1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

tiểu luận tài chính công nghiên cứu một số cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học cho việt nam

52 60 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 52
Dung lượng 565,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài Nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới, Vũ Minh Long 2013 đã cho rằng, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7

I Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài 7

II Cơ sở lý thuyết và khung phân tích 7

1 Cơ sở lý thuyết về nợ công 7

2 Cơ sở lý thuyết về khủng hoảng nợ công 13

III Phương pháp nghiên cứu 14

IV Phạm vi nghiên cứu 14

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 16

I Kết quả nghiên cứu 16

1 Cuộc khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh (1970 – 1980) 16

2 Cuộc khủng hoảng nợ công Đông Á và Đông Nam Á (1997) 20

3 Khủng hoảng nợ công Châu Âu (2009) 28

II Thảo luận kết quả nghiên cứu 35

CHƯƠNG 3: KIẾN NGHỊ GIẢI PHÁP CHO VIỆT NAM 38

I Tình hình nợ công tại Việt Nam 38

II Kiến nghị giải pháp 42

1 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 42

2 Một số kiến nghị 44

KẾT LUẬN 51

TÀI LIỆU THAM KHẢO 52

Trang 2

DANH MỤC HÌNH

Hình 1: Tổng vốn đầu tư (% GDP) tại các nước Mỹ Latinh 17

Hình 2: Tỷ lệ nợ nước ngoài/ GNI của một số quốc gia Mỹ Latin 18

Hình 3: Tỷ lệ tăng trưởng GDP thực tại châu Âu và các nước 33

Hình 4: Thất nghiệp ở châu Âu và các nước 34

Hình 5: Nợ công bình quân đầu người của Việt Nam giai đoạn 2006-2015 39

DANH MỤC BẢNG Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp trong khủng hoảng 24

Bảng 2: Nợ công và thâm hụt ngân sách nhóm PIIGS 2006-2011 (% GDP) 31

Bảng 3: Nợ công Việt Nam giai đoạn 2011-2016 38

Trang 3

LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang kỷ nguyên số 4.0, nền kinh tế thế giới đã có những bước chuyển mìnhmạnh mẽ nhưng đồng thời lại đi vào suy thoái bắt nguồn từ khủng hoảng nợ công trongnhững năm gần đây Nợ công đã thực sự trở thành vấn đề vô cùng nóng bỏng không chỉđối với các nước xảy ra khủng hoảng nợ mà còn đặt ra nhiều vấn đề với các quốc giakhác có tiềm ẩn rủi ro nợ công như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản hay thậm chí là ViệtNam Nợ công ở một số quốc gia đã vượt qua khỏi ngưỡng an toàn và đang dần đe dọađến sự ổn định cũng như sự phát triển của nền kinh tế thế giới

Xuyên suốt chiều dài lịch sử kinh tế thế giới đã xảy ra rất nhiều cuộc khủng hoảng

nợ công gây ra nhiều thiệt hại to lớn cho nền kinh tế Đặc biệt gần đây nhất là cuộc khủnghoảng nợ công châu Âu mà hậu quả của nó vẫn để lại đến thời điểm hiện tại và khôngnhững thế mà nó còn có dấu hiệu tác động tiêu cực đến nền kinh tế của các quốc gia trongkhu vực hay trên toàn thế giới

Trong một vài năm trở lại đây, sau những bước đà tăng trưởng đáng kể, nền kinh

tế Việt Nam đã có dấu hiệu chững lại Điều này có thể được giải thích bởi những tác độngbên ngoài khiến cho Việt Nam bước sang giai đoạn không thể sử dụng dòng vốn đầu tưnhằm thúc đẩy tăng trưởng được nữa Song, bên cạnh đó, những số liệu thống kê cả củaViệt Nam và quốc tế đều cho thấy Việt Nam thường xuyên có thâm hụt ngân sách và nợcông củaViệt Nam cũng đang có xu hướng tăng lên Như vậy, vấn đề được đặt ra là cần

có những nghiên cứu để học hỏi kinh nghiệm từ những cuộc khủng hoảng nợ công tiêubiểu trên thế giới từ đó rút ra bài học và những giải pháp đúng đắn cho nền kinh tế ViệtNam

Dựa vào những lý do trên, nhóm chúng em chọn đề tài: “Nghiên cứu một số cuộckhủng hoảng nợ công trên thế giới và bài học cho Việt Nam” Nội dung nghiên cứu củachúng em có ba phần chính:

Trang 4

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu, cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Chương 2: Kết quả và thảo luận

Chương 3: Kiến nghị giải pháp cho Việt Nam

Do đây là lần đầu tiên chúng em được tiếp xúc với mô hình cấu trúc nghiên cứumới nên trong quá trình nghiên cứu, nhóm chúng em vẫn còn gặp phải những hạn chế vềkiến thức, hiểu biết thực tiễn và nguồn tài liệu vậy nên bài nghiên cứu không thể khôngtránh khỏi những thiếu sót Chúng em rất hy vọng cô có thể thông cảm cho những thiếusót đó và chúng em rất mong muốn đón nhận những góp ý của cô để chúng em hoàn thiện

đề tài của mình tốt hơn nữa Chúng em xin chân thành cảm ơn sự hướng dẫn của cô đãgiúp chúng em hoàn thành bài tiểu luận này

Trang 5

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ

SỞ LÝ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

I Tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài

Nghiên cứu về các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới, Vũ Minh Long (2013)

đã cho rằng, nguyên nhân của cuộc khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ Latinh những năm

1980 xuất phát từ chính phủ với sự can thiệp quá sâu của Nhà nước vào việc đầu tư cho

cơ sở hạ tầng và quá trình công nghiệp hóa, còn cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu năm

2009 xảy ra do các nước châu Âu thưc hiện các biện pháp kích cầu, nhưng không đi kèmvới chính sách tài khóa bền vững cùng với việc thiếu cơ chế phối hợp, ứng phó với các

quốc gia trong khu vực [1] Cũng đồng quan điểm về cuộc khủng hoảng nợ công Châu Âu

này, Th.S Lê Linh Đan và Đỗ Hoàng Linh (2011) cho rằng nguyên nhân chính là do việc

triển khai các gói kích cầu chưa hợp lý [2].

Đặc điểm chung trong các nghiên cứu trước đây đều chỉ ra cuộc khủng hoảng toàncầu 2008 cũng là một chất xúc tác khiến trầm trọng hóa cuộc khủng hoảng nợ công châu

Âu 2009

II Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

1 Cơ sở lý thuyết về nợ công

a Khái niệm nợ công

Để có thể nghiên cứu được các cuộc khủng hoảng nợ công, ta cần tìm hiểu đượcbản chất, nguyên nhân và đánh giá được các vấn đề nợ công, nhưng trước hết ta cần hiểu

và thống nhất về khái niệm nợ công Về cơ bản, nợ công là một khái niệm tương đối phứctạp và có rất nhiều quan điểm được đưa ra về khái niệm này Chính vì vậy, để thống nhất,bài nghiên cứu sẽ xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên việc khái quát khái niệm nợ công vàkhái niệm xung quanh nó của Ngân hàng thế giới (WB), của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF)

và của Việt Nam

Trang 6

7

Trang 7

Nguyên nhân xuất phát của nợ công

Nợ công xuất phát từ nhu cầu chi tiêu của chính phủ; khi chi tiêu của chính phủ lớnhơn số thuế, phí, lệ phí thu được, Nhà nước phải đi vay (trong hoặc ngoài nước) để trangtrải thâm hụt ngân sách Các khoản vay này sẽ phải hoàn trả gốc và lãi khi đến hạn, Nhànước sẽ phải thu thuế tăng lên để bù đắp Vì vậy, suy cho cùng nợ công chỉ là sự lựa chọnthời gian đánh thuế: hôm nay hay ngày mai, thế hệ này hay thế hệ khác Vay nợ thực chất

là cách đánh thuế dần dần, được hầu hết chính phủ các nước sử dụng để tài trợ cho cáchoạt động chi ngân sách Nợ chính phủ thể hiện sự chuyển giao của cải từ thế hệ sau (thế

hệ phải trả thuế cao) cho thế hệ hiện tại (thế hệ được giảm thuế) Nhìn nhận từ khía cạnh

này có hai quan điểm cơ bản về nợ công [3].

Theo quan điểm truyền thống về nợ công, đại diện là Keynes, cho rằng, việc vay

nợ của chính phủ làm giảm tiết kiệm của quốc gia và mức tích luỹ vốn, vì số thuế cắtgiảm được bù đắp bằng cách vay nợ nên khuyến khích thế hệ hiện tại tiêu dùng nhiềuhơn, số người thất nghiệp giảm đi mặc dù lạm phát có thể cao hơn Tuy nhiên, vay nợ đểlại gánh nặng nợ cho thế hệ tương lai; các thế hệ tương lai phải sống trong một quốc giavay nợ nước ngoài lớn hơn và vốn tích luỹ từ nội bộ nhỏ hơn

Trái ngược với quan điểm truyền thống về nợ công, những người theo quan điểmkinh tế học vĩ mô cổ điển (hình thành từ thập niên 1970), đứng đầu là Ricardo-Barro chorằng, biện pháp cắt giảm thuế được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích thích chi tiêutrong ngắn hạn, vì không làm tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà chỉ làmdịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương lai Chính sách cắt giảm thuế và tài trợ bằng vay

nợ sẽ không gây ra những tác động thực sự đối với nền kinh tế Việc chấp nhận thâm hụtgiảm thu trong thời kỳ suy thoái, tăng thu trong giai đoạn hưng thịnh và vay nợ cũng làcách “lưu thông thuế” để giảm thiểu những tác động tiêu cực của thuế đối với chu trìnhkinh doanh

8

Trang 8

Khái niệm nợ công

Theo WB (2002) thì nợ công là toàn bộ những khoản nợ của Chính phủ và những

khoản nợ được Chính phủ bảo lãnh Còn theo IMF (2010), thì nợ công được hiểu là nghĩa vụtrả nợ của khu vực công Đi kèm với đó là định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khuvực Chính phủ và khu vực các tổ chức công Trong đó, khu vực chính phủ bao gồm: Chínhphủ Trung ương, Chính quyền liên bang, Chính quyền địa phương; khu vực các tổ chức côngbao gồm: Các tổ chức phi tài chính và Các tổ chức công tài chính (Ngân hàng Trung ương,các tổ chức nhà nước nhận tiền gửi khác, các tổ chức tài chính công khác) Như vậy, hầu hếtcác tổ chức quốc tế đều quan niệm nợ công theo nghĩa rộng, theo đó nợ công là tổng cáckhoản nợ của khu vực công, của tất cả các định chế công Một số khác theo nghĩa hẹp, nợcông bao gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và

nợ của các tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán

Năm 2009, Quốc hội đã ban hành Luật quản lý nợ công, được xem là một bướctiến bộ lớn trong hệ thống văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này Theo Bộ Luậtnày thì nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chínhquyền địa phương

- Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước, nước ngoàiđược ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc cáckhoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, ủy quyền phát hành theo quyđịnh của pháp luật Nợ chính phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhànước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ

- Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được chính phủ bảo lãnh

- Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành

Trang 9

 Phân loại nợ công [4]

Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khác nhautrong việc quản lí và sử dụng nợ công

 Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay: Nợ công có hai loại là nợ trong nước

và nợ nước ngoài

- Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là cá nhân, tổ chức Việt Nam

- Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chính phủ nước ngoài, vùng lãnhthổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhân nước ngoài Như vậy, theo phápluật Việt Nam, nợ nước ngoài không được hiểu là nợ mà bên cho vay là nướcngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ công không phải nợ trong nước

 Theo phương thức huy động vốn: Nợ công có hai loại là nợ công từ thỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ

- Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từ những thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với cá nhân, tổ chức cho vay

- Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơ quan nhà nước cóthẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn.Các công cụ nợ này có thời hạnngắn hoặc dài, thường có tính vô danh và khả năng chuyển nhượng trên thị trườngtài chính

 Theo tính chất ưu đãi của khoản vay: Nợ công bao gồm nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thương mại thông thường

 Theo trách nhiệm đối với chủ nợ: Nợ công bao gồm nợ công phải trả và nợ công bảo lãnh

- Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chính phủ, chính quyền địa phương có nghĩa

vụ trả nợ

- Nợ công bảo lãnh là khoản nợ mà chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay không trả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ

 Theo cấp quản lí nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trung ương và

nợ công của chính quyền địa phương

10

Trang 10

- Nợ công của trung ương là các khoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh.

- Nợ công của địa phương là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay

nợ và có nghĩa vụ trực tiếp trả nợ Theo quy định của Luật ngân sách nhà nướcnăm 2002 thì những khoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồnthu ngân sách và đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương đượcChính phủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương

b Vai trò của nợ công với nền kinh tế

Để có một cái nhìn khái quát nhất trước khi phân tích nợ công ta cần xem xét tácđộng của nợ công đối với nền kinh tế dưới cả hai góc độ: tác động tích cực và tác động tiêu cực

Tác động tích cực

Thứ nhất, nợ công đáp ứng nhu cầu vốn đầu tư, đảm bảo an sinh xã hội Những

khoản vay nước ngoài sẽ là nguồn tài trợ bổ sung chủ yếu cho đầu tư phát triển mà khônglàm thoái lui đầu tư tư nhân khi chính phủ đầu tư lớn

Thứ hai, nợ công góp phần huy động vốn cho bội chi NSNN Trong khi việc tăng

thuế và giảm chi tiêu đòi hỏi phải thực hiện trong thời gian dài, cũng như phải thực hiệnđồng bộ nhiều chính sách, in tiền gây lạm phát cao, việc vay nợ sẽ góp phần bù đắp kịpthời bội chi NSNN trong khi các nguồn thu khác chưa kịp đáp ứng

Thứ ba, thông qua vay nợ tạo ra công cụ điều hành chính sách tiền tệ và điều tiết

thị trường tài chính Chính phủ các nước sử dụng nhiều hình thức vay, mượn khác nhautrong đó việc phát hành trái phiếu chính phủ đã góp phần quan trọng tạo thêm công cụ để

ổn định và điều hòa lưu thông tiền tệ

Thứ tư, nợ công góp phần thúc đẩy quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đối với những

khoản nợ nước ngoài sẽ tạo điều kiện cho các quốc gia vay nợ được tiếp cận nguồn vốn màkhông làm giảm đầu tư hay tiêu dùng trong nước Hơn nữa, khi tiếp cận với các nguồn bênngoài đòi hỏi sự nỗ lực trong việc cải cách về thể chế, môi trường kinh doanh,

Trang 11

cơ sở hạ tầng, của các nước vay nợ Điều này tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội nhiều hơn để quốc gia đó hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

Tác động tiêu cực của nợ công

Thứ nhất, nợ công tác động đến sự tăng trưởng kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô.

Nếu nợ công chủ yếu là vay nợ trong nước sẽ đẩy mặt bằng lãi suất lên cao, làm tăng chiphí đầu tư, giảm nhu cầu đầu tư dẫn đến hiệu ứng thoái lui đầu tư Còn nếu chủ yếu làvay nợ nước ngoài có thể gây ra bất ổn về tỷ giá từ đó khiến hoạt động đầu tư bị sụt giảmcùng sự gia tăng lãi suất trong nước

Thứ hai, nợ công tác động làm tăng lãi suất, tạo áp lực gây ra lạm phát Khi tăng

vay nợ trong nước, lãi suất làm tăng chi phí đầu tư, tăng giá thành và giá bán sản phẩm.Khi chính phủ tăng vay nợ nước ngoài, một dòng ngoại tệ lớn chảy vào trong nước có thểgiảm sức ép cân đối ngoại tệ trong ngắn hạn Về mặt dài hạn áp lực trả nợ cả gốc và lãibằng ngoại tệ sẽ đẩy cầu ngoại tệ tăng, đồng nội tệ giảm giá làm tăng chi phí đầu vàonguyên vật liệu, máy móc, thiết bị, dẫn đến nguy cơ lạm phát

Thứ ba, nợ công cao có nguy cơ làm giảm nguồn lực tài chính của khu vực tư

nhân, lấn át đầu tư tư nhân - là khu vực đầu tư theo xu hướng hiệu quả Đặc biệt là nếukhu vực công không hiệu quả thì việc vay vốn của khu vực này càng lớn, hiệu quả chungcủa nền kinh tế càng thấp Nợ công cao trong điều kiện đầu tư công kém hiệu quả sẽ làmgiảm hiệu quả sử dụng vốn xã hội

Thứ tư, nếu không được kiểm soát tốt thì nợ công cao có thể là nguyên nhân cơ

bản dẫn tới khủng hoảng nợ quốc gia mà các nước như Hy Lạp, Ai-len là những ví dụđiển hình Khi nợ công quá cao tức là chính phủ đi vay nợ nhiều hơn khiến mặt bằng lãisuất tăng, chính phủ càng vay nhiều thì lãi suất trái phiếu lại càng mạnh Mặt khác, khinguồn dự trữ ngoại tệ cạn kiệt, các khoản vay nợ sẽ rơi vào tình trạng mất thanh khoản,các chủ nợ mất lòng tin về chính phủ Như vậy, khủng hoảng nợ công sẽ nổ ra và kèmtheo những hậu quả rất nặng nề

Tóm lại, nợ công với mức độ vừa phải là cần thiết trong sự phát triển kinh tế của một

quốc gia thông qua việc phối hợp các chính sách sử dụng ngân sách phù hợp và có 12

Trang 12

hiệu quả Ngược lại, nếu chính sách sử dụng ngân sách của quốc gia đó bất hợp lý, khônghiệu quả sẽ làm nợ công ngày một tăng và có tác động rất xấu đến nền kinh tế, thậm chí là

cả những bất ổn về chính trị xã hội

2 Cơ sở lý thuyết về khủng hoảng nợ

công a Khái niệm khủng hoảng nợ công

Khủng hoảng nợ công là tình trạng nợ công tăng cao, và mất khả năng chi trả nợ

của quốc gia, làm chao đảo nền kinh tế do sự mất cân đối giữa thu và chi ngân sách quốcgia Nhu cầu chi nhiều quá trong khi thu không đáp ứng nổi, chính phủ đi vay tiền thôngqua nhiều hình thức như phát hành công trái, trái phiếu, hiệp định tín dụng, … để chi, dẫnđến tình trạng nợ Thâm hụt ngân sách kéo dài làm cho nợ công gia tăng Nợ không trảsớm, để lâu thành “lãi mẹ đẻ lãi con” và ngày càng chồng chất thêm

Các dấu hiệu khủng hoảng nợ công:

 Các dấu hiệu bên ngoài : sự tăng đột biến lãi suất trái phiếu chính phủ; các chỉ

số về an toàn nợ công bị vượt quá xa; các chỉ số về khả năng trả nợ sụt giảmmạnh

 Các dấu hiệu bên trong : quốc gia không còn khả năng trả nợ trong ngắn hạn

và trung hạn và chính phủ tuyên bố mất khả năng trả các khoản nợ đến hạn

b Tác động của khủng hoảng nợ công:

Gây ra bất ổn chính trị và xã hội

Khi nợ công quá lớn, việc thắt chặt chi tiêu, thực hiện chính sách thắt lưng buộcbụng lại dẫn đến những cuộc biểu tình phản đối của dân chúng, gây căng thăng, bất ổnchính trị, xã hội, bởi những người nghèo là những người yếu thế trong xã hội và là nhữngngười chịu tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi từ Chính phủ Chẳng hạn

để nhận được gói cứu trợ nhằm giải quyết khủng hoảng nợ, Chính phủ Hy Lạp đã quyếtđịnh tăng nhiều loại thuế, từ thuế GTGT, đến thuế thu nhập, thuế bất động sản , thuế đánhvào các mặt hàng như rượu, thuốc lá…đồng thời chấp nhận các biện pháp cắt giảm chitiêu mạnh tay Để phán đối chính sách này của Chính phủ, cuộc tổng đình công đã diễn

Trang 13

ra, hàng chục nghìn người đã tham gia biểu tình trên đất nước Hy Lạp nhất là tại thủ đô Athens.

Kìm hãm sự tăng trưởng của nền kinh tế

Khi nợ công tăng cao, Chính phủ các nước thường thi hành chính sách thắt lưngbuộc bụng thông qua việc cắt giảm chi tiêu, tăng thuế, giảm đầu tư, kìm hãm sự phát triểncủa kinh tế làm giảm tốc độ tăng trưởng, thậm chí có thể đẩy đất nước vào cuộc khủnghoảng kép Nghiêm trọng hơn, việc đưa ra các gói kích thích đầu tư kinh tế là một trongnhững nguyên nhân tăng nợ công của Chính phủ Vì thế, vấn đề đặt ra cho Chính phủ làgiải quyết được tình trạng thâm hụt ngân sách nhưng không đẩy nền kinh tế vào tìnhtrạng suy thoái, trong khi các biện pháp giải quyết các vấn đề này không thuận chiều

Làm suy thoái niềm tin của người dân và giới đầu tư

Khi nợ công tăng cao, nền kinh tế bị hạ bậc tín nhiệm, niềm tin của người dân vàgiới đầu tư bị lung lay, khi đó nền kinh tế trở thành đối tượng tấn công của các thế lựcđầu tư quốc tế Thí dụ, đối với Hy Lạp, khi tổ chức tín dụng Standard & Poor (S & P) hạbậc tín nhiệm với trái phiếu Chính phủ Hy Lạp, các quỹ đầu tư lớn lập tức bán ra loại tráiphiếu này, đồng thời từ chối mua vào trong đợt phát hành tiếp theo Nếu Chính phủ muốnhuy động tiền từ nguồn tài chính sẽ phải chấp nhận chi vốn cao hơn, và sau đó tiếp tuc rơivào vòng xoáy hạ bậc tín nhiệm Việc đưa ra tín dụng trong thời điểm nhạy cảm, dễ tổnthương của nền kinh tế có nguy cơ làm khủng hoảng thêm trầm trọng và đẩy nền kinh tếvào khó khăn bế tắc

III Phương pháp nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để chỉ ranguyên nhân của các cuộc khủng hoảng nợ công đã diễn ra trên thế giới và tình hình nợcông tại Việt Nam hiện nay

IV Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là các quốc gia và khu vực đã trải qua các cuộckhủng hoảng nợ công trên thế giới, gồm khu vực Mỹ Latinh, khu vực Đông Á và ĐôngNam Á, khu vực đồng tiền chung Châu Âu

Trang 15

CHƯƠNG II: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

I Kết quả nghiên cứu

1 Cuộc khủng hoảng nợ công Mỹ Latinh (1970 – 1980)

a Nguyên nhân

Kể từ sau cuộc đại khủng hoảng những năm 1930s, cơn bão khủng hoảng lại tiếptục xảy ra đối với các nước Mỹ Latinh vào cuối những năm 1970 đến 1980 Đây đượcxem là một thảm họa trong lịch sử khu vực này, mà bắt đầu từ Mexico (1982) sau đó lanrộng ra các quốc gia khác trong khu vực: Argentina (1982, 1989), Bolivia (1980,1986 –1987), và cuối cùng là Ecuador (1982, 1984)

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khung hoảng Mỹ Latinh trong thời giannày Thứ nhất, để thực hiện mục tiêu công nghiệp hóa, các quốc gia này tập trung chủ yếuvào việc đầu tư cho cơ sở hạ tầng dẫn đến bộ chi ngân sách một cách trầm trọng Thứ hai,các quốc gia này phải nhập khẩu nhiều nguyên vật liệu cũng như công nghệ sản xuất từnước ngoài, làm cho tỉ lệ nhập siêu ngày càng tăng Nhu cầu lớn về nguồn vốn của Chínhphủ phát sinh khiến họ phải đi vay nợ từ các quốc qia khác và các tổ chức quốc tế

Nghiên cứu mô hình công nghiệp hóa của các nước khu vực Mỹ Latinh, các nhànghiên cứu và phê bình gia cho rằng đây là một mô hình có quá nhiều sự can thiệp củanhà nước, thiếu những tự do thông thương của thị trường Các quốc gia áp dụng chínhsách không hiệu quả bằng việc tăng thuế và sử dụng hàng rào thuế quan để hạn chế nhậpkhẩu Hirschman (1971) thể hiện được suy nghĩ của mình về mô hình này ở khu vực MỹLatinh, đó là: “Công nghiệp hóa được kỳ vọng sẽ thay đổi trật tự xã hội, tuy nhiên tất cảnhững gì nó làm được chỉ là phát triển sản xuất” [5]

Theo thời gian, sự yếu kém của mô hình này dần dần ảnh hưởng đến tất cả các lĩnhvực kinh tế, chính trị và xã hội Sự mâu thuẫn xuất hiện đầu tiên ở nhóm các quốc giatrong khối Southern Cone (Argentina, Chile, Paraguay, Uruguay), là nơi chứng kiếnnhững sự thay đổi rõ rệt trong xã hội đi kèm với sự chậm lại của tốc độ tăng trưởng Theonhư phân tích của Fishlow (1988), điều này xuất phát từ việc các quốc gia này vẫn duy trìmột chế độ quân chủ độc tài trong quá trình chuyển dịch lên nền kinh tế thị trường, dẫnđến sự mâu thuẫn căn bản giữa tự do thị trường và sự can thiệp của chính phủ trên con

Trang 16

đường phát triển” Như vậy, nợ công của khu vực Mỹ Latinh xuất phát từ chính Chínhphủ.

b Diễn biến

Trong những năm đầu khi áp dụng mô hình công nghiệp hóa (1960s), mặc dùthường xuyên tồn tại thâm hụt thương mại nhưng nhìn chung tăng trưởng trong thời giannày vẫn ở mức cao, trung bình vào khoảng 5% mỗi năm Tuy nhiên bắt đầu vào khoảngcuối thập niên 70 cho đến giữa thập niên 80, tăng trưởng kinh tế bắt đầu suy giảm, thậmchí tăng trưởng âm Và mặc dù trong thập niên 80 này tồn tại thặng dư thương mại,nhưng tăng trưởng kinh tế dù có phục hồi vẫn không thể quay lại so với mức trong haithập niên trước đó

Từ giữa năm 1975-1982, các khoản nợ công của các nước Latinh đối với các tổchức tài chính và ngân hàng thế giới tăng với tỷ lệ gộp hàng năm lên đến trên 20%, khiếntổng nợ vay đã tăng từ 75 tỷ USD năm 1975 lên đến hơn 315 tỷ USD năm 1983, trong đó,thanh toán lãi suất và trả vốn gốc tăng mạnh, từ 12 tỷ USD năm 1975 lên 66 tỷ USD năm

1982 (The berge 1999)

Hình 1: Tổng vốn đầu tư (% GDP) tại các nước Mỹ Latinh

Trang 17

Hình 2: Tỷ lệ nợ nước ngoài/ GNI của một số quốc gia Mỹ Latin

Hầu hết các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đều đã từ chối hoặc giảm chovay các nước châu Mỹ Latin khác Trong khi đó, các khoản nợ vay của chính phủ cácnước lại chủ yếu là ngắn hạn và các nước gặp khó khăn trong thanh toán nợ khi các tổchức cho vay từ chối gia hạn các khoản vay Hàng tỷ USD nhanh chóng đến hạn thanhtoán và các dòng vốn bắt đầu thoái lui khỏi các quốc gia trong khu vực và các nướckhông còn có thể vay thêm

Cuộc khủng hoảng nợ tại đây bắt đầu vào tháng 8/1982 khi Mexico tuyên bố vỡ

nợ Tiếp đó là Brazil, Venezuela, Argentina và Bolivia Trong suốt những năm đầu củakhủng hoảng, tăng trưởng GDP các nước trong khu vực chỉ còn hơn 2%

Để có tiền trả nợ, họ đã cầu viện những tổ chức quốc tế như Quỹ Tiền tệ quốc tế(IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) Đổi lại, các nước phải chấp nhận thắt lưng buộcbụng, phá giá nội tệ hay tự do hóa thương mại để cải thiện nền tài chính Hậu quả là kinh

tế tăng trưởng trì trệ, thu nhập bình quân đầu người giảm và chênh lệch giàu nghèo ngàycàng tăng Đến tận đầu thập niên 90, khủng hoảng ở Mỹ Latinh mới lắng dịu

Sau này, Mexico tiến hành tự do hóa thương mại và dần áp dụng thể chế kinh tếthị trường Tuy nhiên, kinh tế phát triển lại đi kèm bùng nổ tín dụng thiếu kiểm soát.Tăng trưởng bắt đầu giảm sút năm 1993 và nợ xấu cũng tăng mạnh

Trang 18

Năm 1994, Mexico dần phá giá đồng peso để thu hút vốn đầu tư nước ngoài Tuynhiên, các nhà đầu tư đã mất niềm tin với nước này Đỉnh điểm là sau tuyên bố dự trữngoại hối cạn kiệt và đồng peso bị thả nổi Vốn bị rút ồ ạt đã châm ngòi cho khủng hoảngtài chính tại đây.

Tuy nhiên, Mỹ, IMF, WB, và Ngân hàng Thanh toán Quốc tế đã kịp thời hỗ trợgần 40 tỷ USD cho Mexico Đổi lại, nước này phải thắt chặt chính sách tài khóa và tiền

tệ, đồng thời tư nhân hóa và tự do hóa các hoạt động kinh tế Đến năm 1996, Mexico bắtđầu phục hồi

c Hậu quả

trọng đến toàn bộ nền kinh tế, chính trị, xã hội, y tế, giáo dục…gây ra một loạt các hệ lụy: nềnkinh tế bị suy giảm nghiêm trọng, GDP giảm mạnh, sản xuất đình trệ, thất nghiệp trầm trọng (tỉ lệthất nghiệp tại Chi-lê năm 1984 là 18.4%), thu nhập bình quân

đầu người giảm và chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng Tỉ lệ lạm phát trung bình năm

1982 là 86%, năm 1984 là 175%, thậm chí mức lạm phát của Bolivia năm này lên tới2300% Trong thực tế, trong mười năm sau năm 1980, tiền lương thực tế ở các khu vực

đô thị đã giảm xuống từ 20% đến 40%

Ngoài ra, các khoản đầu tư, mà đáng lẽ có thể được sử dụng để giải quyết các vấn

đề xã hội và nghèo đói, thì đã được sử dụng để trả nợ Khủng hoảng nợ công làm cho tìnhhình chính trị trở nên bất ổn Trong cuộc khủng hoảng những năm 1980, có rất nhiều cácchính thể cầm quyền bất lực ở một số nước Mỹ La Tinh đã bị lật đổ trước sức ép củakinh tế trong cuộc khủng hoảng nợ ví dụ như Chi-lê, Brazil…

Khủng hoảng nợ đẩy các nước đang phát triển vào tình thế lệ thuộc càng sâu sắchơn về mặt kinh tế và chính trị vào thế giới tư bản Các nước giàu càng có dịp mở rộnghơn nữa quyền bóc lột và cơ hội can thiệp và chính sách đối nội của các nước đang pháttriển, làm xói mòn sự tự chủ về kinh tế và tiến bộ xã hội Điển hình trong cuộc khủnghoảng nợ những năm 1980, Mỹ có ý định biến Mĩ La-tinh trở thành “sân sau” của mình

Trang 19

Đối với các nước cho vay

Nền kinh tế của các nước tư bản chủ nợ trong thời kỳ diễn ra khủng hoảng nợ cũng

thường khá u ám và cũng có thể đứng trên bờ vực phá sản Khi các nước con nợ lớn nhưBrazil hay Mexico tuyên bố ngừng trả nợ thì có khả năng dẫn đến nhiều ngân hàngthương mại chủ nợ của các nước tư bản cũng phá sản theo, hệ thống tài chính ngân hàngquốc tế bị lung lay Và cũng do các nước con nợ rơi vào khủng hoảng, đồng nghĩa vớiviệc khả năng thanh toán giảm đi nên quan hệ buôn bán trao đổi hàng hóa với các nước

và các khu vực khác trên thế giới cũng phần nào bị đóng băng

2 Cuộc khủng hoảng nợ công Đông Á và Đông Nam Á (1997)

a Nguyên nhân

Cuộc khủng hoảng tài chính Đông Á và Đông Nam Á bắt đầu năm 1997 bắt đầu tạiThái Lan được xem là cuộc khủng hoảng dữ dội nhất xảy ra tại các quốc gia đang pháttriển kể từ sau cuộc khủng hoảng nợ năm 1982 tại Mỹ Latinh Không chỉ dừng lại ở mộtquốc gia, nó tiếp tục lan rộng sang hầu hết các quốc gia khác trong khu vực Đông Á, từNhật Bản, Hàn Quốc, Hong Kong, đến các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia,Malaysia và Philippines Các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Singapore và

cả Việt Nam mặc dù ít bị ảnh hưởng hơn nhưng cũng chịu nhiều tác động tiêu cực Có rấtnhiều nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng Đông Á và Đông Nam Á:

Nền kinh tế vĩ mô yếu kém

Thái Lan và một số nước Đông Nam Á đã cố gắng thực hiện cái mà các nhà kinh

tế gọi là bộ ba chính sách không thể đồng thời Họ vừa cố định giá trị đồng tiền của mìnhvào Dollar Mỹ, vừa cho phép tự do lưu chuyển vốn (tự do hóa tài khoản vốn) Kinh tếĐông Nam Á tăng trưởng nhanh trong thập niên 1980 và nửa đầu thập niên 1990 đã tạo

ra sức ép tăng giá nội tệ Để bảo vệ tỷ giá cố định, các ngân hàng trung ương Đông Nam

Á đã thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng Kết quả là cung tiền tăng gây ra sức ép lạmphát Chính sách vô hiệu hóa (sterilization policy) đã được áp dụng để chống lạm phát vôhình chung đẩy mạnh các dòng vốn chảy vào nền kinh tế

Vào giữa thập niên 1990, Hàn Quốc có nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tốt ngoại trừviệc đồng Won Hàn Quốc không ngừng lên giá với Dollar Mỹ trong thời kỳ từ sau 20

Trang 20

năm 1987 Điều này làm cho tài khoản vãng lai của Hàn Quốc suy yếu vì giá hàng xuấtkhẩu của Hàn Quốc trên thị trường hàng hóa quốc tế tăng Trong hoàn cảnh đó, HànQuốc lại theo đuổi một chế độ tỷ giá hối đoái neo lỏng lẻo và chính sách tự do hóa tàikhoản vốn Vì thế, thâm hụt tài khoản vãng lai được bù đắp lại bằng việc các ngân hàngcủa nước này đi vay nước ngoài mà phần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảohiểm rủi ro.

Chính sách tiền tệ nới lỏng và việc tự do hóa tài chính ở Mỹ, châu Âu và Nhật Bảncuối thập niên 1980 đã khiến cho tính thanh khoản toàn cầu trở nền cao quá mức Các nhàđầu tư ở các trung tâm tiền tệ nói trên của thế giới tìm cách thay đổi danh mục tài sản củamình bằng cách chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài Trong khi đó, các nước châu Á lạithực hiện chính sách tự do hóa tài khoản vốn Lãi suất ở các nước châu Á cao hơn ở cácnước phát triển Chính vì thế, các dòng vốn quốc tế đã ồ ạt chảy vào các nước châu Á

Ngoài ra, những xúc tiến đầu tư của chính phủ và những bảo hộ ngầm của chínhphủ cho các thể chế tài chính cũng góp phần làm các công ty ở châu Á bắt chấp mạo hiểm

để đi vay ngân hàng trong khi các ngân hàng bắt chấp mạo hiểm để đi vay nước ngoài màphần lớn là vay nợ ngắn hạn và nợ không tự bảo hiểm rủi ro (Hiện tượng thông tin phiđối xứng dẫn tới lựa chọn nghịch và rủi ro đạo đức)

Nhật Bản, một trong những thị trường xuất khẩu lớn nhất của các nước châu Á bịtrì trệ từ đầu thập niên 1990 Nhân dân tệ được định giá thấp so với Dollar Mỹ từ năm

1994 cùng nhiều nhân tố khác làm cho hàng xuất khẩu của Trung Quốc rẻ hơn so vớihàng xuất khẩu cùng loại của Đông Nam Á Trong khi đó, nền kinh tế của Mỹ đang đượckhôi phục lại sau tình trạng suy thoái đầu những năm 1990, Cục Dự trữ Liên bang Hoa

Kỳ dưới sự lãnh đạo của Alan Greenspan bắt đầu nâng lãi suất của Mỹ lên để ngăn chặnlạm phát Việc này làm cho Mỹ trở thành một thị trường hấp dẫn đầu tư hơn so với cácnước ở Đông Á, và do đó hấp dẫn những luồng vốn đầu tư ngắn hạn thông qua lãi suấtngắn hạn cao và làm tăng giá đồng Đô La Mỹ Và do đồng tiền của các nước Đông Nam

Trang 21

mùa Xuân năm 1996, tăng trưởng trong xuất khẩu của Đông Nam Á giảm xuống một cách nhanh chóng, làm suy yếu tài khoản vãng lai của họ.

Tấn công đầu cơ và rút vốn đồng loạt

Nguyên nhân trực tiếp của khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 là những cuộctấn công đầu cơ và việc rút vốn đồng loạt khỏi các nước châu Á

Những nguyên nhân sâu xa nói trên rồi cũng bộc lộ Thị trường bất động sản củaThái Lan đã vỡ Một số thể chế tài chính bị phá sản Người ta không còn tin rằng chínhphủ đủ khả năng giữ nổi tỷ giá hối đoái cố định Khi phát hiện thấy những điểm yếu chếtngười trong nền kinh tế của các nước châu Á, một số thể chế đầu cơ vĩ mô đã tiến hànhtấn công tiền tệ châu Á Các nhà đầu tư nước ngoài đồng loạt rút vốn ra

Năng lực xử lý khủng hoảng yếu kém

Một nguyên nhân trực tiếp nữa của khủng hoảng là năng lục xử lý khủng hoảngyếu kém Nhiều nhà kinh tế cho rằng khi mới bị tấn công tiền tệ, đáng lẽ các nước châu Áphải lập tức thả nổi đồng tiền của mình chứ không nên cố sức bảo vệ tỷ giá để đến nối cạnkiệt cả dự trữ ngoại hối nhà nước mà lại càng làm cho tấn công đầu cơ thêm kéo dài

b Diễn biến

Cả mức vốn hóa thị trường vốn lẫn chỉ số thị trường chứng khoán đều giảm đi Sau khi đạt tốc

độ tăng trưởng thuộc loại cao nhất thế giới từ 1985 đến 1995, với tốc độ tăng trưởng trung bình9% mỗi năm, sức ép lên việc duy trì đồng baht tại Thái Lan tăng lên chạm tới mức thấp nhất với

56 baht đổi 1 đô la vào tháng 1 năm 1998, các hợp đồng kinh tế được ký kết bằng 10,2% nămtrước

Hàng Trung Ương Philipines thời kỳ này đã cố gằng kiềm chế sự mất giá của đồng Peso bằngcách tăng mức lãi suất Tuy nhiên, đồng peso vẫn mất giá nghiêm trọng, từ 26

peso ăn một dollar xuống còn 38 vào năm 2000 và còn 40 vào cuối khủng hoảng Tiếpsau đó, do cuộc khủng hoảng chính trị xảy ra, đồng Peso tiếp tục mất giá Chính phủ đãhứa hẹn sẽ tiếp tục cải cách kinh tế để đạt mức tăng trưởng tương đương với các nướccông nghiệp mới ở Đông Á Những nỗ lực nhằm cải thiện kinh tế đã bị ngăn cản bởi mộtkhoản nợ công lên tới 77% GDP Ngân sách cho các khoản nợ còn cao hơn ngân sách cho

22

Trang 22

giáo dục và quốc phòng cộng lại Nguồn thu không đồng đều cũng là một vấn đề nghiêm trọng.

khi Anh trao trả Hongkong cho Trung Quốc Đơn vị tiền tệ của Hồng Kông là Dollar HồngKông Kể từ năm 1983, đồng tiền này đã được neo chặt vào Dollar Mỹ

Đồng tiền này được phép trao đổi với một dải tỷ giá từ 7,75 và 7,85 dollar Hồng Kông ănmột dollar Mỹ Tuy nhiên, tỷ lệ lạm phát ở Hong Kong lại cao hơn ở Mỹ Đây là cơ sở đểcho giới đầu cơ tấn công Nhưng Cơ Quan Tiền Tệ Hongkong đã "mạnh tay" trong việcchi một khoãn tiền khổng lồ là 1 tỉ USD để giữ vững đồng tiền của mình Thị trườngChứng khoán nước này tiếp tục sụt giảm mạnh, chỉ số giao dịch HangSeng-Index giảm23% Nền kinh tế nước này đã sụt giảm 5,3%

nợ khổng lồ Chính điều này đã làm cho vị trí trong nền Kinh tế - Tín dụng của Hàn Quốc bị hạthấp, dẫn tới TTCK bị sụt giảm nghiêm trọng Trong khi đó, đồng Won giảm giá xuống cònkhoảng 1700 KRW/USD từ mức 1000 KRW/USD Để tháo gỡ khó

khăn, chính phủ Hàn Quốc đã phải chấp nhận vay khẩn cấp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế(IMF) 57 tỷ USD với những điều kiện ngặt nghèo, tiến hành cải cách mạnh mẽ, xây dựngnền kinh tế thị trường dân chủ, phá bỏ quyền lực của các tài phiệt, coi trọng các công tyvừa và nhỏ, giảm sự can thiệp của nhà nước, chống câu kết chính trị - kinh doanh, mặtkhác, đã áp dụng chính sách "thắt lưng buộc bụng", huy động quốc dân quyên góp tiềnvàng ủng hộ chính phủ Kết quả là Hàn Quốc đã thành công trong việc khắc phục khủnghoảng trong thời gian 3 năm (1998-2000), trả xong nợ của IMF

trạng bán ra trước hạn (short-shelling) đồng tiền tệ Malaysia, đồng ringgit diễn

ra Đầu tư trực tiếp nước ngoài rơi xuống mức báo động, khi dòng vốn chảy ra khỏi đấtnước, giá trị đồng ringgit giảm từ MYR 2.50 trên USD xuống còn MYR 4.80 trên USD.Chỉ số tổng hợp Thị trường Chứng khoán Kuala Lumpur mất gần 1300 điểm xuống gầnmức 400 sau vài tuần Sau sự sa thải gây tranh cãi bộ trưởng tài chính Anwar Ibrahim,một Hội đồng Hành động Kinh tế Quốc gia được thành lập để giải quyết cuộc khủnghoảng tiền tệ Ngân hàng Negara đặt ra các biện pháp kiểm soát vốn và chốt giữ tỷ giá

Trang 23

đồng ringgit Malaysia ở mức 3.80 trên US dollar Tuy nhiên, Malaysia đã từ chối các gói

hỗ trợ kinh tế từ Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới, gây ngạc nhiên chonhiều nhà phân tích Lượng vốn chảy ra đạt tới mức 24,6 tỷ Ringgit vào quý hai và quý

ba năm 1997

c Hậu quả

Cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Đông Nam Á bắt đầu từ tháng 7 năm 1997 ở Thái Lanrồi lan ra các thị trường chứng khoán, trung tâm tiền tệ lớn, và giá cả của những tài sảnkhác ở một số nước châu Á, trong đó có nhiều quốc gia được coi như là "những con HổĐông Nam Á" Tầm ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng không chỉ giới hạn trong khu vực

mà còn gây ra những chấn động lớn cho nền kinh tế của các quốc gia khác ngoài khu vực

Bảng 1: Tăng trưởng kinh tế và thất nghiệp trong khủng hoảng

(Nguồn: Vũ Quý Phương (6/2007), Khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 – một góc nhìn)

Đồng thời, cuộc khủng hoảng này còn gây nguy hại cho nền kinh tế Mỹ theo mộtcách khác Do đồng tiền của các nước bị phá giá so với đồng đô la Mỹ, nên hàng nhập 24

Trang 24

khẩu vào Mỹ trở nên rẻ một cách tương đối, điều đó làm cho giá cả trên toàn bộ thịtrường Mỹ phải giảm xuống theo, tức là làm cho lợi nhuận của các nhà sản xuất ở Mỹgiảm và đầu tư kinh doanh cũng giảm Nhiều sản phẩm của các công ty Mỹ không thểtiêu thụ được do giá cao dẫn đến tồn kho nhiều Như vậy, các công ty Mỹ chắc chắn sẽkhông thể tiếp tục đầu tư để nâng cao sản lượng được Rõ ràng cuộc khủng hoảng này đãlàm cho cả đầu tư lẫn xuất khẩu đều giảm, có nghĩa là nền kinh tế Mỹ khó có thể duy trìtiếp sự hùng mạnh của mình.

Ngoài ra, do các nước Đông Á phải thi hành chính sách thắt chặt tiền tệ để khắcphục cuộc khủng hoảng theo điều kiện của IMF nên họ không có khả năng trả số tiền mua

vũ khí hoặc phải kéo dài thời hạn thanh toán cho những hợp đồng đó với Mỹ Tức là giờđây, các nước và vùng lãnh thổ Đông Nam Á khó có khả năng hiện đại hoá quân đội củamình, đặc biệt là vũ khí, khí tài Mối hợp tác chiến lược của Mỹ với Đông Nam Á chắcchắn sẽ bị giảm sút một cách đáng kể Khả năng hiệp đồng lực lượng giữa Mỹ và cácnước đồng minh Đông Nam Á sẽ bị ảnh hưởng lớn Cuộc khủng hoảng đã làm thay đổinhận thức về an ninh của các nước trong khu vực và tác động tiêu cực đến hợp tác anninh của Mỹ với các nước này Như vậy cuộc khủng hoảng này ngoài tác động về kinh

tế, đã có tác động mạnh đến quyền lợi an ninh của Mỹ trong khu vực cả trong giai đoạntrước mắt lẫn trong giai đoạn sau này

Tác động đối với Trung Quốc

Cuộc khủng hoảng này giống như một hồi chuông cảnh tỉnh cho Trung Quốc, vìTrung Quốc cũng có nhiều vấn đề tương tự như ở các nước Đông Nam Á nói chung Tức

là nền kinh tế cũng có thể bị sụp đổ vì đầu tư quá nhiều vào công nghiệp mà sao nhãngkhu vực sản xuất nông nghiệp Đồng thời tình trạng bong bóng do đầu tư vào khu vực bấtđộng sản và chứng khoán, là tình trạng tham nhũng tràn lan, và hệ thống tài chính, ngânhàng không mấy trong sạch và vững chắc, nợ nần chồng chất Tình trạng này sẽ gây khókhăn lớn cho các DNNN Nếu như Trung Quốc đẩy nhanh cải cách các DNNN, số ngườithất nghiệp sẽ gia tăng nhanh chóng (trên 100 triệu người) Khi đó, tình trạng phức tạp sẽphát sinh nhiều và có thể tới mức trở thành khủng hoảng chính trị Nếu Trung Quốc sụp

đổ, toàn bộ Đông Nam Á sẽ bị khủng hoảng nghiêm trọng hơn nhiều

Trang 25

Cuộc khủng hoảng tiền tệ Đông Nam Á hiện nay vẫn tiếp tục tác động tới nền kinh

tế Trung Quốc và có khả năng còn trầm trọng hơn Trung Quốc dự đoán rất nhiều Ví dụ,một số nhà máy ở tỉnh Sơn Đông từ cuối năm 1997 đã xuất hiện tình trạng tăng trưởng

âm, thậm chí có một số nhà máy tuyên bố phá sản Từ đầu năm 1998 đến nay, nhiều công

ty ngoại thương của Thượng Hải đã huỷ đơn đặt hàng, có một số kéo dài thời hạn thanhtoán, thậm chí có một số phải giảm giá để bán hàng Gần đây một quan chức của tổngcông ty xuất nhập khẩu hàng dệt của Trung Quốc tiết lộ rằng một số mặt hàng dệt củaTrung Quốc năm nay không nhận được đơn đặt hàng, một số tuy nhận được đơn đặt hàngnhưng bên mua lại yêu cầu ngừng thực hiện Điều này rất dễ hiểu vì thị trường, cơ cấumặt hàng xuất khẩu của Trung Quốc cũng giống như của những nước Đông Nam Á.Nhưng do đồng tiền của các nước này bị phá giá nên đã nâng khả năng cạnh tranh củahàng hoá các nước này lên so với của Trung Quốc Điều đó đã đặt ra một thách thức lớnđối với hàng xuất khẩu của Trung Quốc trên thị trường Mỹ và Tây Âu Các mặt hàngcông nghiệp nhẹ như dệt túi da, giầy dép, điện da dụng đều bị hàng từ các nước ĐôngNam Á uy hiếp

Về đầu tư, khả năng nước ngoài đầu tư trực tiếp vào Trung Quốc sẽ giảm đi, vìnguồn đầu tư vào Trung Quốc chủ yếu là từ các nước Đông Nam Á Nay các nước nàyđều đang bị khủng hoảng nên khả năng đầu tư ra nước ngoài của họ đều giảm đi Hơnnữa, chính bản thân các nước này đang không ngừng đưa ra những chính sách ưu đãi đốivới đầu tư nước ngoài nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài từ các khu vực khác nhiềuhơn nữa để nhanh chóng phục hồi nền kinh tế của mình Điều này đặt ra thách thức rất lớncho việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp vào Trung Quốc Như vậy, cuộc khủnghoảng tài chính tiền tệ của Đông Nam Á đã gửi một thông điệp cảnh báo Trung Quốc rằngnếu họ không có những biện pháp kịp thời, hữu hiệu thì họ chắc chắn sẽ sa lầy vào cuộckhủng hoảng tài chính như các nước Đông Nam Á khác

Tác động đối với Việt Nam

Có một số ý kiến cho rằng vì đồng tiền Việt Nam chưa chuyển đổi được, chưa có

thị trường chứng khoán và mới đang trong quá trình hội nhập khu vực và quốc tế nên mức độảnh hưởng tới nền kinh tế Việt Nam sẽ là rất nhỏ hoặc không có Nhưng trái lại, cuộc

26

Trang 26

khủng hoảng đã có nhiều tác động tiêu cực đến nền kinh tế nước ta, chủ yếu tập trung vàonhững điểm sau :

 Theo các số liệu ước tính thì khoảng 70% kim ngạch mậu dịch của Việt Nam

là với các nướcĐông Nam Á và chủ yếu được thanh toán bằng USD hoặc vàng Nhưngkhi đồng tiền ở Đông Nam Á bị phá giá mạnh sẽ tác động xấu tới các doanh nghiệp cóquan hệ làm ăn với các nước Đông A' Ngoại trừ đồng đô la Singapore và đồng Yên Nhậtmới bị mất giá trên dưới 20%, còn các đồng tiền khác trong khu vực đã bị phá giá từ 80%đến 250% so với đồng USD Trong khi đó đồng tiền Việt Nam mới chỉ mất giá chút ít,khoảng trên 10% so với đồng USD Điều đó sẽ làm cho hàng nhập khẩu từ các nướcĐông Nam Á vào Việt Nam với mức rẻ gần như tương ứng với mức phá giá của đồngtiền các nước Do đó hàng nhập từ Đông Nam Á sẽ lấn át hàng nội của chúng ta ngay tạithị trường Việt Nam Chính điều này đã khuyến khích các nhà xuất khẩu của Đông Nam

Á tăng lượng hàng bán sang Việt Nam, đồng thời khuyến khích các doanh nghiệp ViệtNam nhập hàng từ Đông Nam Á do giá rẻ hơn bằng cả hai con đường chính ngạch và tiểungạch (buôn lậu qua biên giới) Hiện nay, các doanh nghiệp trong cả nước ta còn tồn khonhiều hàng của Đông A' sẽ bị lỗ nặng vì giá các hàng hoá này giảm nghiêm trọng

Đồng thời, do các đồng tiền Đông Nam Á bị phá giá ở mức cao, đã tạo sức ép đốivới hàng xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Đông A' phải giảm giá, nếu không họ

sẽ không nhập hàng của ta Do vậy nguồn thu vì xuất khẩu sẽ giảm vì hai lẽ :

Thứ nhất, giá xuất khẩu hạ thì doanh nghiệp nhỏ sản xuất hàng xuất khẩu có thểphải ngừng sản xuất vì doanh thu không đủ trang trải cho các yếu tố đầu vào

Thứ hai, những doanh nghiệp lớn có thể tìm được thị trường khác khi bị ép giá,nhưng lượng xuất khẩu giảm đi, đồng thời doanh thu cũng giảm xuống do giá xuất khẩuhạ

Riêng sáu tháng cuối năm 1997, lợi tức của Việt Nam chỉ tính từ xuất khẩu củamặt hàng nông sản đã bị mất khoảng 500 triệu USD Đồng thời, do giá cả dịch vụ, sinhhoạt hiện nay ở Việt Nam đã cao tương đối,nên lượng khách du lịch vào Việt Nam cũng

bị giảm mạnh Do đó, hệ số sử dụng phòng khách sạn chỉ đạt xấp xỉ 50%, kể cả các khách

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:32

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w