Nhắc đến tài chính quốc gia, nợ công và việc đặt ra một ngưỡng an toàn nợ công hay “trần nợ công” là không hề đơn giản và là vấn đề luôn nóng hổi, nhiều khó khăn, thách thức, nhiều đánh
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 NỢ CÔNG VÀ TRẦN NỢ CÔNG 3
1 Nợ công 3
1.1 Khái niệm 3
1.2 Đặc trưng cơ bản của nợ công 4
1.2.1 Khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước 4
1.2.2 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền 4
1.2.3 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động vốn và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích cộng đồng 4
1.3 Phân loại nợ công và các hình thức vay nợ của Chính phủ 5
1.3.1 Phân loại nợ công 5
1.3.2 Các hình thức vay nợ 5
1.3.3 Mục đích vay nợ công 6
1.4 Bản chất và tác động của nợ công 7
1.4.1 Bản chất của nợ công 7
1.4.2 Tác động của thâm hụt ngân sách và nợ công 8
2 Trần nợ công 10
2.1 Định nghĩa 10
2.2 Ngưỡng nợ công an toàn của một số nền kinh tế trên thế giới 10
CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG 13
1 Đánh giá mức độ nợ theo tiêu chuẩn WB 13
2 Xác định dựa trên các yếu tố của quốc gia 16
3 Cách xác định khác 18
CHƯƠNG 3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TRẦN NỢ CÔNG 20
1 Đặc điểm quốc gia 20
2 Ảnh hưởng giai đoạn tăng trưởng kinh tế 21
CHƯƠNG 4 THỰC TRẠNG NỢ CÔNG – TRẦN NỢ CÔNG ÁP DỤNG TRONG VIỆC QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ GIẢI PHÁP NỢ CÔNG 22 1 Thực trạng nợ công trên thế giới 22
2 Trần nợ công được áp dụng trong việc quản lý nợ công ở Việt Nam 22
Trang 23 Giải pháp và điều chỉnh trần nợ công quản lý nợ công ở Việt Nam 25
3.1 Ý kiến của Bộ tài chính: 25
3.2 Ý kiến của Ủy ban thường vụ quốc hội: 26
Kết luận 28
Tài liệu tham khảo 29
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Trong quá trình kiến tạo và phát triển nền kinh tế thế giới, các quốc gia luôn phải đối mặt với việc làm thế nào để kích thích nền kinh tế phát triển song vẫn đảm bảo cân đối ngân sách tài chính và có thể hội nhập quốc tế Vượt qua các cú sốc thị trường, cân đối nguồn lực và đảm bảo việc vay nợ - thu chi Các nước trên thế giới nói chung và chính phủ Việt Nam nói riêng, luôn cố gắng mở rộng và áp dụng những chính sách công tối ưu nhất để phát tiển đất nước Nhắc đến tài chính quốc gia, nợ công và việc đặt ra một ngưỡng an toàn nợ công hay “trần nợ công” là không hề đơn giản và là vấn đề luôn nóng hổi, nhiều khó khăn, thách thức, nhiều đánh đổi được mất của nền kinh tế
Lịch sử đã chứng kiến những cơn chấn động lớn như cuộc Đại suy thoái kinh
tế tiền tệ (1929 – 1933) do sản xuất “thừa”, cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1970, cuộc khủng hoảng tài chính từ năm 2007 – 2009 và mới đây nhất là cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu với xuất phát điểm từ Hy Lạp vào đầu năm 2010 khi chi phícho các khoản nợ Chính phủ liên tục tăng lên và hiệu ứng đó đã lan sang một số nước Châu Âu khác Nợ công mang lại những lợi ích quan trọng cho nền kinh tế vĩ
mô của các quốc gia mà không một Chính phủ nào có thể phủ nhận được
Tuy nhiên, quốc gia nào không biết sử dụng một cách hợp lý mà “vượt trần” không kiểm soát thì nợ công cũng mang lại những hệ lụy nghiêm trọng cho nền kinh tế đó Gần đây, nợ công đang trở thành tâm điểm của những câu chuyện kinh tế
và dấy lên hồi chuông cảnh báo cho các nước, đặc biệt là những nước có nền kinh tếyếu kém nhưng lại có tỷ lệ nợ công lớn mạnh Việc nghiên cứu về trần nợ công sẽ rất có ý nghĩa trong bối cảnh hiện nay.Vậy ngưỡng nợ công như thế nào là an toàn cho các quốc gia, phương pháp và các nhân tố nào ảnh hưởng đến việc xác định mức trần nợ công đó? Thực trạng nợ công của các quốc gia trên thế giới và ở Việt
Nam như thế nào? Bài tiểu luận của chúng em xin đề cập tới đề tài Trần nợ công và phương pháp xây dựng trần nợ công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xây dựng trần nợ công để mọi người có cái nhìn rõ hơn về vấn đề này
Trong quá trình nghiên cứu và tìm hiểu, chúng em đã gặp khá nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm và tích hợp thông tin vì đây là vấn đề nhạy cảm của quốc
Trang 4gia mỗi nước, nguồn thông tin rất khan hiếm và chưa có những chính sách áp dụng
cụ thể về vấn đề này mới nhất Chúng em hi vọng sẽ nhận được những góp ý, bổ sung từ cô để chúng emcó thể hoàn thiện bài tiểu luận hơn
Em xin chân thành cảm ơn cô!
Trang 5CHƯƠNG 1. NỢ CÔNG VÀ TRẦN NỢ CÔNG
1 Nợ công
1.1 Khái niệm
Nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp Hầu hết những cách tiếp cậnhiện nay đều cho rằng nợ công là khoản nợ mà Chính phủ của một quốc gia phảichịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó Vì vậy, thuật ngữ nợ công thườngđược sử dụng cùng nghĩa với các thuật ngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ.Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khác với nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản
nợ phải trả của một quốc gia, bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tưnhân (doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợquốc gia Để có được một cái nhìn tổng thể về bức tranh nợ công, trước hết chúng tacần có một khung lý thuyết cơ bản và đầy đủ về nợ công cũng như các khái niệmliên quan
Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là một bướctiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Theo BộLuật này, nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ củachính quyền địa phương
Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoàiđược ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoảnvay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quy định củapháp luật Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước ViệtNam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính,tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành
Theo WB (2002), nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và nhữngkhoản nợ được Chính phủ bảo lãnh Với định nghĩa trên, nếu hiểu nợ của Chính phủbao gồm nợ của Chính phủ Trung ương và nợ của chính quyền địa phương thì cóthể thấy định nghĩa của WB giống với định nghĩa được đưa ra trong Luật quản lý nợcông của Việt Nam
Trang 6Theo IMF (2010), nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực côngbao gồm khu vực Chính phủ tại các cấp chính quyền, từ trung ương đến địa phương
và khu vực các tổ chức công gồm các tổ chức công tài chính và phi tài chính Các tổchức công phi tài chính có thể là các tập đoàn nhà nước không hoạt động trong lĩnhvực tài chính như điện lực, viễn thông,… hoặc cũng có thể là các tổ chức như bệnhviện và các trường đại học công lập Các tổ chức công tài chính là các tổ chức nhận
hỗ trợ từ Chính phủ và hoạt động trong lĩnh vực tài chính, thực hiện các dịch vụnhận tiền gửi và trả lãi thuộc khu vực công, cung cấp các dịch vụ tư vấn tài chính,bảo hiểm hay quỹ lương hưu
1.2 Đặc trưng cơ bản của nợ công
1.2.1 Khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước
Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ
mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trảkhoản nợ ấy Trách nhiệm của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trả nợ trựctiếp và trả nợ gián tiếp Trả nợ trực tiếp được hiểu là cơ quan Nhà nước có thẩmquyền sẽ là người vay và chịu trách nhiệm trả nợ khoản vay Trả nợ gián tiếp làtrường hợp cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trongnước vay, trong trường hợp bên vay không trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽthuộc về cơ quan bảo lãnh
1.2.2 Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của
cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích.Thứ nhất, đảm bảo khả năng trả nợ của đợn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa làđảm bảo cán cân thanh toán vi mô và an ninh tài chính quốc gia Thứ hai, để đạtđược những mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ côngmột cách chặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị xã hội
1.2.3 Mục tiêu cao nhất trong việc huy động vốn và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích cộng đồng
Nợ công được huy động không phải để thỏa mãn những lợi ích riêng của bất
kỳ cá nhân, tổ chức nào mà vì lợi ích chung của cộng đồng Điều này xuất phát từbản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là
Trang 7của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phảidựa trên lợi ích của Nhân dân, cụ thể là để phát triển kinh tế - xã hội của đất nước
và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất
1.3 Phân loại nợ công và các hình thức vay nợ của Chính phủ
1.3.1 Phân loại nợ công
Nghĩa vụ nợ nói chung được phân chia thành hai loại: nợ trong nước và nợ nướcngoài Sự phân loại này không chỉ mang ý nghĩa địa lý mà nhiều khi còn bao hàm
về đơn vị sử dụng tiền tệ sử dụng để vay Do đó, nợ công có thể phân chia nghĩa vụ
nợ thành nợ công nước ngoài và nợ công trong nước
1.3.2 Các hình thức vay nợ
- Các hình thức vay nợ trong nước
Công cụ để thực hiện các khoản vay nợ trong nước bao gồm tín phiếu, hốiphiếu, trái phiếu, công trái và các công cụ khác làm phát sinh nghĩa vụ trả nợ, trong
đó phổ biến nhất vẫn là trái phiếu Phân theo cấp quản lý thì trái phiếu sẽ được phânthành trái phiếu chính phủ, trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh và trái phiếu chínhquyền địa phương Việc phát hành các trái phiếu này cũng chính là cách để các cấpquản lý có thể thực hiện việc vay nợ của mình
Theo định nghĩa trong Luật quản lý nợ công:
Trái phiếu chính phủ là loại trái phiếu do Bộ Tài chính phát hành nhằm huyđộng vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho công trình, dự án đầu tư
cụ thể
Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trởlên, do doanh nghiệp phát hành nhằm huy động vốn cho dự án đầu tư theo chỉ địnhcủa Thủ tướng Chính phủ và được Chính phủ bảo lãnh
Trái phiếu chính quyền địa phương là loại trái phiếu có kỳ hạn từ một năm trởlên, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh phát hành hoặc ủy quyền phát hành nhằm huyđộng vốn cho công trình, dự án đầu tư của địa phương
Trang 8- Các hình thức vay nợ nước ngoài
Vay ODA là khoản vay nhân danh Nhà nước và Chính phủ từ nhà tài trợ làchính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liên quốc gia hoặc tổchức liên chính phủ có yếu tố không hoàn lại (thành tố ưu đãi) đạt ít nhất 35% đốivới khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay không ràng buộc
Vay nợ nước ngoài theo quy định của Luật quản lý nợ công Việt Nam đượcphân chia thành vay hỗ trợ phát triển chính thức (vay ODA), vay ưu đãi và vaythương mại
Vay ưu đãi là khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mạinhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA
Vay thương mại là khoản vay theo điều kiện thị trường thông qua phát hànhtrái phiếu quốc tế
So sánh về rủi ro tín dụng, trái phiếu trong nước phát hành bằng nội tệ có thểxem như không có rủi ro khi chính phủ hoàn toàn có thể thực thi những chính sáchnhư tăng thuế, cắt giảm chi tiêu hoặc thậm chí in thêm tiền để thanh toán đầy đủ cảvốn lẫn lãi khi đáo hạn Tại hầu hết các quốc gia phát triển, việc in tiền không đượcphép tiến hành một cách trực tiếp mà phải thông qua ngân hàng trung ương Tuynhiên, để cung cấp tiền nhằm giải ngân cho các khoản vay nợ của chính phủ, ngânhàng trung ương hoàn toàn có thể mua trái phiếu chính phủ, đây chính là cách đểngân hàng trung ương bơm thêm tiền vào nền kinh tế bởi những tác động tăng tỉ lệlạm phát và hạ giá đồng nội tệ Điều này đã xảy ra nhiều lần trong lịch sử, một ví dụđiển hình vào những năm 1920s, Đức đã rơi vào tình trạng siêu lạm phát khi Chínhphủ không có khả năng trả các khoản nợ khổng lồ sau chiến tranh thế giới thứ nhất
Ngược lại, trái phiếu quốc tế phát hành bằng ngoại tệ lại có rủi ro tín dụnglớn hơn Khi lượng dự trữ ngoại tệ của Chính phủ là có hạn, nhiều khả năng Chínhphủ sẽ không trả nổi nợ khi đáo hạn Bên cạnh đó, việc đi vay bằng ngoại tệ còn đikèm với những rủi ro liên quan đến tỉ giá hối đoái Sự dao động của tỉ giá hối đoáihoàn toàn có thể khiến cho các khoản vay bằng nợ nước ngoài cao hơn dự tính banđầu của chính phủ
1.3.3 Mục đích vay nợ công
Trang 9Không phải dễ dàng mà Chính phủ, các tập đoàn hay doanh nghiệp nhà nướchoặc các cấp chính quyền địa phương có thể vay nợ Mục đích của việc vay nợ đượcquy định rất rõ trong Luật quản lý nợ công.
Theo đó, Quốc hội quy định Chính phủ chỉ được phép vay nợ với các mục đíchnhư sau: đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trungương theo quy định của Luật ngân sách nhà nước; bù đắp thiếu hụt tạm thời củangân sách nhà nước từ vay ngắn hạn; cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ chính phủ
và nợ được chính phủ bảo lãnh; cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng, chínhquyền địa phương vay lại theo quy định của pháp luật; hoặc các mục đích khácnhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia (Điều 18 Luật quản lý nợ công)
Các khoản vay nợ mà Chính phủ bảo lãnh cũng không phải tùy tiện Cụ thể,Chính phủ chỉ bảo lãnh cho các doanh nghiệp thực hiện: các chương trình dự án đầu
tư được Quốc hội hoặc Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương đầu tư; cácchương trình, dự án ứng dụng công nghệ cao, dự án trong lĩnh vực năng lượng, khaithác, chế biến khoáng sản hoặc sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ xuất khẩu phùhợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; các chương trình, dự ánthuộc lĩnh vực, địa bàn được Nhà nước khuyến khích đầu tư theo quy định của phápluật về đầu tư và các quy định của pháp luật có liên quan; hoặc các chương trình dự
án được tài trợ bằng khoản vay thương mại gắn với nguồn vốn ODA dưới dạng tíndụng hỗn hợp (Điều 33 Luật quản lý nợ công)
Tương tự như vậy, các khoản vay nợ của chính quyền địa phương cũng phảiphục vụ cho những mục đích đã quy định: đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộcnhiệm vụ chi của ngân sách địa phương theo quy định của Luật ngân sách nhànước; hoặc đầu tư vào các dự án có khả năng hoàn vốn tại địa phương (Điều 37Luật quản lý nợ công)
1.4 Bản chất và tác động của nợ công
1.4.1 Bản chất của nợ công
Xét về bản chất kinh tế, nợ công xuất phát từ thâm hụt ngân sách, hay tổng chitiêu của chính phủ nhiều hơn tổng các nguồn thu của mình Để làm giảm mức thâmhụt ngày, chính phủ phải tăng nguồn thu ngân sách, hoặc cắt giảm chi tiêu Cắt giảmchi tiêu không phải là một việc dễ dàng trong ngắn hạn, khi những kế hoạch chi tiêu
Trang 10của chính phủ đã được hoạch định cụ thể Chính vì thế, chính phủ chỉ có thể tìmcách gia tăng nguồn thu của mình.
1.4.2 Tác động của thâm hụt ngân sách và nợ công
Thâm hụt ngân sách hàm ý rằng thu ngân sách của chính phủ suy giảm hoặc có
sự gia tăng trong chi tiêu Điều này đồng nghĩa với sự gia tăng tổng cầu trong nềnkinh tế Nếu như nền kinh tế đang ở mức sản lượng tiềm năng, sự gia tăng tổng cầunày sẽ đẩy GDP thực tế lên cao hơn mức GDP tiềm năng Cùng với đó, giá cả vàlạm phát cũng sẽ tăng lên Về dài hạn, khi lạm phát gia tăng, người lao động sẽ yêucầu mức lương cao hơn, và các doanh nghiệp sẽ buộc phải chính sách cắt giảm sảnxuất trước mức tiền lương mới này Chính vì vậy, tổng cung trong nền kinh tế sẽ suygiảm, và GDP thực tế của nền kinh tế sẽ quay trở lại mức GDP tiềm năng Tuynhiên, giá cả sẽ không quay lại thời điểm ban đầu và tiếp tục leo thang
Nếu như ngân sách chính phủ bị thâm hụt, chứng tỏ tiết kiệm của chính phủđang suy giảm, đồng nghĩa với việc tổng tiết kiệm của nền kinh tế giảm theo Do đónguồn cung vốn vay hay tổng tiết kiệm của nền kinh tế suy giảm do thâm hụt ngânsách sẽ đẩy lãi suất tăng lên Lãi suất gia tăng sẽ gây khó khăn cho khu vực tư nhântrong việc tiếp cận nguồn vốn đầu tư Chính vì thế, khu vực tư nhân sẽ bị thu hẹp,chính bởi sự chi tiêu không hiệu quả của chính phủ Giải thích theo một cách khác,nếu như chính phủ đi vay để bù đắp thâm hụt ngân sách bằng cách phát hành tráiphiếu, lãi suất cũng sẽ gia tăng Điều này là do để khuyến khích mua trái phiếu,chính phủ sẽ buộc phải tăng lãi suất
Lãi suất gia tăng không chỉ thu hút giới đầu tư trong nước mà còn hoàn toàn cóthể thu hút giới đầu tư nước ngoài Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ có nhu cầu nắmgiữ tài sản nội địa, dohiệu suất sinh lời cao hơn, điều này đồng nghĩa với việc dòngvốn ngoại tệ chảy vào nền kinh tế, làm cho nguồn cung ngoại tệ tăng lên Khi cungngoại tệ tăng lên, giá trị của đồng ngoại tệ tính theo đồng nội tệ sẽ giảm đi, hay nóicách khác, đồng nội tệ có thể tăng giá trị Tuy nhiên dòng vốn nước ngoài vào thịtrường nội địa có thể bị hạn chế do giới đầu tư lo ngại vào một môi trường lạm phátcao do thâm hụt ngân sách mang lại Việc đồng nội tệ tăng giá sẽ khuyến khíchnhập khẩu thay vì xuất khẩu, và điều này sẽ dẫn đến thâm hụt thương mại và thâmhụt cán cân vãng lai
Trang 11Như vậy có thể thấy thâm hụt ngân sách có những tác động tiêu cực đến nềnkinh tế Nếu như ngân sách chính phủ được cân bằng, không những tối ưu hóa toàn
bộ nguồn vốn, mà còn làm giảm những chi tiêu hoang phí của chính phủ Bên cạnh
đó, điều này còn hạn chế được tình trạng lạm thu và tham nhũng Chính vì thế, cácnhà kinh tế học cổ điển luôn cho rằng chính phủ cần phải duy trì cân bằng ngânsách
Tuy nhiên, như đã phân tích ở phần trên, thâm hụt ngân sách làm gia tăng tổngcầu và làm tăng GDP hay nói cách khác là kích thích tăng trưởng Đây là điều màchính phủ các quốc gia có thể làm trong thời gian suy thoái kinh tế, đó là tăng chitiêu, đầu tư vào các công trình công cộng, chấp nhận thâm hụt ngân sách ở một mứcnhất định nhằm giúp sản lượng trong nước tăng trở lại
Nhưng điều này không đồng nghĩa với việc thâm hụt ngân sách luôn luôn kíchthích tăng trưởng Nếu như nền kinh tế đã ở gần mức sản lượng tiềm năng, sự giatăng tổng cầu về dài hạn sẽ kéo theo những hệ quả tiêu cực về lạm phát, lãi suất vàcán cân thương mại như đã giải thích ở trên
Dựa vào toàn bộ những tác động của thâm hụt ngân sách lên các yếu tố vĩ mô
kể trên, có thể cộng thêm việc chính phủ gia tăng vay nợ để bù đắp thâm hụt ngânsách, có thể đưa ra một bức tranh tổng thể về tình huống xấu nhất xảy ra cho nềnkinh tế nếu như có thâm hụt ngân sách nợ công kéo dài Cụ thể, lãi suất gia tăng sẽkhiến cho gánh nặng nợ càng thêm trầm trọng Các nhà đầu tư sẽ lo ngại về khảnăng thanh toán của chính phủ, dẫn đến việc họ tháo chạy ra khỏi các tài sản nộiđịa Hậu quả là giá tài sản sẽ giảm, cộng thêm gánh nặng lãi suất sẽ khiến thu hẹpkhu vực tư nhân, nhiều doanh nghiệp tiến đến phá sản Điều này làm giảm nguồnthu từ thuế doanh nghiệp của chính phủ, dẫn đến càng làm gia tăng thâm hụt ngânsách Nhằm đối phó với sự suy giảm nguồn thu này, chính phủ thường phải tìm cáchgia tăng các nguồn thu thuế từ thu nhập người dân hoặc thuế tài sản Tuy nhiên,những chính sách này sẽ làm giảm tiêu dùng và gây ra suy thoái kinh tế Hoặc chínhphủ cũng có thể in tiền để bù đắp thâm hụt ngân sách và trả nợ, nhưng điều này sẽlàm lạm phát còn lên cao hơn nữa Ngoài ra, nợ xấu đến từ các doanh nghiệp phásản cũng có thể gây nguy hại đến hệ thống ngân hàng Trong một kịch bản xấu nhất,
Trang 12một cuộc khủng hoảng tín dụng sẽ đánh sập các ngân hàng cũng như các tổ chức tàichính Nền kinh tế sẽ càng chìm sâu khủng hoảng và suy thoái trầm trọng.
2 Trần nợ công
2.1 Định nghĩa
Trần nợ công là mức nợ công tối đa mà một quốc gia đề ra; nếu nợ công củamột quốc gia nằm trong phạm vi này thì nền kinh tế đó vẫn nằm trong ngưỡng antoàn, nếu “vượt trần” nền kinh tế đó sẽ gặp phải nhiều vấn đề nguy hiểm căn cứtheo mức độ “vượt trần”
2.2 Ngưỡng nợ công an toàn của một số nền kinh tế trên thế giới
Không phải lúc nào nợ công cao cũng ngay lập tức mang lại “kết cục” bi đátcho một quốc gia nào đó Thực tế cho thấy, những cuộc khủng hoảng nợ công chỉdiễn ra khi Chính phủ của một quốc gia không thể trả nợ đúng hạn, cả gốc và lãi,nên phải tuyên bố quốc gia phá sản hoặc cầu cứu sự trợ giúp quốc tế Vì thế, xácđịnh ngưỡng nợ công an toàn là cần thiết nhằm quản lý nợ công hiệu quả
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chínhcủa một nền kinh tế Vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toànhay không là cần thiết đối với các nhà đầu tư cũng như với Chính phủ của quốc gia
đó Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về ngưỡng an toànđối với các chỉ tiêu về nợ công để áp dụng cho tất cả các nước Việc xác định cácchỉ tiêu an toàn về nợ công của từng nước thường được dựa trên cơ sở đánh giá thựctrạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tưphát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có thể tham khảo khuyến nghị của các tổchức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) về ngưỡng an toàn nợnước ngoài theo phân loại chất lượng khuôn khổ thể chế và chính sách
Trên thế giới, việc xác định ngưỡng an toàn cho nợ công được thực hiện dướinhiều hình thức: Dựa trên các cam kết chính trị hoặc các quy định về tài chính theothỏa thuận khu vực được ký kết; do Hiến pháp quy định (như ở Hungary và PhầnLan) hoặc do Nghị viện quyết định hàng năm
Ở một số nước như Argentina, Brazil, Canada, Nhật Bản, Moldova, NewZealand hay Tây Ban Nha, Nghị viện được trao quyền xác định giới hạn nợ côngthông qua xem xét và phê chuẩn Đạo luật Ngân sách hoặc Đạo luật Phân bổ ngân
Trang 13sách hàng năm Đơn cử, ở Brazil, Hiến pháp quy định cấm Chính phủ vay vượt quáchi phí vốn trong năm tài chính Quy định này được xem như nguyên tắc vàng vàđược thực thi thông qua Đạo luật Trách nhiệm tài khóa của Brazil Điều 30 Luật nàyquy định, Thượng viện quyết định giới hạn nợ hàng năm ở mọi cấp của Chính phủ.
Ở Mỹ, trước khi Đạo luật Ngân sách Quốc hội và kiểm soát việc sung công
1974 được thực thi, giới hạn nợ hàng năm phải được Hạ viện phê chuẩn, cùng vớingân sách, dưới hình thức thông qua nghị quyết Theo Điều I Mục 8 của Hiến pháp
Mỹ, chỉ Quốc hội mới có thể ủy quyền Chính phủ đi vay nợ dựa trên tín dụng quốcgia Kể từ khi lập quốc đến năm 1917, Quốc hội Mỹ trực tiếp xem xét ủy quyềntừng khoản nợ do Chính phủ trình ra Nhằm tạo sự linh hoạt hơn trong cung cấp tàichính cho các hoạt động quân sự của Mỹ trong Thế chiến I, Quốc hội đã sửa đổiphương pháp ủy quyền cho phép Chính phủ vay nợ trong Đạo luật Công trái Tự dothứ hai (Second Liberty Bond) năm 1917 Theo Luật, Quốc hội thiết lập giới hạn nợcông, còn gọi là “trần nợ”, trên tổng khối lượng trái phiếu mới có thể được banhành “Trần nợ” hiện nay là giới hạn áp dụng cho hầu hết các khoản nợ liên bang.Ban đầu, “trần nợ” do các Đạo luật Nợ công năm 1939 và 1941 thiết lập, nhưng vềsau các đạo luật này được sửa đổi nhằm cho phép điều chỉnh mức trần
Khi thảo luận về việc vạch ra ngưỡng an toàn cho nợ công, giới chuyên gianhấn mạnh, không nên dựa quá nhiều vào ngưỡng nợ Mặc dù đây là thông số hữuích nhưng nếu chỉ nhìn vào ngưỡng an toàn thì chưa đủ Khi xem xét tình trạng nợcông của một nước cần phải xem các nước có nền kinh tế tương tự có ngưỡng nợthế nào và nên tính đến cả rủi ro về lòng tin Quan trọng hơn, cần hiểu được phạm
vi, quy mô và chất lượng nợ thực chất như thế nào? Nên xác định trần nợ bao nhiêuphần trăm là vừa để bảo đảm thúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn, dài hạn
Tại các nước Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), quy định hạnmức trần nợ công áp dụng chung cho tất cả các nước trong khối là dưới 60% GDP,thâm hụt ngân sách dưới 3% GDP
Vương quốc Anh đã vận hành hai quy tắc tài khóa trong những năm gần đây.Quy tắc thứ nhất yêu cầu trong một chu kỳ “Chính phủ chỉ được phép vay để đầu tưchứ không vay để chi thường xuyên” (đây được xem là một trong những “nguyêntắc vàng”) Quy tắc thứ hai yêu cầu “Nợ ròng khu vực công theo tỷ lệ với GDP cần
Trang 14phải giữ ổn định ở mức cẩn trọng - hiện nay được xác định dưới 40% GDP” (quytắc đầu tư vững chắc).
Năm 2003, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, Indonesia đã đặt
ra quy tắc tài khóa, theo đó ấn định mức bội chi ngân sách hàng năm tối đa là 3%GDP và dư nợ công tối đa là 60% GDP
Hiến pháp của Singapore quy định, Chính phủ trong nhiệm kỳ của mình (5năm) phải bảo đảm cân bằng ngân sách, nghĩa là thâm hụt ngân sách của bất kỳ nămnào phải được bù đắp bằng thặng dư ngân sách tích lũy của những năm còn lại trongnhiệm kỳ Trong trường hợp đặc biệt, Chính phủ có thể bù đắp thâm hụt ngân sáchbằng thặng dư ngân sách của nhiệm kỳ trước, nhưng phải được sự chấp thuận đồngthời của nghị viện và tổng thống
Luật Trách nhiệm Tài khóa (1994) của New Zealand quy định cụ thể 5nguyên tắc quan trọng mà Chính phủ phải tuân thủ, trong đó có yêu cầu giảm tổng
nợ xuống mức cẩn trọng; bảo đảm bình quân tổng chi thường xuyên không vượt quátổng thu thường xuyên Mặc dù Luật không quy định số liệu cụ thể, nhưng Chínhphủ nước này sau đó cũng tự đặt mục tiêu duy trì mức nợ dưới 30% GDP
Tỷ lệ nợ/GDP của Trung Quốc 6 tháng đầu năm là 250%, vẫn thấp hơn nhiều
so với phần lớn các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh và Nhật Bản với tỷ lệnợ/GDP tính đến cuối năm 2013 lần lượt là khoảng 260%, 277% và 415% Tuynhiên, nợ công của Nhật Bản không gây khó cho nền kinh tế do họ có khả năng trả
nợ trong khi với Trung Quốc, đây là điều đáng quan tâm khi nợ công gia tăng rấtnhanh so với GDP kể từ năm 2009 đến nay, còn kinh tế lại tăng trưởng chậm hơn
Với LB Nga, trong những năm từ 2004 – 2008, Tổng thống V.Putin đã đặt ranhiệm vụ cho Chính phủ là phải giảm đến mức thấp nhất mức nợ công từ các khoảnvay của nước ngoài Trong những năm gần đây Nga luôn là nước có mức nợ cônggần như thấp nhất ở châu Âu – khoảng hơn 10% đến xấp xỉ 11% GDP
Trang 15CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG
Có nhiều nghiên cứu về bản chất của khủng hoảng nợ công đã được tiến hành,
và cũng đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khủng hoảng nợ công Theo địnhnghĩa của Manasse, Roubini và Schimmelpfennig (2003): “Một quốc gia được cho
là khủng hoảng về nợ công nếu bị Standard & Poor’s xếp hạng là vỡ nợ, hoặc đượcnhận một khoản vay không ưu đãi lớn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)”
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính củamột nền kinh tế Chính vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toànhay không trở nên vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư cũng như chính bản thânchính phủ của quốc gia đó Nhờ đó mà xếp hạng tín dụng nợ công ra đời
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về mức ngưỡng antoàn đối với các chỉ tiêu về nợ công để áp dụng cho tất cả các nước
Việc xác định các chỉ tiêu an toàn về nợ công của từng nước thường được dựatrên cơ sở đánh giá thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, chínhsách tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có thểtham khảo khuyến nghị của IMF/WB về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phânloại chất lượng khuôn khổ thể chế và chính sách
1 Đánh giá mức độ nợ theo tiêu chuẩn WB
- Số dư nợ so với tổng thu nhập quốc nội (GDP): K1 = x 100%
- Số dư nợ so với kim ngạch xuất khẩu: K2=x100%
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm so với kim ngạch xuất khẩu:
Trang 16Đây chỉ là ngưỡng tham khảo cho các quốc gia trên thế giới chứ không phải
là mức ấn định trong mọi trường hợp Tuy nhiên các ngưỡng này được WB xác địnhmột các tương đối dựa trên cơ sở thực tiễn từ các nền kinh tế
Nguồn: Inforaphic
Có thể thấy rằng Nhật Bản, Singapore, Hy Lạp, là một trong những nước có
nợ công trên 100% so với GDP với số tiền nợ rất lớn, do đó mỗi người dân của cácquốc gia này đang phải gánh trên vai những khoản nợ công rất lớn
Tuy nhiên, khác với Nhật Bản, Hy Lạp đang gặp những khó khăn vô cùnglớn vì những khoản nợ này mặc dù số tiền nợ công nhỏ hơn Trước khi gia nhập EU
Hy Lạp chỉ được vay những khoản tiền nhỏ với lãi suất rất cao lên tới 18% nhưng