Tuy nhiên, nợ quá nhiều sẽ làm suy yếukhả năng của chính рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhủ trong việc cung cấрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài 6
1.2 Cơ sở phân tích 8
1.2.1 Khái niệm về nợ công 8
1.2.2 Phân loại nợ công 10
1.2.3 Chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công và ngưỡng an toàn của nợ công 11 1.2.4 Tác động của nợ công đến nền kinh tế 11
1.3 Phương pháp nghiên cứu 19
1.3.1 Рhương рháр nghiên cứu lý thuyếthương рháр nghiên cứu lý thuyếtháрháр nghiên cứu lý thuyết nghiên cứu lý thuyết 19
1.3.2 Рhương рháр nghiên cứu lý thuyếthương рháр nghiên cứu lý thuyếtháрháр nghiên cứu lý thuyết thu thậр dữ liệuрháр nghiên cứu lý thuyết dữ liệu 19
CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRONG QUÁ KHỨ VÀ THẢO LUẬN 21
2.1 Cuộc khủng hoảng ở Mỹ Latinh những năm 1980 21
2.2 Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á những năm 1990 28
2.2.1 Nguyên nhân khủng hoảng 28
2.2.2 Tình hình kinh tế 34
2.2.3 Phản ứng chính sách 39
2.3 Cuộc khủng hoảng nợ công Hy Lạp: 40
2.3.1 Nguyên nhân khủng hoảng 40
2.3.2 Diễn biến và biện pháp cho cuộc khủng hoảng tài chính công ở châu Âu 46
2.3.3 Tác động và hậр dữ liệuu quả của cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp 48 2.4 Thảo luậр dữ liệun 51
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM VÀ KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP 54
3.1 Tình hình nợ công tại Việt Nam 54
Trang 23.1.1 Về quy mô nợ công 54
3.1.2 Cơ cấu nợ công 55
3.1.3 Tình hình sử dụng nợ công 57
3.2 Nguyên nhân nợ công Việt Nam gia tăng thời gian qua 57
3.3 Kiến nghị giải pháp 61
3.3.1 Nâng cao hiệu quả kinh tế 61
3.3.2 Phát triển thị trường nợ trong nước 63
3.3.3 Minh bạch trong việc công bố các khoản vay 64
3.3.4 Một số biện pháp khác 67
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 72
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Vấn đề nợ công đã được nhiều nhà kinh tế nghiên cứu, đánh giá đặc biệt
từ sau cuộc khủng hoảng nợ công tại Hy Lạp năm 2009 Mỗi bài nghiên cứu lại
đề cập đến vấn đề này ở những khía cạnh khác nhau Có thể kể đến một sốcông trình nghiên cứu tiêu biểu như: "Cuốn sách chính sách công và phát triểnbền vững" - do các tác giả của Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội làmchủ biên, NXB Chính trị Quốc gia - Sự thật, 2012 Cuốn sách đã đề cập đếnvấn đề nợ công trong mối quan hệ với đầu tư công và phát triển bền vững củaquốc gia, xem xét vấn đề ở từng khía cạnh như: mối quan hệ giữa nợ công vàchính sách tài khóa, phương pháp tính nợ công nhằm đưa ra những gợi ý vềcách tiếp cận vấn đề nợ công Việt Nam Cuốn sách "Khủng hoảng nợ công trênthế giới và hàm ý đối với Việt Nam" do PGS.TS Chu Đức Dũng và TS.Nguyễn Mạnh Hùng (Đồng chủ biên), đã cung cấp bức tranh chung về nguy cơkhủng hoảng nợ công trên thế giới hiện nay và tình trạng nợ công của các nềnkinh tế lớn Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc, Từ đó rút ra một số hàm ý cho vấn
đề nợ công của Việt Nam Cuốn sách trình bày 9 vấn đề: nợ công trong một thếgiới rủi ro và khủng hoảng, khủng hoảng nợ ở Argentina năm 2001, khủnghoảng nợ công ở một số nước Châu Âu, thực trạng đối sách và bài học kinhnghiệm nhằm cố gắng cho thấy tính chất đa chiều, phức tạp của vấn đề nợcông trên thế giới, đồng thời các tác giả cũng rút ra những bài học thực tiễn màViệt Nam có thể xem xét áp dụng trong quản lí và xử lý nợ công như: côngkhai, minh bạch thông tin nợ, gia tăng vai trò của nhà nước trong quản lý nợcông
Ngoài ra còn rất nhiều bài viết đăng trên các tạp chí như: "Nợ công HyLạp, nguyên nhan và thực trạng" của Phạm Thị Thanh Bình và Lê Minh Tâm;
"Luận bàn về vấn đề nợ công ở Việt Nam" của Nguyễn Quốc Nghi
Nhìn chung trong các công trình nghiên cứu nói trên đều tiếp cận vấn đề
nợ công ở các góc độ khác nhau Tất cả các công trình nghiên cứu này là nguồn
Trang 4tư liệu quan trọng giúp tác giả luận văn từng bước tìm hiểu và đi sâu vào vấn
đề nợ công thế giới và nợ công Việt Nam trong giai đoạn vừa qua và trongtương lai
Bất chấp là nền kinh tế lớn hay nhỏ, nếu không kiểm soát được nợ côngthì đó sẽ trở thành nguyên nhân khiến cho nền kinh tế chậm phát triển và cónguy cơ sụp đổ trong tương lai Những ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng nợcông tới nền kinh tế thế giới trong thời gian qua cho thấy, không có một quốcgia nào là ngoại lệ cho việc đương đầu với nguy cơ này Sau khi gia nhậpWTO, kinh tế Việt Nam đã đi sâu vào hội nhập, thể hiện qua tỉ lệ xuất nhậpkhẩu và dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam với tỉ lệ chiếm khá cao Vìvậy, những bài học được rút ra từ nền kinh tế đã và đang diễn ra khủng hoảng
nợ công là kinh nghiệm quý giá cho Việt Nam trong quá trình phát triển Đócũng chính là lí do nhóm chúng em quyết định lựa chọn “Nghiên cứu một sốcuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học cho Việt Nam” làm đề tàikhai thác và tìm hiểu trong bài tiểu luận này
Nhóm nghiên cứu tin rằng, thông qua bài tiểu luận, chúng em sẽ có tiền
đề tốt để vận dụng những nội dung đã học vào thực tiễn Cuối cùng, nhómchúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của TS Nguyễn Thị Lan,Giảng viên bộ môn Tài chính công, đã giúp chúng em có kiến thức và kĩ năng
để hoàn thành bài tiểu luận Kính mong cô nhận xét và góp ý để nội dung bàiviết của chúng em được hoàn thiện hơn
Trang 5CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan nghiên cứu trong nước và ở nước ngoài
Ở mức vừa рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhúc lợi хããhội và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, nợ quá nhiều sẽ làm suy yếukhả năng của chính рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhủ trong việc cung cấрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã các dịch vụ thiết yếu cho ngườidân của mình (Cecchetti và cộng sự, 2011), đồng thời dẫn đến khủng hoảng nợcông - một điều mà các quốc gia đều không hề mong muốn
Vấn đề nợ công và khủng hoảng nợ công đã được nhiều nhà khoa học ởtrong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Đặc biệt, những cuộc khủng hoảng
nợ công trong quá khứ luôn là những bài học rất đắt giá không chỉ đối với cácquốc gia chịu ảnh hưởng mà còn đối với các quốc gia nằm trong vùng nguyhiểm Việc nhìn lại quá khứ và diễn giải các dấu hiệu cũng như nguyên nhângây các cuộc khủng hoảng nợ công lớn là điều cực kì cần thiết không chỉ tronghiện tại mà còn trong tương lai khi nền kinh tế có xu hướng biến động cực kìkhó lường Khá nhiều nghiên cứu хãoay quanh vấn đề về dấu hiệu nhận diệnkhủng hoảng nợ công các nguyên nhân gây ra khủng hoảng nợ công trên thế đãđược ra đời Dưới đây là những рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhân tích khái quát về một số kết quả nghiêncứu nổi bật đã được công bố Cụ thể:
Theo quan điểm của Reihart và Rogoff (2010) dựa trên số liệu thu thậpđược từ 44 nền kinh tế phát triển trong khoảng hai thế kỉ, Reihart và Rogoff đãđưa ra thuật ngữ ngưỡng nợ nguy hiểm Ngưỡng nợ nguy hiểm được hiểu làkhi quốc gia có khối lượng nợ tính trên phần trăm GDP vượt quá ngưỡng nàythì nền kinh tế quốc gia gặp phải vấn đề trong việc thanh toán các khoản nợ,đứng trước nguy cơ khủng hoảng nợ công, đồng thời gặp nhiều rủi ro bất ổn vĩ
mô Ngưỡng nợ nguy hiểm được hai nhà khoa học tính toán và chỉ ra là khitổng số nợ công trên GDP bằng 90% Các nhà khoa học cũng chỉ ra là đối với
Trang 6các nền kinh tế đang phát triển, nếu trong tổng số nợ công, nợ nước ngoài vượt60% GDP thì nền kinh tế quốc gia đó cũng rơi vào ngưỡng nợ nguy hiểm.Theo quan điểm của Caner, Grennes và Koehler - Geib (2011), vẫn sửdụng thuật ngữ ngưỡng nợ nguy hiểm, nhưng theo nghiên cứu đối với 101 quốcgia (75 quốc gia đang phát triển và 26 quốc gia phát triển) trong giai đoạn1980-2008, ngưỡng nợ nguy hiểm trung bình cho tất cả các quốc gia đã lấy sốliệu là 77% GDP Riêng các quốc gia đang phát triển thì con số này là 64%GDP Như vậy, theo cách tính của Caner, Grennes và Koehler - Geib, mặc dùngưỡng nợ nguy hiểm trung bình của các quốc gia nói chung khá chênh lệch sovới các tính của Reihart và Rogoff, nhưng ngưỡng nợ nguy hiểm trung bìnhcủa các nước đang phát triển thì khá tương đồng.
Theo quan điểm của Kumar và Woo (2010), nghiên cứu 38 nền kinh tếphát triển và đang phát triển trong thời gian 4 thập kỉ đã chỉ ra mối quan hệgiữa nợ công và tăng trưởng nếu như nợ công vượt quá 90% GDP Tác độngcủa nợ công đối với nền kinh tế đang phát triển lớn hơn đối với các nền kinh tếphát triển Nếu nợ công tăng thêm 10%, tăng trưởng kinh tế sẽ suy giảm từ0,15 - 0,2% tại các nền kinh tế phát triển, từ 0,3 - 0,4% tại các nền kinh tế đangphát triển Ngoài ra mức nợ cao cũng sẽ tạo nên nhiều rủi ro hơn và gây rakhủng hoảng nợ công
Theo nghiên cứu của Presbitero (2010) dựa trên số liệu thống kê tổng nợcông tại 92 quốc gia có thu nhập thấp và trung bình trong khoảng thời gian từ1990-2007, đã tìm ra nếu nợ công vào mức khoảng 90% GDP thì nền kinh tế sẽgặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tăng trưởng và đứng trước nguy cơkhủng hoảng nợ công
Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của cơ quan nghiên cứu kinh tếquốc gia Mỹ (NBER) khảo sát 44 quốc gia, khi tỉ lệ nợ/ GDP vượt ngưỡng
Trang 790% thì sẽ tác động xấu đến tăng trưởng kinh tế, gây ra khủng hoảng nợ công
và sẽ làm giảm 4% tăng trưởng kinh tế của quốc gia đó
1.2 Cơ sở phân tích
1.2.1 Khái niệm về nợ công
Hiện nay, có thể thấy, trên thế giới xuất hiện rất nhiều định nghĩa khác nhau
về nợ công, tùy thuộc vào mục đích và phạm vi sử dụng của mỗi tổ chức, mỗi quốcgia
Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới (WB), nợ công là toàn bộ những
khoản nợ của Chính phủ và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh Trong đó:
- Nợ của Chính phủ: bao gồm nợ trong nước, nợ nước ngoài của Chính phủ
và các đại lý của Chính phủ; các tỉnh, thành phố hoặc các tổ chức chính trị trựcthuộc Chính phủ và các đại lý của các tổ chức này, các doanh nghiệp Nhà nước
- Nợ của Chính phủ bảo lãnh: gồm những khoản nợ trong nước và nợ nướcngoài của khu vực tư nhân do Chính phủ đứng ra bảo lãnh
Theo quan điểm của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF), nợ công được hiểu là nợ của
khu vực tàichính công và nợ của khu vực phi tài chính công Trong đó:
- Khu vực tài chính công gồm: Các tổ chức tiền tệ (Ngân hàng trung ương,các tổ chức tín dụng Nhà nước) và các tổ chức phi tiền tệ (các tổ chức tín dụngkhông cho vay mà chỉ có chức năng hỗ trợ phát triển)
Theo như các định nghĩa trên có thể thấy Nợ công theo quan điểm củacác tổ chức quốc tế (WTO, IMF và Diễn đàn thương mại phát triển Liên hợpquốc) mang tính bao quát và rộng hơn so với luật định của Việt Nam vì có tínhđến cả nợ của Ngân hàng Trung ương và các tổ chức độc lập có vốn Nhà nướctrên 50%
Theo luật quản lí nợ công của Việt Nam được ban hành năm 2009, nợ
công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chínhquyền địa phương Nợ chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong
Trang 8nước, nước ngoài được kí kết, phát hành nhân danh nhà nước, nhân danh chínhphủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính kí kết, phát hành, ủy quyền pháthành theo quy định của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ
do ngân hàng nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệtrong từng thời kì Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của các doanhnghiệp, tổ chức kinh tế trong và ngoài nước mà chính phủ đứng ra bảo lãnh Nợchính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương phát hành Như vậy, các khoản vay như vay vốn hỗ trợphát triển chính thức (ODA), phát hành trái phiếu chính phủ trong và ngoàinước, trái phiếu công trình đô thị, hay một tập đoàn kinh tế vay nợ nước ngoàiđược chính phủ bảo lãnh đều được xem là nợ công
Nợ chính phủ thường được vay để tài trợ cho thâm hụt ngân sách, nênnói cách khác, nợ chính phủ là thâm hụt ngân sách lũy kế đến một thời điểmnào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ chính phủ, người ta thường đo xemkhoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP)
Nợ chính phủ thường chiếm tỉ trọng lớn trong nợ công của một quốc gia và gây
ra những tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế Nợ của chính quyền địa phươngthường không chiếm tỉ trọng lớn trong nợ công, vì ngân sách địa phương chủyếu từ trung ương hỗ trợ, chi trả, và pháp luật luôn quy định chặt chẽ tỉ lệ nợchính quyền địa phương được vay so với ngân sách được cấp, hay chỉ được vay
từ nguồn nào và để dùng vào khoản gì
Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu củachính phủ lớn hơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (tronghoặc ngoài nước) để trang trải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phảihoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhà nước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp
Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọn thời gian đánh thuế: hôm nayhay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất là cách đánh thuếdần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho các hoạt động
Trang 9chi ngân sách Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế
hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế) Nhìn nhận từkhía cạnh này có hai quan điểm cơ bản về nợ công
Một cách khái quát nhất, có thể hiểu “nợ công (nợ Chính phủ hoặc
nợ quốc gia) là tổng giá trị các khoản tiền mà Chính phủ thuộc mọi cấp từ trung ương đến địa phương đi vay nhằm bù đắp cho các khoản thâm hụt ngân sách” Vì thế, nợ Chính phủ, nói cách khác, là thâm hụt ngân sách lũy kế
tính đến một thời điểm nào đó Để dễ hình dung quy mô của nợ Chính phủ,người ta thường đo xem khoản nợ này bằng bao nhiêu phần trăm so với tổngsản phẩm quốc nội (GDP)
1.2.2 Phân loại nợ công
Theo nguồn hình thành:
- Nợ trong nước
- Nợ nước ngoài: tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ đượcChính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theophương thức tự vay, tự trả theo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo phương thức huy động của Chính phủ:
- Các khoản nợ huy động bằng phát hành trái phiếu: loại trái phiếu do
Bộ Tài chính phát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huyđộng vốn cho công trình, dự án đầu tư cụ thể
- Nợ do Chính phủ bảo lãnh: khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tàichính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
- Nợ ODA: là khoản vay nhân danh Nhà nước, Chính phủ Việt Nam từnhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, tổ chức tài trợ song phương, tổ chức liênquốc gia hoặc tổ chức liên chính phủ có yếu tố không hoàn lại (thành tố ưu đãi)đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có ràng buộc, 25% đối với khoản vay khôngràng buộc
Trang 10Theo tính chất ưu đãi của khoản nợ:
- Các khoản nợ thương mại: khoản vay theo điều kiện thị trường
- Các khoản nợ ưu đãi: khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vaythương mại nhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA
1.2.3 Chỉ tiêu xác định tình trạng nợ công và ngưỡng an toàn của nợ công
Các chỉ tiêu giám sát về nợ công, nợ nước ngoài của quốc gia bao gồm: Nợcông so với GDP (chủ yếu), nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP, nghĩa vụtrả nợ nước ngoài của quốc gia so với tổng kim ngạch xuất khẩu
Ngưỡng an toàn của nợ công:
- Theo công trình nghiên cứu năm 2010 của Cơ quan nghiên cứu kinh tếquốc gia Mỹ (NBER): Khi tỷ lệ nợ/GDP vượt ngưỡng 90% thì nó tác động xấuđến tang trưởng kinh tế và làm giảm đi 4% trong tăng trưởng kinh tế của quốcgia đó
- Theo quy định của Khối sử dụng đồng tiền chung Châu Âu, tỷ lệ nợ côngtối đa với một nước thành viên là 60% GDP, thâm hụt ngân sách hàng nămkhông được vượt quá 3% GDP
- Tuy nhiên để xét một cách toàn diện thì cần đặt trong mối quan hệ với hệthống các chỉ tiêu kinh tế vĩ môn của nền kinh tế quốc dân, nhất là: tốc độ vàchất lượng tăng trưởng kinh tế, hiệu quả sử dụng vốn… cũng như các tiêu chínhư : cơ cấu nợ công, tỷ trọng các loại nợ, cơ cấu lãi suất, thời gian trả nợ, cũng cần được phân tích kỹ lưỡng khi đánh giá tính bền vững của nợ công
1.2.4 Tác động của nợ công đến nền kinh tế
Bàn về sự tác động của nợ công đến nền kinh tế, vẫn tồn tại nhiều quanđiểm khác nhau, trong đó có hai quan điểm chủ đạo:
Trang 11Quan điểm truyền thống, đại diện là Keynes cho rằng: Khi chính phủ vay nợ để bù đắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu công không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân Cụ thể là làm mức tiêu dùng tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về
hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng, việc làm trong ngắn hạn Tuy nhiên, vềdài hạn lại làm cho tiết kiệm quốc gia (national saving) giảm và kèm theo đó lànhững hệ lụy khác
Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772-1832)
lại cho rằng mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác động đến tiêu dùng như quan điểm về nợ truyền thống, kế cả trong ngắn hạn Ngược lại, nó sẽ làm các khoản tiết kiệm tư nhân tăng lên bởi người dân đang chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ đến trong tương lai để chi trả lãi và gốc cho các khoản nợ hiện tại Trong thực tế, hai quan điểm luôn tồn tại song hành.
Vì vậy, để đưa ra nhận định quan điểm nào phù hợp với từng thời điểm củaquốc gia còn phải phụ thuộc vào nhân tố quan trọng, đó là hành vi của ngườitiêu dùng
Xét về mặt tích cực, Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như
là một công cụ để tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trìnhtrọng điểm quốc gia, khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởngkinh tế Giải pháp tăng nợ công để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế
có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng tổng sảnphẩm quốc dân trong ngắn hạn
Tuy nhiên, thực tế cho thấy, trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớncũng là nguyên nhân khiến cho lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm vàkhuyến khích luồng vốn từ nước ngoài chảy vào, từ đó làm cho sự tăng trưởngsản lượng tiềm năng quốc gia chậm lại Nợ công tăng cao, vượt quá giới hạn antoàn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu nhiều sức ép từ bên
Trang 12trong lẫn bên ngoài quốc gia Cụ thể những tác động này của nợ công đến nếnkinh tế như sau:
1.2.4.1 Nợ công lớn làm giảm tích lũy vốn tư nhân, dẫn đến thoái lui đầu tư tư
nhân
Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tíchlũy vốn tư nhân sẽ được thay thế bởi tích lũy nợ chính phủ Thay vì sở hữu cổphiếu, trái phiếu doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sởhữu trái phiếu chính phủ làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng củachính phủ lại tăng lên, từ đó đẩy lãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫnđến hiện tượng “thoái lui đầu tư” khu vực tư nhân (crowding-out effect) Đểlàm rõ vấn đề này, chúng ta xét mối quan hệ cung- cầu trên thị trường tín dụng
Hình 1 Tác động của nợ công đến lãi suất
Tại Biểu đồ 1: Trạng thái cân bằng đầu tiên tại điểm E, tại đó lãi suất lài1 và tổng khối lượng quỹ cho vay là L1 Khi Chính phủ tăng vay nợ, cầu tíndụng của Chính phủ (DG) tăng lên một lượng bằng ∆DG sẽ làm đường cầu tíndụng của nền kinh tế dịch chuyển từ D1 đến D1 + ∆DG Kết quả là điểm cânbằng mới của thị trường tại E’ Lãi suất thị trường tăng đến i2 và lượng tiềncung ứng tăng lên L2 Lãi suất trên thị trường tăng sẽ làm giảm nhu cầu vốn
Trang 13vay của các doanh nghiệp cho đầu tư Nó cũng làm giảm nhu cầu vay của các
hộ gia đình để đầu tư hoặc mua sắm các loại hàng hóa như ô tô, nhà cửa
Để đối phó với vấn đề thâm hụt ngân sách và nhu cầu chi trả cho cáckhoản nợ công ngày càng tăng cao, lãi suất trái phiếu chính phủ của các quốcgia Hy Lạp (7,8%), Italy (6,18%), Tây Ban Nha (6,45%) liên tục tăng cao vàđạt đến mức kỷ lục kể từ khi tham gia vào khu vực đồng tiền chung Euro vàothời điểm tháng 8/2011 Các quốc gia này phải cầu cứu các khoản cứu trợ quốc
tế bởi nguy cơ vỡ nợ công trước cơn sốt của thị trường tài chính Các đợt tráiphiếu được phát hành liên tục với lãi suất ngày càng tăng cao đã làm các nhàđầu tư lo ngại về khả năng thanh toán khi đáo hạn, nhiều nhà đầu tư đã ồ ạt bán
rẻ trái phiếu của các quốc gia này khi nguy cơ khó khăn về nợ công ngày càngtrở nên trầm trọng hơn
Bên cạnh đó, để cứu trợ cho khủng hoảng nợ công của Hy Lạp, khu vực
tư nhân đã đóng góp 50 tỉ euro trong tổng gói cứu trợ thứ hai trị giá 109 tỉ euro(155 tỉ USD) của IMF nhằm tái cấu trúc các khoản nợ, ngăn chặn sự lây lansang các nền kinh tế Châu Âu khác, củng cố lại giá trị của đồng Euro
Hình 2 Lãi suất trái phiếu Chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm
Trang 14(Nguồn: Bloomberg.com)
1.2.4.2 Nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia
Thu nhập quốc gia (Y) được xác định tương đương với tổng sản lượngquốc dân (GDP) theo công thức:
Y = C + S + T = C + I + G + NX = GDP (1)
Trong đó:
Y: thu nhập quốc gia;
C: Tiêu dùng tư nhân;
S: tiết kiệm tư nhân;
T: thuế trừ đi các khoản thanh toán;
I: đầu tư nội địa,
G: Chi tiêu của chính phủ,
sự tác động của nó đến tiết kiệm quốc gia:
(1) Tiết kiệm tư nhân tăng (S): Trong thực tế, một số nhà kinh tế học lậpluận rằng, tiết kiệm tư nhân sẽ tăng chính xác bằng lượng giảm của tiết kiệmcủa chính phủ Tuy nhiên trong trường hợp này, chúng ta tạm thời giả định tiết
Trang 15kiệm tư nhân tăng ít hơn phần tiết kiệm của chính phủ giảm, chính vì vậy màtiết kiệm quốc gia giảm
(2) Đầu tư nội địa giảm (I): đầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổngvốn nội địa giảm Lượng vốn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm trênmỗi đồng vốn sẽ cao hơn, năng suất lao động sụt giảm, từ đó làm giảm mứclương và thu nhập trung bình dẫn đến giảm tiết kiệm quốc gia
(3) Xuất khẩu ròng giảm (NX): Khi chính phủ tăng vay nợ, lãi suấttrong nước tăng tương đối so với lãi suất nước ngoài, dẫn tới luồng tiền từ nướcngoài đổ vào trong nước tăng khiến cho tỷ giá hối đoái tăng, làm cho giá củahàng hóa sản xuất trong nước đắt hơn hàng hóa nước ngoài, trở nên kém cạnhtranh hơn trên thị trường quốc tế, từ đó giảm xuất khẩu ròng Xuất khẩu rònggiảm, đầu tư nước ngoài giảm có nghĩa rằng người dân nội địa sẽ sở hữu ít vốnnước ngoài hơn Trong trường hợp này, thu nhập người dân nội địa sẽ giảm,tiết kiệm quốc gia giảm Giảm xuất khẩu ròng cũng là một trong những nhân tốdẫn đến thâm hụt cán cân thương mại
Đặc biệt, khi thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân thương mại cùngxảy ra sẽ dẫn đến hiện tượng “thâm hụt kép” gây tác động tiêu cực đến sự pháttriển nền kinh tế Nhìn vào Nhật Bản, khi tăng chi ngân sách để tái thiết đấtnước, chính phủ đã làm trầm trọng thêm gánh nặng nợ công vốn đã rất cao(95.000 tỷ Yên, tương đương 200% GDP năm 2010) Mặc dù là quốc gia cótruyền thống tiết kiệm nội địa cao, nhưng tỷ lệ này đang có xu hướng ngàycàng giảm: từ mức 10% xuống 2% tổng thu nhập quốc dân giai đoạn 1990 -
2009 Khi đối mặt với vấn đề thiếu vốn, Nhật Bản có thể từ một nước xuấtkhẩu trở thành nước nhập khẩu vốn Dòng vốn nước ngoài đổ vào Nhật tăngkhiến cho tỷ giá giữa đồng Yên và các đồng tiền khác tăng cao, gây bất lợi chocác doanh nghiệp xuất khẩu 40% doanh nghiệp Nhật Bản sẵn sàng di dời cơ sởsản xuất để tránh tác động của tỉ giá, làm cho mạng lưới công nghiệp và sảnxuất quốc gia bị tổn hại và đe dọa trực tiếp đến việc làm, thu nhập của người
Trang 16dân Thâm hụt ngân sách của Nhật Bản ở mức cao (chiếm khoảng 7% GDP),
nợ công ngày càng tăng cùng tỷ lệ tiết kiệm dân cư có xu hướng giảm sẽ sớmdẫn đến nguy cơ làm cho tiết kiệm quốc dân của Nhật Bản giảm, thậm chí cóthể rơi vào trạng thái âm, cản trở tốc độ tăng trưởng kinh tế
1.2.4.3 Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát
Lạm phát được tạo ra do hai nguyên nhân chính: Do tổng cầu tăng lênhoặc do chi phí đẩy Chính phủ tăng vay nợ bằng phát hành trái phiếu, một mặtlàm tiêu dùng của chính phủ tăng lên, một mặt sẽ tạo áp lực đẩy lãi suất lêncao
Khi tăng vay nợ trong nước, lãi suất tăng làm tăng chi phí đầu tư, tănggiá thành và giá bán sản phẩm Lãi suất tăng làm tiêu dùng tư nhân tăng, chitiêu công của chính phủ tăng dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp lựclạm phát trong ngắn hạn, từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thựccủa nền kinh tế Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn
sẽ chảy vào trong nước có thể giảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn Vềmặt dài hạn, áp lực trả nợ cả gốc và lãi bằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tănglên, đồng nội tệ giảm giá làm tăng chi phí đầu vào khi nhập khẩu nguyên liệu,máy móc, thiết bị dẫn tới nguy cơ lạm phát Tỷ giá tăng làm chi phí thanhtoán nợ trở nên đắt đỏ hơn, nếu vượt quá sức chịu đựng của ngân sách sẽ dẫnđến nguy cơ vỡ nợ
Trang 17Hình 3 Tổng nợ công của Việt Nam tính đến thời điểm tháng 1/2017
(The global debt clock – conomist.com)
1.2.4.4 Nợ công làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúc lợi xã
hội
Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ trong nước hay vay nướcngoài thì đều có tác động làm méo mó các hoạt động kinh tế, gây tổn thất phúclợi xã hội Nếu vay nước ngoài, nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từcác khoản thu thuế Người dân phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tươnglai để trả lãi cho các đối tượng ngoài quốc gia, làm giảm thu nhập, giảm tiêudùng từ đó giảm chất lượng cuộc sống
Vay trong nước có thể được coi là ít tác động hơn bởi lý do chính phủ
nợ chính công dân nước mình và cũng chính họ là người được hưởng thụ cáclợi ích do các khoản chi tiêu công tạo ra Tuy nhiên, ngay cả khi một người bịđánh thuế để trả lãi cho chính họ do đang sở hữu trái phiếu chính phủ thì vẫn
Trang 18có những tác động khiến cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo.
Dù cho Chính phủ dùng loại thuế nào (thuế thu nhập, thuế tiêu dùng, thuế tàisản…), đánh thuế dưới hình thức nào (trực tiếp, gián tiếp) cũng sẽ dẫn đếnnhững sai lệch trong các hoạt động kinh tế của một cá nhân như thay đổi hành
vi tiết kiệm, tiêu dùng, từ đó ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế vi mô, vĩ môkhác như: sản xuất, việc làm Bên cạnh đó, việc tăng thuế để trả lãi vô hìnhchung đã tạo ra sự phân phối lại thu nhập giữa những người nộp thuế và người
sở hữu trái phiếu chính phủ, theo đó người nộp thuế chắc chắn phải gánh chịu
sự suy giảm về thu nhập, tiêu dùng hoặc tiết kiệm
1.2.4.5 Những tác động khác
Bên cạnh những tác động về mặt kinh tế, một quốc gia với khoản nợcông lớn có thể phải đối mặt với những hệ quả khác do nó gây ra như: Làmthay đổi quy trình quản lý Nhà nước do phải thay đổi chính sách tài chính quốcgia để trang trải các khoản nợ; làm tổn hại đến hệ số tín nhiệm quốc gia; nguy
cơ suy giảm chủ quyền, giảm sự độc lập về chính trị hoặc khả năng lãnh đạoquốc gia Các quốc gia phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các tổ chức tàichính quốc tế về việc phải thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội, và
xa hơn nữa là những yêu cầu về cải cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thayđổi các định hướng kinh tế Ngoài ra, việc lệ thuộc quá nhiều vào các khoảnvay nợ nước ngoài cũng sẽ làm giảm vị thế của quốc gia trong các mối quan hệsong phương, đa phương với các đối tác là các nước chủ nợ
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Рhương рháр nghiên cứu lý thuyếthương рháр nghiên cứu lý thuyếtháрháр nghiên cứu lý thuyết nghiên cứu lý thuyết
Đề tài tổng hợрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã, рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhân tích, khái quát hóa lí luận và những nghiên cứu liên quan để хãác định khung lý thuyết cho đề tài
1.3.2 Рhương рháр nghiên cứu lý thuyếthương рháр nghiên cứu lý thuyếtháрháр nghiên cứu lý thuyết thu thậр dữ liệuрháр nghiên cứu lý thuyết dữ liệu
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thậрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã dữ liệu từ các nguồn chính thống và có tính хãác thực cao Cụ thể là:
Trang 19- Với các số liệu liên quan tới thâm hụt ngân sách và nợ công tại Việt Nam, đề tài chủ yếu sử dụng các số liệu trên trang web của Bộ Tài chính, các Bản tin nợ công 1 – 5, Báo cáo tình hình thực hiện NSNN và Bản tin Nợ nước ngoài 1– 7 Ngoài ra, đối với các số liệu khác, nhóm nghiên cứu tổng hợрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã từ các nguồn như Niên giám thống kê hàng năm, Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HN”), Ngân hàng рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhát triển châu Á (ADB), và một số nguồn chính thốngkhác.
- Nghiên cứu sử dụng số liệu thứ cấрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã theo năm từ năm 2017 trở về trước: tốc độ tăng trưởng GDР, nợ nước ngoài, tiết kiệm, cán cân tài khoản vãng lai, sự hình thành tổng vốn cố định, lãi suất thực, lạm рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhát và độ mở thương thu thậрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã từ IMF và WB Với đối tượng nghiên cứu là nhóm các nước mới nổi và đang рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhát triển trên toàn thế giới, đặc biệt là bốn nước được tậрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã trung nghiên cứu, số liệu chủ yếu được tổng hợрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã từ WB
Рhương рháр рhân tích số liệuhương рháр рhân tích số liệuháрháр рhân tích số liệu рháр рhân tích số liệuhân tích số liệu
Đề tài sử dụng cả рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãhương рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãháрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã định tính, bao gồm:
- Рhương рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãháрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã đối chiếu, so sánh: Từ bộ số liệu thu thậрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã được, đề tài tiến hành so sánh thực trạng, хãu hướng biến động và tính bền vững của nợ cônggiữa Việt Nam với các quốc gia được lựa chọn để đánh giá cụ thể
- Рhương рhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хãháрhải, nợ công sẽ có tác động tích cực làm cải thiện рhúc lợi хã tổng kết kinh nghiệm: Đề tài tổng kết kinh nghiệm хãử lý
nợ công
tại bốn quốc gia có nhiều nét tương đồng với Việt Nam
Trang 20CHƯƠNG 2: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRONG QUÁ KHỨ VÀ THẢO LUẬN 2.1 Cuộc khủng hoảng ở Mỹ Latinh những năm 1980
Cuộc khủng hoảng nợ công ở các nước Mỹ Latinh diễn ra trong nhữngnăm 1980 nhưng có nguồn gốc manh nha từ những năm 1970 Đây được coi làthảm họa lớn nhất trong lịch sử khu vực này, và cũng là cuộc khủng hoảng nợcông đầu tiên trong lịch sử kinh tế thế gới hiện đại Trong giai đoạn đó, cácquốc gia lớn như Brazil, Argentina và Mexico phát triển khá mạnh, sử dụngnguồn vốn chủ yếu do vay nợ nước ngoài quy mô lớn Nguồn vốn đó được sửdụng để nâng cấp, phát triển công nghiệp trong nước và cải thiện cơ sở hạ tầng
Mô hình công nghiệp hóa trên ở khu vực Mỹ Latinh bắt đầu nhận đượcnhiều lời phê bình từ các nhà kinh tế cũng như các chính trị gia trong nhữngthập niên 60 của thế kỉ trước (Hirschman,1971; Fishlow, 1988, Love, 1994).Các nhà kinh tế cho rằng mô hình này, với sự can thiệp quá nhiều của nhànước, thiếu những tự do thông thường của thị trường, thể hiện sự không hiệuquả thông qua việc tăng thuế và sử dụng những hàng rào mậu dịch hạn chếnhập khẩu Trong khi đó, giới chính trị gia lại phê bình sự yếu kém của nềnkinh tế trong việc thoát khỏi sự phụ thuộc vào thế giới bên ngoài, và quan trọnghơn, họ cho rằng sự mất cân bằng trong xã hội vẫn là hệ quả được kế thừatrong quá khứ ở khu vực này Hirschman (1971), mặc dù không chia sẻ quanđiểm với giới chính trị gia, nhưng ông cũng thể hiện được suy nghĩ của mình
về mô hình này ở khu vực Mỹ Latinh, đó là: “Công nghiệp hóa được kỳ vọng
sẽ thay đổi trật tự xã hội, tuy nhiên tất cả những gì nó làm được chỉ là phát triểnsản xuất”
Theo thời gian, sự yếu kém của mô hình này dần dần ảnh hưởng đến tất
cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Sự mâu thuẫn xuất hiện đầu tiên ởnhóm các quốc gia trong khối Southern Cone (Argentina, Chile, Paraguay,Uruguay), là nơi chứng kiến những sự thay đổi rõ rệt trong xã hội đi kèm với
Trang 21sự chậm lại của tốc độ tăng trưởng Theo như phân tích của Fishlow (1988),điều này xuất phát từ việc các quốc gia này vẫn duy trì một chế độ quân chủđộc tài trong quá trình chuyển dịch lên nền kinh tế thị trường, dẫn đến sự mâuthuẫn căn bản giữa tự do thị trường và sự can thiệp của chính phủ trên conđường phát triển Tại các quốc gia khác, mặc dù cũng có nhiều sự thay đổitrong xã hội, nhưng lại không phải bắt nguồn trực tiếp từ việc chuyển dịch lênnền kinh tế thị trường Khu vực Trung Mỹ, nơi trở thành trung tâm của cuộckhủng hoảng những năm 1980s, lại gặp phải vấn đề về sở hữu đất trong nôngnghiệp và việc áp dụng mô hình tăng trưởng phụ thuộc vào xuất khẩu thay vì
mô hình công nghiệp hóa do nhà nước dẫn dắt (Bertola & Ocampo, 2012).Colombia là một ví dụ điển hình, khi kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai, sựmâu thuẫn trong xã hội ở quốc gia này được giải thích bởi sự mất cân bằngtrong sở hữu ruộng đất, tồn tại kể từ sau chiến tranh thế giới thứhai Nhữngmâu thuẫn này càng bùng nổ mạnh vào thập niên 80 và 90 bởi sự can thiệp củagiới buôn lậu
Không phải tất cả các quốc gia Mỹ Latinh đều chịu ảnh hưởng bởi sựyếu kém trong điều hành kinh tế vĩ mô Thực tế, đây chỉ là vấn đề nghiêmtrọng xảy đến với Brazil và nhóm các quốc gia Southern Cone, ít nhất là chođến trước thập niên 70 Tuy nhiên, sự tồn tại thâm hụt ngân sách ngày càngphát triển mạnh ở hầu hết các quốc gia Mỹ Latinh trong thời kỳ cuối củacủa
mô hình công nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt chủ đạo của nhà nước Điều này làkết quả của cảsự mất cân bằng cán cân thương mại lẫn sự gia tăng nhu cầu đầu
tư tại khu vực này Chính những điều này là động lực chính khiến các quốc gianày càng tích cực đi vay từ nước ngoài
Nhìn vào biểu đồ dưới đây, có thể thấy rõ ràng rằng khoảng thời gianhai thập kỷ bắt đầu từ đầu những năm 1960 áp dụng mô hình công nghiệp hóa,mặc dù thường xuyên tồn tại thâm hụt thương mại nhưng nhìn chung tăngtrưởng trong thời gian này vẫn ở mức cao, trung bình vào khoảng 5% mỗi năm
Trang 22Tuy nhiên bắt đầu vào khoảng cuối thập niên 70 cho đến giữa thập niên 80,tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm, thậm chí tăng trưởng âm Và mặc dùtrong thập niên 80 này tồn tại thặng dư thương mại, nhưng tăng trưởng kinh tế
dù có phục hồi vẫn không thể quay lại so với mức trong hai thập niên trước đó
Hình 4 Biểu đồ tăng trưởng GDP và cán cân thương mại tại Mỹ Latinh
1961-2010 (Nguồn: World Bank Database)
Bên cạnh đó, tỷ lệ nhập siêu gia tăng mạnh do các nước nhập khẩu
nhiều nguyên, vật liệu, cũng như công nghệ sản xuất từ nước ngoài để thựchiện được mục tiêu công nghiệp hóa
Hai điều trên dẫn đến sự gia tăng ngày càng lớn nhu cầu về nguồn vốncủa chính phủ Do đó, các quốc gia đã vay nợ rất nhiều từ các quốc gia pháttriển khác và các tổ chức tài chính quốc tế
Trang 23Hình 5 Biểu đồ nợ nước ngoài tại các quốc gia Mỹ Latinh 1970-2010
(%GNI) (Nguồn: World Bank Database)
Việc vay nợ nước ngoài với quy mô lớn tiềm ẩn nhiều rủi ro và khôngthể tiếp diễn được mãi Vào năm 1979, Mỹ thực hiện hàng loạt chính sách thắtchặt và đẩy lãi suất gia tăng Điều này tương tự xảy ra với các quốc giachâu Âu, khiến dòng vốn đầu tư toàn cầu bắt đầu chảy ngược ra khỏi các quốcgia đang phát triển Đồng thời, lãi suất gia tăng làm cho nghĩa vụ nợ tại cácquốc gia Mỹ Latinh tăng lên Ngoài ra, khả năng trả nợ nước ngoài của cácquốc gia Mỹ Latinh lại phụ thuộc chủ yếu vào xuất khẩu Do suy thoái kinh tếđầu những năm 1980 làm thu hẹp thương mại quốc tế cũng như giá cả hàng hóathế giới, đặc biệt là giá cả các nguyên liệu thô, khiến nguồn thu từ xuất khẩu tạicác quốc gia này giảm mạnh
Từ giữa những năm 1975-1982, các khoản nợ công của các nước Latinhđối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới tăng với tỉ lệ gộp hàng nămlên đến 20%, khiến tổng vay nợ tưng từ 75 tỉ USD (1975) lên đến hơn 315 tỉUSD (1983), trong đó, thanh toán lãi suất và trả vốn gốc tăng mạnh từ 12 tỉUSD lên 66 tỉ USD năm 1982 (The Berge 1999)
Hầu hết các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đều từ chối hoặcgiảm cho vay các nước châu Mỹ Latinh Trong khi đó, các khoản nợ vay của
Trang 24chính phủ các nước lại chủ yếu là vay ngắn hạn và các nước gặp khó khăntrong việc thanh toán nợ khi các tổ chức cho vay từ chối gia hạn các khoản vay.Hàng tỉ USD nhanh chóng đến hạn thanh toán và các dòng vốn bắt đầu thoáilui khỏi các quốc gia trong khu vực và các nước không thể vay thêm.
Tăng trưởng kinh tế khu vực trong thời gian này phụ thuộc nhiều vàomức đầu tư từ nước ngoài Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến giữa thậpniên, tỉ lệ đầu tư chỉ dao động khoảng 20% GDP, đã tăng lên xấp xỉ 25% tronggiai đoạn 1975-1980 Ngay sau đó, bước sang thập niên 80 là khoảng thời gianbắt đầu xảy ra khủng hoảng toàn khu vực, tỉ lệ đầu tư giảm mạnh xuống còngần 19% trong thập niên 90 và tiếp tục giảm xuống chỉ còn khoảng 18% trongthập niên tiếp theo Điều này càng chứng tỏ sự nhảy vọt của vốn vay nướcngoài trong khoảng thời gian diễn ra cuộc khủng hoảng nợ ở khu vực này
Mô hình công nghiệp hóa dưới sự dẫn dắt của nhà nước đồng thời cũngmang đến nhiều khó khăn liên quan đến chính sách tài khóa ở các quốc gia này.FitzGerald (1978) đã diễn giải điều này qua ba xu hướng: (i) sự gia tăng nhucầu chi tiêu của chính phủ, trong khi phần trăm chi tiêu cho các chương trìnhphúc lợi xã hội lại có xu hướng giảm; (ii) sự chuyển dịch của cơ cấu thuế từthuế tài sản và thu nhập sang các loại thuế gián tiếp; (iii) sự gia tăng nhu cầuvay vốn nước ngoài nhằm hỗ trợ khu vực tư nhân
Trang 251 1950- 1957
1967
1958-1 1968- 1974
1 1975- 1980
1 1981- 1990
1 1991- 1997
1 1998- 2003
2008
2004-2 2008- 2010
Trung bình cộng
Các quốc gia
lớn
23,9
20,1
21,6
24,3
19,1
19,6
18,3
21,5
23,3Các quốc gia
nhỏ
14,2
15,7
18,1
21,5
17,0
19,2
20,0
19,8
19,1
9,1
17,6
19,5
22,6
17,8
19,4
19,4
20,5
20,8Trung bình trọng số
Các quốc gia
lớn
21,0
19,5
22,2
25,1
18,9
18,2
18,0
19,9
20,9Các quốc gia
nhỏ
15,8
16,8
17,7
22,2
16,9
18,6
19,3
19,1
18,7
0,7
19,1
21,9
24,9
18,8
18,2
18,1
19,8
20,7
Bảng 1 Tổng vốn đầu tư các quốc gia lớn, nhỏ và Mỹ Latinh qua nhiều giai
đoạn (% GDP) (Nguồn: Bertola & Ocampo (2012))
Không thể duy trì được sự ổn định kinh tế, trong khi giá trị các khoản nợ
lại gia tăng mạnh làm cho rủi ro nợ nước ngoài của khu vực Mỹ Latinh đã vượt
quá khỏi tầm kiểm soát Và khi tỷ lệ nợ nước ngoài trên tổng thu nhập quốc gia
(GNI) lên đến đỉnh điểm 160% vào tháng 8-1982, Mexico trở thành nước đầu
tiên tuyên bố không trả được khoản nợ hơn 85 tỷ USD và yêu cầu đàm phán lại
thời hạn trả nợ với các chủ nợ Sau sự kiện này, các ngân hàng thương mại và
tổ chức tài chính quốc tế siết chặt và trì hoãn vô thời hạn đối với các khoản vay
đến khu vực Mỹ Latinh Khi Mexico tuyên bố vỡ nợ đã ngay lập tức khiến các
ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính quốc tế siết chặt và trì hoãn vô thời
Trang 26hạn đối với các khoản vay đến khu vực Mỹ Latinh Lại do phần lớn các khoản
nợ đều trong ngắn hạn, nên việc không được bơm tiếp tín dụng làm cho cácquốc gia này nhanh chóng bị cuốn vào vòng xoáy, dẫn đến một cuộc khủnghoảng dây chuyền
Cuộc khủng hoảng nợ tại khu vực Mỹ Latinh có thể chia thành 3 giaiđoạn:
Giai đoạn đầu tiên từ trước diễn ra khủng hoảng cho đến năm 1985.
Trong giai đoạn này, một số quốc gia, chính phủ thể hiện lập trường cứng rắntrong việc đối phó với cuộc khủng hoảng nợ, cụ thể là Thủ tướng Peru AlanGarcía quyết định giới hạn việc vay nợ của nước này dưới mức 10% doanh thu
từ xuất khẩu Bên cạnh đó là những cố gắng thành lập một liên hiệp giữa nhữngchủ nợ khu vực này Điển hình là cuộc hội nghị diễn ra tại Cartagena, Chilevào năm 1984 Sau hội nghị này, các khoản nợ của Bolivia và Ecuador đã đượchoãn lại, trong khi các con nợ lớn như Mexico, Brazil hay Venezuela vẫn phảitiếp tục thỏa hiệp trực tiếp với các chủ nợ, còn Argentina lại tỏ thái độ cứng rắn
và không chịu thỏa hiệp Điều này có thể thấy dù đã cố gắng nhưng khu vựcnày vẫn chưa có được sự đồng thuận nhất định, nhiều quốc gia muốn tự giảiquyết các khoản nợ của mình Chính sự bảo thủ này đã dẫn đến việc trong khiHoa Kỳ dần phục hồi sau cuộc khủng hoảng ngân hàng, khu vực Mỹ Latin lạicàng lún sâu vào khủng hoảng
Bắt đầu từ tháng 9-1985, cuộc khủng hoảng nợ bước vào giai đoạn
2, với sự khởi xướng của kế hoạch Baker tại Seoul, Hàn Quốc nhằm điều chỉnh
việc tạo ra những điều luật cho vay hiệu quả hơn, cùng với một gói tín dụng đikèm Nhưng gói cứu trợ này vẫn chưa đủ để giải quyết hoàn toàn cuộc khủnghoảng, nên 2 năm sau được thay thế bằng kế hoạch Baker lần thứ 2, đổi mớitrong việc tạo điều kiện cho các hoạt động mua lại hoặc trao đổi nợ và chophép phát hành trái phiếu với lãi suất thấp
Trang 27Giai đoạn 3 bắt đầu vào tháng 3-1989 với kế hoạch Brady, bao gồm
việc giảm bớt cán cân nợ, đi kèm với việc tạo điều kiện cho khu vực Mỹ Latinđược vay mượn từ các nguồn tài chính tư nhân quốc tế Đây là giai đoạn cuốicùng của cuộc khủng hoảng và các quốc gia Mỹ Latin dần đi vào phục hồi nềnkinh tế Tuy nhiên, 1 thập niên suy thoái vì khủng hoảng đã khiến mức đónggóp của khu vực này vào GDP thế giới giảm 1,5%, GDP đầu người trong khuvực giảm 8% so với các quốc gia công nghiệp và 23% so với mức trung bìnhtoàn thế giới
2.2 Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á những năm 1990
Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á bắt đầu từ năm 1997 với sự sụtgiảm của đồng Bath Thái Lan Đây được coi là cuộc khủng hoảng dữ dội nhấtxảy ra tại các quốc gia đang phát triển kể từ sau cuộc khủng hoảng nợ năm
1982 tại Mỹ Latinh Cuộc khủng hoảng lan rộng đến hầu hết các quốc gia trongkhu vực Đông Á, bắt đầu từ Thái Lan đến Nhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong,
và các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia và Philipines Bên cạnh
đó, các quốc gia khác như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Singapore cũng nhưViệt Nam mặc dù ít bị ảnh hưởng hơn những cũng chịu nhiều những tác độngtiêu cực
2.2.1 Nguyên nhân khủng hoảng
Nền tảng kinh tế vĩ mô yếu kém
Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà cácnhà kinh tế gọi là Bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trịđồng tiền của mình vào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự dohóa tài khoản vốn) Kinh tế Đông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên
1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷgiá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam Á đã thực hiện chính sáchtiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạm phát Chính sách
Trang 28vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vô hìnhtrung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế.
Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đốitốt ngoại trừ việc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹtrong thời kỳ từ sau năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của HànQuốc suy yếu vì giá hàng xuất khẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóaquốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, Hàn Quốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giáhối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tài khoản vốn Vì thế, thâm hụttài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàng của nước này đivay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi
ro
Năm 1994, nhà kinh tế Paul Krugman của trường đại học Princeton, (lúc
đó còn ở MIT), cho đăng bài báo tấn công ý tưởng về "thần kỳ kinh tế ĐôngÁ".Ông ta cho rằng: Sự tăng trưởng kinh tế của Đông Á, trong quá khứ, là dokết quả của đầu tư theo hình thức tư bản, dẫn tới sự tăng năng suất lao động.Trong khi đó, năng suất tổng nhân tố lại chỉ được nâng lên ở một mức độ rấtnhỏ, hoặc hầu như giữ nguyên Krugman cho rằng việc chỉ tăng trưởng năngsuất tổng nhân tố không thôi, mà không cần đầu tư vốn, đã có thể mang lại sựthịnh vượng dài hạn Krugman có thể được nhiều người coi như một nhà tiêntri sau khi khủng hoảng tài chính lan rộng, tuy nhiên chính ông ta cũng đã từngphát biểu rằng ông ta không dự đoán cơn khủng hoảng hoặc nhìn trước đượcchiều sâu của nó
Các dòng vốn nước ngoài chảy vào
Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu vàNhật Bản cuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nềncao quá mức Các nhà đầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìmcách thay đổi danh mục tài sản của mình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước
Trang 29ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lại thực hiện chính sách tự do hóa tàikhoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở các nước phát triển Chính vìthế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á Chẳng hạn, vốnđầu tư gián tiếp nước ngoài chảy vào Thái Lan từ mức 924 triệu USD, tươngđương 0,8% GDP, đã tăng lên tới xấp xỉ 4,6 tỷ USD, tương đương 3% GDP
(theo số liệu của IMF, dẫn lại từ Nguyễn Hồng Sơn (2005), Điều tiết sự di chuyển của dòng vốn tư nhân gián tiếp nước ngoài ở một số nước đang phát triển, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia).
Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầmcủa chính phủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu
Á bất chấp mạo hiểm để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấpmạo hiểm để đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không
tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phi đối xứng dẫn tới lựa chọnnghịch và rủi ro đạo đức.)
Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt
Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 lànhững cuộc tấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á
Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất độngsản của Thái Lan đã vỡ dẫn đến một số thể chế tài chính bị phá sản Người takhông còn tin rằng chính phủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khiphát hiện thấy những điểm yếu chết người trong nền kinh tế của các nước châu
Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hành tấn công tiền tệ châu Á Các nhàđầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra
Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lýkhủng hoảng yếu kém Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ,đáng lẽ các nước châu Á phải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không
Trang 30nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạn kiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước màlại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài.
Ngoại trưởng 9 nước ASEAN (khi đó chưa có Campuchia) lúc đó tinrằng, việc liên kết các hệ thống tiền tệ chặt chẽ là một nỗ lực thận trọng nhằmcủng cố vững chắc các nền kinh tế ASEAN Hội nghị Ngoại trưởng ASEANlần thứ 30 diễn ra tại Subang Jaya, Malaysia đã thông quan một Tuyên bốchung vào ngày 25 tháng 7 năm 1997 nêu rõ mối quan ngại sâu sắc và kêu goicác nước ASEAN cần hợp tác chặt chẽ hơn nhằm bảo vệ và tăng cường lợi íchcủa ASEAN trong giai đoạn này Ngẫu nhiên là trong cùng ngày này, các Ngânhàng Trung ương của hầu hết các nước chịu tác động của khủng hoảng đã gặpnhau tại Thượng Hải trong Hội nghị cấp cao Đông Á Thái Bình dươngEMEAP, và thất bại trong việc đưa ra một biện pháp Dàn xếp cho vay mới.Trước đó một năm, Bộ trưởng Tài chính của các nước này cũng đã tham dựHội nghị Bộ trưởng Tài chính APEC lần thứ 3 tại Kyoto, Nhật Bản vàongày 17 tháng 3 năm 1996, và theo như Tuyên bố chung, các bên đã không thểnhân đôi được Quỹ tài chính phục vụ cho Hiệp định chung về cho vay và Cơchế Tài chính trong tình trạng khẩn cấp Vì vậy, cuộc khủng hoảng có thể xemnhư một thất bại trong việc xây dựng năng lực phù hợp kịp thời, thất bại trongviệc ngăn chặn sự lôi kéo tiền tệ
Một số nhà kinh tế lại chỉ trích chính sách tài chính thắt chặt của IMFđược áp dụng ở các nước xảy ra khủng hoảng càng làm cho khủng hoảng thêmtrầm trọng
Như vậy, có thể thấy cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á là hệ quả trực
tiếp từ việc các dòng đầu tư nước ngoài liên tục đổ vào khu vực này trong thậpniên 90 Lượng đầu tư nước ngoài khổng lồ này mang lại một thời kỳ phát triểnthần kỳ cho các quốc gia Đông Á, nhưng lại tiểm ẩn rất nhiều rủi ro Cụ thể,vốn nước ngoài đổ vào sẽ làm tăng tỉ giá thực tế giữa đồng nội tệ và ngoạitệ,dẫn đến việc các ngành ngoài xuất khẩu sẽ có điều kiện được phát triển và mở
Trang 31rộng, trong khi các ngành trọng điểm xuất khẩu lại gặp nhiều khó khăn do đồngnội tệ quá cao Hơn nữa, vốn nước ngoài đổ vào cũng sẽ tạo áp lực cho hệthống tài chính kém phát triển ở các quốc gia Đông Á này, cả ngân hàng trungương lẫn các ngân hàng thương mại đều sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc đốiphó với những vấn đề quản lý rủi ro cho những hoạt động của mình Các dòngvốn tín dụng phần lớn đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, khiếnnền kinh tế dễ bị tổn thương nếu như dòng tín dụng bị chặn lại hoặc có xuhướng chảy ngược ra khỏi các thị trường này Những áp lực này tích tụ dần dầnlàm tăng rủi ro tài chính của toàn bộ nền kinh tế.
Bước sang thập niên 90, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bắt đầu nâng lãi suất,khiến cho dòngđầu tư nước ngoài chuyển hướng dần ra khỏi thị trường Đông
Á Chính điều này là khởi nguồncho khủng hoảng bởi sự suy giảm tốc độ tăngtrưởng của khu vực này, khi mà nguồn vốn suygiảm trong khi năng suất khôngcòn tăng nhanh so với khoảng thời gian trước đó Sự mất giá của đồng Baht ởThái Lan đánh dấu điểm khởi đầu của cuộc khủng hoảng này do các dòng vốnrút mạnh ra khỏi quốc gia này Trước thời điểm đó, Thái Lan đã chính thức vỡ
nợ do gánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ của mình Với sự mất giá của đồngbaht, các đồng tiền khác trong khu vực cũng chịu ảnh hưởng theo, do giới đầu
tư nhận định được rủi ro và rút dần vốn, khiến các đồngtiền khác như đồngWon của Hàn Quốc, đồng Peso của Philippines, đồng Rupiah của Indonesiahay đồng ringgit của Malaysia cũng lần lượt bị phá giá trầm trọng (Radelet &Sachs, 1998)
Sự sụt giảm đồng nội tệ khiến cho giá trị các khoản nợ nước ngoài củacác tổ chức này nhảy vọt Bên cạnh đó, sự mất giá của đồng tiền cũng làm cholạm phát thực tế và lạm phát kỳvọng đều tăng, khiến cho lãi suất trên thị trườngcũng tăng theo với tốc độ chóng mặt Chính vìthế, kể cả các khoản nợ trongnước cũng tăng mạnh vượt quá tầm kiểm soát so với giá trị thực tếtrước đó.Chính điều này đã thúc đẩy các doanh nghiệp và tổ chức này đứng trên bờ vực
Trang 32phá sản,mặc dù giá trị tài sản của họ không hề suy giảm.Một tác nhân quan trọng nữa thúc đẩy cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á
mặt của giới đầu cơ Khi thị trường chứng khoán suy giảm, sự bất ổn tăng lênthì vấn đề thôngtin bất đối xứng chỉ là hệ quả tất yếu Chính sự bất đối xứnggiữa những luồng thông tin khácnhau càng làm gia tăng rủi ro và sự bất ổnchung của nền kinh tế Đây là động lực cho các hoạtđộng đầu cơ ồ ạt đánh sập
cả một nền kinh tế Sự phá sản của tổ chức tài chính lớn nhất ở TháiLan làFinance One có thể được xem như một cột mốc đánh dấu sự sụp đổ của thịtrường tàichính quốc gia này, tạo thành hiệu ứng domino lan sang các quốc giakhác Malaysia, tương tự như Thái Lan, cũng chịu ảnh hưởng mạnh mẽ bởi sựtấn công của giới đầu cơ khi lãi suất liênngân hàng nhảy vọt từ 8% lên đến hơn40% chỉ trong một đêm (Radelet & Sachs, 1998)
Tất cả những rủi ro kể trên, về mặt lý thuyết, đều được các nhà nghiên
cứu chỉ ra trướcđó, đặc biệt là Paul Krugman (1994), tuy nhiên họ lại không hềnghĩ rằng nó sẽ dẫn đến một cuộckhủng hoảng Kể cả các tổ chức đánh giá tíndụng như Standard & Poor’s và Moody cũng khônghề hạ điểm của khu vựcnày cho đến sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra (Radelet & Sachs, 1998).Trongbáo cáo về viễn cảnh kinh tế thế giới vào tháng 10 năm 1997, IMF đã đưa ra dựđoán rằngmức tăng trưởng năm 1998 ở Hàn Quốc sẽ là 6,0%, các quốc giađang phát triển ở Đông Á trungbình là 7,4% (5,4% nếu ngoại trừ Trung Quốc
và Ấn Độ) (IMF, 1997) Mặc dù mức tăng trưởngdự đoán này đã thể hiện sựsuy giảm kinh tế, nhưng nhìn chung IMF cũng không hề lường trướcđược cuộckhủng hoảng, bởi nhìn vào thực tế, mức tăng trưởng thấp hơn nhiều so vớinhững con số trên
Trang 332.2.2 Tình hình kinh tế
Hình 6 Nợ nước ngoài tại một số quốc gia Đông Á 1970-2010 (%GNI)
(Nguồn: World Bank Database)
Khủng hoảng đã gây ra những ảnh hưởng vĩ mô nghiêm trọng, bao gồmmất giá tiền tệ, sụp đổ thị trường chứng khoán, giảm giá tài sản ở một số nướcchâu Á Nhiều doanh nghiệp bị phá sản, dẫn đến hàng triệu người bị đẩy xuốngdưới ngưỡng nghèo trong các năm 1997-1998 Những nước bị ảnh hưởng nặng
nề nhất là Indonesia, Hàn Quốc và Thái Lan
Khủng hoảng kinh tế còn dẫn tới mất ổn định chính trị với sự ra đicủa Suharto ở Indonesia và Chavalit Yongchaiyudh ở Thái Lan Tâm lý chốngphương Tây gia tăng cùng với sự phê phán gay gắt nhằm vào GeorgeSoros và Quỹ Tiền tệ Quốc tế Các phòng trào Hồi giáo và ly khai phát triểnmạnh ở Indonesia khi chính quyền trung ương của nước này suy yếu
Một ảnh hưởng lâu dài và nghiêm trọng, đó là GDP và GNP bình quânđầu người tính bằng Dollar Mỹ theo sức mua tương đương giảm đi Nội tệ mấtgiá là nguyên nhân trực tiếp của hiện tượng này Cuốn CIA World Fact Bookcho biết thu nhập bình quân đầu người của Thái Lan đã giảm từ mức 8.800USD năm 1997 xuống còn 8.300 USD vào năm 2005, của Indonesia giảm từ
Trang 344.600 USD xuống 3.700 USD, của Malaysia giảm từ 11.100 USD xuống10.400 USD.
Cuộc khủng hoảng không chỉ lây lan ở khu vực Đông Á mà nó góp phầndẫn tới khủng hoảng tài chính Nga và khủng hoảng tài chính Brasil Một sốnước không bị khủng hoảng, nhưng kinh tế cũng chịu ảnh hưởng xấu do xuấtkhẩu giảm và do FDI vào giảm
Thái Lan
Từ năm 1985 đến năm 1995, kinh tế Thái Lan tăng trưởng với tốc
độ bình quân hàng năm là 9% Cuối năm 1996, báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF đã cảnh báo nền kinh tế Thái Lan tăng trưởng quá nóng và bong
bóng kinh tế có thể không giữ được lâu Cuối năm 1996, thị trường chứngkhoán Thái Lan bắt đầu có sự điều chỉnh Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫnchỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi
Ngày 14 tháng 5 và ngày 15 tháng 5 năm 1997, đồng baht Thái bị tấncông đầu cơ quy mô lớn Ngày 30 tháng 6, thủ tướng Thái Lan ChavalitYongchaiyudh tuyên bố sẽ không phá giá baht, song rốt cục lại thả nổi baht vàongày 2 tháng 7 Baht ngay lập tức mất giá gần 50% Vào tháng 1 năm 1998, nó
đã xuống đến mức 56 baht mới đổi được 1 dollar Mỹ Chỉ số thị trường chứngkhoán Thái Lan đã tụt từ mức 1.280 cuối năm 1995 xuống còn 372 cuối năm
1997 Đồng thời, mức vốn hóa thị trường vốn giảm từ 141,5 tỷ USD xuống còn23,5 tỷ USD Finance One, công ty tài chính lớn nhất của Thái Lan bị phá sản.Ngày 11 tháng 8, IMF tuyên bố sẽ cung cấp một gói cứu trợ trị giá 16 tỷ dollar
Mỹ cho Thái Lan Ngày 20 tháng 8, IMF thông qua một gói cứu trợ nữa trị giá3,9 tỷ dollar
Philipines
Sau khi khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, ngày 3 tháng 7 ngân hàngtrung ương Philippines đã cố gắng can thiệp vào thị trường ngoại hối để bảo vệ
Trang 35đồng peso bằng cách nâng lãi suất ngắn hạn (lãi suất cho vay qua đêm) từ 15%lên 24% Đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26 peso ăn một dollar xuốngcòn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng.
Khủng hoảng tài chính nghiêm trọng thêm do khủng hoảng chính trị liênquan tới các vụ bê bối của tổng thống Joseph Estrada Do khủng hoảng chínhtrị, vào năm 2001, Chỉ số Tổng hợp PSE của thị trường chứngkhoán Philippines giảm xuống còn khoảng 1000 điểm từ mức cao khoảng 3000điểm hồi năm 1997 Nó kéo theo việc đồng peso thêm mất giá
Giá trị của đồng peso chỉ được phục hồi từ khi Gloria Arroyo lên làm tổng thống
Macapagal- Hong Kong
Tháng 10 năm 1997, Dollar Hong Kong bị tấn công đầu cơ Đồng tiềnnày vốn được neo vào Dollar Mỹ với tỷ giá 7,8 HKD/USD Tuy nhiên, tỷ lệlạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở để cho giới đầu cơ tấncông Nhờ có dự trữ ngoại tệ hùng hậu lên tới 80 tỷ USD vào thời điểm đótương đương 700% lượng cung tiền M1 hay 45% lượng cung tiền M3, nên Cơquan Tiền tệ Hong Kong đã dám chi hơn 1 tỷ USD để bảo vệ đồng tiền củamình Các thị trường chứng khoán ngày càng trở nên dễ đổ vỡ Từ ngày 20tháng 10 đến 23 tháng 10, Chỉ số Hang Seng đã giảm 23% Ngày 15 tháng 8năm 1998, Hong Kong nâng lãi suất cho vay qua đêm từ 8% lên thành 23% vàngay lập tức nâng vọt lên 500% Đồng thời, Cơ quan Tiền tệ Hong Kong bắtđầu mua vào các loại cổ phiếu thành phần của Chỉ số Hang Seng để giảm áplực giảm giá cổ phiếu Cơ quan này và ông Donald Tsang, lúc đó là Bộ trưởngTài chính và sau này làm Trưởng Đặc khu hành chính Hong Kong, đã côngkhai tuyên chiến với giới đầu cơ Chính quyền đã mua vào khoảng 120 tỷDollar Hong Kong (tương đương 15 tỷ Dollar Mỹ) các loại chứng khoán Sau
Trang 36này, vào năm 2001, chính quyền đã bán ra số chứng khoáng này và thu lờikhoảng 30 tỷ Dollar Hong Kong (khoảng 4 tỷ Dollar Mỹ).
Các hoạt động đầu cơ nhằm vào Dollar Hong Kong và thị trường chứngkhoán của nước này đã ngừng lại vào tháng 9 năm 1998 chủ yếu do các nhàđầu cơ bị thiệt hại bởi chính sách điều tiết dòng vốn nước ngoài của chính phủMalaysia và bởi sự sụp đổ của thị trường trái phiếu và tiền tệ ở Nga
Tỷ giá neo giữa Dollar Hong Kong và Dollar Mỹ vẫn được bảo toàn ởmức 7,8: 1
Hàn Quốc
Vào thời điểm khủng hoảng bùng phát ở Thái Lan, Hàn Quốc có mộtgánh nặng nợ nước ngoài khổng lồ Các công ty nợ ngân hàng trong nước, cònngân hàng trong nước lại nợ ngân hàng nước ngoài Một vài vụ vỡ nợ đã xảy
ra Khi thị trường châu Á bị khủng hoảng, tháng 11 các nhà đầu tư bắt đầu bán
ra chứng khoán của Hàn Quốc ở quy mô lớn Ngày 28 tháng 11 năm 1997, tổchức đánh giá tín dụng Moody đã hạ thứ hạng của Hàn Quốc từ A1 xuống A3,sau đó vào ngày 11 tháng 12 lại hạ tiếp xuống B2 Điều này góp phần làm chogiá chứng khoán của Hàn Quốc thêm giảm giá Riêng trong ngày 7 tháng
11, thị trường chứng khoán Seoul tụt 4% Ngày 24 tháng 11 lại tụt 7,2% do tâm
lý lo sợ IMF sẽ đòi Hàn Quốc phải áp dụng các chính sách khắc khổ
Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống còn khoảng 1700 KRW/USD
từ mức 1000 KRW/USD
Malaysia
Ngay sau khi Thái Lan thả nổi đồng Baht (ngày 2 tháng 7 năm 1997),đồng Ringgit của Malaysia và thị trường chứng khoán Kuala Lumpur lập tức bịsức ép giảm giá mạnh Ringgit đã giảm từ mức 3,75 Ringgit/Dollar Mỹ xuốngcòn 4,20 Ringgit/Dollar Phần lớn sức ép giảm giá đối với Ringgit là từ việc