- Quan niệm về nợ công của Ngân hàng Thế giới cũng tương tự như quan niệm của Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liênhợp quốc, bao gồm bốn n
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU 4
I Nợ công và khủng hoảng nợ công 5
1 Nợ công: 5
a Các định nghĩa về Nợ công 5
b Phân loại nợ công: 6
c Mục đích đi vay của Chính phủ: 6
d Các đặc trưng cơ bản của nợ công: 7
2 Những tác động kinh tế của nợ công: 7
II Các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới 10
1 Khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ Latinh 1980s 10
a Nguồn gốc và diễn biến khủng hoảng 10
b Phản ứng của chính sách khi xảy ra khủng hoảng 13
2 Khủng hoảng tài chính Châu Á 1990s 14
a Nguồn gốc và diễn biến khủng hoảng 14
b Phản ứng của chính sách khi xảy ra khủng hoảng 18
3 Khủng hoảng nợ công châu Âu 2010s 20
a Nguồn gốc và diễn biến khủng hoảng 20
b Phản ứng của chính sách đối với khủng hoảng: 25
III Nợ công ở Việt Nam 26
1 Thực trạng nợ công Việt Nam 26
a Thu và chi ngân sách nhà nước 26
b Thâm hụt ngân sách và nợ công 30
c Rủi ro nợ công Việt Nam 36
2 Gợi ý chính sách 39
a Công khai minh bạch thông tin về ngân sách nhà nước và nợ công 39
b Tăng nguồn thu ngân sách và cắt giảm chi tiêu công 42
c Nâng cao hiệu quả kinh tế 43
d Phát triển thị trường nợ trong nước 44
KẾT LUẬN 46
TÀI LIỆU THAM KHẢO 47
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nợ công và khủng hoảng nợ công đang trở thành vấn đề nóngbỏng, nhức nhối lan dần từ Châu Âu, Mỹ, Nhật Bản sang các nước đang phát triển trênthế giới, trong đó có Việt Nam Nợ công của nhiều quốc gia đã vượt quá cao so vớingưỡng an toàn mà IMF khuyến cáo, điển hình như: Nhật Bản (200% GDP), Mỹ (100%GDP), Hy Lạp (152% GDP), Italy (120% GDP), … và nhiều nước cũng đang dân tiến tới
tỷ lệ nợ an toàn theo IMF (60% GDP) Tuy nhiên nợ công bao nhiêu thì an toàn là mộtvấn đề ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố không chỉ tính đến các con số trên báo cáo hay công
bố mà còn do nội tại của mỗi quốc gia, uy tín trên trường quốc tế hay tăng trưởng dự báocủa nền kinh tế Đứng trước các thách thức phải đối mặt với nợ công ngày càng tăng,nhiều quốc gia đứng trước bờ vực vỡ nợ thì Việt Nam cũng cần phải có được cho mìnhphương thức tính toán hợp lý, ước tính có mức độ chính xác cao cũng như phương án dựphòng khi nguy cơ khủng hoảng tăng cao Chính vì điều này mà chúng ta cần phải nhìnlại quá khứ, xem xét các trường hợp quốc gia đi trước để nhìn lại mình, lựa chọn một conđường đúng đắn, chính sách phù hợp để nợ công không trở thành mối đe dọa lớn tới nềnkinh tế Việt Nam nói riêng và hiệu ứng lan tỏa đến các quốc gia trong khu vực nói chung
Trang 3nước và trong trường hợp vỡ nợ, nhà nước phải trả nợ thay); theo nghĩa hẹp, nợ công bao
gồm nghĩa vụ nợ của Chính phủ trung ương, các cấp chính quyền địa phương và nợ củacác tổ chức độc lập được Chính phủ bảo lãnh thanh toán
- Quan niệm về nợ công của Ngân hàng Thế giới cũng tương tự như quan niệm của
Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Diễn đàn Thương mại và Phát triển Liênhợp quốc, bao gồm bốn nhóm chủ thể: nợ của Chính phủ Trung ương và các Bộ, ban,ngành trung ương; nợ của các cấp chính quyền địa phương; nợ của Ngân hàng Trungương và nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữu trên 50% vốn, hoặc việc quyếtlập ngân sách phải được sự phê duyệt của Chính phủ hoặc Chính phủ là người chịu tráchnhiệm trả nợ trong trường hợp tổ chức đó vỡ nợ
- Theo luật Việt Nam (Luật Quản lý nợ công số 29/2009/QH12), nợ công được quyđịnh bao gồm: Nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương,trong đó:
Nợ chính phủ là khoản nợ được ký kết phát hành nhân danh Nhà nước hoặcChính phủ, các khoản nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền pháthành, không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam pháthành nhằm thực hiện mục tiêu chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ
Nợ chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, tíndụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh
Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phốtrực thuộc trung ương ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành
Theo như các định nghĩa trên có thể thấy Nợ công theo quan điểm của các tổ chứcquốc tế (WTO, IMF và Diễn đàn thương mại phát triển Liên hợp quốc) mang tính baoquát và rộng hơn so với luật định của Việt Nam vì có tính đến cả nợ của Ngân hàng Trungương và các tổ chức độc lập có vốn Nhà nước trên 50%
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượt
quá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vayvốn và điều đó làm phát sinh nợ công Như vậy, nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiến
Trang 4hành vay vốn và Nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả Do đó, nghiên cứu về nợ côngphải bắt nguồn từ quan niệm về việc Nhà nước đi vay là như thế nào.
b Phân loại nợ công:
Theo nguồn hình thành:
- Nợ trong nước
- Nợ nước ngoài: tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủbảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trảtheo quy định của pháp luật Việt Nam
Theo phương thức huy động của Chính phủ:
- Các khoản nợ huy động bằng phát hành trái phiếu: loại trái phiếu do Bộ Tài chínhphát hành nhằm huy động vốn cho ngân sách nhà nước hoặc huy động vốn cho công trình,
Theo tính chất ưu đãi của khoản nợ:
- Các khoản nợ thương mại: khoản vay theo điều kiện thị trường
- Các khoản nợ ưu đãi: khoản vay có điều kiện ưu đãi hơn so với vay thương mạinhưng thành tố ưu đãi chưa đạt tiêu chuẩn của vay ODA
c Mục đích đi vay của Chính phủ:
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phải chi tiêu vượtquá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoản thu khác) thì phải vayvốn và điều đó làm phát sinh nợ công Như vậy, nợ công là hệ quả của việc Nhà nước tiếnhành vay vốn và Nhà nước phải có trách nhiệm hoàn trả Do đó, nghiên cứu về nợ côngphải bắt nguồn từ quan niệm về việc Nhà nước đi vay là như thế nào và vay để làm gì.Dưới đây là các mục đích đi vay của Chính phủ (theo Luật Quản lý nợ công 2009):
- Đầu tư phát triển kinh tế - xã hội thuộc nhiệm vụ chi của ngân sách trung ươngtheo quy định của Luật ngân sách nhà nước
- Bù đắp thiếu hụt tạm thời của ngân sách nhà nước từ vay ngắn hạn
- Cơ cấu lại khoản nợ, danh mục nợ chính phủ và nợ được Chính phủ bảo lãnh
Trang 5theo quy định của pháp luật.
- Các mục đích khác nhằm bảo đảm an ninh tài chính quốc gia
d Các đặc trưng cơ bản của nợ công:
Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước Khác với các
khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ mà Nhà nước (bao gồmcác cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệm trả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợcủa Nhà nước được thể hiện dưới hai góc độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp được hiểu là
cơ quan nhà nước có thẩm quyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịutrách nhiệm trả nợ khoản vay Gián tiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩmquyền đứng ra bảo lãnh để một chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vaykhông trả được nợ thì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh
Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham gia của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trình chặt chẽ nhằm đảm bảo hai
mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa làđảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và an ninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt đượcnhững mục tiêu của quá trình sử dụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cáchchặt chẽ còn có ý nghĩa quan trọng về mặt chính trị và xã hội Theo quy định của phápluật Việt Nam, nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợcông từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo hai mục tiêu
cơ bản như đã nêu trên
Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công là phát triển kinh tế –
xã hội vì lợi ích chung Nợ công được huy động và sử dụng không phải để thỏa mãn
những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào, mà vì lợi ích chung của đất nước.Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiết chế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhànước là của dân, do dân và vì dân nên đương nhiên các khoản nợ công được quyết địnhphải dựa trên lợi ích của nhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế – xã hội của đất nước
và phải coi đó là điều kiện quan trọng nhất
2 Những tác động kinh tế của nợ công:
Xét về mặt tích cực, Nợ công có thể được các chính phủ quốc gia sử dụng như mộtcông cụ để tài trợ vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốcgia, khuyến khích phát triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế Việc chấp nhận tăng
nợ công để bù đắp thâm hụt ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêudùng, tăng sản lượng, việc làm, tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn
Tuy nhiên xét về mặt tiêu cực, trong dài hạn có một khoản nợ chính phủ lớn cũng lànguyên nhân khiến cho lãi suất tăng, đầu tư giảm, tiết kiệm giảm, và khuyến khích luồng
Trang 6vốn từ nước ngoài chảy vào, từ đó làm cho sự tăng trưởng sản lượng tiềm năng quốc giachậm lại Nợ công tăng cao, vượt quá giới hạn an toàn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổnthương và chịu nhiều sức ép từ bên trong lẫn bên ngoài quốc gia Có thể liệt kê chi tiết cáctác động như:
Nợ công lớn làm giảm tích lỹ vốn tư nhân, dẫn đến hiện tượng thoái lui đầu tư tư nhân: Khi chính phủ tăng vay nợ, đặc biệt là vay trong nước, lúc này mức tích lũy
vốn tư nhân sẽ được thay thế bới tích lũy nợ chính phủ Thay vì sở hữu cổ phiếu,trái phiếu doanh nghiệp hay gửi tiết kiệm ngân hàng, dân chúng lại sở hữu tráiphiếu chính phủ làm cho cung về vốn giảm trong khi cầu tín dụng của chính phủlại tăng lên, từ đó đẩy lãi suất tăng, chi phí đầu tư tăng và có thể dẫn đến hiệntượng “thoái lui đầu tư” khu vực tư nhân
Nợ công làm giảm tiết kiệm quốc gia: Theo phương trình T – G = I + NX - S đã chỉ
ra rằng khi ngân sách nhà nước thâm hụt (T-G < 0) hay I + NX < S thì có thể cónhững trường hợp xảy ra: S tăng, I giảm và NX giảm
- Tiết kiệm tư nhân (S) tăng: trong giả định tiết kiệm tư nhân tăng ít hơn phần tiếtkiệm bị giảm của chính phủ, như vậy tiết kiệm quốc dân giảm
- Đầu tư nội địa (I) giảm: Đầu tư nội địa giảm dẫn đến đầu ra là tổng vốn nội địacũng giảm Lượng vốn ít, lãi suất tăng, chi phí biên của sản phẩm sẽ cao hơn, năng suất laođộng sụt giảm từ đó làm giảm mức lương và thu nhu nhập trung bình đãn đến giảm tiếtkiệm quốc gia
- Xuất khẩu ròng (NX) giảm: Khi lãi vay tăng lên, lái suất trong nước sẽ tăng tươngđối so với nước ngoài đẫn tới luồng tiền từ nước ngoài đổ vào tăng lên khiến cho tỷ giáhối đoái tăng, giá hàng hóa trong nước trở nên đắt hơn so với nước ngoài, đánh mất cạnhtranh trên thị trường quốc tế, từ đó làm giảm xuất khẩu ròng Điều này có nghĩ là ngườidân nội địa không còn nằm giữ nhiều vốn nước ngoài nữa, thu nhập giảm dẫn đến tiếtkiệm quốc gia giảm
Nợ công tạo áp lực gây ra lạm phát: Chính phủ tăng vay nợ bằng cách phát hành
trái phiếu, một mặt làm tiêu dùng của chính phủ tăng lên, một mặt sẽ tạo áp lực đẩylãi suất lên cao Lãi suất tăng khiến người nắm giữ trái phiếu cảm thấy giàu hơn,tăng chi tiêu cá nhân và chi tiêu công dẫn đến cầu hàng hóa, dịch vụ tăng, tạo áp
lực lạm phát trong ngắn hạn từ đó tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng thực
của nền kinh tế
Nợ công gây tổn hại phúc lợi xã hội: Dù chính phủ lựa chọn phương án vay nợ
trong nước hay nước ngoài thì đều có tác động làm méo mó các hoạt động kinh tế
Vay nợ nước ngoài thì nguồn để trả nợ cả gốc và lãi chỉ có thể lấy từ thu thuế.
Người dân sẽ phải chịu một khoản thuế cao hơn trong tương lai để trả lãi cho các
Trang 7người bị đánh thuế để trả lãi cho chính họ (người giữ trái phiếu) thì vẫn có nhữngtác động khiến cho các hoạt động kinh tế của người đó bị bóp méo.
Các tác động khác ngoài kinh tế: Làm thay đổi quy trình quản lý Nhà nước do phải
thay đổi chính sách tài chính quốc gia để trang trải các khoản nợ; làm tổn hại đếncác hệ số tín nhiệm quốc gia Các quốc gia phải chịu sức ép từ phía chủ nợ và các
tổ chức tài chính quốc tế về việc thắt chặt chi tiêu, tăng thuế, giảm trợ cấp xã hội
và xa hơn nữa là những yêu cầu về cái cách thể chế, thay đổi bộ máy quản lý, thayđổi các định hướng kinh tế; giảm vị thế trong các mỗi quan hệ song phương, đaphương
Trang 8II Các cuộc khủng hoảng nợ công trên thế giới
1 Khủng hoảng nợ công khu vực Mỹ Latinh 1980s
a Nguồn gốc và diễn biến khủng hoảng
Khủng hoảng nợ Mỹ Latin thập niên 80 được gọi là "Thập kỷ mất mát" đã manh nha
từ những năm 1970 Giai đoạn đó, nhiều nước Mỹ Latinh, điển hình là Brazil, Argentina,
và Mexico vay mượn số tiền khổng lồ từ các chủ nợ quốc tế để tiến hành chiến lược côngnghiệp hóa, đặc biệt là các chương trình cơ sở hạ tầng Kinh tế của các quốc gia này đã có
sự tăng trưởng ấn tượng qua đó củng cố niềm tin của các chủ nợ Các khoản vay đó chủyếu được thông qua World Bank Sau năm 1973, các ngân hàng tư nhân có được dòngtiền dồi dào từ các nước xuất khẩu dầu, và ngân hàng này cũng tin rằng nợ quốc gia(sovereign debt) là khoản đầu tư an toàn (hình 1)
Hình 1
Trang 9Năm 1979 Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã thực thi chính sách tiền tệ chống lạmphát: hàng loạt chính sách thắt chặt và đẩy lãi suất gia tăng Tuy nhiên chính sách đã đẩynền kinh tế rơi vào suy thoái đồng thời tác động tiêu cực đến tăng trưởng và xuất khẩucủa các nước Mỹ Latinh này (hình 2) Lãi suất đô la tăng lên và đồng đô la lên giá Do cáckhoản nợ của các nước đang phát triển chủ yếu được định bằng đồng đô la nên khi đồng
đô la tăng giá đã làm tăng trách nhiệm nợ Không những thế, các khoản vay còn bị sửdụng thiếu thận trọng và có liên quan đến tham nhũng Từ giữa năm 1975-1982, cáckhoản nợ công của các nước Latinh đối với các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giớităng với tỷ lệ gộp hàng năm lên đến trên 20%, khiến tổng nợ vay đã tăng từ 75 tỷ USDnăm 1975 lên đến hơn 315 tỷ USD năm 1983, trong đó, thanh toán lãi suất và trả vốn gốctăng mạnh, từ 12 tỷ USD năm 1975 lên 66 tỷ USD năm 1982 (The berge 1999) (hình 3)
Trang 10Hình 3
Trước tình hình đó, hầu hết các tổ chức tài chính và ngân hàng thế giới đều đã từ chốihoặc giảm cho vay các nước châu Mỹ Latinh Hàng tỷ USD nhanh chóng đến hạn thanhtoán và các dòng vốn bắt đầu thoái lui khỏi các quốc gia trong khu vực khiến các nướckhông còn có thể vay thêm
Đầu thập niên 1980, giá hàng hóa thế giới giảm mạnh, tỷ giá thương mại làm lung laycác nước kém phát triển Ngày 12/8/1982, Mexico ra tuyên bố cấm tạm thời việc thanhtoán lãi Mexico thông báo rằng họ đã không còn một đồng dự trữ ngoại tệ nào và khôngthể đáp ứng được các nghĩa vụ nợ quốc tế Cuộc khủng hoảng bùng nổ vào tháng 8 năm
1982 khi ngân hàng trung ương Mexico không thể trả khoản nợ 80 tỉ USD bằng ngoại tệ.Vào cuối năm 1986, hơn 40 quốc gia đã đối mặt với trục trặc tài chính bên ngoài nhưArgentina (1982, 1989), Bolivia (1980, 1986, 1989), Brazil (1983, 1986-1987) vàEcuador (1982, 1984) Cuộc khủng hoảng gây ảnh hưởng lớn tới nền kinh tế của mỗiquốc gia Trong suốt những năm đầu của khủng hoảng, tăng trưởng GDP các nước trongkhu vực chỉ còn hơn 2%, một con số khá thấp so với những năm trước đây (hình 4)
Trang 11b Phản ứng của chính sách khi xảy ra khủng hoảng
Cuộc khủng hoảng nợ tại khu vực Mỹ Latin có thể chia thành 3 giai đoạn:
Giai đoạn đầu tiên từ trước diễn ra khủng hoảng cho đến năm 1985 Trong giai đoạnnày, một số quốc gia, chính phủ thể hiện lập trường cứng rắn trong việc đối phó với cuộckhủng hoảng nợ, cụ thể là Thủ tướng Peru Alan García quyết định giới hạn việc vay nợcủa nước này dưới mức 10% doanh thu từ xuất khẩu Bên cạnh đó là những cố gắng thànhlập một liên hiệp giữa những chủ nợ khu vực này Điển hình là cuộc hội nghị diễn ra tạiCartagena, Chile vào năm 1984 Sau hội nghị này, các khoản nợ của Bolivia và Ecuador
đã được hoãn lại, trong khi các con nợ lớn như Mexico, Brazil hay Venezuela vẫn phảitiếp tục thỏa hiệp trực tiếp với các chủ nợ, còn Argentina lại tỏ thái độ cứng rắn và khôngchịu thỏa hiệp Điều này có thể thấy dù đã cố gắng nhưng khu vực này vẫn chưa có được
sự đồng thuận nhất định, nhiều quốc gia muốn tự giải quyết các khoản nợ của mình.Chính sự bảo thủ này đã dẫn đến việc trong khi Hoa Kỳ dần phục hồi sau cuộc khủnghoảng ngân hàng, khu vực Mỹ Latin lại càng lún sâu vào khủng hoảng
Bắt đầu từ tháng 9-1985, cuộc khủng hoảng nợ bước vào giai đoạn 2, với sự khởixướng của kế hoạch Baker tại Seoul, Hàn Quốc nhằm điều chỉnh việc tạo ra những điềuluật cho vay hiệu quả hơn, cùng với một gói tín dụng đi kèm Nhưng gói cứu trợ này vẫn
Trang 12chưa đủ để giải quyết hoàn toàn cuộc khủng hoảng, nên 2 năm sau được thay thế bằng kếhoạch Baker lần thứ 2, đổi mới trong việc tạo điều kiện cho các hoạt động mua lại hoặctrao đổi nợ và cho phép phát hành trái phiếu với lãi suất thấp.
Giai đoạn 3 bắt đầu vào tháng 3-1989 với kế hoạch Brady, bao gồm việc giảm bớt cáncân nợ, đi kèm với việc tạo điều kiện cho khu vực Mỹ Latin được vay mượn từ các nguồntài chính tư nhân quốc tế Đây là giai đoạn cuối cùng của cuộc khủng hoảng và các quốcgia Mỹ Latin dần đi vào phục hồi nền kinh tế Tuy nhiên, 1 thập niên suy thoái vì khủnghoảng đã khiến mức đóng góp của khu vực này vào GDP thế giới giảm 1,5%, GDP đầungười trong khu vực giảm 8% so với các quốc gia công nghiệp và 23% so với mức trungbình toàn thế giới
2 Khủng hoảng tài chính Châu Á 1990s
Cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á bắt đầu năm 1997 bắt đầu tại Thái Lan được xem
là cuộc khủng hoảng dữ dội nhất xảy ra tại các quốc gia đang phát triển kể từ sau cuộckhủng hoảng nợ năm 1982 tại Mỹ Latinh Không chỉ dừng lại ở một quốc gia, nó tiếp tụclan rộng sang hầu hết các quốc gia khác trong khu vực Đông Á, từ Nhật Bản, Hàn Quốc,Hong Kong, đến các quốc gia Đông Nam Á như Indonesia, Malaysia và Philippines Cácquốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Đài Loan, Singapore và cả Việt Nam mặc dù ít bị ảnhhưởng hơn nhưng cũng chịu nhiều tác động tiêu cực
a Nguồn gốc và diễn biến khủng hoảng
Trước khi khủng hoảng
Trước khi khủng hoảng tài chính bùng phát như trận hỏa hoạn ở các "nền kinh tế hổ"của Châu Á, suốt một thập kỉ trước đó, Thái Lan, Malaysia, Singapore, Indonesia, HồngKông và Hàn Quốc được ghi nhận một số tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng nhất trênthế giới Các nền kinh tế của họ mở rộng từ 6% đến 9% mỗi năm, (được tính bằng TổngSản phẩm Trong nước)
Trang 13Thịnh vượng được tạo ra dẫn đầu bởi tăng trưởng xuất nhập khẩu đã thúc đẩy mạnh
mẽ sự bùng nổ đầu tư vào tài sản thương mại và nhà ở, tài sản công nghiệp và cấu trúc hạtầng Giá trị bất động sản thương mại và nhà ở tại các thành phố như Hồng Kông vàBangkok tăng mạnh, tạo ra sự bùng nổ ở ngành xây dựng Khi giá trị của tài sản càngtăng, thì ngân hàng càng sẵn lòng cho vay, ngay cả khi đó là khoản vay cực lớn, tiềm ẩnrủi ro Đối với tài sản công nghiệp, sự thành công liên tục của các nhà xuất khẩu châu Á
đã khuyến khích họ thực hiện những đầu tư mạnh mẽ hơn trong lĩnh vực công nghiệp.Điều này được minh chứng rõ nét nhất bởi các tập đoàn đa ngành khổng lồ Hàn Quốc,hay Chaebol tham vọng xây dựng một vị trí chính cả trong ngành ô tô và bán dẫn toàncầu
Đứng sau sự bùng nổ đầu tư có sự góp mặt của chính phủ: họ bắt tay vào những dự án
cơ sở hạ tầng khổng lồ Ví dụ ở Malaysia, một trung tâm hành chính của chính phủ mớiđược xây dựng tại Putrajaya với giá 20 tỉ đô la M (8 tỷ đô la Mỹ vào thời điểm trướctháng 7/1997), hay việc chính phủ tài trợ phát triển một hành lang truyền thông công nghệcao khổng lồ, Đập Bakun với giá 13,6 tỷ đô la Mĩ_ 1 dự án phát điện năng lượng đắt nhấtnước này
Trong toàn khu vực, chính phủ cũng khuyến khích các doanh nghiệp tư nhân đầu tưvào một số lĩnh vực nhất định của nền kinh tế theo "mục tiêu quốc gia" và "chiến lượccông nghiệp hoá" Ví dụ ở Hàn Quốc, Tổng thống Kim Young-Sam đã kêu gọi các tậpđoàn đầu tư vào các nhà máy mới Thực tế, Hàn Quốc đã tận hưởng một đầu tư dẫn đầu
Trang 14sự bùng nổ kinh tế trong giai đoạn 1994-95, tuy nhiên mọi sự đều phải đánh đổi Điểnhình như Chaebol luôn luôn phụ thuộc vào các khoản vay nặng, xây dựng các khoản nợlớn gấp bốn lần vốn cổ phần.
Nhìn chung, vào giữa những năm 1990, khu vực Đông Á đang ở trong tình trạng bùng
nổ đầu tư chưa từng có, phần lớn là do nguồn vốn vay mượn Từ năm 1990 đến năm
1995, tổng đầu tư trong nước tăng 16,3% mỗi năm ở Indonesia, 16% mỗi năm tạiMalaysia, 15,3% ở Thái Lan, và 7,2% mỗi năm tại Hàn Quốc Trong khi, đầu tư tăng4,1% / năm so với cùng kỳ ở Mỹ, và 0,8% / năm ở tất cả các nền kinh tế có thu nhập cao.Hơn nữa, tỷ lệ đầu tư tăng nhanh vào năm 1996 Ví dụ, tại Malaysia, chi đầu tư chiếm43% GDP vào năm 1996
Các khoản nợ Bom
Giữa những năm 1990, các khoản đầu tư vào cơ sở hạ tầng, năng lực công nghiệp, vàbất động sản thương mại hút hàng ngoại tệ ở mức chưa từng thấy Để xây dựng cơ sở hạtầng, nhà xưởng, và cao ốc văn phòng, các nước Đông Nam Á đã mua thiết bị vốn vànguyên vật liệu từ Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản Boeing và Airbus đã vây quanh số lượngmáy bay phản lực thương mại mà họ đang bán cho các hãng hàng không châu Á Cáccông ty thiết bị bán dẫn như Applied Materials and Lam Materials đã tự hào về nhữngđơn đặt hàng khổng lồ mà họ nhận được từ Châu Á Motorola, Nokia và Ericsson đã thấtbại trong việc bán thiết bị viễn thông không dây cho các quốc gia châu Á Công ty báncác thiết bị phát điện như ABB và General Electric đã đặt mua đơn đặt hàng kỷ lục trongkhu vực
Các khoản đầu tư khổng lồ vào tài sản công nghiệp và bất động sản đã tạo ra tình trạng
dư thừa năng lực và giá cả sụt giảm, trong khi để lại các công ty đã đầu tư rải rác dướigánh nặng nợ nần mà họ đang tìm kiếm rất khó phục vụ
Phản ánh hàng nhập khẩu ngày càng tăng, nhiều quốc gia Đông Nam Á cho thấy tàikhoản vãng lai của cán cân thanh toán đã chuyển sang màu đỏ vào giữa những năm 1990.Vào năm 1995, Inđônêxia đang phải chịu khoản thâm hụt tài khoản vãng lai tương đươngvới 3,5% GDP của nước này, Malaysia là 5,9%, Thái Lan là 8,1% Với tình trạng thâmhụt như hiện nay, các chính phủ các nước này ngày càng khó khăn để duy trì tỷ giá tiền tệ
so với đồng đô la Mỹ Nếu không thể giữ được đồng peg, giá trị đồng nội tệ của đồng đô
la sẽ tăng lên, làm tăng tầm quan trọng của nợ xấu đối với thanh toán dịch vụ nợ (hình 6)
Trang 15 Sự bùng nổ
Hiệu quả kinh tế mạnh mẽ trong suốt những năm đầu của thập niên 1990 khiến cácquốc gia Châu Á tin rằng họ miễn dịch với loại khủng hoảng nổ ra ở châu Mỹ Latinhtrong những năm 1980 họ bởi không có thâm hụt tài chính lớn, gánh nặng nợ nần nặng nề,
sự mở rộng tiền tệ nhanh và những trở ngại về cơ cấu như Mỹ Latinh, do đó các quốc giaChâu Á không xử lý nghiêm túc với các vấn đề nổi lên của họ cho đến khi quá muộn.Câu chuyện của Thái Lan sẽ cho thấy “lòng tin” đó là sai lầm Đầu năm 1997 IMF đãcảnh báo chính phủ Thái Lan về cuộc khủng hoảng hối đoái sắp xảy ra, nhưng thật khóthuyết phục họ về mức độ nghiêm trọng về những rủi ro đề đang nổi lên Hơn nữa, IMF
đã không nhận thức được đầy đủ các vấn đề của Thái Lan vào thời điểm đó, bởi vì đồngBaht Thái ban đầu được hỗ trợ bởi sự can thiệp mạnh trong thị trường chuyển tiếp Giữanăm 1997, dự trữ của nước này gần như cạn kiệt và chính phủ đã cầu cứu sự viện trợ từIMF Tương tự với Hàn Quốc, IMF không biết rằng dự trữ ngoại hối của Hàn Quốc đãcạn kiệt cho đến khi khủng hoảng bùng phát
Ngày 5 tháng 2 năm 1997 tại Thái Lan, Somprasong Land, một nhà phát triển bấtđộng sản của Thái Lan đã thông báo họ không thể thực hiện khoản thanh toán lãi suấttheo lịch trình trị giá 3,1 triệu đô la với khoản vay trị giá 80 tỷ đô la Úc SomprasongLand là nạn nhân đầu tiên của việc quá tải trong thị trường bất động sản ở Bangkok Thịtrường chứng khoán Thái Lan đã giảm 45% kể từ mức cao vào đầu năm 1996
Trang 16 Nguyên nhân dẫn tới cuộc khủng hoảng châu Á
Thứ nhất, lượng đầu tư nước ngoài khổng lồ thập niên 90 này mang lại một thời kỳphát triển thần kỳ cho các quốc gia Đông Á, nhưng lại tiểm ẩn rất nhiều rủi ro Vốn nướcngoài đổ vào sẽ làm tăng tỉ giá thực tế giữa đồng nội tệ và ngoại tệ, dẫn đến việc cácngành ngoài xuất khẩu sẽ có điều kiện được phát triển và mở rộng, trong khi các ngànhtrọng điểm xuất khẩu lại gặp nhiều khó khăn do đồng nội tệ quá cao Hơn nữa, vốn nướcngoài đổ vào cũng sẽ tạo áp lực cho hệ thống tài chính kém phát triển ở các quốc giaĐông Á này, cả ngân hàng trung ương lẫn ngân hàng thương mại đều sẽ gặp nhiều khókhăn trong việc đối phó với những vấn đề quản lý rủi ro cho những hoạt động của mình.Các dòng vốn tín dụng phần lớn đổ vào thị trường bất động sản và chứng khoán, khiếnnền kinh tế dễ bị tổn thương nếu như dòng tín dụng bị chặn lại hoặc có xu hướng chảyngược ra khỏi các thị trường này Những áp lực này tích tụ dần dần làm tăng rủi ro tàichính của toàn bộ nền kinh tế Bước sang thập niên 90, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bắt đầunâng lãi suất, khiến cho dòng đầu tư nước ngoài chuyển hướng dần ra khỏi thị trườngĐông Á Chính điều này là khởi nguồn cho khủng hoảng bởi sự suy giảm tốc độ tăngtrưởng của khu vực này, khi mà nguồn vốn suy giảm trong khi năng suất không còn tăngnhanh so với khoảng thời gian trước đó
Nguyên nhân thứ hai là do sự có mặt của giới đầu cơ Khi thị trường chứng khoán suygiảm, sự bất ổn tăng lên thì vấn đề thông tin bất đối xứng chỉ là hệ quả tất yếu Chính sựbất đối xứng giữa những luồng thông tin khác nhau càng làm gia tăng rủi ro và sự bất ổnchung của nền kinh tế Sự phá sản của tổ chức tài chính lớn nhất ở Thái Lan là FinanceOne có thể được xem như một cột mốc đánh dấu sự sụp đổ của thị trường tài chính quốcgia này, tạo thành hiệu ứng domino lan sang các quốc gia khác Malaysia, cũng chịu ảnhhưởng mạnh mẽ bởi sự tấn công của giới đầu cơ khi lãi suất liên ngân hàng nhảy vọt từ8% lên đến hơn 40% chỉ trong một đêm (Radelet & Sachs, 1998) Kể cả các tổ chức đánhgiá tín dụng như Standard & Poor’s và Moody cũng không hề hạ điểm của khu vực nàycho đến sau khi cuộc khủng hoảng xảy ra (Radelet & Sachs, 1998) Trong báo cáo về viễncảnh kinh tế thế giới vào tháng 10 năm 1997, IMF đã đưa ra dự đoán rằng mức tăngtrưởng năm 1998 ở Hàn Quốc sẽ là 6,0%, các quốc gia đang phát triển ở Đông Á trungbình là 7,4% (5,4% nếu ngoại trừ Trung Quốc và Ấn Độ) (IMF, 1997) Mặc dù mức tăngtrưởng dự đoán này đã thể hiện sự suy giảm kinh tế, nhưng nhìn chung IMF cũng không
hề lường trước được cuộc khủng hoảng, bởi nhìn vào thực tế, mức tăng trưởng thấp hơnnhiều so với những con số trên
b Phản ứng của chính sách khi xảy ra khủng hoảng
Khi các quốc gia Châu Á tiếp cận IMF để được hỗ trợ, vấn đề khẩn cấp nhất ban đầu
là cung cấp cho họ nguồn tài chính đầy đủ để đối phó với cuộc khủng hoảng thanh khoản
do sự đột nhập của vốn và sự sụp đổ của đồng tiền của họ, và tạo niềm tin cho thị trường
Trang 17sung từ các nước khác trong khu vực cũng như từ nhóm các nước G7.
Chính sách tiền tệ
Chiến lược theo đuổi của các nước châu Á là tăng lãi suất ngắn hạn nhằm ngăn chặn
sự suy giảm tỷ giá hối đoái của họ và sau đó giảm dần lãi suất khi tỷ giá ổn định Sự giatăng lãi suất ban đầu ở mức vừa phải và ngắn hạn Ở Thái Lan, lãi suất ngắn hạn đã tănglên mức cao nhất 25% và ở Hàn Quốc lên đến 35% và họ ở lại những đỉnh này chỉ vàingày trước giảm nhanh chóng đến mức trước khi xảy ra khủng hoảng Đồng thời, cả đồngwon và baht đều tăng lên đáng kể sau cuộc khủng hoảng ban đầu
Trong khi đó, những nỗ lực ban đầu của Inđônêxia để ổn định rupiah đã không thànhcông Trong tuần đầu tiên của chương trình Inđônêxia, các nhà chức trách cho phép lãisuất ngắn hạn tăng gấp đôi lên 30% Kết quả là đồng rupiah đã đánh giá cao Nhưng trongvòng hai ngày, trái với sự hiểu biết của quốc gia với IMF, Ngân hàng Inđônêxia đã cắtgiảm lãi suất trở lại mức ban đầu, mở rộng thanh khoản, cùng với tín hiệu mạnh mẽ từ cáccấp cao nhất của chính phủ cam kết theo chương trình của IMF sẽ không được tôn trọng,kết quả là đồng rupiah sụt giảm mạnh Lạm phát cao đòi hỏi lãi suất cao hơn nhiều để táithiết ổn định tài chính Nếu chính phủ kiên định với chương trình ban đầu thì chi phí điềuchỉnh sẽ thấp hơn đáng kể
Sự yếu kém của các ngân hàng và các doanh nghiệp ở các nước Châu Á đã hạn chếkhả năng tăng lãi suất Sự sụt giảm giá trị của đồng tiền làm tăng gánh nặng cho nợ nướcngoài đối với các ngành ngân hàng và doanh nghiệp lên một mức độ không thể chấp nhận
và làm suy yếu sự ổn định tài chính Như vậy, sự cân bằng giữa khấu hao và tăng lãi suất
sẽ tăng mạnh khi có sự vượt trội tỷ giá hối đoái Việc mất giá tiền tệ sẽ có tác động tiêucực đến Indonesia và Hàn Quốc, vốn có tỷ lệ nợ nước ngoài cao đối với tín dụng trongnước
Chính sách tài khóa
Các nước Châu Á có vị trí ngân sách mạnh Mục tiêu tài chính ban đầu của họ dự kiến
là một khoản thặng dư nhỏ để giúp điều chỉnh bên ngoài và cung cấp một cơ sở để tài trợcho chi phí tái cơ cấu ngành tài chính đáng kể Tuy nhiên, khi điều kiện kinh tế xấu đi,các mục tiêu tài chính ban đầu này được điều chỉnh để cho phép hoạt động của các chất
ổn định tự động và để tài trợ cho chi tiêu xã hội bổ sung để bảo vệ người nghèo của đấtnước Trên thực tế, với chủ nghĩa bảo thủ tài chính của các nước này, trong một số trườnghợp, chính sách đã không đạt được kết quả như kì vọng IMF cũng có một phần lỗi vìkhông dự báo được sớm những bất ổn xảy ra
Trang 18 Kết quả
Tình hình đã quay trở lại ở Hàn Quốc và Thái Lan, mặc dù cuộc khủng hoảng vẫnchưa kết thúc Tỷ giá đã được đánh giá cao, và lãi suất đã giảm xuống dưới mức trước khikhủng hoảng, điều này sẽ cho phép đầu tư và tăng trưởng trở lại Nhưng thời kỳ sắp tớivẫn rất khó khăn Nhiệm vụ quan trọng bây giờ là để quản lý tình huống một cách cẩnthận để các vấn đề thất nghiệp không thoát khỏi tay Cả hai quốc gia này sẽ thoát khỏikhủng hoảng một cách đáng kể, miễn là họ duy trì quyết tâm tiến hành cải cách ngành tàichính và doanh nghiệp
Trường hợp Indonesia đã được chứng minh là phức tạp hơn nhiều vì sự tương tác bất
ổn của các vấn đề chính trị và kinh tế Vào tháng 6 năm 1998, chính phủ của Tổng thốngHabibie đã đàm phán lại chương trình cải cách do IMF hỗ trợ nhằm làm giảm sự suy giảmkinh tế nghiêm trọng đã xảy ra kể từ cuộc khủng hoảng bùng nổ, ngăn chặn lạm phát leothang khỏi tầm kiểm soát và mở rộng mạng lưới an sinh xã hội xuống đáy Tác động củakhủng hoảng đối với người nghèo
3 Khủng hoảng nợ công châu Âu 2010s.
a Nguồn gốc và diễn biến khủng hoảng
Bức tranh Châu Âu trước khủng hoảng:
Trước năm 1999, để thỏa mãn các quy định về tài chính công trong Thỏa ước ổn định
và tăng trưởng (mức thâm hụt ngân sách không được vượt quá 3% GDP và nợ côngkhông được vượt quá 60% GDP), các chỉ tiêu này đều được các quốc gia ứng viên tuânthủ nghiêm túc Tuy nhiên, xu hướng này có dấu hiệu đảo chiều khi Liên minh Kinh tếtiền tệ châu Âu (EMU) đi vào hoạt động Từ năm 2003, phần lớn các nước khu vực đồngEuro có tỷ lệ nợ trên 60%/GDP Điều này cho thấy các nước bắt đầu không tuân thủnghiêm ngặt các quy định trong EMU
Trước cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008, nợ công trung bình của EMU ổn địnhqua các năm ở mức xấp xỉ 70% GDP, tuy nhiên nợ công giữa các nước thành viên lại có
sự khác biệt tương đối lớn Trong khi Ai-len, Tây Ban Nha, Hà Lan duy trì mức nợ côngdưới 60% GDP, thì hầu hết các nước khác nợ công đều có xu hướng tăng lên, điển hìnhnhư Đức, Pháp và Bồ Đào Nha; nợ công của Hy Lạp, Italia thường xuyên ở mức trên100% GDP Ai-len và Tây Ban Nha luôn duy trì được tình hình tài chính lành mạnh khingân sách thường xuyên thặng dư và nợ công luôn ở mức thấp (nợ công Ai-len giảm đềuđặn qua các năm từ 48,6% năm 1999 còn 27% năm 2007, nợ công Tây Ban Nha thườngxuyên ở mức xấp xỉ 50% GDP) (hình 7)
Trang 19Sau năm 2007, nợ công các nước thành viên Liên minh châu Âu (EU) đều có xu hướngtăng đáng kể, hầu hết nợ công của các quốc gia thuộc EU đều vượt quá ngưỡng quy địnhcủa khối, do chính sách tài khoá lỏng lẻo và khả năng quản trị tài chính công kém hiệuquả.
Tháng 9/2008, cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nổ ra xuất phát từ khủng hoảng tíndụng và nhà đất ở Mỹ đã tạo nên một “cú sốc” mạnh mẽ đến nền kinh tế các nước thànhviên EU Để cứu vãn nền kinh tế, các quốc gia đều phải tăng chi tiêu công, biến các khoản
nợ tư nhân thành nợ công Hệ quả là sau thời điểm này, nợ công của EU có xu hướng tăngvọt điển hình là Hy Lạp và Italia đều ở mức trên 115% vào năm 2009 và trên 125% vàonăm 2010 (hình 8)
Sự bùng nổ
Khi lợi tức trái phiếu Chính phủ kỳ hạn 2 năm của Hy Lạp liên tục tăng cao từ 3,47%vào tháng 01/2010, lên 9,73% vào tháng 07/2010 cũng chính là dấu hiệu khởi đầu chocuộc khủng hoảng nợ công diễn ra tại EU Đỉnh điểm của cuộc khủng hoảng nợ công là
Trang 20Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ai-len và Síp đã phải xin cứu trợ quốc tế để tránh vỡ
nợ Đồng Euro liên tục mất giá, cuộc khủng hoảng tài chính đã làm tổn thất hàng nghìn tỷUSD thu nhập tài chính của các nước thành viên EU Từ năm 2010, diễn biến nợ công củakhu vực đồng Euro ngày càng xấu đi khi nợ công tăng từ 65% năm 2007 lên 85% năm
2010 và ngân sách liên tục trong tình trạng thâm hụt vượt quá mức giới hạn 3% mà EU đã
đề ra Tình hình của Hy Lạp lúc này làm dấy lên nỗi bất an trong giới đầu tư vào các quốcgia như Ireland, Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha do đây cũng là các quốc gia vay nợ nhiều
Bước sang năm 2011, Bồ Đào Nha tiếp tục là quốc gia thứ ba rơi vào khủng hoảng khituyên bố mức thâm hụt ngân sách đã lên tới 8,5% GDP, cùng với đó, nợ công cũng đãvượt quá 90% GDP
Trang 21vòng nguy hiểm Thâm hụt ngân sách của Italia vào năm 2011 mới chỉ ở mức 5% GDP,nhưng nợ công đã xấp xỉ 120% GDP Tây Ban Nha nợ công ở mức 72% GDP, trong khithâm hụt ngân sách lại rất cao, gần 9% GDP
Cộng đồng chung châu Âu (EC) dự báo tỷ lệ thất nghiệp tại Eurozone sẽ tăng lên mức
kỷ lục 12% trong năm 2013 và 11% trên toàn EU, trong đó Tây Ban Nha là quốc gia có tỷ
lệ thất nghiệp ở mức báo động ( 27%) trong khi tỷ lệ này tại Áo chỉ là 4,7% Ngoài dựbáo ảm đạm về tình hình kinh tế Eurozone, EC cho biết năm 2013, kinh tế Pháp và Cộnghòa Síp đều rơi vào suy thoái, trong đó Pháp sẽ tăng trưởng âm 0,1% trong năm 2013 và
tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng từ 10,6% trong năm nay lên mức 10,9% trong năm 2014 Thâmhụt ngân sách của nền kinh tế lớn thứ hai trong khu vực Eurozone này cũng được dự báo
sẽ tăng từ 3,9% GDP trong năm nay lên 4,2% GDP trong năm 2014 Cộng hoà Síp cũngrơi vào suy thoái trầm trọng khi GDP được dự đoán giảm 12,6% trong vòng 2 năm tới(8,7% trong năm nay và 3,9% trong năm 2014) Trong khi đó, Tây Ban Nha cũng được
dự báo chưa thể thoát khỏi cuộc khủng hoảng do bong bóng nhà đất kéo dài suốt một thập
kỷ tại nước này gây ra EC dự đoán kinh tế nước này sẽ giảm 1,5% trong năm 2013 trướckhi có thể đạt mức tăng trưởng 1,4% trong năm 2014
Trang 22Source: Government expenditure (blue), fixed capital formation (red)and consumption (right axis, green) are all taken as log variables.Source of data: St Louis Federal Reserve Economic Data (FRED), February 2012.
Hình 9
Nguyên nhân
Nguyên nhân chính của cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu là do chính sách tài khóathiếu bền vững và sự mất cân đối trong việc vay nợ của các quốc gia Điển hình là HyLạp, kể từ khi gia nhập khối đồng tiền chung châu Âu (Eurozone) vào năm 2001 cho đếnkhủng hoảng tài chính năm 2008, mức thâm hụt ngân sách được công bố trung bình vàokhoảng 5% mỗi năm, trong khi con số này của cả khối Eurozone chỉ là khoảng 2% (IMF,2009) Chính vì thế, Hy Lạp đã không thể duy trì được những chỉ số theo chuẩn của Ủyban Kinh tế và Tiền tệ của EU (EMU), với mức trần thâm hụt ngân sách là 3% và nợnước ngoài là 60% GDP Tuy nhiên, Hy Lạp không phải là quốc gia duy nhất, bởi có đến25/27 thành viên EU không đạt được cam kết này Hy Lạp còn được báo chí nhắc đến rấtnhiều về nạn trốn thuế, khi tăng trưởng GDP danh nghĩa trong giai đoạn 2000-2007 đạtmức trung bình 8,25%, thì mức tăng về thu thuế chỉ là 7% Ngoài mức chi tiêu công thôngthường, Hy Lạp còn phải trả cho khoản đầu tư công khổng lồ cho Ôlimpic 2004 Để bùđắp cho khoản thâm hụt kép này, Hy Lạp đã đi vay trên thị trường vốn quốc tế và trongsuốt một thập kỷ, trước khi diễn ra cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, nướcnày đã trở thành “con nợ”, với tổng số nợ nước ngoài lên tới 115% GDP (năm 2009) Đếnnăm 2010, báo cáo của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) cho thấy, nợ côngcủa Hy Lạp đã lên tới con số 330 tỷ Ơrô, tương đương với 147,8% GDP
Một nguyên nhân nữa là sự hạn chế trong cơ chế phối hợp điều hành trong khu vực sửdụng đồng tiền chung (Eurozone), nhất là giữa tiền tệ và tài khóa Các quốc gia trong khu
Trang 23trong khi các chính sách tài khóa lại chưa có được một sự đồng thuận và hài hòa tươngứng Rõ ràng, mặc dù đã có những quy định cụ thể về mức thâm hụt ngân sách cũng như
nợ công, nhưng lại không có một cơ chế giám sát và quản lý hiệu quả đối với từng quốcgia thành viên Chính vì vậy, sự kiện vỡ nợ tại một quốc gia là Hy Lạp đã kéo theo khủnghoảng niềm tin lan sang các quốc gia có chính sách tài khóa lỏng lẻo khác
Việc thiếu cơ chế phối hợp ứng phó giữa các quốc gia trong khu vực cũng là một trongcác nguyên nhân chính gây nên khủng hoảng Hầu hết các quốc gia đều cố gắng thực hiệnnhững chính sách của riêng mình và khi không thể giải cứu được nền kinh tế mới nhờ đến
sự viện trợ của EU và IMF, mà không hề có những cảnh báo sớm với một chiến lược xử
lý về dài hạn được đưa ra
b Phản ứng của chính sách đối với khủng hoảng:
Đối mặt với cuộc khủng hoảng này, EU đã xây dựng nên các cơ chế giải cứu gồmnhiều giai đoạn nhằm hỗ trợ các nước thoát khỏi cảnh nợ nần, cứu vãn các nền kinh tếtránh nguy cơ vỡ nợ Tháng 5/2010, các Bộ trưởng Tài chính các nước thuộc EU đã thànhlập Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) với trị giá 440 tỷ Euro nhằm tài trợ vốn thôngqua các khoản cho vay và bảo lãnh, lấy lại niềm tin của thị trường Tuy nhiên, do tính chấtphức tạp và xu hướng ngày càng mởrộng của cuộc khủng hoảng nợ, đến tháng 02/2012các nước EU đã thống nhất thay thế Quỹ Bình ổn tài chính châu Âu bằng “Cơ chế Bình
ổn châu Âu” (ESM) Việc thay thế này đã nâng quy mô của Quỹlên 750 tỷ Euro nhằm hỗtrợ tài chính cho các thành viên EU vào thời điểm khó khăn, duy trì sự ổn định tài chínhcủa khu vực Các nước được hỗ trợ tài chính phải tiến hành cải cách tài chính và tái cơcấunền kinh tế nhằm cải thiện niềm tin của giới đầu tư Ngoài ra, ESM còn có thể bơm tiềntrực tiếp cho những ngân hàng thiếu vốn trong khu vực, đồng thời mua trái phiếu tại thịtrường thứ cấp nhằm giúp giảm sức ép đối với các nước gặp khó khăn khi phải vay mượntiền với lãi suất quá cao Những biện pháp này đã bước đầu thu được những kết quả lạcquan, chứng khoán châu Âu có xu hướng tăng điểm, chi phí vay mượn của nhiều nướcgiảm xuống đáng kể