Bứctranh toàn diện, chính xác và kịp thời về tình trạng nợ của quốc gia chưa được thể hiện, đãkhông cho phép cung cấp những thông tin tin cậy cho việc hoạch định các chính sách tàikhóa t
Trang 1MỤC LỤC 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG 1
LỜI MỞ ĐẦU 3
1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài 5
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
2 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 6
2.1 Nợ công và sự cần thiết quản lý nợ công 6
2.2 Cơ chế quản lý nợ công 12
CHƯƠNG II: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16
2.1 Kết quản nghiên cứu 16
2.1.1 Thực trạng Nợ công của Việt Nam 16
2.1.2 Thực trạng cơ chế quản lý Nợ công của Việt Nam: 17
2.2 Thảo luận nghiên cứu 26
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ NHỮNG GỢI Ý CHÍNH SÁCH, KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 29
3.1 Kết luận : 29
3.1.1 Nguyên nhân khiến nợ công tăng: 29
3.1.2 Những hạn chế của nợ công: 31
3.2 Gợi ý chính sách và kiến nghị giải pháp : 33
Trang 2LỜI MỞ ĐẦUCùng với các nguồn lực khác, vốn vay đã và đang góp phần thúc đẩy nhanh sựphát triển kinh tế xã hội và rút ngắn khoảng cách ở một số nước nghèo với nước giàu.Nhiều nước đạt được thành công trong phát triển kinh tế trong thời gian qua, đều vay nợvới mức độ khá cao Nhiệm vụ chiến lược của Việt Nam là duy trì tăng truowgnr kinh tếbền vững, huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển kinh tế - xã hội Một mặt, ViệtNam phát huy cao nhất nội lực, mặt khác cần tận dụng sự hỗ trợ, hợp tác quốc tế, thu hútvốn cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Theo chiến lược nợ và vay nợ thời kì
2001 – 2030, dự báo tổng số vốn vay mới của nền kinh tế đến năm 2030 khoảng 12.700triệu USD và dịch vụ trả nợ toàn bộ nền kinh tế khoảng 13.160 triệu USD Tổng số nợ củatoàn bộ nền kinh tế sẽ khoảng 83.000 triệu USD Tỷ trọng nợ trong nước trên GDP sẽtăng, tỷ lệ nợ nước ngoài sẽ giảm dần, chiếm khoảng trên 30% GDP
Trong khi nhu cầu tập trung và khai thác vốn cho nền kinh tế trong khu vực kinh
tế Nhà nước ngày càng cao, nhiệm vụ huy động vốn, vay nợ và dịch vụ trả nợ ngày càngtăng thì công tác quản lý nợ lại chưa theo kịp yêu cầu Nhìn chung, công tác quản lý nợcủa Việt Nam chưa được đầu tư và quan tâm đúng mức, chưa tập trung Cho đến nay, cáckhuôn khổ pháp lý về vay nợ, trả nợ, quản lý và sử dụng các khoản vay nợ đã có nhwunghiệu lực pháp lý chưa cao Cho đến nay, đã có Luật quản lý nợ công hiện hành, và sửa đỏicho phù hợp nhưng các quy định về mục tiêu, phạm vi, thẩm quyền quản lý nợ công cònrất rời rạc Quản lý nợ công do nhiều cơ quan cùng tham gia quản lý nợ quốc gia Bứctranh toàn diện, chính xác và kịp thời về tình trạng nợ của quốc gia chưa được thể hiện, đãkhông cho phép cung cấp những thông tin tin cậy cho việc hoạch định các chính sách tàikhóa theo hướng vừa huy động tối đa đưuọc nguồn vốn cho đầu tư với chi phí thấp nhất cóthể, vừa giám sát tốt rủi ro tài khóa phát sinh từ hoạt động vay nợ của chính phủ và khuvực công, giúp duy trì sự lành mạnh của nền tài chính, tiền tệ quốc gia xem xét về tầmtrung – dài hạn
Các nước càng phát triển càng quan tâm đến Nợ Nhà nước và yêu cầu tính minhbạch cao trong các hoạt động vay, trả và quản lý nợ của Chính phủ Nếu Chính phủ gặpkhó khăn trong thanh toán Nợ sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến các chương trình phúc lợi xãhội hoặc buộc phải cắt giảm một số khoản chi cho đầu tư phát triển, đồng thời có thể dẫnđến bất ổn trên thị trường tài chính Quản lý tốt nợ công, giúp tăng cường khả năng ứngphó của quốc gia trước một số diễn biến bất lợi của môi trường kinh tế trong và ngoài
Trang 3nước, giúp quốc gia vay nợ được ở mức cao hơn Quản lý tốt nợ công cũng giúp phát triểnthị trường huy động vốn trong nước của Chính phủ nói riêng và thị trường tài chính nóichung, thông qua việc tăng tính manh bạch và dự đoán được các hoạt động vay nợ củaChính phủ, với tư cách một chủ thể quan trọng của thị trường Tầm quan trọng của việcQuản lý nợ công hiệu quả đòi hỏi phải có nghiên cứu để có cái nhìn chính xác về vấn đềnày và đưa ra giải pháp quản lý nợ công hiệu quả.
Trên cơ sở đó, nhóm chúng tôi dã thực hiện đề tài “Đổi mới mô hình tổ chức bộmáy quản lý Nợ công ở Việt Nam” nhằm cung cấp một cái nhìn tổng quan về công tácquản lý nợ công và Việt Nam hiện nay, những ưu điểm và bất cập của cơ chế Quản lý hiệnhành Từ đó chúng tôi đưa ra giải pháp để hoàn chính công tác quản lý Nợ công hiệu quả,minh bạch trong thời gian tới
Trong quá trình thực hiện tiểu luận, chúng tôi còn nhiều điểm chưa hoàn chỉnh,còn có những sai sót Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý từ đọc giả
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 4CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài
1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Đến nay, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu lý thuyết và các mô hìnhthực nghiệm liên quan đến nợ công và quản lý nợ công
“Hướng dẫn quản lý nợ công: Tài liệu hướng dẫn và các trường hợp cụ thể”[Guidelines for public debt management: Accompanying document and selected casestudies, IMF & WB (2003)] Trong đề tài nghiên cứu này đã chỉ rõ nội dung quản lý nợcông và cơ chế quản lý nợ công của 18 quốc gia được lựa chọn như Brazil, Ấn Độ, NewZealand, Anh, Mỹ,… Qua đó, đưa ra những nội dung chính của quản lý nợ công và bàihọc cần thiết để thực hiện cơ chế quản lý nợ công cho phù hợp với điều kiện của các quốcgia
“Quản lý nợ chủ quyền: Tập trung quản lý rủi ro” [Sovereign Debt Management: Arisk management focus, Iran Storkey (2001)] Trong nghiên cứu này, tác giả xây dựngcách thức quản lý rủi ro trong nợ công và sự phối hợp với mô hình tổ chức bộ máy trongquản lý rủi ro nợ công
“Biện pháp tốt nhất trong quản lý nợ Chính phủ” [Sound Practice in GovernmentDebt, Wheeler & Graeme (2004)] Trong cuốn tài liệu này, tác giả đã xây dựng những nộidung cơ bản nhất trong quản lý nợ công, phân tích sâu sắc về những yếu tố cần thiết đểxây dựng cơ chế quản lý nợ Chính phủ lành mạnh Công trình nghiên cứu mày đã chỉ rõ vềviệc xác định mục tiêu quản lý, bộ máy tổ chức quản lý cũng như nội dung của quản lý nợChính phủ
Các công trình nghiên cứu trên đã cung cấp hệ thống cơ sở lý luận tương đối chuẩnmực và toàn diện về nợ công và quản lý nợ công Đây là cơ sở quan trọng, tạo điều kiệntiền đề để xây dựng cơ chế quản lý nợ công có thể áp dụng ở Việt Nam
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
“Những giải pháp tăng cường quản lý vay và trả nợ nước ngoài ở Việt Nam”, luận ántiến sĩ của Nguyễn Ngọc Thủy Tiên (2002) đã đề cập khá toàn diện về cơ chế vay và
Trang 5trả nợ nước ngoài Tuy nhiên chưa nghiên cứu đến các khoản vay trong nước và chưa đềcập đến cơ chế quản lý nợ công nói chung.
“Tăng cường quản lý vay nợ nước ngoài ở Việt Nam”, luận án tiến sĩ của Nguyễn ThịThanh Hương (2008) đã phân tích rõ mô hình Jaim De Pinies về đánh giá nợ nước ngoàibền vững tuy nhiên vẫn chưa đề cập đến nợ trong nước
Đề tài “Vấn đề nợ công tại các nước phát triển và tác động đến nền kinh tế Việt Nam”trong công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ, chủ biên là TS Nguyễn Đức Độ, TS.Nguyễn Thị Minh Tâm và nhóm tác giả (2010) đã đề cập đến tác động của nợ công đếncác biến số kinh tế vĩ mô
Tại Việt Nam mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về nợ công và hoàn thiện bộmáy quản lý nợ công, tuy nhiên các công trình này không còn phù hợp với thực tế tìnhhình nợ công tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đặc biệt trong các kỳ họp Quốc hộikhóa XIV vừa qua, các dự thảo sửa đổi Luật Quản lý nợ công đã được đưa ra thảo luận vàthông qua Vì vậy, đề tài “Đổi mới mô hình tổ chức bộ máy quản lý nợ công ở Việt Nam”được nghiên cứu nhằm đưa ra giải pháp đổi mới cơ chế quản lý nợ công ở Việt Nam hiệnnay để phù hợp với tình hình thực tế và Luật quản lý nợ công mới
2 Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
2.1 Nợ công và sự cần thiết quản lý nợ công
2.1.1 Khái niệm và phân loại nợ công
2.1.1.1 Khái niệm nợ công
Khái niệm nợ công cũng như những đánh giá về nợ công không chỉ là mối quan tâm
ở Việt Nam hiện nay mà còn là chủ đề “nóng” của nhiều Chính phủ và các cơ quan quản
lý nhà nước trên thế giới Việc thống nhất đưa ra một khái niệm chuẩn về nợ công còn tùythuộc vào mục đích nghiên cứu của từng tổ chức cũng như thực tiễn hoạt động quản lý nợcông của mỗi quốc gia Ở Việt Nam khái niệm nợ công mới được sử dụng từ năm 2009sau khi có Luật quản lý nợ công Tuy nhiên, cách tiếp cận khái niệm nợ công còn nhiều sựkhác nhau giữa Việt Nam và một số tổ chức quốc tế khác
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia: “Nợ công hay nợ Chính phủ là số tiền nợ của Chính phủ trung ương, Chính phủ liên bang và chính quyền địa phương”.
Trang 6Theo cách hiểu này, nợ công được coi là nợ Chính phủ nhưng chưa phản ánh đầy đủ tráchnhiệm chi trả khoản nợ công.
Theo sổ tay Hệ thống báo cáo nợ của Ngân hàng Thế giới: “Nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh” Trong đó:
Nợ của Chính phủ là toàn bộ các khoản nợ trong nước và nước ngoài của Chínhphủ, các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị thuộc Chính phủ, doanh nghiệp nhànước
Nợ của Chính phủ bảo lãnh là toàn bộ nghĩa vụ trả nợ đối với những khoản nợ trong nước và nước ngoài của khu vực tư nhân do Chính phủ bảo lãnh
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF: “Nợ công được bao gồm nợ của khu vực tài chính công và khu vực phi tài chính công” Trong đó:
Nợ của khu vực tài chính công gồm: Nợ của các tổ chức tiền tệ (Ngân hàng Trungương, các tổ chức tín dụng Nhà nước) và nợ của các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tíndụng khong cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
Nợ của các tổ chức phi tài chính công như: Nợ của Chính phủ, tỉnh, thành phố, tổ chức chính quyền địa phương, các doanh nghiệp phi tài chính Nhà nước
Theo quan điểm của hai tổ chức trên coi nợ công không chỉ bao gồm nợ của Chínhphủ mà còn gồm các khoản nợ được Chính phủ kiểm soát hay các khoản nợ Chính phủliên đới chịu trách nhiệm Quan điểm của hai tổ chức này có sự tương đồng quan điểm về
nợ công và xác định phạm vi nợ công là tương đối rộng bao gồm cả nợ của doanh nghiệpnhà nước và nợ của Ngân hàng Trung ương
Đối với Việt Nam, sau khi Luật quản lý nợ công có hiệu lực thì nợ công được hiểubao gồm nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phươngnhưng không tính nợ của Ngân hàng Nhà nước khi thực hiện chính sách tiền tệ và nợ củadoanh nghiệp nhà nước
Theo Luật quản lý nợ công của Việt Nam phạm vi nợ công của nước ta hiện nay hẹphơn so với các tổ chức quốc tế Nợ công không bao gồm nợ của doanh nghiệp nhà nước,
nợ của các đơn vị sự nghiệp và nợ của Ngân hàng Nhà nước Chính vì vậy các số liệuthống kê về nợ công do Việt Nam công bố thường có sự khác biệt so với số liệu thống kê
Trang 7của các tổ chức quốc tế Trong phạm vi nghiên cứu của tiểu luận này, nợ công sẽ đượchiểu theo quy định trong Luật quản lý nợ công của Việt Nam.
2.1.1.2 Phân loại nợ công
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhau trongviệc quản lý và sử dụng nợ công
Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay:
Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức trong nước.
Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnh thổ,
tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài
Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
nợ Việc phân loại này sẽ giúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc
tế Việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ, vì các khoản vay nướcngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tếkhác
Theo phương thức huy động vốn:
Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận
vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay Phươngthức huy động vốn này xuất phát từ những hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệpđịnh, thỏa thuận giữa các nhà nước
Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước có
thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Các công cụ nợ này có thời hạn ngắnhoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính
Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công:
Nợ công từ vốn vay ODA
Nợ công từ vốn vay ưu đãi
Nợ thương mại thông thường.
Theo trách nhiệm đối với chủ nợ:
Trang 8Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa
vụ trả nợ
Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người
vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ
Theo cấp quản lý nợ:
Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo
lãnh
Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay
nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách vàđược đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chính phủ đảm bảochi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương
Việc phân loại nợ công có ý nghĩa rất quan trọng trong việc quản lý và sử dụng nợcông Tương ứng với mỗi loại nợ sẽ có giải pháp quản lý bảo đảm quy mô nợ phù hợp, qua
đó sẽ chủ động tăng hay giảm nợ để tạo nguồn thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội
2.1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến nợ công
Một yêu cầu tối quan trong đối với các Chính phủ là đảm bảo tỷ lệ nợ công so vớiGDP là ổn định, qua đó tăng hiệu quả quản lý nợ, quản lý thâm hụt ngân sách và làm tốtcác công tác dự báo, lập kế hoạch Ngân sách Nhà nước, góp phần ổn định nền kinh tế vĩ
mô Để làm được điều đó, ta cần phải nắm rõ các nhận tố ảnh hưởng đến nợ công, nhậnbiết các tác động, ngăn chặn từ đầu, phòng tránh và giải quyết kịp thời các tác động có khảnăng gây bất ổn tới tỉ lệ này
Thứ nhất, nợ công phụ thuộc chặt chẽ vào cân bằng ngân sách cơ bản Từ bản chất nợ
công đã phân tích ở trên, có thể nhận thấy mức thâm hụt ngân sách phản ảnh giá trị tuyệtđối của nợ công chính phủ Điều đó đồng nghĩa với việc, khi khoảng cách thâm hụt nhỏ,những khoản vay bù đắp giảm đi, làm cho nợ công được hạn chế
Thứ hai, lãi suất thực tế có tác động đến các khoản nợ vay của chính phủ, quyết định xem các khỏan nợ này sẽ đắt hơn (khi lãi suất tăng lên) hay giảm đi (khi lãi suất giảm đi).
Mặt khác, việc lãi suất tăng sẽ làm cho các khoản vay của chính phủ khó khăn hơn, khôngđảm bảo được cho vay nợ đúng hạn
Trang 9Thứ ba, tốc độ tăng trưởng thực tế ảnh hưởng đến nợ công theo hai cơ chế Một là, nền
kinh tế phát triển hơn thì chính phủ dễ dàng vay tiền hơn, dẫn đến khả năng nợ công tănglên Hai là, tăng trưởng nhanh thường đi kèm với lạm phát, dẫn đến việc cấp bù lạm phátcho các khoản nợ đã đến hạn thanh toán
Thứ tư, lãi suất ngoại tệ có liên quan đến các khoản vay nước ngoài của chính phủ Cơ
chế tác động của nhân tố này tương tự như lãi suất thực tế, chỉ khác nhau đề đối tượnghưởng lãi
Thứ năm, tỷ giá cũng có tác động tới việc vay nợ nước ngoài Sự biến động của tỉ giá
ảnh hưởng đến chi phí của khoản nợ công: có thể tăng lên (khi tỉ giá tăng) hoặc giảm đi(khi tỉ giá giảm)
2.1.3 Tác động của nợ công đến kinh tế - xã hội
Tác động tích cực
Bù đắp thâm hụt ngân sách
Thông thường, nợ công là hệ quả trực tiếp của thâm hụt ngân sách và quy mô nợ côngđúng bằng quy mô thâm hụt ngân sách tích tụ qua các năm Về nguyên tắc, để bù đắp thâmhụt ngân sách, chính phủ các nước phải vay trong và ngoài nước, chứ không được pháthành tiền để tránh nguy cơ xảy ra lạm phát cao Vay nước ngoài gây dựng được một lượngvốn theo yêu cầu, nhằm đạt được các mục tiêu về chi phí và rủi ro, đáp ứng được các mụctiêu quản lý nợ khác của Chính phủ đã đề ra
Đầu tư
Khi có một dự án yêu cầu nhiều về vốn hay công nghệ mà chính phủ không đủ tiềm lực thì vay nước ngoài sẽ giải quyết được phần nào vấn đề vốn
Tác động tiêu cực
Ảnh hưởng ngược từ các chính sách khi nợ công quá lớn
Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách “thắt lưng buộcbụng” để giảm thâm hụt ngân sách là điều kiện phải đáp ứng để được nhận sự hỗ trợ cầnthiết từcác tổ chức tín dụng quốc tế Tuy nhiên, trong thời điểm hiện nay, khi nền kinh tếtoàn cầu mới thoát khỏi khủng hoảng, bắt đầu có dấu hiệu phục hồi do kết quả của các góikích thích kinh tế mà chính phủ các nước đã chi ra trong những năm trước đây, thì việc cắtgiảm chi tiêu, tăng thuế sẽ làm giảm đầu tư, kìm hãm sự phục hồi của nền kinh tế,làmchậm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy nền kinh tế vào “khủng hoảng kép”
Trang 10 Tác động từ nợ chính phủ tới tăng trưởng kinh tế
Trong những năm gần đây, hầu hết các nhà kinh tế đều cho rằng trong dài hạn một khoản
nợ chính phủ lớn (tỷ lệ của nó so với GDP cao) làm cho sự tăng trưởng của sản lượng tiềmnăng chậm lại vì những lý do sau:
Tăng cường xuất khẩu để trả nợ nước ngoài và do đó khả năng tiêu dùng giảm sút Gây ra hiệu ứng thế chỗ cho vốn tư nhân
Tăng thuế để trả lãi nợ vay chính công dân nước mình => Thuế làm méo mó nền kinh tế, gây ra tổn thất vô ích về phúc lợi xã hội
Ngoài ra, còn có một số quan điểm cho rằng việc chính phủ sử dụng công cụ nợ để điềutiết kinh tế vĩ mô sẽ không có hiệu suất cao vì có hiện tượng crowding out (đầu tư cho chitiêu của chính phủ tăng lên)
Phát hành trái phiếu tuy có làm tăng tổng cầu, song mức tăng không lớn vì có những tác động phụ làm giảm tổng cầu
Gây ra áp lực lạm phát, tác động tiêu cực tới tốc độ tăng trưởng thực
Gánh nặng cho toàn bộ nền kinh tế cùng với rủi ro chênh lệch tỉ giá
Nợ công ở mức cao sẽ kéo theo mức bội chi ngân sách lớn và dần dần sẽ trở thành gánh nặng cho nền kinh tế
Trong khi trong chiến lược phát triển kinh tế của Việt Nam trong những năm gầnđây, Chính phủ đang có kế hoạch triển khai nhiều dự án hạ tầng lớn như nhà máy điệnnguyên tử, đường sắt cao tốc,… nên tỷ lệ nợ nước ngoài sẽ tăng vọt Nhìn lại quá trìnhnày, đã có lúc Nhà nước phải đi vay với tỷ giá chỉ 11 nghìn Việt Nam đồng quy đổi bằng 1USD, thì ở thời điểm hiện tại tỷ giá quy đổi đã lên đến mức trên dưới 20 nghìn Việt
Trang 11Nam đồng quy đổi bằng 1 USD Như vậy là khoản chênh lệch tỷ giá này toàn bộ nền kinh
tế của chúng ta phải hứng chịu
2.2 Cơ chế quản lý nợ công
2.2.1 Khái niệm cơ chế quản lý nợ công
Cơ chế quản lý nợ công là cách thức sắp xếp, tổ chức thực hiện hoạt động quản lý nợcông thông qua chủ thể quản lý
Hay nói cách khác cơ chế quản lý nợ công chính là cách thức mà chủ thể quản lý sửdụng công cụ quản lý để tác động đến những nội dung quản lý nợ công nhằm đạt đượcmục tiêu đặt ra Chính vì vậy, cớ chế quản lý nợ công bao gồm: Xác định mục tiêu quản
lý, công cụ quản lý, bộ máy qunar lý và nội dung quản lý nợ công
2.2.2 Nội dung cơ chế quản lý nợ công
Xác định mục tiêu và phạm vi quản lý nợ công
Mục tiêu: Mục tiêu quản lý nợ công là đảm bảo nhu cầu tài chính và trách nhiệm
thanh toán của Chính phủ được đáp ứng với chi phí thấp nhất trong trung và dài hạn, phùhợp với mức độ rủi ro
Phạm vi: Phạm vi quản lý nợ công của hầu hết các quốc gia đều tập trung vào trách
nhiệm tài chính của Chính phủ trung ương có thể kiểm soát
Mô hình bộ máy quản lý nợ công
Mô hình cơ quan tổ chức quản lý bộ máy nợ công: Bao gồm 3 mô hình bộ máy quản
lý nợ công đó là mô hình BTC là cơ quan quản lý; mô hình Ngân hàng Trung ương là cơquan quản lý; mô hình cơ quan quản lý nợ công chuyên biệt (DMO)
Mô hình cơ quan thực hiện quản lý nợ công: Bao gồm 3 bộ phận chuyên biệt đó là
phòng hậu tuyến, phòng trung tuyến và tiền tuyến
Phương thức và công cụ quản lý nợ công
Phương thức quản lý: Quản lý nợ chủ động là các nội dung quản lý nợ công được dựa
trên kế hoạch đã định sẵn; Quản lý nợ bị động là các nội dung quản lý không theo kếhoạch và được quản lý lồng ghép với quản lý ngân sách nhà nước
Trang 12Công cụ quản lý nợ công: Hệ thống pháp luật, hệ thống thông tin quản lý nợ công,
hạch toán kế toán, kiểm toán nợ công, các kế hoạch nợ,…
Nội dung quan lý nợ công
Sự phối hợp giữa các chính sách trong quản lý nợ công
Mối liên hệ cơ bản giữa những chính sách này được thể hiện khi một chính sách phát
đi tín hiệu của mình sẽ tác động đến chính sách còn lại Đối với chính sách tiền tệ, khiNgân hàng Trung ương phát tín hiệu điều hành lãi suất khiến quy mô và chi phí dịch vụ nợthay đổi hay sử dụng việc mua bán trái phiếu chính phủ thông qua nghiệp vụ thị trường mởcủa Ngân hàng Trung ương để đạt được mục tiêu chính sách tiền tệ sẽ ảnh hưởng đến giácủa các trái phiếu Đối với chính sách tài khóa, khi thâm hụt ngân sách được tài trợ thôngqua việc phát hành trái phiếu chính phủ khiến khối lượng tiền cơ sở có thể bị thay đổi, hay
có thể tác động làm gia tăng lãi suất, việc phát hành trái phiếu chính phủ sẽ tác động đếncung cầu thanh khoản của thị trường, cấu trúc lãi suất…
Xây dựng chiến lược nợ
Nội dung quan trọng của quản lý nợ công là xây dựng một chiến lược nợ ổn định vàchắc chắn phù hợp với chi phí và rủi ro; đòng thời tính đến các yếu tố kinh tế vĩ mô và sựphát triển thị trường trong nước
Trang 13Sơ đồ: Những yếu tố trong chiến lược nợ công
Phân tíchchi phí/rủiro
chi phí/rủi
Phát triển chiếnlược quản lý nợ
Các yếu tốHạn chế
kiềm chếcầu
ro
Phân tích chi phí, rủi ro: Mỗi một chiến lược nợ khác nhau cần phải tính đến đặc điểm
về chi phí và rủi ro, được phản ánh trong cơ cấu nợ hiện tại
Đánh giá ảnh hưởng yếu tố kinh tế vĩ mô đến nợ công: Các nhân tố vĩ mô có thể ảnh
hưởng đến nợ công như tốc độ tăng trưởng kinh tế, lãi suất, tỷ giá…
Phát triển thị trường nợ: Tập trung phát triển thị trường trái phiếu chính phủ
Thứ nhất, xem xét lợi ích của phát triển thị trường trái phiếu chính phủ tới quản lý nợ công: Giảm chi phí dịch vụ nợ; Cấu trúc lại danh mục nợ; Tạo sự minh bạch trong quản
Trang 14lý nợ; Tạo điều kiện thực hiện bảo hiểm danh mục nợ; Tạo cơ chế kiểm soát giá các khoảnnợ.
Thứ hai, phát triển thị trường trái phiếu chính phủ sơ cấp như: Xây dựng hệ thống đấuthầu: đấu thầu cạnh tranh, không cạnh tranh, điện tử; Áp dụng hình thức thanh toán: thanhtoán tức thì; Xây dựng hệ thống đại lý; Đa dạng hóa sản phẩm; Cung cấp trái phiếu theo lôlớn để xây dựng trái chuẩn
Thứ ba, phát triển thị trường trái phiếu chính phủ thứ cấp như: Tăng tính thanh khoảncho thị trường; Thực hiện đa dạng các hoạt động hoán đổi, mua lại nợ
Quản lý rủi ro nợ công
Rủi ro nợ công là sự gánh chịu thiệt hại của người đi vay khi thực hiện hoạt động vay
nợ để đáp ứng cho nhu cầu thanh toán của mình Rủi ro nợ công bao gồm: Rủi ro thịtrường, Rủi ro đạo đức, Rủi ro thanh khoản, Rủi ro tín dụng, Rủi ro thanh toán, Rủi ro hoạtđộng
Quy trình quản lý rủi ro: Nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, điều tiết rủi ro, giám sát vàbáo cáo rủi ro
3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu nghiên cứu của đề tài, nhóm tác giả đã vâdn ụng phương phápphổ biến trong nghiên cứu kinh tế là phương pháp định tính kết hợp với xử lý, phân tích và
so sánh số liệu thực tế
Trang 15CHƯƠNG II: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 2.1 Kết quản nghiên cứu
2.1.1 Thực trạng Nợ công của Việt Nam
Quy mô và tốc độ tăng Nợ công
Sau 30 năm mở cửa kinh tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ýnghĩa lịch sử Tiềm lực của đất nước đã lớn mạnh hơn nhiều, đời sống vật chất và tinh thầncủa người dân ngày càng được cải thiện, chính trị - xã hội ổn định Trong vòng 10 năm trởlại đây, GDP của Việt Nam đã có bước tăng trưởng tới hơn 4 lần GDP tăng trưởng bềnvững, lạm phát được kiềm chế đáng kể
Tuy nhiên, Việt Nam vẫn thuộc nhóm nước đang phát triển, quy mô nền kinh tếcủa Việt Nam vẫn là nhỏ so với mặt bằng chung của thế giới; nền kinh tế phụ thuộc nhiềuvào xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp thô và công nghiệp nhẹ là chủ yếu Do đó, hiện tại vàtrong tương lai gần, việc tăng vay nợ Chính phủ là một nhu cầu tất yếu vì Việt Nam vẫncần sự hỗ trợ về mặt tài chính (vay nợ và viện trợ phát triển chính thức) từ các tổ chức, cácnước phát triển trên thế giới
Bảng 1 Số liệu Nợ công/GDP của Việt Nam
Nguồn: Bộ Tài chính
Những năm gần đây, chính sách tài khóa mở rộng đã đẩy Nợ công tăng cao từ45,39 tỷ USD năm 2010 lên đến 94,8 tỷ USD năm 2016, tăng 109% trong vòng 7 năm giaiđoạn 2010 - 2016 Kéo theo đó, chỉ số Nợ công/GDP tăng nhanh Cụ thể, Nợ
Trang 16công/GDP năm 2006 là 22,7%, đến năm 2010, chỉ số này đã tăng lên thành 51,7%, sau đógiảm nhẹ vào năm 2011 và 2012, đến năm 2015 Nợ công/GDP ở mức 62,2%, áp sátngưỡng kiểm soát 65% của Quốc hội Năm 2015 cũng là năm dư nợ Chính phủ đạt 50,3%,cao hơn giới hạn 50% theo quy định Dẫn số liệu từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), các tác giảnhấn mạnh, Việt Nam có mức Nợ công/GDP cao hơn hẳn cá nước trong ASEAN, gấp đôinhiều nước và gấp rưỡi Thái Lan.
Về cơ cấu và kỳ hạn Nợ công
Nợ công của Việt Nam bao gồm: Nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợchính quyền địa phương, trong đó nợ Chính phủ bao gồm nợ trong nước và nợ nước ngoài.Thống kê gần nhất về cơ cấu nợ công Việt Nam:
Ngân hàng thế giới (Worldbank) và Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) nhận định rằng, cơcấu nợ công của Việt Nam đang từng hướng được điều chỉnh theo hướng bền vững Cụthể, trong cơ cấu nợ Chính phủ, tỷ trọng nợ trong nước đang có xu hướng tăng từ 39%năm 2011 lên 57% năm 2015 và tỷ trọng nợ nước ngoài giảm tương ứng từ 61% năm 2011xuống còn 43% năm 2015 Tỷ trọng này là phù hợp với chiến lược nợ công và nợ nướcngoài của Quốc gia giai đoạn 2010 – 2020 tầm nhìn đến 2030
Về kỳ hạn, với nợ trong nước, chủ yếu phát hành trái phiếu trong nước, nếu tronggiai đoạn 2011 – 2013 phần lớn ngắn hạn thì đến năm 2014 kỳ hạn là 3 năm; năm 2015 kỳhạn kéo dài lên 4,4 năm và 6 tháng đầu năm 2016 thì kỳ hạn kéo dài lên 5 năm
2.1.2 Thực trạng cơ chế quản lý Nợ công của Việt Nam:
Mục tiêu và nguyên tắc quản lý:
- Mục tiêu:
o Đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
Trang 17o Đảm bảo thanh toán các khoản lãi vay, gốc vay đầy đủ, đúng hạn
o Mức độ rủi ro có thể chấp nhận được ở mức chi phí phù hợp
o Phát triển thị trường chứng khoán trong nước
o Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, cơ cấu chính sách và bộ máy quản lý
- Nguyên tắc quản lý:
o Đảm bảo quản lý thống nhất, toàn diện Nợ công
o Đảm bảo chỉ tiêu an toàn về Nợ công và tính bền vững
o Đảm bảo tính hiệu quả vay vốn và việc sử dụng vốn vay
o Đảm bảo cân đối giữa đi vay và trả nợ
o Thực hiện đầy đủ, đúng hạn việc thanh toán
o Công khai, minh bạch trong hoạt động vay trả nợ
Tổ chức bộ máy quản lý Nợ công
Bộ máy quản lý Nợ công ở Việt Nam do Quốc hội đứng đầu, dưới đó là Chínhphủ và thấp hơn Chính phủ là các Bộ Sơ đồ sau thể hiện ra cơ cấu tổ chức quản lý Nợcông Việt Nam:
Quốc hội
Chính phủ
Công cụ quản lý Nợ công đầu tư nước
Trước năm 2009, Luật về Quản lý nợ công chưa được ban hành Để quản lý Nợcông, đối với vay nợ trong nước, văn bản cao nhất là Pháp lệnh số 12/1999/PL-UBTVQHngày 27/4/1999 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phát hành công trái xây dựng Tổ quốc
và Nghị định số 141/2003/NĐ-CP của Chính phủ về phát hành trái phiếu Chính phủ, tráiphiếu Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chính quyền dịa phương Đối với vay nợ nướcngoài, văn bản pháp lý cao nhất là Nghị định số 134/2005/NĐ-CP ngày 01/11/2005 củaChính phủ ban hành quy chế quản lý vay và trả nợ nước ngoài, và Nghị định số 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng nguồn hỗ
trợ phát triển chính thức [ Bộ Tài chính, 2009].
Trang 18Luật quản lý Nợ công 2009 được ban hành đã đem lại nhiều đóng góp tích cựccho Chính phủ trong việc huy động, quản lý, sử dụng vốn vay, đảm bảo vay nợ và trả nợđúng hạn, Tạo nên một mô hình quản lý nợ công minh bạch, rõ ràng, có tính pháp lý,tính thống nhất cao, đảm bảo chi tiêu Chính phủ công khai, hiệu quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, Luật quản lý Nợ công 2009 cũngbộc lộ một số bất cập như còn có quan điểm khác nhau về phạm vi Nợ công; chưa phânđịnh rõ ràng và sự phối hợp chưa chặt chẽ quản lý Nợ công, quản lý Ngân sách và quản lýđầu tư công; yêu cầu tách bạch quy định về quản lý vốn vay Chính phủ theo từng nguồnvốn huy động để đảm bảo quản lý chặt chẽ, hiệu quả hơn trong điều kiện Việt Nam dầnkhông còn tiếp cận nhiều vốn ODA; các quy định về cho vay lại vốn vay nước ngoài củaChính phủ, cấp và quản lý bảo lãnh của Chính phủ cũng đã bộc lộ những hạn chế cả về đốitượng, điều kiện cho vay, cấp bảo lãnh và cơ chế quản lý, giám sát sử dụng vốn vay, kiểmsoát rủi ro Ngoài ra, một số quy định về phân định chức năng, nhiệm vụ của các cấp, các
cơ quan có liên quan trong quản lý Nợ công đã không còn phù hợp trong bối cảnh Hiếnpháp năm 2013 và một số Luật, đặc biệt là các Luật có liên quan trực tiếp đến quản lý Nợcông đã được Quốc hội ban hành và có hiệu lực thực hiện như Luật đầu tư công năm 2015,Luật Ngân sách nhà nước năm 2015
Do đó, Dự thảo luật quản lý Nợ công sửa đổi đã được triển khai xây dựng từ năm
2015 dựa trên các kết quả của Quản lý Nợ công đã thực thi, tổng hợp ý kiến các bộ, ngành,địa phương liên quan cũng như các cơ quan, tổ chức tài chính – tín dụng, doanh nghiệp vềluật hiện hành, đồng thời đáp ứng sự phù hợp với thông lệ thế giới và khuyến nghị của các
tổ chức thế giới
Sau đấy, chúng tôi xin phân tích cụ thể về những điểm đổi mới đáng chú ý của Dựthảo Luật sửa đổi năm 2015 thông qua việc so sánh với Luật quản lý Nợ công 2009, tậptrung vào các khía cạnh đáng lưu ý, từ đó đưa ra ý kiến đánh giá và thảo luận
So sánh Luật quản lý Nợ công 2009 với Dự thảo Luật quản lý Nợ công
(sửa đổi) 2017Nội Luật Quản lý Nợ công Dự thảo Luật Quản lý nợ Ý kiến thảo
Phạm vi Trích Luật quản lý Nợ Trích Luật quản lý Nợ Quốc Hội đã
chỉnh Điều 1 Phạm vi điều 2 Nợ công quy định tại quản lý Nợ công
Trang 19chỉnh Luật này bao gồm nợ Chínhsửa đổi và vẫn
2 Nợ công được quy phủ, nợ được Chính phủgiữ phạm vi điềuđịnh trong Luật này bao bảo lãnh, nợ chính quyềnchỉnh như cũ
Các chỉ Điều 7 Nhiệm vụ,
Điều 21 Chỉ tiêu an toàn Luật quản lý Nợ
tiêu an quyền hạn của Quốc
toàn về hội
bổ sung thêm
nợ 1 Quyết định các chỉ 1 Chỉ tiêu an toàn nợ công
tiêu an toàn về nợ trong là hệ thống chỉ tiêu quy chỉ số “Nợ nước
kế hoạch phát triển kinh định mức trần và ngưỡng ngoài của quốc
tế - xã hội năm năm, bao cảnh báo về nợ công do gia so với tổng
nội”, chúng tôia) Nợ công so với GDP; 2 Các chỉ tiêu an toàn nợ
thấy đây là mộtb) Nợ nước ngoài của công bao gồm:
chỉ số cần thiết,quốc gia so với GDP;
a) Nợ công so với tổng sản bởi Nợ nướcc) Trả nợ chính phủ so phẩm quốc nội; ngoài là mộtvới tổng thu ngân sách
b) Nợ của Chính phủ so con số không hềnhà nước;
với tổng sản phẩm quốc nhỏ và rất nhạyd) Nghĩa vụ trả nợ nước
ngoài của quốc gia so
và Tỷ giá hốivới tổng kim ngạch xuất c) Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp
khẩu của Chính phủ (không bao đoái, chỉ số này
gồm cho vay lại) so với sẽ giúp các nhàtổng thu ngân sách nhà chức trách có sự
xác hơn về tìnhd) Nợ nước ngoài của quốc hình Nợ công.gia so với tổng sản phẩm
Trang 20quốc nội; Chúng tôi thấyđ) Nghĩa vụ trả nợ nước Luật cần bổngoài của quốc gia so với sung các chỉ chỉtổng kim ngạch xuất khẩu thanh khoản, dựhàng hóa và dịch vụ trữ để nắm bắt
được khả năngtrả Nợ kịp thời,
đủ số lượng.Chương Luật quản lý Nợ công Luật quản lý Nợ công (sửa Bổ sung kếtrình 2009 chưa có chương đổi) đề cập rõ chương hoạch 3-5 nămquản lý trình cụ thể Chương trình, kế hoạch hằng năm, cho cả các cấp
nợ trình quản lý chủ yếu trung hạn, dài hạn trong Hội đồng Nhântrung lồng ghép trong Chương các điều: dân cấp tỉnh vàhạn và II: Nhiệm vụ, quyền hạn Điều 22 Kế hoạch vay, Ủy ban nhân
kế của Quốc hội, Chính trả nợ công 05 năm dân cấp tỉnh rấthoạch phủ, các Cơ quan Nhà Điều 23 Chương trình thiết thực, cácvay, trả nước khác và trách quản lý nợ công 03 năm cấp tỉnh hiện
nợ công nhiệm của tổ chức, cá Điều 24 Kế hoạch vay, nay cũng thi
nhân trong quản lý Nợ trả nợ công hằng năm hành những dự
dựng đô thị,
bệnh viện, cần
có kế hoạch dàihạn để cân bằngchi, tiêu
Nhiệm Nhiệm vụ, quyền hạn và Nhiệm vụ, quyền hạn và Nhiệm vụ,
vụ trách nhiệm của các cơ trách nhiệm của các cơ quyền hạn đãquyền quan quản lý Nợ công quan quản lý Nợ công được phân chiahạn và được quy định ở các được quy định ở các Điều cho từng cấp, cơtrách Điều 7 – 17_chương II_ 10 – 20_chương II_Luật quan quản lý