PHẦN MỞ ĐẦUKhi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhucầu chi tiêu, Nhà nước phải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình vàchịu trách nh
Trang 1MỤC LỤC
DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ BẢNG, BIỂU ĐỒ 3
PHẦN MỞ ĐẦU 4
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NỢ CÔNG VÀ TRẦN NỢ CÔNG 6
1.1 KHÁI NIỆM “NỢ CÔNG” 6
1.2 TỔNG QUAN VỀ TRẦN NỢ CÔNG 8
1.2.1 Nguồn gốc của Trần nợ công 8
1.2.2 Định nghĩa Trần nợ công 8
1.2.3 Nguyên nhân hình thành Trần nợ công 9
1.3 NGƯỠNG NỢ CÔNG AN TOÀN CỦA MỘT SỐ NỀN KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI 9
CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN NỢ CÔNG 13
2.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NỢ THEO TIÊU CHUẨN WB 13
2.2 XÁC ĐỊNH DỰA TRÊN CÁC YẾU TỐ CỦA QUỐC GIA 15
2.3 CÁC CÁCH XÁC ĐỊNH TRẦN NỢ CÔNG KHÁC 17
CHƯƠNG III: THỰC TRẠNG NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TRẦN NỢ CÔNG VIỆT NAM 20
3.1 THỰC TRẠNG NỢ CÔNG TẠI VIỆT NAM 20
3.2 CHÍNH SÁCH TRẦN NỢ CÔNG CỦA VIỆT NAM NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 23
3.2.1 Ngưỡng nợ công tối ưu: 23
3.2.2 Nới lỏng trần nợ công 24
3.2.3 Tái cơ cấu đầu tư công với tái cơ cấu thu chi ngân sách 25
3.3 GIẢI PHÁP VÀ ĐIỀU CHỈNH TRẦN NỢ CÔNG QUẢN LÝ NỢ CÔNG Ở VIỆT NAM 25
KẾT LUẬN 28
TÀI LIỆU THAM KHẢO 29
Trang 2DANH MỤC VIẾT TẮT VÀ BẢNG, BIỂU ĐỒ
GDP Tổng sản phẩm quốc nội
WB Ngân hàng thế giới
UNCTAD Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển
IMF Quỹ tiền tệ thế giới
SDR Quyền rút vốn đặc biệt
NHTW Ngân hàng trung ương
UBND Ủy ban nhân dân
WAEMU Liên minh kinh tế và tiền tệ Tây Phi
CEMAC Liên minh kinh tế tiền tệ Trung Phi
ECCU Liên minh tiền tệ vùng Tây Caribbean
ICOR Hệ số hiệu quả vốn đầu tư
HSBC Ngân hàng Hồng Kông Thượng Hải
Hình 1.1 Tr 7 Các chủ thể nợ công
Hình 2.1 Tr 14 Nợ công của các quốc gia trên thế giới
Hình 3.1 Tr 21 Diễn biến tỷ lệ nợ công của Việt Nam
Bảng 2.1 Tr 14 Phân loại mức độ nợ công theo IMF
Bảng 2.2 Tr 16 Nợ công trên GDP của Việt Nam qua các năm
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
Khi các khoản thu truyền thống như thuế, phí, lệ phí không đáp ứng được các nhucầu chi tiêu, Nhà nước phải vay nợ để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của mình vàchịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó, thường được gọi là nợ công Nợ côngmang lại những lợi ích quan trọng cho nền kinh tế vĩ mô của các quốc gia mà không mộtChính phủ nào có thể phủ nhận được Tuy nhiên, quốc gia nào không biết sử dụng mộtcách hợp lý mà “vượt trần” không kiểm soát thì nợ công cũng mang lại những hệ lụynghiêm trọng cho nền kinh tế đó.Trong quá trình phục hồi kinh tế thế giới, các quốc giaphải đối mặt với khủng hoảng nợ công, nợ công vượt quá cao so với mức an toàn ở nhiềunền kinh tế đang trở thành chủ đề nóng hiện nay bởi nó không chỉ tác động xấu đến nềnkinh tế của các nước trong vòng xoáy nợ công, mà hơn thế nữa, nó còn đe dọa nghiêmtrọng tới sự phát triển của kinh tế thế giới nói chung Nợ công đã trở thành một vấn đềnóng bỏng trên toàn cầu, ở tất cả các quốc gia, kể cả nhóm các nước phát triển cũng nhưnhóm các nước đang phát triển
Việc đặt ra một ngưỡng giới hạn nợ hiện nay là rất cần thiết, đây được coi như mộtbiện pháp tình thế để kìm hãm tốc độ tăng trưởng nợ công Tuy nhiên, nợ công đang có
xu hướng tăng sát trần cho phép, áp lực trả nợ lớn trong ngắn hạn, một số dự án đầu tưkém hiệu quả Điều này đặt ra một bài toán cho Chính phủ cũng như các nhà kinh tế mộtbài toán “Làm thế nào để xác định được một ngưỡng nợ công an toàn” Mặt tích cực, trần
nợ có thể xem như là một lời nhắc nhở hữu ích cho tình trạng thâm hụt ngân sách Quốcgia, nhưng đôi khi nó lại trở thành không khác gì hơn một “vách đá nhân tạo” kìm hãm sựphát triển của nền kinh tế Từ tính quan trọng và cấp thiết của vấn đề, nhóm chúng em đã
đi đến việc chọn đề tài tiểu luận “Trần nợ công và phương pháp xây dựng trần nợ công, các nhân tố ảnh hưởng đến việc xác định trần nợ công” Chúng em xin chân
thành cảm ơn sự nhiệt tình giảng dạy, hướng dẫn của cô Nguyễn Thị Lan Trong quá trìnhlàm bài, do kiến thức còn hạn chế và mới mẻ nên chúng em không thể tránh khỏi nhữngthiếu sót, khiếm khuyết chúng em cũng đã gặp khá nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm
và tích hợp thông tin vì đây là vấn đề nhạy cảm của quốc gia mỗi nước, nguồn thông tin
Trang 4rất khan hiếm và chưa có những chính sách áp dụng cụ thể về vấn đề này mới nhất Vậy chúng em kính mong nhận được sự góp ý quý báu của cô.
Đề tài của chúng em gồm có 3 phần chính:
Chương I: Tổng quan chung về nợ công và trần nợ công
Chương II: Phương pháp xây dựng trần nợ công
Chương III: Thực trạng nợ công của Việt Nam và các nhân tố ảnh hưởng đến trần
nợ công Việt Nam
Trang 5CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NỢ CÔNG
VÀ TRẦN NỢ CÔNG 1.1 KHÁI NIỆM “NỢ CÔNG”
Mặc dù khái niệm về nợ công tương đối rõ ràng và mang tính trực quan cao là cácnghĩa vụ nợ của nhà nước, nhưng cách thức tính toán và phạm vi bao hàm có sự khác biệtnhất định giữa các quốc gia
Định nghĩa của World Bank
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công được hiểu là nghĩa vụ
nợ của 4 nhóm chủ thể bao gồm:
- Nợ của Chính phủ trung ương và các Bộ, ban, ngành trung ương;
- Nợ của các cấp chính quyền địa phương;
- Nợ của Ngân hàng trung ương;
- Nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn
Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ vàphân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc về thương mại và phát triển(UNCTAD)
Định nghĩa của IMF
Để đảm bảo khả năng so sánh và kiểm soát rủi ro nợ công trên phạm vi toàn cầu,Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) đưa ra một khung tiếp cận chung trong tính toán về nợ côngbao gồm hai cấu phần chính, xác định các chủ thể nợ công và các công cụ nợ công
Các chủ thể nợ công
Theo định nghĩa của IMF, nợ công bao gồm nợ của chính phủ trung ương và chínhphủ địa phương Trong đó nợ chính phủ trung ương bao gồm cả nợ của các đơn vị sửdụng vốn ngân sách nằm ngoài Chính phủ (các đơn vị y tế, giáo dục, an sinh xã hội, xâydựng,… được kiểm soát và tài trợ hoàn toàn bởi Chỉnh phủ) và các quỹ an sinh xã hội
Trang 6Hình 1.1 Các chủ thể nợ công (Nguồn: IMF)
Các công cụ nợ công
IMF (2001) đưa ra định nghĩa tổng nợ công (gross debt) dựa trên 6 nhóm công cụ
nợ, bao gồm:
- Các chứng khoán nợ như trái phiếu, tín phiếu
- Các khoản vay trực tiếp
- Các khoản phải trả như tín dụng thương mại, trả trước…
- Quyền rút vốn đặc biệt (SDRs) do IMF phát hành và phân bổ đến các nước thành viên
- Tiền mặt do NHTW phát hành và các khoản tiền gửi tại NHTW, Chính phủ hay các tổ chức thuộc chính phủ khác
- Các khoản bảo hiểm xã hội, hưu trí được Chính phủ bảo đảm thanh toán
Định nghĩa nợ công tại Việt Nam
Ở Việt Nam, Luật Quản lý nợ công năm 2009 quy định, nợ công bao gồm nợ chínhphủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương Nợ Chính phủ là khoản
nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, ngoài nước, được ký kết, phát hành nhân danhNhà nước, nhân dân Chính phủ hoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, pháthành, ủy quyền phát hành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủ không bao gồmkhoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệtrong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chứctài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh Nợ chính quyền
Trang 7địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (gọichung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
1.2 TỔNG QUAN VỀ TRẦN NỢ CÔNG
1.2.1 Nguồn gốc của Trần nợ công
Giới hạn về nợ liên bang được đặt ra từ năm 1917, nhằm dễ dàng tài trợ cho Chiếntranh thế giới thứ nhất bằng cách nhóm các loại trái phiếu thành các loại khác nhau Việcnày cũng giảm bớt gánh nặng lên Quốc hội Trước đó, các nhà làm luật sẽ thông qua từngloại trái phiếu một, trong đó có cả những khoản vay dùng để đầu tư vào kênh đàoPanama
(Nguồn: CRS Báo cáo Quốc hội, 2008, “The Debt Limit: History and Recent Increases”).
Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ năm 1939, Quốc hội Mỹ lần đầu tiên đặt
ra giới hạn tổng hợp cho tất cả các loại nợ, và đều đặn nâng giới hạn nợ cho tới năm 1953.Đây là năm mà ý tưởng nâng giới hạn nợ bị kẹt ở Thượng viện trong nỗ lực ngăn cản cựuTổng thống Dwight Eisenhower (thuộc phe Cộng hòa) xây dựng hệ thống đường cao tốcxuyên quốc gia
1.2.2 Định nghĩa Trần nợ công
Trần nợ công là giới hạn do Quốc hội ấn định đối với khoản nợ mà chính phủ cóthể nắm giữ trong bất kỳ thời điểm nào Mức trần nợ là một con số tổng hợp áp dụng chotổng nợ, bao gồm nợ trong tay của công chúng và trong các tài khoản trong chính phủ(Khoảng 0,5% nợ không được quy định bởi mức trần) Do các khoản chi được luật phápquy định riêng, trần nợ không trực tiếp hạn chế thâm hụt của chính phủ Trong thực tế, nóchỉ có thể cản trở Kho bạc từ việc chi trả các khoản chi tiêu và các nghĩa vụ tài chính khácsau khi đã đạt đến giới hạn, nhưng đã được phê duyệt (trong ngân sách) và sử dụng Khitrần nợ thực sự đạt đến mà không có sự gia tăng giới hạn đã được ban hành, Kho bạc sẽcần phải sử dụng "các biện pháp phi thường" để tạm thời chi cho các khoản chi tiêu vànghĩa vụ của chính phủ cho đến khi có thể giải quyết được Kho bạc chưa bao giờ đạt đến
Trang 8mức phải mất các biện pháp bất thường, dẫn đến việc vỡ nợ mặc dù trong một số trườnghợp, Quốc hội dường như sẽ cho phép mặc định diễn ra Nếu tình huống này xảy ra,không rõ là Bộ Tài chính sẽ có thể ưu tiên thanh toán nợ để tránh tình trạng vỡ nợ của cáckhoản nợ trái phiếu của mình, nhưng ít nhất nó cũng phải thực hiện một số nghĩa vụ thanhtoán không phải là trái phiếu Một trường hợp vỡ nợ kéo dài có thể gây ra nhiều vấn đềkinh tế bao gồm khủng hoảng tài chính và sự sụt giảm sản lượng có thể đưa đất nước rơivào suy thoái kinh tế trầm trọng.
1.2.3 Nguyên nhân hình thành Trần nợ công.
Như đã nói ở trên, Trần nợ công là hạn mức nợ có thể cản trở khả năng của Kho bạc
để quản lý tài chính của chính phủ Trong trường hợp cực đoan, khi nợ gần với giới hạn quy định của nó, Chính phủ phải có các biện pháp để giải quyết tình trạng nợ công vượt trần
Bên cạnh đó, Giới hạn nợ cũng cung cấp cho Quốc hội những chuỗi kiểm soát túi tín dụng của các địa phương, cho phép Quốc hội khẳng định các đặc quyền hiến pháp củamình để kiểm soát chi tiêu Giới hạn nợ cũng áp đặt một hình thức trách nhiệm tài chính buộc Quốc hội phải có hành động rõ ràng để có thể khống chế tình trạng chi tiêu vượt hơn
thu nhập Theo lời của một tác giả, giới hạn nợ "thể hiện sự tôn kính quốc gia về ý tưởng
tiết kiệm và quản lý kinh tế về các vấn đề tài chính của chính phủ".
1.3 NGƯỠNG NỢ CÔNG AN TOÀN CỦA MỘT SỐ NỀN
KINH TẾ TRÊN THẾ GIỚI
Không phải lúc nào nợ công cao cũng ngay lập tức mang lại “kết cục” bi đát cho mộtquốc gia nào đó Thực tế cho thấy, những cuộc khủng hoảng nợ công chỉ diễn ra khiChính phủ của một quốc gia không thể trả nợ đúng hạn, cả gốc và lãi, nên phải tuyên bốquốc gia phá sản hoặc cầu cứu sự trợ giúp quốc tế Vì thế, xác định ngưỡng nợ công antoàn là cần thiết nhằm quản lý nợ công hiệu quả
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính của mộtnền kinh tế Vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toàn hay không là cầnthiết đối với các nhà đầu tư cũng như với Chính phủ của quốc gia đó Tuy nhiên, hiện naytrên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về ngưỡng an toàn đối với các chỉ tiêu về nợ công
Trang 9để áp dụng cho tất cả các nước Việc xác định các chỉ tiêu an toàn về nợ công của từngnước thường được dựa trên cơ sở đánh giá thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chínhsách tài khóa, tiền tệ, nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và cóthể tham khảo khuyến nghị của các tổ chức Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thếgiới (WB) về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phân loại chất lượng khuôn khổ thể chế
và chính sách
Trên thế giới, việc xác định ngưỡng an toàn cho nợ công được thực hiện dướinhiều hình thức: Dựa trên các cam kết chính trị hoặc các quy định về tài chính theo thỏathuận khu vực được ký kết; do Hiến pháp quy định (như ở Hungary và Phần Lan) hoặc doNghị viện quyết định hàng năm
Ở một số nước như Argentina, Brazil, Canada, Nhật Bản, Moldova, New Zealandhay Tây Ban Nha, Nghị viện được trao quyền xác định giới hạn nợ công thông qua xemxét và phê chuẩn Đạo luật Ngân sách hoặc Đạo luật Phân bổ ngân sách hàng năm Đơn
cử, ở Brazil, Hiến pháp quy định cấm Chính phủ vay vượt quá chi phí vốn trong năm tàichính Quy định này được xem như nguyên tắc vàng và được thực thi thông qua Đạo luậtTrách nhiệm tài khóa của Brazil Điều 30 Luật này quy định, Thượng viện quyết định giớihạn nợ hàng năm ở mọi cấp của Chính phủ
Ở Mỹ, trước khi Đạo luật Ngân sách Quốc hội và kiểm soát việc sung công 1974được thực thi, giới hạn nợ hàng năm phải được Hạ viện phê chuẩn, cùng với ngân sách,dưới hình thức thông qua nghị quyết Theo Điều I Mục 8 của Hiến pháp Mỹ, chỉ Quốc hộimới có thể ủy quyền Chính phủ đi vay nợ dựa trên tín dụng quốc gia Kể từ khi lập quốcđến năm 1917, Quốc hội Mỹ trực tiếp xem xét ủy quyền từng khoản nợ do Chính phủtrình ra Nhằm tạo sự linh hoạt hơn trong cung cấp tài chính cho các hoạt động quân sựcủa Mỹ trong Thế chiến I, Quốc hội đã sửa đổi phương pháp ủy quyền cho phép Chínhphủ vay nợ trong Đạo luật Công trái Tự do thứ hai (Second Liberty Bond) năm 1917.Theo Luật, Quốc hội thiết lập giới hạn nợ công, còn gọi là “trần nợ”, trên tổng khối lượngtrái phiếu mới có thể được ban hành “Trần nợ” hiện nay là giới hạn áp dụng cho hầu hếtcác khoản nợ liên bang Ban đầu, “trần nợ” do các Đạo luật Nợ công năm 1939 và 1941thiết lập, nhưng về sau các đạo luật này được sửa đổi nhằm cho phép điều chỉnh mức trần
Trang 10Khi thảo luận về việc vạch ra ngưỡng an toàn cho nợ công, giới chuyên gia nhấnmạnh, không nên dựa quá nhiều vào ngưỡng nợ Mặc dù đây là thông số hữu ích nhưngnếu chỉ nhìn vào ngưỡng an toàn thì chưa đủ Khi xem xét tình trạng nợ công của mộtnước cần phải xem các nước có nền kinh tế tương tự có ngưỡng nợ thế nào và nên tínhđến cả rủi ro về lòng tin Quan trọng hơn, cần hiểu được phạm vi, quy mô và chất lượng
nợ thực chất như thế nào? Nên xác định trần nợ bao nhiêu phần trăm là vừa để bảo đảmthúc đẩy tăng trưởng ngắn hạn, dài hạn
Tại các nước Khu vực đồng tiền chung châu Âu (Eurozone), quy định hạn mứctrần nợ công áp dụng chung cho tất cả các nước trong khối là dưới 60% GDP, thâm hụtngân sách dưới 3% GDP
Vương quốc Anh đã vận hành hai quy tắc tài khóa trong những năm gần đây Quytắc thứ nhất yêu cầu trong một chu kỳ “Chính phủ chỉ được phép vay để đầu tư chứ khôngvay để chi thường xuyên” (đây được xem là một trong những “nguyên tắc vàng”) Quy tắcthứ hai yêu cầu “Nợ ròng khu vực công theo tỷ lệ với GDP cần phải giữ ổn định ở mứccẩn trọng - hiện nay được xác định dưới 40% GDP” (quy tắc đầu tư vững chắc)
Năm 2003, sau cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu Á, Indonesia đã đặt raquy tắc tài khóa, theo đó ấn định mức bội chi ngân sách hàng năm tối đa là 3% GDP và
dư nợ công tối đa là 60% GDP
Hiến pháp của Singapore quy định, Chính phủ trong nhiệm kỳ của mình (5 năm)phải bảo đảm cân bằng ngân sách, nghĩa là thâm hụt ngân sách của bất kỳ năm nào phảiđược bù đắp bằng thặng dư ngân sách tích lũy của những năm còn lại trong nhiệm kỳ.Trong trường hợp đặc biệt, Chính phủ có thể bù đắp thâm hụt ngân sách bằng thặng dưngân sách của nhiệm kỳ trước, nhưng phải được sự chấp thuận đồng thời của nghị viện vàtổng thống
Luật Trách nhiệm Tài khóa (1994) của New Zealand quy định cụ thể 5 nguyên tắcquan trọng mà Chính phủ phải tuân thủ, trong đó có yêu cầu giảm tổng nợ xuống mức cẩntrọng; bảo đảm bình quân tổng chi thường xuyên không vượt quá tổng thu thườngxuyên Mặc dù Luật không quy định số liệu cụ thể, nhưng Chính phủ nước này sau đócũng tự đặt mục tiêu duy trì mức nợ dưới 30% GDP
Trang 11Tỷ lệ nợ/GDP của Trung Quốc 6 tháng đầu năm là 250%, vẫn thấp hơn nhiều sovới phần lớn các nền kinh tế phát triển như Mỹ, Anh và Nhật Bản với tỷ lệ nợ/GDP tínhđến cuối năm 2013 lần lượt là khoảng 260%, 277% và 415% Tuy nhiên, nợ công củaNhật Bản không gây khó cho nền kinh tế do họ có khả năng trả nợ trong khi với TrungQuốc, đây là điều đáng quan tâm khi nợ công gia tăng rất nhanh so với GDP kể từ năm
2009 đến nay, còn kinh tế lại tăng trưởng chậm hơn
Với LB Nga, trong những năm từ 2004 – 2008, Tổng thống V.Putin đã đặt ranhiệm vụ cho Chính phủ là phải giảm đến mức thấp nhất mức nợ công từ các khoản vaycủa nước ngoài Trong những năm gần đây Nga luôn là nước có mức nợ công gần nhưthấp nhất ở châu Âu – khoảng hơn 10% đến xấp xỉ 11% GDP
Trang 12CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP XÂY DỰNG TRẦN
NỢ CÔNG
Có nhiều nghiên cứu về bản chất của khủng hoảng nợ công đã được tiến hành, và cũngđưa ra nhiều định nghĩa khác nhau về khủng hoảng nợ công Theo định nghĩa củaManasse, Roubini và Schimmelpfennig (2003): “Một quốc gia được cho là khủng hoảng
về nợ công nếu bị Standard & Poor’s xếp hạng là vỡ nợ, hoặc được nhận một khoản vaykhông ưu đãi lớn của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)”
Nợ công phản ánh và ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe và khả năng tài chính của mộtnền kinh tế Chính vì vậy, việc đánh giá khoản nợ của một quốc gia có an toàn hay khôngtrở nên vô cùng cần thiết đối với các nhà đầu tư cũng như chính bản thân chính phủ củaquốc gia đó Nhờ đó mà xếp hạng tín dụng nợ công ra đời
Tuy nhiên, hiện nay trên thế giới chưa có tiêu chuẩn chung về mức ngưỡng an toànđối với các chỉ tiêu về nợ công để áp dụng cho tất cả các nước
Việc xác định các chỉ tiêu an toàn về nợ công của từng nước thường được dựa trên cơ
sở đánh giá thực trạng nợ, tình hình kinh tế vĩ mô, chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ,nhu cầu về vốn đầu tư phát triển, hệ số tín nhiệm của quốc gia và có thể tham khảokhuyến nghị của IMF/WB về ngưỡng an toàn nợ nước ngoài theo phân loại chất lượngkhuôn khổ thể chế và chính sách
2.1 ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ NỢ THEO TIÊU CHUẨN WB
- Số dư nợ so với tổng thu nhập quốc nội (GDP): K1 =x 100%
- Số dư nợ so với kim ngạch xuất khẩu: K2= x100%
- Nghĩa vụ trả nợ nước ngoài hàng năm so với kim ngạch xuất khẩu:
- Lãi đến hạn trả so với kim ngạch XK: K4 = x100%
=> Đánh giá mức độ nợ theo WB:
Trang 13Bảng 2.1 Phân loại mức độ nợ công theo IMF
Đây chỉ là ngưỡng tham khảo cho các quốc gia trên thế giới chứ không phải là mức
ấn định trong mọi trường hợp Tuy nhiên các ngưỡng này được WB xác định một các tương đối dựa trên cơ sở thực tiễn từ các nền kinh tế
Hình 2.1 Nợ công của các quốc gia trên thế giới (Nguồn: Inforaphic.com)
Trang 14Có thể thấy rằng Nhật Bản, Singapore, Hy Lạp, là một trong những nước có nợcông trên 100% so với GDP với số tiền nợ rất lớn, do đó mỗi người dân của các quốc gianày đang phải gánh trên vai những khoản nợ công rất lớn.
Tuy nhiên, khác với Nhật Bản, Hy Lạp đang gặp những khó khăn vô cùng lớn vìnhững khoản nợ này mặc dù số tiền nợ công nhỏ hơn Trước khi gia nhập EU Hy Lạp chỉđược vay những khoản tiền nhỏ với lãi suất rất cao lên tới 18% nhưng sau khi gia nhập
EU thì quốc gia này chỉ phải chịu lãi suất ngang với Đức bởi các quốc gia tin rằng khi HyLạp không trả được nợ thì họ sẽ được các nước trong khối liên minh châu Âu đứng ra trả
hộ vì sử dụng chung đồng tiền euro Sự tín nhiệm của Hy Lạp đã thay đổi hoàn toàn Cácchính trị gia Hy Lạp thực hiện chi tiêu lớn để tăng uy tin và hứa hẹn tăng việc làm, lương,
… nhưng những khoản này lại được chi trả bằng các khoản vay rồi tích lũy thành cáckhoản nợ khủng lồ Và vòng lặp vay để trả nợ tiếp tục diễn ra kéo theo ảnh hưởng củatoàn khu vực Nền kinh tế yếu làm cho Hy Lạp trở thành con nợ nguy hiểm và mối lo ngạirất lớn của khu vực châu Âu
Trong khi đó, Nhật Bản có nợ công rất lớn lên tới 245% GDP nhưng đây khôngđược xem là ngưỡng nguy hiểm báo động cho nền kinh tế Phần lớn các khoản nợ công(~90%) nằm trong tay các nhà đầu tư trong nước nên Nhật chưa phải trải qua cuộc hủnghoảng như Hy Lạp và tránh được tác động trực tiếp từ sụ thất thường của thị trường tàichính thế giới Theo IMF (2008),tổng tài sản Nhật ở nước ngoài là 5700 tỷ USD cao hơnnhiều so với mức nợ nước ngoài nên nếu Nhật gặp khó khăn trong việc huy động tàichính trong nước Ngoài ra hệ số ICOR của nước này vào khoảng 3,0 cộng với dự trữngoại tế lớn nên khả năng trả nợ không quá khó
Do đó, đôi khi nợ công vượt ngưỡng trần nợ an toàn do WB đề xuất thì chưa thểkhẳng định rằng quốc gia đó đang gặp mối đe dọa về vỡ nợ Dưới đây là một số ví dụ vềtrần nợ công có thể thấy rằng các trần nợ này khá gần so với trần nợ của WB
2.2 XÁC ĐỊNH DỰA TRÊN CÁC YẾU TỐ CỦA QUỐC GIA
Như đã trình bày, không có một cách chính thống và thống nhất nào trong cách tính
nợ công và tràn nợ công của các quốc gia Tuy nhiên, các mức trần nợ này có thể xem xét