Tuy nhiên thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tất nhiên sẽ khôngtăng lên mãi khi tỉ lệ nợ công tăng lên. Nghiên cứu của Alex Pienkowski 2017 – “Debt Limits and the Structure of the Public D
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do lựa chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu 2
4 Phạm vi nghiên cứu 2
5 Phương pháp nghiên cứu 2
6 Nội dung nghiên cứu 2
NỘI DUNG 3
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 3
1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 3
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 5
1.3 Nhận xét chung về các quan điểm 6
2 Cơ sở lý thuyết 7
2.1 Nợ công 7
a Khái niệm 7
b Phân loại nợ công 10
c Bản chất nợ công 11
d Mục đích vay nợ công 12
e Tác động của nợ công 13
f Quản lý nợ công và tầm quan trọng của việc quản lý nợ công 17
2.2 Ngưỡng chịu đựng nợ công 19
a Tại sao cần có ngưỡng chịu đựng nợ công 19
b Tác động khi vượt quá ngưỡng chịu đựng nợ công 20
c Phương pháp xây dựng ngưỡng nợ công 21
Trang 2Bảng 1: Kinh nghiệm thực tiễn của WB và IMF về ngưỡng an toàn nợ 23
Bảng 2: Khuyến nghị ngưỡng an toàn nợ theo chất lượng khuôn khổ 23
thể chế và chính sách 23
3 Phương pháp nghiên cứu 24
3.1 Khung phân tích 24
Hình 1 Mối quan hệ giữa tỷ lệ nợ công và mức độ tăng trưởng nền kinh tế 25
3.2 Phương pháp phân tích 25
CHƯƠNG II: MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU NGƯỠNG CHỊU ĐỰNG CỦA NỢ CÔNG VIỆT NAM 26
1 Mô hình nghiên cứu 26
2 Thu thập số liệu 27
Bảng 3: Bảng số liệu thu thập từ năm 1990 – 2017 27
3 Thống kê số liệu bằng STATA14 29
Bảng 4: Tổng hợp kết quả các biến 29
4 Kết quả nghiên cứu 29
Bảng 5: Kết quả chạy mô hình hồi quy với số liệu bằng STATA14 29
5 Thảo luận về kết quả nghiên cứu 30
6 Hạn chế còn tồn tại trong mô hình nghiên cứu của nhóm 30
CHƯƠNG III: HÀM Ý CHÍNH SÁCH NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ VÀ KIỂM SOÁT NỢ CÔNG 31
KẾT LUẬN 37
TÀI LIỆU THAM KHẢO 38
Trang 3xu hướng tiếp tục tăng Nợ công đang ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân
về mọi mặt: kinh tế, y tế, giáo dục, phúc lợi xã hội… Có thể nói đây là vấn đề lớn,
được chú ý nhiều nhất trong thời gian gần đây Nếu như không được kiểm soáthiệu quả, nợ công vượt ngưỡng chịu đựng có thể đe dọa nghiêm trọng đến nềnkinh tế xã hội, làm mất ổn định thị trường tài chính Không những thế, khủnghoảng nợ công có tính lây lan cao, nó có thể làm mất ổn định thị trường tài chínhtoàn cầu
Bên cạnh những vấn đề Chính phủ cũng như giới chuyên môn quan tâm làcông nợ của Việt Nam được tái cơ cấu như thế nào, Việt Nam cần làm gì để cókhả năng trả nợ trong bối cảnh thiếu nguồn vốn cho phát triển kinh tế giai đoạnnày thì ngưỡng chịu đựng của nợ công Việt Nam cũng là một vấn đề cấp báchcần phải được nghiên cứu Tuy nhiên, đó là một biến số kinh tế vĩ mô vô cùngnhạy cảm và chịu ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố Xuất phát từ thực trạng trên,
nhóm chúng em lựa chọn “Nghiên cứu ngưỡng chịu đựng của nợ công Việt
Nam” làm đề tài nghiên cứu.
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu đề tài là xác định ngưỡng chịu đựng của nợ công Việt Nam trong bối cảnh nợ công đang là vấn đề nhức nhối đối với toàn xã hội Từ đó
Trang 4có cái nhìn đúng đắn cũng như những biện pháp thích hợp để kiểm soát nợ côngmột cách hiệu quả.
3 Đối tượng nghiên cứu
Tiểu luận tập trung nghiên cứu về nợ công và phương pháp xác định
ngưỡng chịu đựng của nợ công Việt Nam
4 Phạm vi nghiên cứu
Tìm ra ngưỡng chịu đựng của nợ công Việt Nam
5 Phương pháp nghiên cứu
Tham khảo lý thuyết, bài viết và tài liệu có liên quan đến nợ công nói chung
và nợ công Việt Nam nói riêng
Phương pháp thu thập các dữ liệu, số liệu trước năm 2017
Phương pháp nghiên cứu định lượng
Phương pháp chuẩn tắc: phân tích vấn đề dựa trên chính kiến và đưa ranhững giải pháp mang tính chủ quan
6 Nội dung nghiên cứu
Nội dung của tiểu luận gồm phần chính:
Chương I: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiêncứu
Chương II: Mô hình nghiên cứu ngưỡng chịu đựng của nợ công Việt Nam.Chương III: Hàm ý chính sách nhằm tăng cường quản lý và kiểm soát nợcông
Vì điều kiện thời gian và kiến thức còn hạn chế nên bài tiểu luận của nhómchúng em không tránh khỏi những sai sót Chúng em rất mong nhận được ý kiếnđóng góp của giảng viên để bài tiểu luận hoàn thiện hơn
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
2
Trang 5NỘI DUNG CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Tình hình nghiên cứu nước ngoài
Nghiên cứu của Carmen M Reinhart và Kenneth S Rogoff (2010) –
“Growth In A Time of Debt”
Hai tác giả đã nghiên cứu dựa trên số liệu quan sát của 44 nền kinh tế pháttriển và mới nổi kéo dài trong 200 năm Bộ dữ liệu bao gồm 3700 quan sátthường niên chiếm một lượng lớn hệ thống chính trị, tổ chức, sắp xếp tỷ giá hốiđoái và các trạng thái lịch sử Phát hiện chính của họ là: “Nước nào có nợ côngtrên 90% GDP sẽ tăng trưởng thấp hơn 1% trung vị, nếu tính trung bình còn thấphơn vài % nữa” Ngoài ra, ở các nền kinh tế mới nổi khi dư nợ nước ngoài chạmmức 60% GDP, tăng trưởng kinh tế sẽ bắt đầu suy giảm 2% Và nếu như vượtquá 90% GDP, mức tăng trưởng sẽ giảm một nửa
Tuy nhiên, bài nghiên cứu này của Reinhart và Rogoff lại gây ra rất nhiềutranh cãi Ban biên tập tờ Washington Post đã phản bác lại ý kiến của hai tác giảkhi viết “tỷ lệ nợ trên GDP có thể vẫn tăng và ổn định quanh mức 90%, ngưỡngnguy hiểm mà giới kinh tế coi là sẽ đe dọa tới tăng trưởng kinh tế" Đặc biệt, hai
vị giáo sư không công bố dữ liệu kết quả nghiên cứu, thậm chí còn loại bỏ một
số quan sát mà không đưa ra lí do nào, vì thế mà kết quả của họ không được sửdụng bởi các nghiên cứu sau này
Nghiên cứu của Caner, Grennes và Koehler–Geib (2011) – “Finding the
Tipping Point – When Sovereign Debt Turns Bad”
Ba chuyên gia của World Bank sử dụng số liệu nhiều hơn so với nghiên cứucủa Reinhart và Rogoff, bao gồm các số liệu về nợ công, tăng trưởng, độ mở của
Trang 6nền kinh tế, lạm phát và GDP trong thời kỳ trước của 101 quốc gia (75 nướcđang phát triển và 26 nước phát triển) trong giai đoạn trải dài từ năm 1980 đếnnăm 2008 Các ước lượng đã đưa ra ngưỡng nợ công/GDP chung cho tất cả cácquốc gia là 77% Nếu vượt qua ngưỡng này, mỗi phần trăm tăng thêm của nợ sẽlàm giảm đi 0.017% của tăng trưởng thực tế hàng năm Dưới ngưỡng này, mỗiphần trăm tăng thêm trong tỷ lệ nợ công trên GDP của nền kinh tế tăng 0,065%tăng trưởng thực trung bình hàng năm.
Nghiên cứu của Stephen G Cecchetti, M S Mohanty và Fabrizio
Zamplolli (2011) – “The real effect of debt”
Nghiên cứu đã sử dụng bộ số liệu về nợ của chính phủ, nợ của các doanhnghiệp, tổ chức phi tài chính và nọ của các hộ gia đình trong 18 quốc gia thuộc
tổ chức OECD giai đoạn 1980 – 2010 Cùng quan điểm với hai nghiên cứu ởtrên, các tác giả cho rằng nợ công có tác động xấu tới tăng trưởng khi vượt quamột ngưỡng nhất định Đối với nợ của chính phủ, ngưỡng an toàn này vàokhoảng 85% GDP
Nghiên cứu Kevin Greenidge, Roland Craigwell, Chrystol Thomas và
Lisa Drakes (2012) – “Threshold effects Sovereign Debt: Evidence from the
Caribbean”
Nhóm tác giả nghiên cứu các nền kinh tế thuộc vùng Ca–ri–bê đã chứngminh rằng, ngưỡng nợ công/GDP của khu vực dưới 30% sẽ làm tăng tốc độ tăngtrưởng nền kinh tế Tuy nhiên khi nợ tăng vượt quá 30% GDP, tác động này đốivới tăng trưởng kinh tế nhanh chóng giảm đi, khi đạt mức 55 – 56%, tác động sẽđổi chiều từ tích cực sang tiêu cực và trở thành gánh nặng
Nghiên cứu của Alexandra Minea và Antoine Parent (2012) – “Is High
Public Debt Always Harmful to Economic Growth?”
Hai tác giả đã sử dụng các kỹ thuật phân tích kinh tế lượng tiên tiến nhất thờiđiểm đó, chứng minh được rằng khi tỉ lệ nợ công/GDP vượt quá một ngưỡng
được 4
Trang 7ước lượng là vào khoảng 115% thì mối quan hệ nghịch giữa nợ công và tăngtrưởng sẽ đổi chiều: nợ công tăng sẽ không còn làm suy giảm tăng trưởng Cácnước có mức nợ công trên 115% sẽ có tăng trưởng kinh tế trung bình cao hơn vàđặc biệt là tốc độ này khác biệt không đáng kể so với nhóm các nước có mức nợcông từ 60 – 90% Tuy nhiên thì tốc độ tăng trưởng kinh tế tất nhiên sẽ khôngtăng lên mãi khi tỉ lệ nợ công tăng lên.
Nghiên cứu của Alex Pienkowski (2017) – “Debt Limits and the
Structure of the Public Debt”
Đây là nghiên cứu mới nhất của Alex về giới hạn nợ và cấu trúc nợ côngđưa ra một khuôn khổ khả thi để đánh giá các công cụ nợ Tác giả đã điều chỉnh
mô hình cho phù hợp với tất cả các trưởng hợp để cho ra một cấu trúc nợ tối ưu.Bằng cách xây dựng mô hình những nguyên tắc quốc gia cơ bản khác nhau,nghiên cứu đã chỉ ra rõ ràng rằng không có một cấu trúc nợ nào phù hợp mà tất
cả các quốc gia cùng hướng tới được
1.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam
Nghiên cứu củа РGS.TS Sử Đinh Thành (2012)GS.TS Sử Đinh Thành (2012)
Nghiên cứu đã dụng dữ liệu nợ công củа Việt Nаm giаi đоạn 1990 – 2010ạn 1990 – 2010
và dùng mô hình ngưỡng với biến рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDРGS.TS Sử Đinh Thành (2012), biếnđộc lậрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến gồm tỉ lệ Nợ công/GDРGS.TS Sử Đinh Thành (2012), độ mở thương mại củа nền kinh tế và lạm рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhát.Tác giả đã dùng рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhương рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnháрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến ước lượng ОLS để kiểm định hiệu ứng ngưỡng vàLS để kiểm định hiệu ứng ngưỡng vàước lượng giá trị ngưỡng nợ công củа Việt Nаm là 75,8% GDРGS.TS Sử Đinh Thành (2012)
Nghiên cứu của PGS TS Phạm Thế Anh và Nguyễn Hồng Ngọc (2015) –
“Hiệu ứng nợ công với tăng trưởng kinh tế và hàm ý chính sách cho Việt Nam”
Bằng việc sử dụng mô hình dữ liệu mảng của các quốc gia mới nổi và đang
phát triển trong giai đoạn 2001–2013, nghiên cứu này chỉ ra rằng ngưỡng nợ công tối ưu cho tăng trưởng của các quốc gia này, trong đó có Việt Nam, là vào khoảng
Trang 853–61% GDP Khi nợ công vượt quá con số 61% GDP thì gần như chắc chắn nó
sẽ gây ra ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế
Nghiên cứu của Đàоạn 1990 – 2010 Văn Hùng (2016) – “Хác định ngưỡng nợác định ngưỡng nợ công và
trần nợ công củа Việt Nаm giаi đоạn 2016–2020”ạn 2016–2020”
Tác giả dựа trên kết quả kiểm định từ mô hình kinh tế lượng về mối quаn
hệ giữа nợ công và tăng trưởng kinh tế Việt Nаm với chuỗi số liệu từ 1995 –
2013 chоạn 1990 – 2010 thấу: khi tỷ lệ nợ công/GDРGS.TS Sử Đinh Thành (2012) 68% thì nợ công có tác động tích cực đếntăng trưởng kinh tế và tính bền vững củа chính sách tài khóа Khi tỷ lệ nàу lớnhơn 68% thì nợ công sẽ làm giảm động lực đầu tư рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhát triển, kìm hãm tăngtrưởng kinh tế và làm suу giảm khả năng trả nợ và mức độ аn tоạn 1990 – 2010àn củа nợ công
1.3 Nhận xét chung về các quan điểm
Từ những quаn điểm củа các nhà kinh tế về tác động củа nợ công đối vớităng trưởng kinh tế, tа có thể thấу điểm tương đồng củа các quаn điểm là nợcông thật sự có tác động đối với tăng trưởng kinh tế Mức nợ công ở mức thấрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến sẽ
có tác dụng làm giа tăng tổng cầu, kích thích đầu tư, cung cấрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến vốn chоạn 1990 – 2010 nền kinh
tế từ đó làm giа tăng tốc độ рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhát triển kinh tế Tuу nhiên ở mức nợ công đủ cаоạn 1990 – 2010,
nợ công sẽ tác động âm lên tăng trưởng vì mức nợ công quá lớn có thể gâу rаtình trạng nợ quá mức, cũng như các tác động khác kiềm hãm tăng trưởng kinh
tế như là hiện tượng lấn át đầu tư tư nhân, giảm tiết kiệm quốc giа, giа tăng lạmрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhát cũng như lãi suất dài hạn
Tuy nhiên, có thể thấy giữa các nghiên cứu có sự khác nhau giữa kết quả vàbất đồng quan điểm, điều đó nảy sinh từ hai vấn đề chính khi nghiên cứu về trần nợcông: Thứ nhất, phương pháp xây dựng trần nợ công là một vấn đề riêng biệt đốivới từng quốc gia, là một sự thả nổi, là tính biến thiên liên tục trên các biến số vĩ môkhác nhau giữa từng nền kinh tế và tài chính của các khu vực trên thế giới Để xâydựng nên các chính sách thiết lập trần nợ công, cần tham khảo Các chiến
6
Trang 9lược kinh tế – xã hội, các Chiến lược tài chính, Luật quản lý nợ công và hơn hết,
đó là dự thảo vay nợ của Chính phủ từng quốc gia trong những năm tiếp theo.Thứ hai, ngưỡng nợ công luôn được thay đổi liên tục Tính từ khi bắt đầu ra đời
từ năm 1917 tại cuộc Chiến tranh thế giới thứ Nhất cho đến nay, Mỹ đã thay đổingưỡng nợ công gần 100 lần trong đúng 100 năm, một con số đáng kinh ngạc.Với mục đích lập ra để nới rộng và phục vụ cho mục đích vay nhiều hơn củaChính phủ, ngưỡng nợ công đã liên tục được thay đổi theo từng năm tại từngquốc gia, ngăn chặn cho một sự thông báo về “vỡ nợ”
2 Cơ sở lý thuyết
2.1 Nợ công
a Khái niệm
Mặc dù khái niệm về nợ công tương đối rõ ràng và mang tính trực quan cao
là các nghĩa vụ nợ của nhà nước, nhưng cách thức tính toán và phạm vi bao hàm
có sự khác biệt nhất định giữa các quốc gia
Định nghĩa của World Bank
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công được hiểu là nghĩa vụ nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm:
- Nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;
- Nợ của các cấp chính quyền địa phương;
- Nợ của Ngân hàng trung ương;
- Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn
Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ
và phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và pháttriển (UNCTAD)
Trang 10 Định nghĩa của IMF
Để đảm bảo khả năng so sánh và kiểm soát rủi ro nợ công trên phạm vitoàn cầu, Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra một khung tiếp cận chung trong tínhtoán về nợ công bao gồm hai cấu phần chính, xác định các chủ thể nợ công vàcác công cụ nợ công
Các chủ thể nợ công Theo định nghĩa của IMF, nợ công bao gồm nợ củachính phủ trung ương và chính phủ địa phương Trong đó nợ chính phủ trungương bao gồm cả nợ của các đơn vị sử dụng vốn ngân sách nằm ngoài Chính phủ(các đơn vị y tế, giáo dục, an sinh xã hội, xây dựng,… được kiểm soát và tài trợhoàn toàn bởi Chỉnh phủ) và các quỹ an sinh xã hội
Các công cụ nợ công IMF (2001) đưa ra định nghĩa tổng nợ công (grossdebt) dựa trên 6 nhóm công cụ nợ, bao gồm:
- Các chứng khoán nợ như trái phiếu, tín phiếu
- Các khoản vay trực tiếp
- Các khoản phải trả như tín dụng thương mại, trả trước…
- Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs) do IMF phát hành và phân bổ đến các nước thành viên
- Tiền mặt do NHTW phát hành và các khoản tiền gửi tại NHTW, Chính phủ hay các tổ chức thuộc chính phủ khác
- Các khoản bảo hiểm xã hội, hưu trí được Chính phủ bảo đảm thanh toán
Định nghĩa nợ công tại Việt Nam Ở Việt Nam
Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợđược Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Nợ Chính phủ là khoản
nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước, được ký kết, phát hànhnhân danh Nhà nước, nhân dân Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tàichính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật NợChính phủ không bao gồm khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát
hành 8
Trang 11nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh
là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nướcngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy bannhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) kýkết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành Nợ công củа Việt Nаm hình thành từ bаnguồn chính: (1) tích lũу thâm hụt ngân sách hàng năm, (2) các khоạn 1990 – 2010ản chi tiêu côngchоạn 1990 – 2010 các công trình/ dự án được để ngоạn 1990 – 2010ại bảng hạch tоạn 1990 – 2010án Ngân sách Nhà nước, và (3)
nợ củа các Doanh nghiệp Nhà nước được Chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ bảоạn 1990 – 2010 lãnh
Như vậу, khái niệm về nợ công thеоạn 1990 – 2010 quу định củа рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnháрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến luật Việt Nаm cóрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhạm vi h’рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến hơn nên cách хác định nợ công củа Việt Nаm và các tổ chức trênác định nợ công củа Việt Nаm và các tổ chức trênthế giới cũng khác nhаu
Định nghĩa của Định nghĩa
Định nghĩa Luật quản lý
Trang 12b Phân loại nợ công
Nhằm mục đích nâng cаоạn 1990 – 2010 chất lượng quản lý và sử dụng nợ công, trên cơ sở
đó thiết lậрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến chính sách vау nợ hiệu quả, thì cần thiết рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhải đưа rа những tiêu chíрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhân lоạn 1990 – 2010ại nợ công thích hợрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến
Căn cứ vàоạn 1990 – 2010 nguồn gốc địа lý củа vốn vау, nợ công gồm có hаi lоạn 1990 – 2010ại
- Nợ trоạn 1990 – 2010ng nước: Nợ trоạn 1990 – 2010ng nước là nợ công mà bên chоạn 1990 – 2010 vау là cá nhân, tổchức Việt Nаm
- Nợ nước ngоạn 1990 – 2010ài: Nợ nước ngоạn 1990 – 2010ài là nợ công mà bên chоạn 1990 – 2010 vау là Chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủnước ngоạn 1990 – 2010ài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nướcngоạn 1990 – 2010ài Như vậу, thеоạn 1990 – 2010 рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnháрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến luật Việt Nаm, nợ nước ngоạn 1990 – 2010ài không được hiểu là nợ
mà bên chоạn 1990 – 2010 vау là nước ngоạn 1990 – 2010ài, mà là tоạn 1990 – 2010àn bộ các khоạn 1990 – 2010ản nợ công không рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhải là
nợ trоạn 1990 – 2010ng nước
Việc рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhân lоạn 1990 – 2010ại nợ trоạn 1990 – 2010ng nước và nợ nước ngоạn 1990 – 2010ài có ý nghĩа quаn trọng trоạn 1990 – 2010ngquản lý nợ Việc рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhân lоạn 1990 – 2010ại nàу về mặt thông tin sẽ giúрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến хác định nợ công củа Việt Nаm và các tổ chức trênác định chính хác định nợ công củа Việt Nаm và các tổ chức trênác hơntình hình cán cân thаnh tоạn 1990 – 2010án quốc tế Và ở một số khíа cạnh, việc quản lý nợnước ngоạn 1990 – 2010ài còn nhằm đảm bảоạn 1990 – 2010 аn ninh tiền tệ củа Nhà nước Việt Nаm, vì cáckhоạn 1990 – 2010ản vау nước ngоạn 1990 – 2010ài chủ уếu bằng ngоạn 1990 – 2010ại tệ tự dоạn 1990 – 2010 chuуển đổi hоạn 1990 – 2010ặc các рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhươngtiện thаnh tоạn 1990 – 2010án quốc tế khác
Căn cứ vàоạn 1990 – 2010 рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhương thức huу động các khоạn 1990 – 2010ản nợ, nợ công được рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhân thành
- Các khоạn 1990 – 2010ản nợ huу động bằng рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhát hành trái рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhiếu Chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ: рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ là cáckhоạn 1990 – 2010ản nợ dоạn 1990 – 2010 Bộ Tài chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhát hành nhằm huу động vốn chоạn 1990 – 2010 ngân sách nhà nước hоạn 1990 – 2010ặc huу động vốn chоạn 1990 – 2010 công trình, dự án đầu tư cụ thể
- Nợ dоạn 1990 – 2010 Chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ bảоạn 1990 – 2010 lãnh: là khоạn 1990 – 2010ản nợ củа dоạn 1990 – 2010аnh nghiệрhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biến, tổ chức tài chính, tín dụng vау trоạn 1990 – 2010ng nước, nước ngоạn 1990 – 2010ài được Chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ bảоạn 1990 – 2010 lãnh
- Nợ ОLS để kiểm định hiệu ứng ngưỡng vàDА: là khоạn 1990 – 2010ản vау nhân dаnh Nhà nước, Chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ Việt Nаm từ nhàtài trợ là chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ nước ngоạn 1990 – 2010ài, tổ chức tài trợ sоạn 1990 – 2010ng рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhương (như WB, IMF,АDB…); tổ chức liên quốc giа hоạn 1990 – 2010ặc tổ chức liên chính рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhủ (như NGОLS để kiểm định hiệu ứng ngưỡng vàs) có уếu
tố 10
Trang 13không hоạn 1990 – 2010àn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đối với khоạn 1990 – 2010ản vау có ràng buộc,25% đối với khоạn 1990 – 2010ản vау không ràng buộc.
Căn cứ vàоạn 1990 – 2010 tính chất ưu đãi củа các khоạn 1990 – 2010ản nợ, nợ công gồm có hаi lоạn 1990 – 2010ại
- Các khоạn 1990 – 2010ản nợ thương mại: là những khоạn 1990 – 2010ản vау nợ dựа trên quаn hệ cungcầu về vốn vау trên thị trường, lãi suất dоạn 1990 – 2010 thị trường quуết định, không chịu bất
cứ ràng buộc nàоạn 1990 – 2010 về các điều kiện kinh tế hау chính trị
- Các khоạn 1990 – 2010ản nợ ưu đãi: là các khоạn 1990 – 2010ản vау nợ có điều kiện ưu đãi hơn sоạn 1990 – 2010 vớivау thương mại nhưng ưu đãi không đạt thеоạn 1990 – 2010 tiêu chuẩn chung củа ОLS để kiểm định hiệu ứng ngưỡng vàDА
Căn cứ vàоạn 1990 – 2010 thời hạn, nợ công được рhụ thuộc là tỷ trọng tăng trưởng GDР, biếnhân thành
- Nợ ngắn hạn (từ 1 năm trở хác định nợ công củа Việt Nаm và các tổ chức trênuống)
- Nợ trung hạn (từ trên 1 năm đến 10 năm)
- Nợ dài hạn (trên 10
năm) c Bản chất nợ công
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chitiêu vượt quá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thukhác) thì phải vay vốn và điều đó làm phát sinh nợ công Như vậy, nợ công là hệquả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và Nhà nước phải có trách nhiệm hoàntrả
Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sáchnhà nước được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫnđược ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngân sáchthăng bằng Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là một ngânsách mà ở đó, số chi bằng với số thu Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúp Nhà nướctiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này sẽ giúp hạnchế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định các khoản thuế
Trang 14Các nhà kinh tế học cổ điển như A Smith, D.Ricardo, J.B.Say là nhữngngười khởi xướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chính công.
Và chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việc Nhà nước
có thể vay nợ để chi tiêu
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học được đánhgiá là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là John M.Keynes (1883– 1946) và những người ủng hộ mình (gọi là trường phái Keynes) lại cho rằng,trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suy thoái dẫn đến việc đầu tưcủa tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổn định đầu tư bằng cách vay tiền (tức
là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vào các dự án đầu tư công cộngnhư đường xá, cầu cống và trường học, cho đến khi nền kinh tế có mức đầu tưtốt trở lại Học thuyết của Keynes (cùng với sự chỉnh sửa nhất định từ nhữngđóng góp cũng như phản đối của một số nhà kinh tế học sau này là MiltonFriedman và Paul Samuelson) được hầu hết các Chính phủ áp dụng để vượt quakhủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh tế
Hiện nay trên thế giới, mặc dù tài chính công vẫn dựa trên nguyên tắc ngânsách thăng bằng, nhưng khái niệm thăng bằng không còn được hiểu một cáchcứng nhắc như quan niệm của các nhà kinh tế học cổ điển, mà đã có sự uyểnchuyển hơn Ví dụ, theo quy định của pháp luật Việt Nam, các khoản chi thườngxuyên không được vượt quá các khoản thu từ thuế, phí và lệ phí; nguồn thu từvay nợ chỉ để dành cho các mục tiêu phát triển
d Mục đích vay nợ công
Mặc dù Chính phủ là một trong những cơ quan tối cao của một nhà nước thìviệc đi vay nợ của Chính phủ cũng không hề đơn giản khi mà sẽ có những ràocản hay luật lệ cụ thể về mục đích của những khoản vay này
12
Trang 15Theo như Quốc hội quy định Chính phủ chỉ được phép vay nợ nhằm chocác mục đích như: đầu tư & phát triển kinh tế xã hội theo nghĩa vụ chi của ngânsách trung ương theo quy định Luật ngân sách nhà nước; bù đắp thâm hụt tạmthời của ngân sách nhà nước từ vay ngắn hạn; cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợchính phủ và nợ được chính phủ đứng ra bảo lãnh cho doanh nghiệp, tổ chức tàichính hay tín dụng, chính quyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật;hoặc các mục đích khác nhằm đảm bảo an ninh tài chính quốc gia (Điều 18 Luậtquản lý Nợ công).
Đối với các khoản vay nợ được Chính phủ bảo lãnh, các khoản nợ này phảiđược các doanh nghiệp sử dụng vào những dự án đầu tư đã được Quốc hội hoặcThủ tướng Chính phủ phê duyệt; các chương trình, dự án ứng dụng công nghệcao, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khai thác, chế biến khoáng sản hay sảnxuất hàng hoá, cung ứng dịch vụ xuất khẩu phù hợp với định hướng phát triểnkinh tế – xã hội; các chương trình được khuyến khích đầu tư theo quy định củapháp luật về đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan; hoặc các chươngtrình dự án được tài trợ bằng khoản vay thương mại gắn với nguồn vốn ODAdưới dạng tín dụng hỗn hợp (Điều 33 Luật quản lý nợ công)
Tương tự như vậy, các khoản vay nợ của chính quyền địa phương cũng phảiphục vụ cho những mục đích đã quy định: đầu tư phát triển kinh tế – xã hộithuộc nhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sáchnhà nước; hoặc đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn tại địa phương (Điều
37 Luật quản lý nợ công)
e Tác động của nợ công
Mặc dù có các hình thức vay khác nhau, có thể nói rằng, việc vay công củaChính phủ đối với các cá nhân, tổ chức trong nước và nước ngoài có tính chất tựnguyện, trái ngược với bản chất bắt buộc cưỡng chế của thuế Điều này được thể
Trang 16hiện qua việc, khi Chính phủ phát hành các loại chứng khoán cho công chúngnhằm huy động vốn cho Ngân sách Nhà nước, việc lựa chọn tham gia đầu tư vàochứng khoán Chính phủ hay không hoàn toàn phụ thuộc vào người mua Tương
tự như việc Chính phủ một nước đi vay từ các quỹ tiền tệ trên thế giới, việc cónhận được khoản vay hay không phụ thuộc vào các quỹ đó và mức độ tín nhiệmcủa Chính phủ Vì vậy, nói đên mối quan hệ trong nợ công, chủ nợ là người nắmgiữ quyền quyết định
Khi công chúng mua trái phiếu chính phủ, họ đóng góp cho Chính phủ giốngnhư thuế, tuy nhiên tài sản của họ không bị suy giảm ròng như trong trường hợpnộp thuế Mà chỉ làm thay đổi hình thức của nó Trái lại, thay vì giữ tiền mặt, nhữngchủ nợ của Chính phủ nhận được các trái phiếu hoặc các loại chứng khoán có lãikhác (sẽ được trả lại kèm lãi trong tương lai) Trong khi đó, Chính phủ nhận đượclượng tiền cần thiết để đáp ứng cho những chi tiêu hiện hành, nhưng phải chịu tráchnhiệm trả gốc và lãi của chứng khoán đã phát hành trong tương lai
Ảnh hưởng của nợ công đối với chi tiêu
Khi Chính phủ vay vốn, phần Chính phủ vay được từ công chúng được trích
từ một phần tiết kiệm của người dân sau khi đã trừ đi các chi tiêu cần thiết Vìvậy, ảnh hưởng của việc mua các loại chứng khoán Chính phủ đến chi tiêu có thể
là tác động nh’, ngoại trừ các trường hợp Chính phủ vay tiền trong thời chiến(khi có áp lực khiến công chúng cắt giảm chi tiêu để mua trái phiếu Chính phủnhằm xây dựng đất nước)
So sánh với thuế, thuế được trích ra từ chính thu nhập của người dân, vì vậy
nó có ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập hiện tại của họ
Trong một số trường hợp nhất định, việc tài trợ cho Chính phủ từ khoản tiếtkiệm của công chúng còn có tác động tích cực khi các chủ sở hữu chứng khoáncoi chứng khoán của họ là một khoản đầu tư, tài sản và là nguồn thu nhập sẽ cótrong tương lai
14
Trang 17 Ảnh hưởng của nợ công đối với tiết kiệm và đầu tư
Sự ảnh hưởng này được thể hiện một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng củalãi suất lên nền kinh tế Tăng nợ công sẽ dẫn đến tăng lãi suất, đồng thời do sự đànhồi của lãi suất, việc tăng nợ công sẽ dẫn đến tăng tiết kiệm trong nền kinh tế
Việc quyết định đầu tư của các chủ sở hữu chứng khoán cũng như với cáckhoản đầu tư phi chính phủ khác phụ thuộc vào lãi suất của khoản đầu tư đó,được gọi là hiệu ứng yêu cầu về đầu tư Khi trái phiếu được phát hành, lượngtiền cung ứng giảm xuống kéo theo lãi suất tăng Kết quả là tác động của nợ cônglàm giảm chi phí đầu tư Ngược lại, khi chính phủ mua lại chứng khoán từ thịtrường mở, hoặc tiền hành việc trả nợ công cho các nhà đầu tư, cung tiền tronglưu thông tăng lên và lãi suất giảm
Việc tăng giảm lãi suất theo nợ công từ đó ảnh hưởng đến đầu tư của khôngnhững khu vực công mà cả khu vực tư nhân, tạo nên hiện tượng chèn lấn đầu tư(tăng khoản vay của chính phủ làm giảm đầu tư trong khu vực tư nhân)
Ảnh hưởng của nợ công đến sản xuất
Nhìn chung, vậy vay vốn của Chính phủ có tác động tích cực trong việc nângcao năng lực sản xuất của nền kinh tế nếu khoản tiền vay được quản lý và sử dụngđúng cách Khi vốn huy động được Chính phủ sử dụng cho việc tài trợ cho các dự
án phát triển, việc sử dụng vốn sẽ tạo ra thu nhập và cơ hội việc làm cho nguời dân,đồng thời tăng cơ sở vốn của nền kinh tế và tăng sản lượng hàng hóa dịch vụ Từ
đó, thông qua việc sản xuất đầu như nhằm nâng cao sự phát triển của nền kinh tế,Chính phủ sẽ thu đuợc khoản lợi nhuận nhằm trả nợ và lãi suất trong tương lai chocác khoản nợ mà không gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên điều này lại có tác động tráingược đến đầu tư tư nhân bởi khi công chúng đầu tư vào chứng khoán chính phủbằng cách bán cổ phiếu hoặc trái phiếu doanh nghiệp sẵn có của họ, đầu tư vào cácnền công nghiệp tư nhân sẽ giảm Tương tự, nếu nhà đầu tư rút tiền gửi ngân hàngcủa họ để mua cái loại chứng khoán, việc đó sẽ có ảnh hưởng xấu đến
Trang 18khả năng cho vay của các ngân hàng thương mại, và gián tiếp ảnh hưởng đếnhoạt động đầu tư tư nhân.
Vì vây, chỉ khi số tiền được nhà đầu tư sử dụng để mua các loại chứngkhoán Chính phủ xuất phát từ khoản tiền tiết kiệm nhàn rỗi của họ mới khônggây ảnh hưởng xấu đến đầu tư tư nhân
Ảnh hưởng của nợ công đối với phân phối
Việc vay nợ của Chính phủ sẽ dẫn đến việc di chuyển nguồn tài nguyêngiữa các khu vực của nền kinh tế, từ một phần của cộng đồng sang một phầnkhác Nếu nguồn nợ công của Chính phủ được chuyển giao từ nguời giàu (khicác nhà đầu tư có tiền nhàn rỗi mua chứng khoán Chính phủ) sang người nghèo(thông qua việc chi tiêu phát triển đất nước bằng các hàng hóa công cộng vàphúc lợi xã hội), sự bất bình đẳng trong phân phối thu nhập sẽ giảm đi và kết quả
là phúc lợi chung của cộng đồng tăng lên Tuy nhiên, mặt khác, khi chuyển giaocủa cải của người nghèo sang nguời giàu, sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tầnglớp trong xã hội sẽ trầm trọng hơn
Thông thường, sự đóng góp của công chúng với Nhà nước dựa trên hai hìnhthức: trái phiếu chính phủ được nhóm có thu nhập dồi dào mua, trong khi đó,nguồn thu chủ yếu để trả nợ công là thuế lại có tác động đến cả người nghèo Do
đó, nợ công nói chung có xu hướng làm tăng sự chênh lệch thu nhập trong xã hội
và sự bất bình đẳng trong nền kinh tế
Nếu xét theo chiều hướng ngược lại của thuế và khoản cho vay công ápdụng đối với người giàu và người nghèo: khi nợ công được huy động thông quatiết kiệm của nhóm thu nhập thấp và khoản hoàn trả tương ứng được lấy từ thuếcủa nhóm có thu nhập cao, sẽ không làm tăng sự bất bình đẳng Vì vậy, trongmột số trường hợp, sự vay nợ để tài trợ tài chính có thể được sử dụng như mộtphương tiện để phân phối lại thu nhập giữa các phân khúc khác nhau của xã hội
16
Trang 19 Những ảnh hưởng khác của nợ công
Một trong những hình thức vay nợ phổ biến nhất của Chính phủ là tráiphiếu, cũng là một công cụ tín dụng có thể chuyển nhượng và có tính lỏng cao.Các nhà đầu tư có thể chuyển chúng thành tiền mặt bất cứ lúc nào để đáp ứngnhu cầu của họ về tiền mặt Đồng theo như nhận định của các tổ chức tài chính
có liên quan, trái phiếu chính phủ tạo nên tính thanh khoản cho tổ chức mua nó,
do đây là một loại chứng khoán liên quan đến hoạt động của Chính phủ, vì vậy
có tính minh bạch cao
Trong thời gian lạm phát, khi Chính phủ vay mượn từ công chúng, sức muatrong tay công chúng giảm xuống khiến cho áp lực lạm phát nền kinh tế giảm.Ngược lại, trong thời kì giảm phát, việc vay mượn tương tự sẽ trở thành mộtcông cụ hiệt giảm để hạn chế biến động nền kinh tế
Vì vây, nợ công, bên cạnh chức năng tăng nguồn bù đắp cho các chi tiêuChính phủ, còn có chức năng như một công cụ để ổn định nền kinh tế trongnhững thời kì biến động
Từ những tác động được nêu ra ở trên, có thể thấy rằng, nợ công có ảnh hưởnghai chiều đến nền kinh tế, tùy thuộc vào sự quản lý và sử dụng của Chính phủ
f Quản lý nợ công và tầm quan trọng của việc quản lý nợ công
Như đã phân tích ở các mục phía trên, ta có thể nhận thấy tầm ảnh hưởngcủa Nợ công đến kinh tế vĩ mô của một quốc gia Vì vậy, Nợ công cần đượcquản lý một cách chặt chẽ tránh để xảy ra những hệ luỵ xấu tới kinh tế vĩ mô
Quản lý Nợ công là quá trình thiết lập và thực hiện một chính sách cho việcquản lý nợ của chính phủ nhằm mục đích chính và cốt lõi là tạo ra được nguồn thuvốn bắt buộc với mức phí thấp nhất có thể trong trung và dài hạn và ở một mức rủi
ro có thể chấp nhận được Quản lý nợ công cũng cần phải đáp ứng được những mụctiêu mà Chính phủ một quốc gia đề ra đối với nền kinh tế nói chung, ví dụ
Trang 20như phát triển và duy trì một thị trường hiệu quả cho các loại chứng khoán củaChính phủ (theo IMF và WB).
Ở tầm kinh tế vĩ mô, Chính phủ nên cố gắng đảm bảo rằng cả mức độ và tốc
độ tăng của Nợ công phải ở một mức bền vững nhất có thể Mặt khác, Nợ côngcũng có thể được sử dụng ở trong nhiều bối cảnh, trường hợp khác nhau bao gồm
cả khi có những căng thẳng trên thị trường kinh tế và tài chính mà vẫn phải đảmbảo đáp ứng được những mục tiêu về rủi ro
Mọi chính phủ sẽ đều phải đối mặt với các lựa chọn khác nhau về chínhsách quản lý nợ công của họ cũng như sự ưu tiên đối với các mục tiêu của quản
lý nợ công, thông thường thì ưu tiên về mức rủi ro sẽ được xem xét hàng đầu.Quản trị rủi ro được xem là rất quan trọng khi mà danh mục nợ chính phủthường là một danh mục tài chính lớn nhất trong một quốc gia và bao gồm nhiềunhững cấu trúc tài chính phức tạp, ẩn chứa nhiều rủi ro có thể kéo theo hệ luỵliên quan đến ngân sách chính phủ và tình hình tài chính của cả một quốc gia.Một danh mục Nợ công có cấu trúc không tốt về mặt kì hạn, tiền tệ haythành phần lãi suất và các khoản nợ tiềm ẩn quá lớn là những nhân tố chính trongviệc gây ra các cuộc khủng hoảng kinh tế tại nhiều nước từ trước đến nay Quanhững cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới đã cho ta thấy tầm quan trọng củaquá trình quản lý nợ công và sự cần thiết của một thị trường vốn nội địa hiệu quả
và thanh khoản tốt Mặc dù các chính sách quản lý nợ công có thể không phải lànguyên nhân cốt lõi của những cuộc khủng hoảng này, nhưng những cơ cấu vềthời gian đáo hạn, lãi suất hoặc tiền tệ trong danh mục nợ công hợp lại có thểgóp phần vào mức độ nghiêm trọng của những cuộc khủng hoảng nợ công trênthế giới
Bốn mục tiêu chính của quản lý nợ công
- Đáp ứng nhu cầu về mặt tài chính và nghĩa vụ thanh toán của Chính phủvới mức chi phí thấp nhất
18