1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1

48 55 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 48
Dung lượng 2,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo đó, nợ công của nước ta cũng khôngngừng tăng lên một cách bất bền vững, gây ra những hậu quả khôn lường đối với nềnkinh tế, từ đó việc quản lý tính bền vững của nợ công ngày càng tr

Trang 1

LỜI MỞ ĐẦU

Trong những năm vừa qua, việc huy động vốn vay đã trở thành một kênh quantrọng, góp phần giải quyết khó khăn về tài chính, tạo tiềm lựcthực hiện thành công cácmục tiêu kinh tế - xã hội của đất nước Theo đó, nợ công của nước ta cũng khôngngừng tăng lên một cách bất bền vững, gây ra những hậu quả khôn lường đối với nềnkinh tế, từ đó việc quản lý tính bền vững của nợ công ngày càng trở nên quan trọng vàthiết yếu.Việc quản lý tính bền vững của nợ công có ý nghĩa vô cùng lớn như tạo sựphối hợp nhịp nhàng và sự dung hòa tối ưu về mục đích với các bộ phận của chínhsách kinh tế vĩ mô, cải thiện tình trạng của cán cân thanh toán quốc tế, ổn định kinh tế

- tài chính trong nước.Trên thế giới đã có những quốc gia dù nợ công có cao hoặc thấpnhưng vẫn đảm bảo tính bền vững và đó là những bài học kinh nghiệm quý giá choViệt Nam nên nhìn vào và học hỏi.Trên cơ sở đó, nhóm chúng em đã thực hiện đề tài

“Nghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam” với mục tiêu cung cấp một cái

nhìn tổng quát về công tác quản lý tính bền vững nợ công ở nước ta cũng như đưa ramột đề xuất nhằm hoàn chỉnh công tác quản lýtínhbềnvững nợ công tại Việt Nam.Kết cấu của tiểu luận bao gồm 3 chương :

Chương I: Tổng quan về quản lý tính bền vững của Nợ công

ChươngII: Kinh nghiệm quản lý tính bền vững của nợ công tại một số quốc gia

trên thế giới

Chương III: Bài học kinh nghiệm quản lý tính bền vững của nợ công cho Việt

Nam

Trang 2

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ

CÔNG

I.1 Khái niệm nợ công và tính bền vững của nợ công

I.1.1 Khái niệm “Nợ công”

Theo Luật Quản lý nợ công của Việt Nam (Khoản 2 Điều 1 Luật số29/2009/QH12), nợ công bao gồm tất cả các khoản nợ của Chính phủ, nợ được Chínhphủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương, trong đó:

- Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoài,được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoảnvay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định củapháp luật Nợ chính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Namphát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

- Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính,tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh

- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương (gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc

uỷ quyền phát hành

Theo Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị Liên hợp quốc vềthương mại và phát triển (UNCTAD), nợ công không chỉ bao gồm nợ chính phủ, nợ đượcchính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương mà còn bao gồm các nghĩa vụ nợcủa ngân hàng trung ương, các đơn vị trực thuộc chính phủ (bao gồm cả Doanh nghiệpNhà nước) ở tất cả các cấp chính quyền và một số khoản nợ ngầm định khác

Theo Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công theonghĩa rộng là nghĩa vụ nợ của khu vực công, bao gồm các nghĩa vụ nợ của chính phủtrung ương, các cấp chính quyền địa phương, ngân hàng trung ương và các tổ chức độclập (nguồn vốn hoạt động do Ngân sách Nhà nước quyết định hay trên 50% vốn thuộc

sở hữu nhà nước, và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay) Còn theonghĩa hẹp, nợ công bao gồm nghĩa vụ nợ của chính phủ trung ương, các cấp chínhquyền địa phương và nợ của các tổ chức độc lập được chính phủ bảo lãnh thanh toán

Trang 3

Như vậy, khái niệm nợ công của Việt Nam có phạm vi hẹp hơn nhiều so với kháiniệm phổ biến quốc tế Việc không thống nhất khái niệm đã gây ra khó khăn trongcông tác quản lý và so sánh số liệu với các quốc gia khác khi mà thực trạng nợ côngkhông được đánh giá đúng.

I.1.2 Khái niệm “Tính bền vững của nợ công”

- Nợ công nước ngoài của một quốc gia được coi là bền vững nếu như các nghĩa

vụ nợ (trả gốc và lãi) được thực hiện một cách đầy đủ mà không cần sử dụng đến cácbiện pháp tài trợ ngoại lệ (ví dụ như xin miễn giảm), hoặc không cần phải thực hiệnnhững điều chỉnh lớn đối với cán cân thu nhập và chi tiêu của mình Đối với các quốcgia có thu nhập thấp, việc thực hiện nghĩa vụ nợ thường gặp khó khăn khi các chủ nợ,bao gồm các tổ chức quốc tế và chính phủ các nước, và các nhà tài trợ không cung ứngcác khoản vay hoặc tài trợ mới đủ để tài trợ cho thâm hụt tài khoá cơ bản Ngoài ra,việc thực hiện nghĩa vụ nợ cũng gặp rắc rối nếu như nó có chi phí tiền lãi quá lớn

I.2 Hậu quả của tình trạng nợ công bất bền vững

I.2.1.Ảnh hưởng ngược từ các chính sách khi nợ công quá lớn

Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt lưng buộcbụng” để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợcần thiết từcác tổ chức tín dụng quốc tế Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, khi nềnkinh tế toàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quảcủa các gói kích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trướcđây, thì việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi củanền kinh tế, làmchậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào “khủnghoảng kép”

I.2.2.Bị hạ bậc tín nhiệm

Khi nợ công liên tục tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm theo báo cáo củacác tổ chức chuyên đi đánh giá tín nhiệm các công ty và quốc gia khác, niềm tin củangười dân và giới đầu tư bị lung lay, khi đó nềnkinh tế dễ trở thành mục tiêu tấn côngcủa các thế lực đầu cơ quốc tế Khi đó, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loại trái phiếunày, đồng thời từ chối mua vào trong các đợt phát hành tiếp theo Nếu chính phủ muốnhuy động tiền từ thị trường tài chính sẽ phải chấp nhận chi phí vốn cao hơn và sau đó,rơi vào vòng xoáy: tiếp tục bị tụt bậc tín nhiệm

I.2.3.Tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế

Trang 4

Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạnmột khoản nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sựtăng trưởng củasản lượng tiềm năng chậm lại vì những lý do sau:

- Tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút

- Gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân

- Tăng thuế để trả lãi nợ vay chính công dân nước mình => Thuế làm méo mónền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội

Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ

để điều tiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu

tư cho chi tiêu của chính phủ tăng lên).- Phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu,song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu - Gây ra áp lựclạm phát, tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực

1.2.4 Gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế cùng với rủi ro chênh lệch tỉ giá.

Nợ công ở mức cao sẽ kéo theo mức bội chi ngân sách lớn và dần dần sẽ trởthành gánh nặng cho nền kinh tế - Trong khi trong chiến lược phát triển kinh tế củaViệt Nam trong những năm gần đây, Chính phủ đang có kếhoạch triển khai nhiều dự

án hạ tầng lớn như nhà máy điện nguyên tử, đường sắt cao tốc,… nên tỷ lệ nợ nướcngoài sẽ tăng vọt Nhìn lại quá trình này, đã có lúc Nhà nước phải đi vay với tỷ giá chỉ

11 nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1 USD, thì ở thời điểm hiện tại tỷ giá quy đổi

đã lên đến mức trên dưới 20 nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1 USD Như vậy làkhoản chênh lệch tỷ giá này toàn bộ nền kinh tế của chúng ta phải hứng chịu

I.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tính bền vững của nợ công

Các yếu tố tác động đến nợ công bao gồm thâm hụt NSNN, tăng trưởng GDPthực tế, lãi suất thực tế, tỷ giá và các yếu tố kinh tế vĩ mô khác

1.3.1 Thâm hụt ngân sách cơ bản

Cân đối NSNN là yếu tố trực tiếp ảnh hưởng đến nợ công Từ bản chất nợ công

có thể thấy mức thâm hụt ngân sách phản ánh giá trị tuyệt đối của nợ chính phủ NếuNSNN thâm hụt cơ bản, nhu cầu vay nợ của Nhà nước sẽ gia tăng và làm trầm trọngthêm tình hình nợ công Ngược lại, nếu NSNN thặng dư cơ bản, nhu cầu vay nợ giảmhoặc Chính phủ có thêm nguồn tài chính để mua lại trái phiếu chính phủ (TPCP) trướchạn làm cho mức nợ công giảm xuống

Trang 5

Một số nghiên cứu thực nghiệm giải thích tác động của thâm hụt NSNN tới nợ côngnhư: Dornbusch (1984) nghiên cứu trường hợp của Brazil, thâm hụt ngân sách là nguyênnhân của nợ nước ngoài tăng nhanh; Sachs và Larrain (1993) giải thích ảnh hưởng củathâm hụt ngân sách tới nợ trong nước và chỉ ra rằng: “Nợ trong nước là một trong nhữngcách ngắn hạn để tài trợ thâm hụt tài khóa Phương pháp này giúp Chính phủ bù đắp đượcthâm hụt mà không ảnh hưởng đến dự trữ và cung tiền, nhưng cũng khiến tăng thâm hụtngân sách theo thời gian do gia tăng nghĩa vụ nợ”; Alfaidi (2002), nợ nước ngoài của AiCập gia tăng một cách đáng kể do tăng nhanh thâm hụt ngân sách; Gartner (2003), tỷ lệthâm hụt NSNN và tỷ lệ nợ công có mối quan hệ cùng chiều.

1.3.2 Lãi suất thực tế

Sự biến động của lãi suất trên thị trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến những khoản

nợ công có lãi suất thả nổi và những khoản vay mới Tỷ lệ các khoản nợ công có lãisuất thả nổi trong tổng nợ càng cao thì sự ảnh hưởng của lãi suất đến nợ công cànglớn Mặt khác, ngay cả những khoản vay có lãi suất cố định thì sự biến động của lãisuất thị trường cũng sẽ ảnh hưởng đến giá cả của các công cụ nợ, nghĩa là, gián tiếpảnh hưởng tới quy mô nợ công Bởi khi lãi suất tăng lên, chi phí vay nợ (trả lãi và phí)tăng lên, các khoản vay của Chính phủ sẽ trở nên đắt hơn và khó khăn hơn, làm giatăng nợ công

Trong lịch sử, những năm 1970, để đối phó với tình trạng suy giảm kinh tế do giádầu tăng mạnh, nhiều nước trong đó có Hoa Kỳ đã thi hành chính sách mở rộng tàichính và tiền tệ Tuy nhiên, chính sách này đã khiến lạm phát gia tăng mạnh Đến cuốithập kỷ 1970, Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) buộc phải tăng lãi suất để kiềm chếlạm phát Các nước khác cũng buộc phải thi hành các chính sách tương tự và khiến nợcông tăng cao Giavazzi và Pagano (1996), Alesina và Perotti (1995), Alesina vàArdagna (2010) chỉ ra lãi suất giảm sẽ cải thiện cân đối ngân sách Lãi suất thấp có tácđộng tới nền kinh tế thông qua việc khuyến khích đầu tư và tiêu dùng, từ đó làm GDPtăng và tỷ lệ nợ công trên GDP sẽ giảm Sachs và Larrain (1993) cho rằng, lãi suất cao

là yếu tố làm gia tăng nợ công Tương tự, Alfaidi (2002) xem xét các yếu tố tác độngđến nợ nước ngoài của các nước đang phát triển, trong đó lãi suất cao là yếu tố làm giatăng nợ nước ngoài của các quốc gia này

Trang 6

1.3.3 Tăng trưởng GDP thực tế

Trong thời kỳ kinh tế mở rộng, tăng trưởng GDP thực tế cao, các khoản vay củaChính phủ sẽ trở nên dễ dàng hơn, điều này làm cho lãi suất thực tế giảm và tăngtrưởng kinh tế nhanh góp phần củng cố nguồn thu NSNN, cải thiện cân đối tài khóa cơbản Ngược lại, trong thời kỳ suy thoái, tăng trưởng kinh tế chậm, làm các chỉ tiêukinh tế xấu đi và điều này cũng làm gia tăng chỉ tiêu nợ công trên GDP (Marek, 2014).Imimole, Imoughele và Okhuese (2014) chỉ ra rằng tăng trưởng GDP thực tế cótác động đối với nợ nước ngoài của Nigeria Gilles và Karim (2012) cũng xem xét tácđộng của các yếu tố vĩ mô gồm cân đối ngân sách cơ bản, tăng trưởng GDP, gánh nặng

nợ, tỷ lệ lạm phát đến xu hướng nợ công của Pháp trong giai đoạn 1890 - 2009 Còntheo Abbas, Akitoby, Abdritzky, Berger, Komatsuzaki và Tyson (2014), tăng trưởngGDP thực tế là một yếu tố chính tác động đến nợ công, khi tăng trưởng kinh tế thựccao, tỷ lệ nợ công sẽ giảm

1.3.4 Tỷ giá

Trong cơ cấu danh mục nợ công có những khoản nợ vay bằng đồng ngoại tệ, do

đó, sự biến động của tỷ giá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến nợ công Nếu nợ vay bằngngoại tệ, đặc biệt là những ngoại tệ có sự biến động lớn về giá trị chiếm tỷ lệ cao thìảnh hưởng của sự biến động tỷ giá đến nợ công càng lớn

Mankiw (2003) cho rằng, khi tỷ giá giảm hay giá đồng nội tệ tăng lên sẽ có tácđộng tiêu cực tới xuất khẩu, gây ra thâm hụt tài khoản vãng lai và có tác động tới nợcông Imimole, Imoughele và Okhuese (2014), tỷ giá tăng lên 1% sẽ làm nợ nước ngz

1.3.5 Các yếu tố kinh tế vĩ mô khác

Đánh giá nợ công phải đặt trong mối liên hệ với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, ngoàicác yếu tố cơ bản gồm thâm hụt ngân sách, tăng trưởng kinh tế, lãi suất thực tế và tỷgiá nêu trên, cần phải xem xét thêm các yếu tố khác như lạm phát, mức độ thâm hụtcán cân vãng lai, mức độ thâm hụt cán cân thương mại, dòng vốn vào (như vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài - FDI, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài - FPI, vốn hỗ trợ phát triểnchính thức - ODA…), năng suất lao động tổng hợp, hiệu quả sử dụng vốn (qua tiêu chíICOR), độ mở của nền kinh tế… để dự báo và đảm bảo nguồn lực thanh toán nghĩa vụ

nợ Ngoài ra, chính sách quản lý kinh tế vĩ mô và quản lý nợ công có ảnh hưởng tới nợcông Nợ công không được cơ cấu tốt về thời hạn, lãi suất, đồng tiền vay nợ có thể

Trang 7

làm tăng quy mô, rủi ro và nghĩa vụ nợ Ngược lại, chính sách quản lý nợ công tốt cóthể kiểm soát được rủi ro và quy mô nợ Điều này một mặt làm giảm thiểu rủi ro và chiphí trong quản lý nợ công trung và dài hạn; mặt khác giúp Chính phủ có sự chủ độngtrong tài trợ chi tiêu của mình.

Sachs và Larrain (1993) chỉ ra rằng, thâm hụt tài khoản vãng lai và thâm hụtngân sách làm gia tăng nợ công: “Thâm hụt tài khoản vãng lai trong những năm 1980

đã khiến Hoa Kỳ từ vị trí của một chủ nợ trở thành con nợ lớn nhất thế giới” Alfaidi(2002) xem xét các yếu tố tác động đến nợ nước ngoài của các nước đang phát triểnbao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài Trong đó, các yếu tố bên trong bao gồmđầu tư thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, hiệu quả sử dụng vốn, thâm hụt cán cânthanh toán; các yếu tố bên ngoài bao gồm lãi suất, giá dầu và các nguyên liệu thô khác.Pirtea, Nicolescu và Mota (2014) cho rằng, FDI là một yếu tố tác động đến nợ công doFDI làm tăng năng suất lao động và làm giảm tỷ lệ nợ công trên GDP Akitoby,Komatsuzaki và Binder (2014) cho rằng, lạm phát cao có thể giảm nợ công do lạmphát làm giảm giá trị của các khoản nợ Aizenman và Marion (2009), IMF (2012) chỉ

ra sau chiến tranh thế giới thứ II, tỷ lệ nợ công trên GDP của Hoa Kỳ trên 100% nhưng

đã cắt giảm còn khoảng 40% trong vòng một thập kỷ do kết hợp tăng trưởng kinh tế vàduy trì mức lạm phát khoảng 4%

I.4 Các công cụ quản lý tính bền vững của nợ công

Các công cụ quản lý nợ công Theo Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công màChính phủ ban hành, Chính phủ thống nhất quản lý toàn diện nợ công thông qua 4công cụ Cụ thể, các công cụ đó là: Chiến lược dài hạn về nợ công; Chương trình quản

lý nợ trung hạn; Kế hoạch vay và trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ; Các chỉ tiêu

an toàn và giám sát nợ công

- Thứ nhất, chiến lược dài hạn về nợ công gồm các nội dung như đánh giá thựctrạng nợ công và công tác quản lý nợ công trong giai đoạn thực hiện Chiến lược trướcđó; mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công,

- Thứ hai, chương trình quản lý nợ trung hạn gồm các mục tiêu, nhiệm vụ và giảipháp về huy động, sử dụng vốn vay, trả nợ và cơ chế, chính sách, tổ chức quản lý nợtrong giai đoạn 3 năm liền kề để thực hiện các chỉ tiêu an toàn về nợ đã được Quốc hộixác định trong mục tiêu, định hướng huy động, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công

Trang 8

- Thứ ba, kế hoạch vay, trả nợ chi tiết hàng năm của Chính phủ có nội dung gồm:

Kế hoạch vay trong nước (gồm kế hoạch huy động vốn cho ngân sách nhà nước và kếhoạch huy động vốn cho đầu tư phát triển); Kế hoạch vay nước ngoài, được thực hiệnthông qua các hình thức huy động, gồm vay ODA, vay ưu đãi, vay thương mại vàđược chi tiết theo chủ nợ nước ngoài; Kế hoạch trả nợ, được chi tiết theo chủ nợ, cóphân định trả nợ gốc và trả nợ lãi, trả nợ trong nước và trả nợ nước ngoài

- Thứ tư, là các chỉ tiêu an toàn và giám sát nợ công Các chỉ tiêu giá sát nợ công,

nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm: nợ công so với tổng sản phẩm quốc dân (GDP),

nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, nghĩa vụ trả nợ nước ngoài của quốc gia sovới tổng kim ngạch xuất nhập khẩu, nợ chính phủ so với GDP

Trang 9

CHƯƠNG II: KINH NGHIỆM QUẢN LÝ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ CÔNG TẠI

MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI

2.1 Thực trạng nợ công trên toàn cầu

Theo các chuyên gia của Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF, chính việc các ngân hàngtrung ương đua nhau cắtg giảm lãi suất để hỗ trợ phục hồi kinh tế sau cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã khuyến khích hoạt động vay tiền, dẫn đến tìnhtrạng nợ nần ngày càng gia tăng hiện nay nay, từ mức nợ công 200.000 tỷ USD (tươngđương 285% GDP thế giới) vào năm 2014 lên đến 217.000 tỷ USD (tương đương327% GDP toàn cầu), theo báo cáo của Viện Tài chính quốc tế IIF quý I/2017

Hình 2.1 – Bản đồ tỷ lệ nợ công của các nước trên thế giới so với GDP toàn cầu – 2017

Nguồn: International Monetary Fund – IMF

Các chuyên gia của IIF cho rằng việc gia tăng nợ công trên thế giới chủ yếu là docác nước mới nổi Năm 2016, nợ công ở các nước này tăng 3.000 tỷ USD, đạt mức56.000 tỷ USD, tương đương 218% GDP của tất cả các nước mới nổi, tăng 5% so vớinăm 2015

Riêng số nợ công của Trung Quốc trong năm 2016 đã tăng 2.000 tỷ USD và hiệntổng số nợ của nước này là 33.000 tỷ USD, nghiên cứu của IIF cho biết

Trang 10

Trong khi đó, các nước phát triển nói chung trong năm ngoái đã giảm được hơn2.000 tỷ USD, đối với cả nợ công lẫn tư, chủ yếu trong khu vực đồng Euro Nhưngtổng số nợ của Mỹ trong 3 tháng đầu năm 2017 lại tăng thêm 2.000 tỷ USD đạt mức63.000 tỷ USD.

Theo IIF, dù thực tế là nợ công ở các nền kinh tế phát triển đã giảm xuống, tại thịtrường mới nổi nợ công vẫn tăng 5% so với năm ngoái

“Tổng nợ công ở những thị trường mới nổi (không tính Trung Quốc) đã tăng khoảng

900 tỷ USD lên hơn 23.600 tỷ USD trong quý I/2017, chủ yếu là ở Brazil (tăng 600 tỷUSD lên 3.600 tỷ USD) và Ấn Độ (tăng 200 tỷ USD lên 2.900 tỷ)", IFF cho biết

Tính đến tháng 10/2017, theo số liệu thống kê từ trang Statista.com, Nhật Bảnvẫn là nước có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất trên thế giới (khoảng 240%), theo sau

là các nước Hy Lạp (180%), Lebanon (152%), hay Italy (133%),

Trang 11

Hình 2.2 – Top 20 quốc gia có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới năm 2017

Nguồn: Statista.com

Mức nợ cao có nghĩa là cuộc khủng hoảng nợ còn chưa được giải quyết xong, kể

cả ở Mỹ hay ở khu vực đồng Euro Bên cạnh đó, mức nợ gia tăng ở châu Á và các nềnkinh tế mới nổi khác cũng cho thấy chưa có sự tái cơ cấu cần thiết

"Các khoản nợ ngày càng tăng sẽ là lực cản cho sự phát triển bền vững và đe dọađối với sự ổn định tài chính toàn cầu", IIF cảnh báo

Hình 2.3 – Biểu đồ thể hiện sự gia tăng nợ công giai đoạn 2015 – 2017

(đơn vị: nghìn tỷ USD)

Nguồn: Statista.com

2.2 Kinh nghiệm quản lý nợ công từ các nước có tỷ lệ nợ công thấp nhưng bền vững

Nợ công là một phần quan trọng và không thể thiếu trong tài chính mỗi quốc gia

Từ những nước nghèo nhất ở châu Phi đến những quốc gia đang phát triển như ViệtNam, Campuchia hay những cường quốc giàu có với trình độ phát triển cao như Mỹ,

Trang 12

Nhật, EU thì đều phải đi vay để phục vụ cho các nhu cầu chi tiêu và sử dụng của chínhphủ nhằm các mục đích khác nhau Nợ công cần phải được sử dụng hợp lý, hiệu quả

và quản lý tốt, nếu không thì khủng hoảng nợ công có thể xảy ra với bất cứ quốc gianào tại bất cứ thời điểm nào và để lại những hậu quả nghiêm trọng.Nhiều quốc gia trênthế giới đang phải vật lộn với nợ công và thâm hụt ngân sách gia tăng, nhưng một sốkhác lại kiểm soát tốt các khoản chi tiêu của mình, điển hình là Nga và Indonesia

2.2.1 Nga

Kinh tế Nga là nền kinh tế lớn thứ 12 trên thế giới sau Hàn Quốc (11) và Canada(10) tính đến năm 2016 Nga là một nước phong phú về tài nguyên thiên nhiên nhưdầu mỏ, than và quặng thép Đây cũng là một nước có nhiều ngành nông nghiệp phongphú Sau khi Liên bang Xô viết tan rã, Nga đã phải trải qua nhiều giai đoạn khá phứctạp Các cuộc cải tổ kinh tế vào những năm 1990 chủ yếu là về công nghiệp, nănglượng và quốc phòng Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, nền kinh tế bắt đầu suy thoáisau 10 năm phát triển, cho đến khi nền kinh tế ổn định trở lại vào cuối 2009-đầu 2010.Mặc dù bị suy thoái nhưng nền kinh tế vẫn không bị ảnh hưởng nặng bởi Cuộc khủnghoảng kinh tế toàn cầu so với các nước láng giềng, một phần là do chính sách kinh tếthích hợp đã giúp nền kinh tế không bị suy thoái nặng

a Tình hình nợ công của Nga

Kinh tế Nga thời hậu Xô viết vận hành theo cơ chế khá đặc biệt - hoà quyện giữanhững yếu tố còn sót lại của kinh tế kế hoạch tập trung với cơ chế của kinh tế thịtrường tự do Điểm đáng lưu ý nhất trong cơ chế đặc biệt ấy là kinh tế Nga không tăngtrưởng dựa trên cơ sở gia tăng nợ công, thậm chí là ngược lại

Điều đó thể hiện rõ qua tỷ lệ gia tăng nợ công/GDP của Nga chỉ nằm ở mứctrung bình 23,53% từ năm 1999 đến năm 2016, cao nhất là năm 1999 với tỷ lệ 92,10%

và mức thấp kỷ lục là 7,40% trong 2008, theo trang tin tradingeconomics.com

Nợ công của Nga trong giai đoạn 2006 – 2016 tăng rất chậm, trong khi từ năm

2014 kinh tế Nga đã bị bao vây bởi lệnh cấm vận Thực tế này chứng tỏ Moscowkhông ưu tiên sử dụng liệu pháp gia tăng nợ công trong điều hành kinh tế

Trang 13

Hình 2.4 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Nga từ 2006 – 2016 (đơn vị: %)

Nguồn: Tradingeconomics.com

b Chính sách nợ của chính phủ Nga

Với Nga, từ những năm 2004 – 2008, Tổng thống V.Putin đã đặt ra nhiệm vụ choChính phủ là phải giảm đến mức thấp nhất mức nợ công từ các khoản vay của nướcngoài

Trong giai đoạn 2012-2014, Chính phủ Nga đã thông qua phương hướng cơ bảncủa chính sách nợ Nhà nước với bản chất như sau: để đối phó với thâm hụt ngân sách,trong khoản vay 10 rúp thì 9 rúp sẽ lấy từ thị trường nội địa Cụ thể, trong 4 năm tiếptheo này, tổng số tiền vay trong nước hàng năm sẽ là 2 nghìn tỉ rúp (khoảng 67 tỷdollar) và chỉ có 200 tỷ rúp (khoảng 6,7 tỷ dollar) là vay mượn bên ngoài

Bên cạnh đó, do khả năng sản xuất khổng lồ và trữ lượng dầu khí lớn nên Nga có

tỷ lệ nợ/GDP thấp Theo Bộ Năng lượng Mỹ, tài nguyên thiên nhiên của Nga ước tínhkhoảng 56 nghìn tỷ USD, chiếm hơn 30% tổng tài nguyên thiên nhiên trên thế giới.Ngoài ra, để giảm khả năng bị thương tổn vì các biến động giá cả trên thị trường quốc

tế khi xuất khẩu hàng hoá, nền kinh tế Nga đã dần dần nhắm nhiều hơn vào nhu cầu vềcác mặt hàng tiêu dùng trong nước, là lĩnh vực có mức tăng trưởng trên 12% mỗi năm,chỉ ra sự lớn mạnh dần lên của thị trường nội địa

Kết quả là, trong những năm gần đây, Nga luôn là nước có mức nợ công gần nhưthấp nhất ở châu Âu và trên thế giới – khoảng xấp xỉ 17% GDP

c Mục tiêu chính sách nợ của chính phủ Nga

Trang 14

Các chính sách về nợ công của Liên bang Nga trong những năm gần đây đượcthực hiện để phù hợp với các mục tiêu:

 Duy trì một gánh nặng nợ thấp là một lợi thế cạnh tranh quan trọng đối với Nga

 Ổn định thị trường vốn trong nước hướng tới việc tài trợ cho nhu cầu ngân sách

 Duy trì xếp hạng tín dụng cao, thực hiện các quy định cần thiết để nâng mứcxếp hạng tín dụng

 Đảm bảo thị trường trong và ngoài nước tiếp tục đón nhận Liên Bang Nga, cónhững điều khoản hợp lý và giảm chi phí cho các khoản vay từ khách hàng vay của Nga

 Tăng cường hệ thống quản lý hiện đại của các khoản nợ công của Nga, mởrộng các hoạt động thiết thực của các cơ quan tài chính nhà nước Nga

 Hỗ trợ khu vực doanh nghiệp Nga thông qua khuyến khích áp dụng mộtchiến lược nợ nước ngoài thận trọng

Bên cạnh đó, các mức thực tế của khoản vay sẽ phụ thuộc vào việc thực hiệnngân sách liên bang và các điều kiện thị trường trong và ngoài nước Mức nợ trongnước và nước ngoài tổng hợp sẽ vẫn ôn hòa và bền vững

Có thể thấy, nước Nga theo đuổi một chính sách về nợ công rất thận trọng, pháthuy tối đa nguồn lực trong nước, không “vung tay quá trán” như một số nước Châu

Âu, điều đó khiến cho nền kinh tế Nga ít bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế

2008-2009, cũng như vẫn đứng vững trước lệnh trừng phạt đến từ phía hoa Kỳ và các nướcChâu Âu

2.2.2 Indonesia

Indonesia là nền kinh tế lớn nhất Đông Nam Á và hoạt động chủ yếu bởi các cơquan nhà nước Việc quốc doanh hóa ngành công nghiệp là kết quả của cuộc cải cáchcông sau ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á năm 1997 Gầnđây, đất nước này đã vượt qua Ấn Độ trở thành nền kinh tế có tốc độ tăng trưởngnhanh thứ 2 trên thế giới

Tăng trưởng của Indonesia phần lớn nhờ vào sự gia tăng mạnh của đầu tư nướcngoài Bên cạnh đó, quôc gia này cũng luôn nỗ lực trong việc hiện đại hóa các ngànhcông nghiệp dầu mỏ, khai khoáng và khí đốt Với những thế mạnh như vậy, Indonesia

Trang 15

đang trên đà trở thành nền kinh tế có quy mô 1 nghìn tỷ USD đầu tiên ở khu vực ĐôngNam Á.

a Khủng hoảng nợ công giai đoạn 1997-1998 của Indonesia

 Nguyên nhân

Cuộc khủng hoảng kinh tế của Indonesia trong thời kỳ này cũng xuất phát từ

những nguyên nhân tương tự như Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở châu Á

1997-1998, đó là sự yếu kém của nền kinh tế trong nước kết hợp với tình trạng lây lan của

khủng hoảng từ các nền kinh tế khu vực trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và tài chính gia tăng Trong sự yếu kém chung của hệ thống tài chính - ngân hàng cũng như các chỉ số kinh tế vĩ mô như thâm hụt ngân sách, thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai thì nợ công, trong đó nợ nước ngoài tăng cao là một trong những nhân tố làm cho cuộckhủng hoảng trở nên trầm trọng hơn ở Indonesia

Nợ công không phải là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính ở Indonesia năm 1997 Tuy nhiên, sau khi khủng hoảng xảy ra thì những yếu kém của hệthống tài chính đã tác động mạnh, khiến cho nợ công trở thành một vấn để cần phải tậptrung ưu tiên giải quyết

Trên thực tế, trong thời kỳ 1990 -1997, nợ công của Indonesia đã giảm đến 15%nhưng ngay lập tức tăng mạnh trong ba năm khủng hoảng, với mức tăng lên tới 70,8%(1998-2000) Vì vậy, tỷ lệ nợ công so với GDP đạt mức đỉnh, 95% năm 2000, sở dĩ nợcông tăng nhanh trong thời kỳ này là do mức tăng chi phí tài khóa liên quan đến cáckhoản cứu trợ tài chính của những người gửi tiền, chính xác hơn là Chính phủIndonesia đã phải phát hành trái phiếu trong hệ thống tài chính nhằm bù đắp cho cáckhoản nợ khó đòi ngày càng tăng

Mặt khác, tỷ giá cũng góp phần làm tăng đáng kể nợ công khi mà đồng rupiah bịmất giá

Trong khi đó, năng lực quản lý nghèo nàn của các doanh nghiệp cũng là mộttrong những nhân tố khiến cho tình trạng khủng hoảng của nền kinh tế trở nên sâu sắchơn Điều này được phản ánh ở sự thiếu tương thích trong bảng quyết toán của một sốngân hàng và công ty lớn Sự thiếu tương thích thể hiện ở hai yếu tố: kỳ hạn thanh toán

và đồng tiền Tính thiếu tương thích của kỳ hạn thanh toán thể hiện ở chỗ sử dụng nợ

Trang 16

ngắn hạn để tài trợ cho các dự án dài hạn Trong khi tính thiếu tương thích của đồngtiền khi sử dụng các khoản vay bằng ngoại tệ để cung cấp cho các dự án chỉ thu đượcbằng đồng rupiah chứ không kiếm được đồng ngoại tệ nào Chính điều này đã làm chocăng thẳng thanh khoản của nền kinh tế bị đẩy lên cao Như vậy, tác động từ sự suygiảm của nền kinh tế Indonesia từ nợ công bên ngoài là rất rõ ràng Nghĩa vụ thanhtoán bằng đồng rupiah tăng lên do sự yếu kém của đồng tiền này khiến cho khả năngcủa cả khu vực tư nhân và chính phủ trong việc thực hiện nghĩa vụ thanh toán trở nênkhó khăn Như vậy, kể từ khi khủng hoảng xảy ra, nợ công trở thành một vấn đềnghiêm trọng và thực sự trở thành gánh nặng khi nó tạo áp lực lên cán cân thanh toán

và tài chính của chính phủ

Điểm đáng lưu ý là, cùng với cuộc khủng hoảng tài chính lan rộng thì cơ cấu nợcông của nước này cũng có sự thay đổi đáng kể Cho tới trước khi cuộc khủng hoảngtài chính năm 1997 xảy ra, nợ công của Indonesia chủ yếu là nợ nước ngoài (nói chínhxác hơn, nợ nước ngoài chiếm toàn bộ nợ công) Và như trên đã nói, nợ nước ngoài đãtăng mạnh từ mức 136 tỷ USD năm 1997 lên 151 tỷ USD năm 1998, chủ yếu do sựgiảm giá của đồng rupiah Kể từ khi khủng hoảng xảy ra, Indonesia bắt đầu tăng cáccác khoản nợ bằng đồng tiền nội tệ nhằm đối phó với cuộc khủng hoảng Chính vì vậy,

nợ công trong nước từ chỗ không có đã tăng nhanh trong thời kỳ khủng hoảng Tớinăm 2000, nợ công ở trong nước chiếm 1/2 tổng nợ công của chính phủ

Tóm lại, nợ công của Indonesia trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 chỉ

là một vấn đề nhỏ trong vô số những khiếm khuyết và bất cập của hệ thông kinh tế.Tuy nhiên, khi khủng hoảng xảy ra, nợ công đã để lại những hậu quả khôn lường, làcội nguồn dẫn đến những tổn thương của hoạt động kinh tế vĩ mô và làm giảm đáng kểkhả năng chi trả các khoản nợ Vấn đề nợ công không chỉ dẫn đến hậu quả căng thẳng

về mặt chính trị - xã hội, mà vấn đề chi trả nợ cao còn làm suy giảm đáng kể sự ổnđịnh tài khóa và ngân sách Vấn đề nợ công đã làm giảm tính linh hoạt của hoạt độngngân sách khi một khoản lớn thu nhập phải dùng để thanh toán nợ

 Giải pháp của chính phủ Indonesia nhằm giải quyết khủng hoảng liên quanđến vấn đề nợ công

Trang 17

Như vậy, cùng với việc thực thi các biện pháp đối phó với khủng hoảng thìChính phủ Indonesia cũng đồng thời phải tập trung vào việc giải quyết vấn đề nợ công(chủ yếu là nợ nước ngoài).

Điều duy nhất mà chính phủ nước này có thể thực hiện vào thời điểm lúc bấy giờ

là đàm phán để đáo hạn những khoản nợ song phương với các nước trong và ngoàikhuôn khổ Câu lạc bộ Paris Theo đó, Chính phủ Indonesia và các nước chủ nợ đã nhấttrí khoản vay 4,5 tỷ USD tại Câu lạc bộ Paris I với kỳ hạn lên đến 11-20 năm, khoảnvay 5,8 tỷ USD tại Câu lạc bộ Paris II với kỳ hạn là 15-20 năm và khoản vay 5,4 tỷUSD tại Câu lạc bộ Paris III với kỳ hạn 18-20 năm Việc đàm phán để gia hạn cáckhoản nợ tuy đã làm giảm bớt áp lực gánh nặng về nợ, nhưng con số này vẫn rất nhỏ

so với toàn bộ các khoản nợ của Indonesia bởi nước này vẫn còn nghĩa vụ phải thanhtoán một khoản nợ đa phương khá lớn

Bên cạnh đó, chính phủ nước này còn phải nhanh chóng giải quyết tình trạng nợnần trong khu vực kinh doanh mà Hiệp định Frankfurt được xem là một trong nhữngbước đi quan trọng để giải quyết các khoản nợ của khu vực này Hiệp định Frankfurt

đã giải quyết các khoản nợ ở thị trường liên ngân hàng, các khoản nợ của khu vực tưnhân Để có thể thực hiện các cuộc đàm phán có hiệu quả, chính phủ đã thành lập Cơquan kết cấu lại các khoản nợ Indonesia (INDRA) và Lực lượng đặc nhiệm sáng kiếnJakarta (JITF) nhằm thúc đẩy các cuộc đàm phán Tuy nhiên, việc kết cấu này là kháchậm, gây ảnh hưởng đến quá trình phục hồi của khu vực kinh doanh

Cùng với việc chủ động tiến hành tháo gỡ áp lực đối với các khoản nợ thông quađàm phán, chính phủ nước này cũng đã thực thi một số chính sách vừa ngăn ngừa, vừagiải quyết tình trạng nợ công nước ngoài Trong đó, ưu tiên của chính phủ là tìm cáchnới lỏng áp lực tác động làm thâm hụt ngân sách theo chiến lược quản lý lại hồ sơ nợnhằm đáp ứng mục tiêu ổn định tài khóa ngắn hạn

Ngoài ra, một trong những giải pháp đối phó với khủng hoảng của Indonesiatrong điều kiện thâm hụt ngân sách là phát hành trái phiếu nhằm tái cấp vốn cho khuvực ngân hàng Đây cũng là điểm khởi đầu quan trọng cho việc hình thành thị trườngtrái phiếu trong nước ở Indonesia Đồng thời, việc phát hành này cũng nhằm mục tiêuhình thành mức chuẩn (về lãi suất) của Indonesia trên thị trường tài chính quốc tế

Trang 18

b Định hướng chính sách của chính phủ Indonesia trong việc giải quyết vấn đề nợ công từ sau khủng hoảng kinh tế 1997-1998 đến nay

Indonesia chủ trương giảm bớt sự phụ thuộc vào các nguồn lực bên ngoài và kiêntrì giảm tỷ lệ nợ công so với GDP Để thực hiện định hướng, chính phủ nước này đãtập trung vào việc tăng cường giám sát và nâng cao năng lực quản lý vấn để nợ công

Đổi với việc giám sát, cùng với việc thiết lập INDRA, JITF, Ngân hàng Trung

ương Indonesia cũng thực thi chính sách ngăn ngừa từ năm 1997 với sáng kiến giámsát nợ nước ngoài của khu vực tư nhân Việc giám sát được thực hiện thông qua hệthông báo cáo hằng tháng do Ngân hàng Trung ương quản lý và Indonesia hy vọng kếtquả của báo cáo như là một hệ thống cảnh báo sớm và làm cơ sở cho các định hướngchính sách

Đối với việc quản lý, việc quản lý nợ công của nước này dựa trên cách thức điều

phối giữa Bộ Tài chính, Ngân hàng Trung ương, Cơ quan kế hoạch hóa phát triển quốcgia, Bộ Công tác điều phối và các bộ khác có liên quan Có hai mục tiêu chủ yếu trongquản lý nợ là mục tiêu cuối cùng và mục tiêu hoạt động Mục tiêu cuối cùng của quản

lý nợ công là phải duy trì khả năng chi trả Trong khi đó, mục tiêu hoạt động của quản

lý nợ là sử dụng nợ phải gắn trực tiếp vào khu vực sản xuất, tạo ra ngoại tệ, đáp ứngcác ưu tiên phát triển, duy trì chi phí và rủi ro ở mức thấp và phù hợp

Tại Indonesia, việc quản lý nợ công nước ngoài trải qua sáu bước, từ việc kếhoạch hóa đến đàm phán, ký kết, thu hồi, chi trả, hệ thống báo cáo và giám sát

- Lập kế hoạch: Chính phủ dự kiế n những nhu cầ u vốn bên ngoài để tài trợ cho

khoảng trống trong ngân sách Chính phủ Giai đoạn này bao gồm: số lượng, nguồn, dự áncần tài trợ là gì? Vấn đề này do Bộ Tài chính và Bộ Kế hoạch và Đầu tư đảm nhiệm

- Đàm phán: Do Bộ Tài chính và Ngân hàng Trung Ương thực hiện toàn bộ quy

trình đàm phán

- Ký kết: Đại diện cho Chính phủ Indonesia, Bộ Tài chính sẽ thực hiện cùng

Ngân hàng Trung Ương

- Giải ngân: Thông thường bao gồm 4 dạng: thư tín dụng, chi trả trự c tiếp, hoàn

trả thông qua một tài khoản đặc biệt Quy trình này tham gia bởi Bộ Tài Chính, Ngânhàng Trung Ương, và các Bộ ngành khác có liên quan

Trang 19

- Hoàn trả: Do Ngân hàng Trung Ương thực hiện theo bản thảo kế hoạch hoàn

trả đã được soạn thảo sẵn và theo hướng dẫn của Bộ Tài chính

- Hệ thống báo cáo và giám sát: Ngân Hàng Trung Ương và Bộ Tài Chính san

sẻ trách nhiệm và công việc cùng nhau

Trên thực tế, Ngân hàng Trung Ương là cơ quan chủ lực tham gia vào việc quản

lý nợ công nước ngoài của Indonesia Đóng góp cho việc quản lý nợ công của ngânhàng thể hiện ở việc tư vấn trong định hướng chính sách, ghi chép thống kê nợ nướcngoài, phác thảo hiệp định cho vay, đàm phán với Câu lạc bộ Paris, London, hướngdẫn chi trả và phổ biến tài liệu nợ

Gần đây hơn, Chính phủ Indonesia đã để ra chiến lược quản lý nợ cho thời kỳ2005-2009 với mục tiêu bù đắp thâm hụt ngân sách phải bảo đảm cả việc tôi thiểu hóachi phí và những rủi ro có thể chấp nhận được trong trung và dài hạn Chiến lược quản

lý nợ giai đoạn 2005- 2009 bao gồm: (i) Quản lý danh mục vốn đầu tư và quản lý rủi

ro với các nội dung chính như ưu tiên phát hành nợ bằng đồng rupiah, hạn chế tối đachi phí cho việc tái tài trợ trong phát hành các khoản nợ dài hạn, ; (ii) Phát triển thịtrường thứ cấp và sơ cấp cho các khoản nợ của chính phủ thông qua các sáng kiên nhưcải thiện phương thức bảo hiểm nợ, thúc đẩy thị trường mua lại và thiết lập hệ thốnggiao dịch thứ cấp, nâng cao tính minh bạch trong quản trị nợ, thị trường hóa và giáodục công chúng về thị trường trái phiếu chính phủ, nâng cao tính điều phối giữa cácbên như ngân hàng trung ương, các nhà giao dịch, thị trường chứng khoán,

Giаi đoạn từ 2013-2016i đoạn từ 2013-2016

c Tình hình nợ công của Indonesia sau khủng hoảng 1099-1978 đến nay

Những thay đổi trong chính sách quản lý đã cải thiện đáng kể tình trạng nợ công

ở Indonesia sau khủng hoảng Theo Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nợ công của Indonesia

đã giảm đáng kể từ mức cao 95,1% năm 2000 xuông 25% năm 2011

Điều đáng kể là, cơ cấu nợ công của nước này cũng có sự thay đển đáng kể.Indonesia từ chỗ nợ nước ngoài chiếm hầu hết nợ công trong thời kỳ khủng hoảng1997-1998 thì nay nợ công đã được đa dạng hóa, cụ thể: nợ công trong nước chiếm54% và 46% là nợ công ngoài nước năm 2007 Năm 2009, tỷ lệ của tổng số nợ côngcủa Indonesia so với GDP là 28,9% thì nợ công ngoài nước chỉ chiếm 12,8%, còn nợ

Trang 20

công trong nước chiếm 16,1% Việc hạ thấp tỷ lệ nợ công cũng như cơ cấu các khoản

nợ theo hướng gia tăng các khoản nợ trong nước bằng cách phát hành trái phiếu cũngnhư công trái chính phủ đã góp phần làm cho hộ thông quản lý nợ công hoạt động cóhiệu quả

Hình 2.5 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Nga từ 2006 – 2016 (đơn vị: %)

Trang 21

“thập kỷ mất mát” những năm 1990, cũng như hàng loạt gói tài chính đã được bơmvào nền kinh tế này để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Bộ Tài chính Nhật Bản ngày 10/05/2017 cho biết: Nợ công của chính phủ NhậtBản đã tăng kỷ lục và đạt mức hơn 1 triệu tỷ yên (1,071.56 nghìn tỷ yên, tương đương9.400 tỷ USD) trong năm tài khóa 2016 kết thúc vào tháng 3 vừa qua

Trong tổng số khoản nợ nêu trên, nợ trái phiếu chính phủ đạt mức 934.90 nghìn

tỷ yên, nợ vay từ các tổ chức tài chính đạt 54.42 nghìn tỷ yên, và nợ từ các khoản vaytrong ngắn hạn hàng năm đạt mức 82.24 nghìn tỷ yên

Với số nợ chính phủ ở mức kỷ lục này, mỗi người dân Nhật Bản sẽ phải gánhkhoản nợ xấp xỉ 8,45 triệu yên (theo số liệu thống kê mới nhất ngày 01/04 vừa qua,dân số Nhật Bản hiện có khoảng 126,79 triệu người)

Như vậy, kể từ năm 2015 đến nay nợ công của chính phủ Nhật Bản đã tăng 22,19nghìn tỷ yên

Hình 2.6 – Tỷ lệ nợ công trên GPD của Nhật Bản từ 2006 đến 2016 và dự đoán đến

2018 (đơn vị: %)

Nguồn: Tradingeconomics.com

Nhờ có lượng tiền khổng lồ này, Nhật bản đã đầu tư phát triển kinh tế xã hộiNhật rất hiệu quả Hệ số đầu tư của Nhật hiện đang là ICOR=3, chứng tỏ Nhật đầu tưkhông hề lãng phí, ít tham nhũng Nhật chú trọng đầu tư vào phát triển các ngành công

Trang 22

nghệ cao, vào an sinh xã hội đưa đất nước Nhật tan hoang sau đại chiến thế giới thứ 2lên nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Song cũng phải thấy mặt trái của nó Tỷ lệ nợ công trên GDP của Nhật Bản đãlên tới hơn 200% GDP vượt xa so với các nước khác Nợ công của Nhật Bản hiện naylớn hơn cả quy mô kinh tế của Anh, Đức, Pháp cộng lại Nhật Bản hiện là nước nặng

nợ nhất trong khu vực các quốc gia công nghiệp

b Những yếu tố làm nên sự an toàn của nợ công tại Nhật

- Nhật tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao Dovậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù nợ công cao nhưng vẫn an toàn và nguy cơ vỡ nợcủa nước này thấp hơn nhiều so với các nước khu vực đồng Euro

- Trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế.95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản nắm giữ, lợi tức tráiphiếu Nhật Bản chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong khi đó nhiều nước đã tiếp cậnngưỡng cao gấp hơn 5 lần

Trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối lớn; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân lớn hơn

nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ.

- Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước Theo số liệu cuối năm 2008 của QuỹTiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản cao hơn nhiều so với mức nợnước ngoài Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động tài chính trong nước thì họ cóthể sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung Thực tế thì Nhật Bản cũngthặng dư tài khoản vãng lai trong nhiều năm, qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ tăng lên ở mứcrất cao, lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác

- Lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác Điều này

có được một phần là do chính sách tiền tệ của Nhật Bản Ngân hàng Trung ương NhậtBản (BOJ) hạ lãi suất qua đêm liên ngân hàng (OCR) xuống mức 0,1% từ cuối năm

2008 để đối phó với cuộc khủng hoảng Thậm chí cả trước khi cuộc khủng hoảng kinh

tế - tài chính toàn cầu diễn ra, để kích thích nhu cầu, BOJ cũng đã giữ OCR ở mức

Trang 23

bằng 0% hoặc gần bằng 0% trong nhiều năm Trong 10 năm qua, OCR của Nhật Bảnchưa bao giờ vượt quá mức 0,5%, một mức rất thấp so với hầu hết các nước

- Hệ số sử dụng vốn đầu tư ICOR của Nhật Bản hiệu quả và nguồn dự trữ ngoại

tệ mạnh Mặc dù tỉ lệ nợ công của Nhật Bản cao hơn 200% GDP, song chỉ số hiệu quảvốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của Nhật Bản chỉ vào khoảng 3,0,

do vậy khả năng trả nợ không quá khó

c Nhật Bản đã làm những gì để duy trì tính bền vững của nợ công?

Có thể đánh giá tính hiệu quả của một số biện pháp mà Chính phủ Nhật Bản đãtiến hành để giải quyết vấn đề nợ, cụ thể như sau:

- Tăng thuế: Từ năm 2012, Chính phủ Nhật Bản đã bắt đầu lộ trình tăng một

số loại thuế cơ bản như thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập doanh nghiệp Nhật Bản

dự kiến thuế tiêu dùng tăng từ 5% lên 10% trong giai đoạn 2012-2016 Tuy nhiên, việctăng thuế doanh thu sẽ dẫn đến một loạt hệ lụy kèm theo khi Chính phủ Nhật Bản đãnhiều lần hứa rằng sẽ không tăng thuế cho đến năm 2013 Bên cạnh tăng thuế, việc cắtgiảm thêm 10% chi tiêu chính sách trong tài khóa năm 2012 giúp Chính phủ Nhật Bản

có thêm 1.200 tỷ Yen nhằm bảo đảm tài chính để trang trải các chi phí phúc lợi Điềunày sẽ tạo ra những điều chỉnh cần thiết để giúp giảm bớt nợ công

Gần đây nhất, việc tăng thuế từ 5% lên 8% vào quý II năm 2014 đã tác độngmạnh đến tăng trưởng và vẫn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế (Số liệu mới nhấtcho thấy tăng trưởng tiêu dùng cá nhân quý II, vốn đóng góp 60% GDP, yếu hơn dựkiến Kinh tế ảm đạm gần đây đã khiến viễn cảnh tăng thuế trở nên mờ mịt.)

Vì vậy, một số nhà kinh tế cho rằng mức thuế tiêu dùng nên tăng thành 15% theo

lộ trìnhtăng đều 1% hàng năm trong vòng 10 năm Biện pháp này nhằm giảm nhẹ ảnhhưởng đối với người tiêu dùng đồng thời có thể hạn chế giảm phát bằng cách tạo ralạm phát kỳ vọng Về nguyên tắc, người tiêu dùng sẽ cắt giảm chi tiêu nếu như thuếđột nhiên tăng đến 10% nhưng khi thuế tăng từ từ và được dự báo sẽ tiếp tục tăng thìngười dân vẫn chi tiêu như bình thường

- Giảm bớt gánh nặng cho hệ thống an sinh xã hội: Với tỷ lệ người già cao nhưhiện nay Chính phủ Nhật Bản đang cân nhắc nâng độ tuổi nghỉ hưu để giảm bớt gánhnặng an sinh xã hội Các nhà làm luật Nhật Bản dự tính sẽ nâng tuổi nghỉ hưu của

Trang 24

người lao động nước này lên 61 tuổi vào năm 2013 và 65 tuổi vào năm 2025 Tuynhiên, ngoài việc nâng độ tuổi nhận tiền trợ cấp, Chính phủ Nhật Bản vẫn cần xem xétcắt giảm các mức trợ cấp trong tương lai, tăng mức đóng tiền phí bảo hiểm y tế nhànước cũng như tiến hành cải cách toàn diện hệ thống an sinh xã hội để giảm bớt mứcchi, cải thiện tình trạng nợ công Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản sẽ phải khuyến khíchthực hiện các chương trình tái tuyển dụng nhân viên nghỉ hưu để có thể khắc phục vấn

đề thiếu hụt nhân lực ở tuổi lao động

- Ổn định tài chính, giảm bớt thâm hụt ngân sách: Mục tiêu bình ổn tài chínhđược Chính phủ Nhật Bản đưa ra nhằm ổn định tỷ trọng tăng trưởng nợ Chiến lược

“ổn định tài chính” sẽ được trợ giúp với cơ chế chia sẻ thâm hụt ngân sách giữa ngânsách trung ương và ngân sách địa phương từ năm 2013 Kế hoạch đặt ra là cắt giảmmột nửa thâm hụt ngân sách vào năm 2015 và đạt được mức thặng dư ngân sách từnăm 2019 Về dài hạn, cán cân ngân sách của cả chính quyền trung ương và địaphương của Nhật Bản Sẽ trở lại trạng thái thặng dư tài khóa năm 2020

Tuy nhiên, mục tiêu này có thể sẽ khó đạt được trong bối cảnh các chính sáchphục hồi kinh tế của Thủ tướng Shinzo Abe Theo đó, Thủ tướng Nhật muốn tăng chitiêu Chính phủ vào công trình, cơ sở hạ tầng để thúc đẩy tăng trưởng và đề xuất BOJtrực tiếp mua trái phiếu chính phủ để giúp tài trợ cho chi tiêu gia tăng Tuy nhiên, nếuđiều đó xảy ra thì có nghĩa là trong tương lai Chính phủ có thể chi tiêu nhiều như họmuốn và sẽ dẫn tới sự gia tăng mạnh chi phí vay của Chính phủ Để bù đắp việc chiphí đi vay tăng sẽ dẫn tới việc Chính phủ Nhật Bản phải phát hành trái phiếu nhiềuhơn và như vậy sẽ lại tiếp tục tăng thêm gánh nặng nợ công

Như vậy, mặc dù tỷ lệ nợ công của Nhật Bản là cao nhất thế giới song cho tớithời điểm hiện nay vẫn chưa thành hiểm họa do những ưu thế của nền kinh tế NhậtBản như tỷ lệ dữ trữ ngoại tệ và tỷ lệ tiết kiệm cao của người dân Tuy nhiên, nếuChính phủ Nhật Bản không nhanh chóng thực hiện những biện pháp điều chỉnh chínhsách tài khóa và chính sách tiền tệ theo hướng hiệu quả hơn thì vấn đề nợ công sẽ trởthành trở ngại lớn trong việc khôi phục nền kinh tế Nhật Bản trong dài hạn

2.3.2 Singapore

a Tình hình nợ công tại Singapore

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo Đất Việt. (2015). Nhật nợ nhiều nhưng vẫn an toàn, Việt Nam thấy gì? .Truy cập ngày 29/11/2017, từ http://baodatviet.vn/kinh-te/tai-chinh/nhat-no-nhieu-van-an-toan-viet-nam-thay-gi-3277741/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhật nợ nhiều nhưng vẫn an toàn, Việt Nam thấygì
Tác giả: Báo Đất Việt
Năm: 2015
2. Benedict Bingham. (2010). Vietnam: Fiscal Strategy and Public Debt. IMF Hanoi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Benedict Bingham. (2010)
Tác giả: Benedict Bingham
Năm: 2010
3. Bộ Tài chính. (2016). Cơ cấu nợ công của Việt Nam đang từng bước điều chỉnh theo hướng bền vững hơn. Truy cập ngày 01/12/2018, từ http://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/tttc/r/o/ttsk/ttsk_chitiet?dDocName=MOFUCM085265&_afrLoop=2033575907324100 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ cấu nợ công của Việt Nam đang từng bước điềuchỉnh theo hướng bền vững hơn
Tác giả: Bộ Tài chính
Năm: 2016
6. Lê Thị Khương. (2016). Bàn về nợ công Việt Nam hiện nay. Trường Cao đẳng Kinh tế - Kế hoạch Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về nợ công Việt Nam hiện nay
Tác giả: Lê Thị Khương
Năm: 2016
7. Mai Thu Hiền – Nguyễn Thị Như Nguyệt. (2011). Tình hình nợ công và quản lý nợ công ở Việt Nam. Tạpchí Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nợ công vàquản lý nợ công ở Việt Nam
Tác giả: Mai Thu Hiền – Nguyễn Thị Như Nguyệt
Năm: 2011
8. Nguyen Thi Thanh Ha. (2011). An Overview of Public Debt Management inVietnam”, Eighth UNCTAD Debt Management Conference, Geneva Sách, tạp chí
Tiêu đề: An Overview of Public Debt ManagementinVietnam”
Tác giả: Nguyen Thi Thanh Ha
Năm: 2011
9. Phạm Thị Thanh Bình (cb). (2013). Vấn đề nợ công ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam. NXB KhoahọcXã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề nợ công ở một số nước trên thếgiới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thanh Bình (cb)
Nhà XB: NXB KhoahọcXã hội
Năm: 2013
11. Thủ tướng Chính Phủ. (2010). Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công, văn bản số: 79/2010/NĐ-CP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị định về nghiệp vụ quản lý nợ công
Tác giả: Thủ tướng Chính Phủ
Năm: 2010
12. Thủ tướng Chính Phủ. (2011). Quyết định phê duyệt “Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, 2012”, văn bản số: 958/QĐ-TTg Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định phê duyệt “Chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, 2012”
Tác giả: Thủ tướng Chính Phủ
Năm: 2011
13. Trung tâm nghiên cứu BIDV. (2016). Báo cáo “Đánh giá thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016-2020” Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Đánh giá thực trạng nợ công tại Việt Nam giai đoạn 2011-2015 và đề xuất giải pháp cho giai đoạn 2016-2020
Tác giả: Trung tâm nghiên cứu BIDV
Năm: 2016
14. Viện Friedrich–Ebert-Stiftung (FES). (2013). Đầu tư công, nợ công và mức độ bền vững ngân sách ở Việt Nam Khác
15. Viện Nghiên cứu quản lý Kinh tế Trung ương. (2016). Báo cáo Kinh tế vĩ mô Quý I/2016 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 – Bản đồ tỷ lệ nợ công của các nước trên thế giới so với GDP toàn cầu – 2017 - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.1 – Bản đồ tỷ lệ nợ công của các nước trên thế giới so với GDP toàn cầu – 2017 (Trang 9)
Hình 2.2 – Top 20 quốc gia có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới năm 2017 - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.2 – Top 20 quốc gia có tỷ lệ nợ công trên GDP cao nhất thế giới năm 2017 (Trang 11)
Hình 2.4 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Nga từ 2006 – 2016 (đơn vị: %) - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.4 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Nga từ 2006 – 2016 (đơn vị: %) (Trang 13)
Hình 2.5 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Nga từ 2006 – 2016 (đơn vị: %) - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.5 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Nga từ 2006 – 2016 (đơn vị: %) (Trang 20)
Hình 2.6 – Tỷ lệ nợ công trên GPD của Nhật Bản từ 2006 đến 2016 và dự đoán đến 2018 (đơn vị: %) - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.6 – Tỷ lệ nợ công trên GPD của Nhật Bản từ 2006 đến 2016 và dự đoán đến 2018 (đơn vị: %) (Trang 21)
Hình 2.7 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Singapore từ 2006 – 2016 và dự đoán đến 2018 - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.7 – Tỷ lệ nợ công/GDP của Singapore từ 2006 – 2016 và dự đoán đến 2018 (Trang 25)
Hình 2.8 – Đồ thị thể hiện mức độ gia tăng nợ công của Singapore giai đoạn 2014 – 2017 - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 2.8 – Đồ thị thể hiện mức độ gia tăng nợ công của Singapore giai đoạn 2014 – 2017 (Trang 26)
Nguồn: Bản tin nợ công số 4, Bộ Tài chính; Báo cáo tình hình nợ công năm 2016, ước thực hiện năm 2017 và kế hoạch 2018 của Chính phủ (24/10/2017) - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
gu ồn: Bản tin nợ công số 4, Bộ Tài chính; Báo cáo tình hình nợ công năm 2016, ước thực hiện năm 2017 và kế hoạch 2018 của Chính phủ (24/10/2017) (Trang 31)
Hình 3.1: Chỉ số ICOR của Việt Nam từ năm 1995-2015 - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Hình 3.1 Chỉ số ICOR của Việt Nam từ năm 1995-2015 (Trang 36)
Bảng 3.1: Các chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài của Việt Nam - tiểu luận tài chínhnghiên cứu kinh nghiệm quản lý của một số nước nhằm đảm bảo tính bền vững của nợ công và bài học kinh nghiệm cho việt nam bài 1
Bảng 3.1 Các chỉ tiêu giám sát nợ nước ngoài của Việt Nam (Trang 37)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w