng động lực trước đây cho thiết lập ngẫu nhiên này:
Trong đó σ thể hiện sự biến động và W là một chuyển động Browni chuẩn Thànhphần không tách rời σXt dWt trong động lực nợ thể hiện rằng tỷ lệ nợ có thể tăng(tương ứng, giảm) do thâm hụt ngân sách (tương ứng, thặng dư) vượt quá sự kiểmsoát của chính phủ Mặt khác, quá trình Z là biến kiểm soát đại diện cho số dư tíchlũy được tạo ra bởi chính phủ với mục đích rõ ràng là giảm tỷ lệ nợ
Vì đề án của chúng tôi lấy trong bối cảnh các cuộc khủng hoảng nợ hiện tại trên
∞)} là một kiểm soát không ngẫu nhiên và không giảm quá trình Do đó, trong mô
hình thời gian liên tục của chúng ta, Z chính thức là một quá trình điều khiển ngẫunhiên F, không âm và không giảm dần Z: [0, ∞) × Ω → [0, ∞)
Chính phủ muốn chọn kiểm soát Z làm giảm thiểu tổng chi phí J được xác định bởi
Ở đây k ∈ (0, ∞) là tỷ lệ (cận biên) chi phí để giảm nợ, λ ∈
(0, ∞) là tỷ suất chiết khấu của chính phủ, và h là một hàm chi phí mà chúng ta giảđịnh là không âm và lồi với h (0) ≥ 0
Trong J chức năng trên, tích phân ¸ ∞ e-λtk dZt đại diện cho chi phí chiết khấu tíchlũy liên quan đến mục tiêu cụ thể và cố ý của việc giảm nợ Chi phí này được tạo rabởi các điều chỉnh tài chính, có thể dưới hình thức tăng thuế hoặc giảm chi phí Hơn
30
Trang 29nữa, k thể hiện chi phí biên của việc giảm nợ, nghĩa là đối với mỗi đơn vị giảm tỷ
lệ nợ, chính phủ phải trả chi phí k, đó là hằng số dương
Ghi chú: chúng ta tránh được sự phủ nhận nợ (mặc định) như một phương tiện để
giảm tỷ lệ nợ Nói cách khác, chúng tôi giả định rằng chính phủ sử dụng các cơ chếthị trường và chủ quyền của nó để kiểm soát nợ của nó, và chính xác muốn tránhtình huống tiềm ẩn như vậy Chúng tôi cung cấp hai luận cứ bổ sung để biện minh
cho giả định này Thứ nhất, Bulow và Rogoff (1989) cung cấp một mô hình lý
thuyết để kết luận rằng các khoản vay chỉ có thể diễn ra chỉ khi có các biện pháptrừng phạt trực tiếp cho các chủ nợ, có thể bao gồm khả năng cản trở thương mại
của một quốc gia hoặc thu giữ tài sản tài chính ở nước ngoài Thứ hai, Blanchard
(2009) và Eaton và Gersovitz (1981) chỉ ra rằng không phải trả nợ là phương áncuối cùng, và không phải là một giải pháp hữu hiệu, bởi vì các thị trường quốc tếđóng cửa đối với những quốc gia bị vỡ nợ ( Để tham khảo về các mô hình xem xétmặc định, nhưng không nghiên cứu trần nợ, xem Eaton và Gersovitz 1981, Aguiar
và Giponath 2006, Arellano 2008 và Mendoza và Yue 2012.)
Có nợ công có thể có lợi cho nền kinh tế Ví dụ, Holm-Strong và Tirole (1998)tuyên bố rằng nợ có chủ quyền trong lưu thông tăng cường tính thanh khoản củathị trường, cung cấp cho các hộ gia đình một phương tiện để làm dịu tiêu dùng.Mặt khác, nợ công cao có những ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế Blanchard(2009) chỉ ra rằng nợ công cao có nghĩa là sự tăng trưởng của vốn cổ phần ít hơn
và sự bóp méo thuế (đối với các công trình thực nghiệm về những ảnh hưởng tiêucực của nợ công đối với nền kinh tế, xem Kumar và Woo 2010) Hơn nữa, nó cóthể gây ra vòng luẩn quẩn và làm cho chính sách tài khóa cực kỳ khó khăn Bêncạnh đó, như đã nêu ở trên, theo Das et al (2010), nó có thể dẫn đến một cuộckhủng hoảng nợ, đến lượt nó có thể gây ra một cuộc khủng hoảng kinh tế
Vì chúng ta đang xác định một mô hình lấy cảm hứng từ cuộc khủng hoảng nợ hiện