Nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên với các vấn đề quan hệ tình dục QHTD trước hôn nhân như thế nào?. Hàng loạt các câu hỏi được đặt ra từ thực tiễn cuộc sống đã thôi thúc nhóm chú
Trang 1MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 3
1 Lý do lựa chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu đề tài 3
3 Đối tượng, giới hạn phạm vi và thời gian khảo sát 3
4 Nội dung nghiên cứu 4
5 Các phương pháp thống kê 4
PHẦN NỘI DUNG 5
1 Tổng quan tình hình khảo sát 5
2 Quan điểm chung của sinh viên về QHTD trước hôn nhân 5
2.1 Khảo sát về mức độ đồng ý của sinh viên đối với đề tài 5
2.2 Khảo sát về độ tuổi phù hợp khi phát sinh QHTD 6
3 Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục an toàn 7
3.1 Quan điểm của sinh viên về việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD 7 3.2 Quan điểm của sinh viên về việc người yêu đã từng QHTD với người khác 8
4 Quan điểm của sinh viên về việc mang thai ngoài ý muốn 9
4.1 Khảo sát quan điểm của sinh viên về việc mang thai ngoài ý muốn 9
4.2 Khảo sát quan điểm của sinh viên về việc “sống thử” 10
5 Tình hình giáo dục giới tính cho sinh viên 11
5.1 Giáo dục giới tính ở trường học 11
5.2 Các nguồn tham khảo giáo dục giới tính ngoài trường học 13
PHẦN KẾT LUẬN 14
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
DANH SÁCH THÀNH VIÊN VÀ ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ ĐÓNG GÓP 16
PHỤ LỤC 1 DANH MỤC CÁC BẢNG 17
PHỤ LỤC 2 DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 17
PHỤ LỤC 3 MẪU PHIẾU KHẢO SÁT VÀ CÂU HỎI PHỎNG VẤN 18
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Trong những năm gần đây, sự phát triển vượt bậc của kinh tế - chính trị - văn hóa, đặc biệt là sự phát triển mạnh mẽ của ngành công nghệ thông tin đã đem lại những thành tựu đáng ghi nhận cho nước ta Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta phải đối mặt với
sự du nhập các quan niêm, các khuynh hướng phát triển khác nhau từ nước ngoài Xã hội càng phát triển thì lối sống càng thay đổi để thích ứng với những khuynh hướng phát triển Chính vì lẽ đó, lối sống của giới trẻ hiện nay đang là chủ đề thu hút rất nhiều
sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu các nhà giáo dục đào tạo và nhiều nhà hoạch định chính sách, đặc biệt là thái độ đối về tình dục, hôn nhân và gia đình của người Á Đông
Theo Hội Kế hoạch hóa gia đình Việt Nam, mỗi năm trung bình có khoảng 300.000 ca nạo phá thai, cao nhất so với các nước Đông Nam Á và thứ 5 thế giới Tình hình nạo phá thai có xu hướng tăng trong những năm gần đây Đáng báo động là ở Việt Nam có đến 20% người nạo phá thai trong độ tuổi vị thành niên Theo thống kê của Vụ Sức khỏe bà mẹ trẻ em, năm 2010, cả nước có 470.000 ca phá thai, trong đó có hơn 9.000 ca là vị thành niên Đến năm 2015, trong tổng số gần 280.000 ca phá thai, có khoảng hơn 5.500 ca phá thai ở tuổi vị thành niên thực hiện ở hệ thống công, chưa kể các cơ sở y tế tư nhân Cũng trong năm 2015, trong tổng số các ca đẻ thì có hơn 42.000
ca là vị thành niên, chiếm hơn 3,5% Kéo theo đó, tình dục được xác định là một trong những nguyên nhân dẫn đến HIV/AIDS và thanh niên là đối tượng có nguy cơ mắc HIV/AIDS cao
Sinh viên là một bộ phận có hàm lượng tri thức cao, song sự tiếp nhận thông tin
và quan điểm cũng như hành vi của họ có thực sự “tiến bộ” hơn tầng lớp thanh niên nói chung? Nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên với các vấn đề quan hệ tình dục (QHTD) trước hôn nhân như thế nào? Hàng loạt các câu hỏi được đặt ra từ thực tiễn cuộc sống đã thôi thúc nhóm chúng em cần có một cái nhìn đầy đủ về nhận thức của sinh viên đối với vấn đề quan hệ tình dục trước hôn nhân
2 Mục đích nghiên cứu đề tài
Có những kỹ năng cơ bản để thực hiện một bài nghiên cứu thống kê
Đưa ra cái nhìn khách quan về quan điểm của sinh viên đối với vấn đề QHTD trước hôn nhân
3 Đối tượng, giới hạn phạm vi và thời gian khảo sát
Đối tượng khảo sát: nhận thức của sinh viên về vấn đề QHTD trước hôn nhân
Giới hạn phạm vi khách thể: sinh viên Việt Nam, đang theo học các trường Đại học – Cao đẳng Trong quá trình khảo sát đã có 296 bạn tham gia, song do có 2 người đã ra trường nên chỉ có 294 đơn vị khảo sát phù hợp
Thời gian khảo sát: quá trình khảo sát được thực hiện từ ngày 15/03/2017 đến
Trang 34 Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào tình hình thực tế, nhóm chúng em đưa ra các giả thiết như sau:
QHTD trước hôn nhân diễn ra tương đối phổ biến trong sinh viên
QHTD trước hôn nhân chịu tác động của đặc điểm cá nhân sinh viên và các yếu
tố bên ngoài như gia đình, bạn bè, các phương tiện truyền thông,…
Dựa vào các giả thiết trên, bài nghiên cứu của bọn em bao gồm các nội dung sau:
Tổng quan tình hình khảo sát
Quan điểm chung của sinh viên về QHTD trước hôn nhân
Nhận thức của sinh viên về QHTD an toàn
Quan điểm của sinh viên về mang thai ngoài ý muốn
Tình hình giáo dục giới tính cho sinh viên
5 Các phương pháp thống kê
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhóm đã sử dụng nhiều phương pháp thống kê
Cụ thể các phương pháp được sử dụng trong từng bước thực hiện đó là:
Trong quá trình thu thập thông tin:
o Phương pháp thu thập trực tiếp: phỏng vấn cá nhân trực tiếp
o Phương pháp thu thập gián tiếp: lập phiếu điều tra (bằng ứng dụng Google Form) và khai thác dữ liệu từ các kết quả nghiên cứu trước đó (danh sách các tài liệu đã tham khảo nằm trong phần “Phụ lục 1”)
Trong quá trình tổng hợp thông tin: phương pháp sắp xếp dữ liệu và phương pháp phân tổ thống kê (hình thức thể hiện: bảng thống kê và đồ thị thống kê)
Trong quá trình phân tích số liệu: sử dụng các tham số thống kê
Trang 4PHẦN NỘI DUNG
1 Tổng quan tình hình khảo sát
Hiện nay, đề tài nghiên cứu về nhận thức, thái độ, hành vi của sinh viên đối với vấn đề sức khỏe sinh sản nói chung và QHTD trước hôn nhân nói riêng là một trong những nội dung thu hút sự quan tâm của các học giả nghiên cứu xã hội học, tâm lý học
Ở Việt Nam, các nghiên cứu về tình dục và các vấn đề liên quan có thể được chia thành
3 khuynh hướng chính:
Nghiên cứu tình dục như một bộ phận của sức khỏe sinh sản
Nghiên cứu tình dục với tư cách là một vấn nạ xã hội, là nguyên nhân mang lại những hậu quả tiêu cực cho xã hội
Coi tình dục là một phần không thể thiếu trong cuộc sống, bản thân hành vi tình dục không phải là tác nhân dẫn đến tiêu cực xã hội, mà các người ta nhìn nhận về tình dục mới dẫn đến những tiêu cực đó
Tuy nhiên, các nghiên cứu về đề tài trước đây thường có phạm vi khách thể rộng (vị thành niên, thanh niên,…) và số liệu cũ (mới nhất là số liệu năm 2013 từ Tiểu luận
Xã hội học gia đình “Nhận thức của sinh viên về vấn đề quan hệ tình dục trước hôn
nhân hiện nay” của tác giả Đoàn Ngọc Vĩ) Vì vậy, chúng em lựa chọn đề tài “Khảo sát nhận thức của sinh viên Việt Nam về quan hệ tình dục trước hôn nhân” nhằm
góp phần bổ sung mặt kết quả, số liệu về nhận thức của tầng lớp sinh viên đối với vấn
đề nghiên cứu
2.Quan điểm chung của sinh viên về QHTD trước hôn nhân
2.1 Khảo sát về mức độ đồng ý của sinh viên đối với đề tài
Từ những dữ liệu thu thập, tổng hợp được, chúng em bước đầu đánh giá mức độ đồng ý của sinh viên đối với việc QHTD trước hôn nhân Cụ thể, chúng em đã đưa ra một thang đo thứ bậc với các giá trị quy ước từ 1 đến 5 tương ứng với mức độ đồng ý với đề tài tăng dần (từ “Hoàn toàn không đồng ý” đến “Hoàn toàn đồng ý”) Kết quả như sau:
Nhóm sinh viên
Số sinh viên (người) Mức độ đồng ý trung bình Số sinh viên (người) Mức độ đồng ý trung bình
-Bảng 1 Mức độ đồng ý trung bình của sinh viên phân theo năm học và giới tính.
Trang 5Như vậy, ta có:
Mức độ đồng ý TB của sinh viênnam= 3.5 ×29+3.7 × 64+3.5 ×18+4.8 ×5+5 ×1
Mức độ đồng ý TB của sinh viênnữ = 2.6 ×28+2.5 ×103+ 3.1× 32+2.6 × 14
28+103+32+14 =2.6
Ta có thể nhận ra sự khác nhau về quan điểm của hai giới đối với đề tài Trong khi sinh viên nam có xu hướng đồng tình với đề tài thì sinh viên nữ vẫn chưa thực sự cảm thấy đây là vấn đề đáng được ủng hộ Đặc biệt đối với nhóm sinh viên năm 2 là nhóm có số lượng sinh viên tham gia khảo sát chiếm tỷ lệ lớn nhất, sự khác biệt này càng thể hiện rõ ràng hơn Nguyên nhân đã từng được đề cập và giải thích trong những nghiên cứu cùng đề tài của các học giả tâm lý học và xã hội học Đối với Việt Nam nói riêng và các nước phương Đông nói chung, chúng ta chịu ảnh hưởng nhiều của các tư tưởng, giáo lý Trung Quốc, đặc biệt là quan điểm “trinh tiết” của người phụ nữ Cho dù hiện nay, giới trẻ đã có nhận thức cởi mở hơn song vẫn không hoàn toàn từ bỏ những
tư tưởng đã từng là “bản lề”, là “cốt lõi” một thời
2.2 Khảo sát về độ tuổi phù hợp khi phát sinh QHTD
Khi được hỏi về độ tuổi được cho là phù hợp khi phát sinh QHTD, chúng em thu được kết quả sau:
Độ tuổi QHTD phù hợp Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
Trang 6Bảng 2 Phân tổ sinh viên theo quan điểm về độ tuổi QHTD phù hợp
23.2
1.0
40.8
35.0
Từ 18 đến 22 tuổi Trên 22 tuổi
Hình 1 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các độ tuổi được cho là phù hợp khi phát sinh QHTD
Trong số 76% sinh viên cho rằng trên 18 tuổi là phù hợp, có nhiều bạn đã giải thích rất cặn kẽ, tỉ mỉ Một số lý do được đưa ra đó là: người 18 tuổi có suy nghĩ và nhận thức chín chắn hơn, cơ thể đã phát triển, quan trọng là đã đủ tuổi để chịu trách nhiệm trước pháp luật 23% các bạn cho rằng tuổi tác không quan trọng đa số xuất phát
từ quan điểm: tình dục là một phần của tình yêu, và tình yêu thì bất kể tuổi tác Còn lại 1% các bạn sinh viên lại cho rằng độ tuổi phù hợp là dưới 18 tuổi Dù không đề cập chính xác độ tuổi cụ thể mà các bạn cho là hợp lý, tuy nhiên đây cũng có thể coi là lời cảnh báo về tình hình giáo dục giới tính bởi các bạn đó rất có thể có xu hướng cổ xúy hành vi giao cấu với trẻ vị thành niên, nhất là trong thực tế có ngày càng nhiều các vụ phạm tội liên quan đến ấu dâm được phanh phui những ngày gần đây
3.Nhận thức của sinh viên về quan hệ tình dục an toàn
3.1 Quan điểm của sinh viên về việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD
Để đánh giá được tiêu thức này, chúng em đưa ra một thang đo thứ bậc với các giá trị và quy ước như sau:
Mức độ đồng ý Giá trị quy ước Số sinh viên (người) Tần suất (%)
Bảng 3 Phân tổ số sinh viên theo mức độ đồng ý về việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD
Trang 710.88%
9.18%
74.15%
Hoàn toàn không đồng ý
Không đồng ý Trung lập Khá đồng ý Hoàn toàn đồng ý
Hình 2 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ các mức độ đồng ý về việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD
Qua bảng và biểu đồ trên, ta nhận thấy trong số 294 sinh viên tham gia khảo sát,
có 218 bạn hoàn toàn đồng ý và 27 bạn khá đồng ý với việc sử dụng các biện pháp tránh thai khi QHTD, chiếm 83.3% tổng số sinh viên Ngược lại, có 10 sinh viên hoàn toàn không đồng ý và 7 sinh viên không đồng ý với việc này, số này chiếm khoảng 5.8%
Trong xã hội hiện nay, tình trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân không còn là điều mới lạ với giới trẻ, nhất là các bạn sinh viên – lực lượng có trình độ học vấn tương đối cao trong xã hội Tuy nhiên, nhiều người còn cho rằng đây là một vấn đề tế nhị và không muốn nhắc tới Chính vì vậy, sự phổ cập giáo dục các kiến thức về tình dục và sinh sản là hoàn toàn cần thiết Từ các số liệu điều tra trên, chúng ta có thể thấy rõ lượng sinh viên đồng ý sử dụng các biện pháp an toàn trong QHTD là khá lớn, chứng
tỏ họ đã có nhận thức khá đúng đắn trong vấn đề bảo vệ sức khỏe sinh sản Mặt khác,
số người giữ ý kiến trung lập hoặc phản đối chiếm khoảng 16.7%, đặt ra vấn đề cần đẩy mạnh nâng cao nhận thức của giới trẻ về tình dục an toàn Có như vậy mới giảm số lượng người không đồng ý với việc sử dụng biện pháp tránh thai xuống tối thiểu, đem lại một lối sống lành mạnh, an toàn cho giới trẻ
3.2 Quan điểm của sinh viên về việc người yêu đã từng QHTD với người khác
Một vấn đề khác chúng em tìm hiểu trong cuộc khảo sát này là quan điểm của sinh viên với giả định người yêu mình đã từng QHTD với người khác
Trang 8Tùy vào hoàn cảnh 164 55.8
Bảng 4 Quan điểm của sinh viên về giả định người yêu đã từng QHTD với người khác
11.20%
33.00%
55.80%
Không thể chấp nhận Không quan tâm Tùy vào hoàn cảnh
Hình 3 Biểu đồ thể hiện quan điểm của sinh viên về giả định người yêu đã từng QHTD với người khác
Khi được hỏi nếu người yêu mình đã từng QHTD với người khác, có 33 sinh viên cho rằng điều này là không thể chấp nhận được và sẽ chia tay, chiếm tỷ lệ 11.2% tổng
số lượng sinh viên tham gia khảo sát 97 người tỏ ra không quan tâm, cho rằng đó là chuyện của quá khứ và quan trọng là hiện tại, số này chiếm 33% tổng đơn vị khảo sát Phần lớn trong số người được hỏi (164 người, chiếm tỷ lệ 55.8%) vẫn còn phân vân, và
sẽ quyết định phụ thuộc vào hoàn cảnh
Với một xã hội hiện đại, cởi mở như hiện nay, chuyện QHTD trước hôn nhân hay trong tình yêu không còn là một vấn đề bị lên án hay chỉ trích nhiều nữa Thậm chí, với những người ủng hộ vấn đề này, nó còn là một điều không thể thiếu Nó giống như gia
vị để làm cho tình yêu giữa hai người trở nên nồng thắm hơn Tuy nhiên, nếu tình yêu không có sự kiểm soát của chính những người trong cuộc và đi quá giới hạn thì sẽ gây
ra nhiều hậu quả đáng tiếc Chúng ta đều nghe thấy những câu chuyện QHTD trước hôn nhân khi cả hai người đều đang cùng ngồi trên ghế nhà trường, chưa tốt nghiệp, công ăn việc làm đều chưa ổn định, dẫn đến nhiều kết cục đau lòng Chính vì vậy, chúng em cho rằng: QHTD trước hôn nhân không phải là một điều xấu, nhưng chúng
ta cần biết cân bằng nó và cuộc sống hiện tại để có thể tránh những điều đáng tiếc xảy
ra
Trang 94.Quan điểm của sinh viên về việc mang thai ngoài ý muốn
4.1 Khảo sát quan điểm của sinh viên về việc mang thai ngoài ý muốn
Để khảo sát vấn đề này, trước hết nhóm chia các đối tượng thành 2 tổ: “Đã hoặc đang có người yêu” và “Chưa có người yêu” Lý do là bởi người đã từng có trải nghiệm sẽ có suy nghĩ khác, và vì việc có người yêu cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng mang thai ngoài ý muốn
Nhóm sinh viên Số sinh viên (người) Tỷ lệ (%)
Bảng 5 Phân tổ số sinh viên theo tiêu thức đã hoặc đang có người yêu hay chưa
52.70%
Chưa có người yêu
Hình 4 Biểu đồ thể hiện tỷ lệ sinh viên đã hoặc đang có người yêu hay chưa
Như vậy, trong 294 sinh viên được khảo sát, số sinh viên đã hoặc đang có người yêu chỉ nhiều hơn số sinh viên chưa có người yêu là 16 người (chiếm 5.4% tổng đơn vị khảo sát) Sự chênh lệch này là không quá lớn, nên khi xem xét đến phương án giải quyết của sinh viên khi mang thai ngoài ý muốn sẽ phần nào so sánh quan điểm giữa 2 tổ
Tiếp theo, chúng em tiến hành khảo sát dựa trên giả định, đó là: khi bản thân hoặc người yêu mang thai ngoài ý muốn để xem xét xu hướng giải quyết của sinh viên
Phương án giải quyết
Nhóm đã hoặc đang có
người yêu Nhóm chưa có người yêu
Số sinh viên (người) Tỷ lệ (%) Số sinh viên(người) Tỷ lệ (%)
Trang 10Bảng 6 Phương án giải quyết việc mang thai ngoài ý muốn của 2 tổ khảo sát
Nhìn vào bảng trên, xu hướng chung ở cả 2 tổ khảo sát đều giống nhau: các bạn sinh viên đều cho rằng giải pháp tối ưu nhất là tiến tới hôn nhân và sinh con, trong khi làm bố mẹ đơn thân là phương án không mong muốn nhất Một phần khá đông các bạn sinh viên chưa từng nghĩ tới vấn đề này nên đưa ra lựa chọn tùy thuộc vào hoàn cảnh Điểm khác nhau giữa 2 tổ đó là số lượng sinh viên đồng ý với hướng giải quyết phá thai Trong khi ở nhóm chưa có người yêu chỉ số bạn đồng ý chỉ chiếm 13.7% số sinh viên trong nhóm thì tỷ lệ này ở nhóm đã hoặc đang có người yêu là 21.3% Điều này có thể giải thích phần nào các số liệu thông kê các số ca nạo phá thai hàng năm của Việt Nam
4.2 Khảo sát quan điểm của sinh viên về việc “sống thử”
Một trong số các nguyên nhân dẫn đến hiện tượng mang thai ngoài ý muốn xuất phát từ việc “sống thử”, một hình thức chung sống như vợ chồng của các cặp đôi mà không đăng ký kết hôn Sau một thời gian “sống thử”, nếu thấy phù hợp, hai bên có thể tiến tới hôn nhân chính thức và đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật Nếu không, họ sẽ chia tay và dù có chịu thiệt thòi cũng không được pháp luật bảo vệ