Tuy nhiên, hầuhết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chínhphủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.Chính vì vậy, thuật ngữ
Trang 1MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2
1.Khái niệm nợ công: 2
2.Bản chất kinh tế của nợ công 4
3.Phân loại nợ công: 6
4.Những tác động của nợ công 8
II CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI 10
1.Mexico 1994: 10
1.1 Nguyên nhân 10 1.2 Diễn biến 15 1.3 Các biện pháp 17 2.Argentina: 19
2.1 Nguyên nhân khủng hoảng 19 2.2 Ảnh hưởng từ bên ngoài 24 2.3 Diễn biến khủng hoảng 26 3.Hy Lạp: 29
3.1 Nguyên nhân 29 3.2 Diễn biến và biện pháp cho cuộc khủng hoảng tài chính công ở châu Âu 35 3.3 Tác động và hậu quả của cuộc khủng hoảng nợ công ở Hy Lạp 37 IV BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM 41
4.1 Nợ công ở Việt Nam 41 4.2 Gợi ý chính sách 55 LỜI KẾT 64
Tài liệu tham khảo 65
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu bắt nguồn từ năm 2010 tại Hy Lạp
và tiếp tục lan mạnh sang các quốc gia châu Âu khác trong năm 2011 đang trởthành một vấn đề nóng bỏng và thu hút sự quan tâm của rất nhiều các nhànghiên cứu kinh tế cũng như hoạch định chính sách trên thế giới Cuộc khủnghoảng này được xem như giai đoạn thứ hai và là hệ quả tất yếu của cuộc khủnghoảng tài chính toàn cầu năm 2008 Tuy nhiên, bản chất nguyên nhân cùngnhững hậu quả của nó đến nền kinh tế quốc gia cũng như trong toàn khu vựcchưa hề được nghiên cứu một cách nghiêm túc và sâu sắc ở Việt Nam
Trong một vài năm trở lại đây, sau khoảng thời gian tăng trưởng nhanh,kinh tế Việt Nam đã có dấu hiệu chững lại Điều này được giải thích bởi nhữngtác động bên ngoài ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và việcViệt Nam đã bước sang giai đoạn không thể sử dụng dòng vốn đầu tư nhằmthúc đẩy tăng trưởng được nữa Những số liệu thống kê cả của Việt Nam vàquốc tế đều cho thấy Việt Nam thường xuyên có thâm hụt ngân sách và nợcông của Việt Nam cũng đang có xu hướng tăng lên Tuy nhiên, hiệu quả đầu
tư của Việt Nam lại đang có xu hướng giảm xuống Đặc biệt là việc các tậpđoàn nhà nước như Vinashin, Vinalines hay Petro Vietnam thua lỗ và đứng trên
bờ vực phá sản lại càng dấy lên hồi chuông cảnh tỉnh đối với các nhà kinh tế vàhoạch định chính sách của Việt Nam
Trước thực tiễn đó, nghiên cứu được xây dựng nhằm tổng hợp các cuộckhủng hoảng nợ lớn trong lịch sử cũng như cuộc khủng hoảng nợ công châu
Âu gần đây nhằm đưa ra được một cái nhìn toàn cảnh cả về lý thuyết cũng nhưthực tế về khủng hoảng nợ công Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng sẽ phân tíchthực trạng nhằm đánh giá về tình hình cũng như rủi ro nợ công của Việt Nam.Cuối cùng, nghiên cứu sẽ đưa ra một số gợi ý chính sách giúp cải thiện tìnhhình nợ công của nhằm tránh những rủi ro khủng hoảng mà Việt Nam có thểgặp phải trong thời gian sắp tới
Trang 3I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm nợ công:
Khái niệm nợ công là một khái niệm tương đối phức tạp Tuy nhiên, hầuhết những cách tiếp cận hiện nay đều cho rằng, nợ công là khoản nợ mà Chínhphủ của một quốc gia phải chịu trách nhiệm trong việc chi trả khoản nợ đó.Chính vì vậy, thuật ngữ nợ công thường được sử dụng cùng nghĩa với các thuậtngữ như nợ Nhà nước hay nợ Chính phủ Tuy nhiên, nợ công hoàn toàn khácvới nợ quốc gia Nợ quốc gia là toàn bộ khoản nợ phải trả của một quốc gia,bao gồm hai bộ phận là nợ của Nhà nước và nợ của tư nhân (doanh nghiệp, tổchức, cá nhân) Như vậy, nợ công chỉ là một bộ phận của nợ quốc gia mà thôi
Theo cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới, nợ công được hiểu là nghĩa
vụ nợ của bốn nhóm chủ thể bao gồm: (1) nợ của Chính phủ và các Bộ, ban,ngành trung ương; (2) nợ của các cấp chính quyền địa phương; (3) nợ củaNgân hàng trung ương; và (4) nợ của các tổ chức độc lập mà Chính phủ sở hữutrên 50% vốn, hoặc Chính phủ là người chịu trách nhiệm trả nợ trong trườnghợp tổ chức đó vỡ nợ Cách định nghĩa này cũng tương tự như quan niệm của
Hệ thống quản lý nợ và phân tích tài chính của Hội nghị của Liên hiệp quốc vềthương mại và phát triển (UNCTAD)
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, nợ công được hiểu bao gồm banhóm là nợ Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địaphương Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước,nước ngoài, được ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủhoặc các khoản vay khác do Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền pháthành theo quy định của pháp luật Nợ Chính phủ không bao gồm khoản nợ doNgân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực hiện chính sách tiền tệtrong từng thời kỳ Nợ được Chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp,
tổ chức tài chính, tín dụng vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo
Trang 4lãnh Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Ủy ban nhân dân tỉnh, thànhphố trực thuộc trung ương (gọi chung là UBND cấp tỉnh) ký kết, phát hànhhoặc uỷ quyền phát hành
Như vậy, khái niệm về nợ công theo quy định của pháp luật Việt Namđược đánh giá là hẹp hơn so với thông lệ quốc tế Nhận định này cũng đượcnhiều chuyên gia uy tín trong lĩnh vực chính sách công thừa nhận
Tuy có nhiều cách tiếp cận rộng hẹp khác nhau về nợ công, nhưng về cơbản, nợ công có những đặc trưng sau đây:
- Nợ công là khoản nợ ràng buộc trách nhiệm trả nợ của Nhà nước.Khác với các khoản nợ thông thường, nợ công được xác định là một khoản nợ
mà Nhà nước (bao gồm các cơ quan nhà nước có thẩm quyền) có trách nhiệmtrả khoản nợ ấy Trách nhiệm trả nợ của Nhà nước được thể hiện dưới hai góc
độ trực tiếp và gián tiếp Trực tiếp được hiểu là cơ quan nhà nước có thẩmquyền sẽ là người vay và do đó, cơ quan nhà nước ấy sẽ chịu trách nhiệm trả
nợ khoản vay (ví dụ: Chính phủ Việt Nam hoặc chính quyền địa phương) Giántiếp là trong trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền đứng ra bảo lãnh đểmột chủ thể trong nước vay nợ, trong trường hợp bên vay không trả được nợthì trách nhiệm trả nợ sẽ thuộc về cơ quan đứng ra bảo lãnh (ví dụ: Chính phủbảo lãnh để Ngân hàng Phát triển Việt Nam vay vốn nước ngoài)
- Nợ công được quản lý theo quy trình chặt chẽ với sự tham giacủa cơ quan nhà nước có thẩm quyền Việc quản lý nợ công đòi hỏi quy trìnhchặt chẽ nhằm đảm bảo hai mục đích: một là, đảm bảo khả năng trả nợ của đơn
vị sử dụng vốn vay và cao hơn nữa là đảm bảo cán cân thanh toán vĩ mô và anninh tài chính quốc gia; hai là, để đạt được những mục tiêu của quá trình sửdụng vốn Bên cạnh đó, việc quản lý nợ công một cách chặt chẽ còn có ý nghĩaquan trọng về mặt chính trị và xã hội Theo quy định của pháp luật Việt Nam,nguyên tắc quản lý nợ công là Nhà nước quản lý thống nhất, toàn diện nợ công
Trang 5từ việc huy động, phân bổ, sử dụng vốn vay đến việc trả nợ để đảm bảo haimục tiêu cơ bản như đã nêu trên
- Mục tiêu cao nhất trong việc huy động và sử dụng nợ công làphát triển kinh tế- xã hội vì lợi ích chung Nợ công được huy động và sử dụngkhông phải để thỏa măn những lợi ích riêng của bất kỳ cá nhân, tổ chức nào,
mà vì lợi ích chung của đất nước Xuất phát từ bản chất của Nhà nước là thiếtchế để phục vụ lợi ích chung của xã hội, Nhà nước là của dân, do dân và vì dânnên đương nhiên các khoản nợ công được quyết định phải dựa trên lợi ích củanhân dân, mà cụ thể là để phát triển kinh tế- xã hội của đất nước và phải coi đó
là điều kiện quan trọng nhất
2 Bản chất kinh tế của nợ công
Nghiên cứu làm rõ bản chất kinh tế của nợ công và quan điểm của kinh
tế học về nợ công sẽ giúp các nhà làm luật xây dựng các quy định pháp luậtphù hợp với tình hình kinh tế- xã hội nhằm đạt được hiệu quả trong sử dụng nợcông ở Việt Nam
Xét về bản chất kinh tế, khi Nhà nước mong muốn hoặc bắt buộc phảichi tiêu vượt quá khả năng thu của mình (khoản thuế, phí, lệ phí và các khoảnthu khác) thì phải vay vốn và điều đó làm phát sinh nợ công Như vậy, nợ công
là hệ quả của việc Nhà nước tiến hành vay vốn và Nhà nước phải có tráchnhiệm hoàn trả Do đó, nghiên cứu về nợ công phải bắt nguồn từ quan niệm vềviệc Nhà nước đi vay là như thế nào
Trong lĩnh vực tài chính công, một nguyên tắc quan trọng của ngân sáchnhà nước được các nhà kinh tế học cổ điển hết sức coi trọng và hiện nay vẫnđược ghi nhận trong pháp luật ở hầu hết các quốc gia, đó là nguyên tắc ngânsách thăng bằng Theo nghĩa cổ điển, ngân sách thăng bằng được hiểu là mộtngân sách mà ở đó, số chi bằng với số thu Về ý nghĩa kinh tế, điều này giúpNhà nước tiết kiệm chi tiêu hoang phí, còn về ý nghĩa chính trị, nguyên tắc này
Trang 6sẽ giúp hạn chế tình trạng Chính phủ lạm thu thông qua việc quyết định cáckhoản thuế
Các nhà kinh tế học cổ điển như A.Smith, D.Ricardo, J.B.Say là nhữngngười khởi xướng và ủng hộ triệt để nguyên tắc này trong quản lý tài chínhcông Và chính vì thế, các nhà kinh tế học cổ điển không đồng tình với việcNhà nước có thể vay nợ để chi tiêu
Ngược lại với các nhà kinh tế học cổ điển, một nhà kinh tế học đượcđánh giá là có ảnh hưởng mạnh mẽ nhất ở nửa đầu thế kỷ XX là JohnM.Keynes (1883-1946) và những người ủng hộ mình (gọi là trường pháiKeynes) lại cho rằng, trong nhiều trường hợp, đặc biệt là khi nền kinh tế suythoái dẫn đến việc đầu tư của tư nhân giảm thấp, thì Nhà nước cần ổn định đầu
tư bằng cách vay tiền (tức là cố ý tạo ra thâm hụt ngân sách) và tham gia vàocác dự án đầu tư công cộng như đường xá, cầu cống và trường học, cho đến khinền kinh tế có mức đầu tư tốt trở lại Học thuyết của Keynes (cùng với sự chỉnhsửa nhất định từ những đóng góp cũng như phản đối của một số nhà kinh tế họcsau này là Milton Friedman và Paul Samuelson) được hầu hết các Chính phủ ápdụng để vượt qua khủng hoảng và tình trạng trì trệ của nền kinh tế Ngược lạivới Keynes, Milton Friedman cho rằng, việc sử dụng chính sách tài khóa nhằmtăng chi tiêu và việc làm sẽ không có hiệu quả và dễ dẫn đến lạm phát trongthời suy thoái vì người dân thường chi tiêu dựa trên kỳ vọng về thu nhậpthường xuyên chứ không phải thu nhập hiện tại và mọi chính sách đều có độ trễnhất định Thay vì thực hiện chính sách tài khóa thiếu hụt, Nhà nước nên thựcthi chính sách tiền tệ hiệu quả Còn Paul Samuelson, một nhà kinh tế học theotrường phái Keynes, đã có những bổ sung quan trọng trong quan niệm về chínhsách tài khóa của Keynes Ông cho rằng, để kích thích nền kinh tế vượt qua sựtrì trệ, cần thiết phải thực hiện cả chính sách tài khóa mở rộng và chính sáchtiền tệ linh hoạt
Trang 7Hầu hết các quốc gia thực hiện nền kinh tế thị trường đều có hoạt độngvay nợ Việc vay nợ của Nhà nước thường được thực hiện dựa trên quan điểmcủa Keynes, nhưng có hai điều chỉnh quan trọng: một là, việc cố ý thâm hụtngân sách và bù đắp bằng các khoản vay không được thực hiện vĩnh viễn, bởi
lẽ xét về lý thuyết thì những tác động từ các khoản vay chỉ có ích trong ngắnhạn còn về dài hạn lại có ảnh hưởng tiêu cực và do đó Nhà nước cần phải cógiới hạn về mặt thời gian trong việc sử dụng các khoản vay; và hai là, cáckhoản nợ công phải được kiểm soát kỹ lưỡng nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng,đồng thời hạn chế những tác động không mong muốn từ việc sử dụng cáckhoản vay Việc quản lý nợ công hiệu quả sẽ giúp mục đích vay vốn đạt đượcvới chi phí thấp nhất, đồng thời đảm bảo khả năng trả nợ đúng hạn
3 Phân loại nợ công:
Có nhiều tiêu chí để phân loại nợ công, mỗi tiêu chí có một ý nghĩa khácnhau trong việc quản lý và sử dụng nợ công
- Theo tiêu chí nguồn gốc địa lý của vốn vay thì nợ công gồm có hai loại:
nợ trong nước và nợ nước ngoài Nợ trong nước là nợ công mà bên cho vay là
cá nhân, tổ chức Việt Nam Nợ nước ngoài là nợ công mà bên cho vay là Chínhphủ nước ngoài, vùng lãnh thổ, tổ chức tài chính quốc tế, tổ chức và cá nhânnước ngoài Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, nợ nước ngoài không đượchiểu là nợ mà bên cho vay là nước ngoài, mà là toàn bộ các khoản nợ côngkhông phải là nợ trong nước Việc phân loại nợ trong nước và nợ nước ngoài
có ý nghĩa quan trọng trong quản lý nợ Việc phân loại này về mặt thông tin sẽgiúp xác định chính xác hơn tình hình cán cân thanh toán quốc tế Và ở một sốkhía cạnh, việc quản lý nợ nước ngoài còn nhằm đảm bảo an ninh tiền tệ củaNhà nước Việt Nam, vì các khoản vay nước ngoài chủ yếu bằng ngoại tệ tự dochuyển đổi hoặc các phương tiện thanh toán quốc tế khác
Trang 8- Theo phương thức huy động vốn, thì nợ công có hai loại là nợ công từthỏa thuận trực tiếp và nợ công từ công cụ nợ:
Nợ công từ thỏa thuận trực tiếp là khoản nợ công xuất phát từnhững thỏa thuận vay trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền với
cá nhân, tổ chức cho vay Phương thức huy động vốn này xuất phát từnhững hợp đồng vay, hoặc ở tầm quốc gia là các hiệp định, thỏa thuậngiữa Nhà nước Việt Nam với bên nước ngoài
Nợ công từ công cụ nợ là khoản nợ công xuất phát từ việc cơquan nhà nước có thẩm quyền phát hành các công cụ nợ để vay vốn Cáccông cụ nợ này có thời hạn ngắn hoặc dài, thường có tính vô danh vàkhả năng chuyển nhượng trên thị trường tài chính
- Theo tính chất ưu đãi của khoản vay làm phát sinh nợ công thì nợ công
có ba loại là nợ công từ vốn vay ODA, nợ công từ vốn vay ưu đãi và nợ thươngmại thông thường
- Theo trách nhiệm đối với chủ nợ thì nợ công được phân loại thành nợcông phải trả và nợ công bảo lãnh Nợ công phải trả là các khoản nợ mà Chínhphủ, chính quyền địa phương có nghĩa vụ trả nợ Nợ công bảo lãnh là khoản nợ
mà Chính phủ có trách nhiệm bảo lãnh cho người vay nợ, nếu bên vay khôngtrả được nợ thì Chính phủ sẽ có nghĩa vụ trả nợ
- Theo cấp quản lý nợ thì nợ công được phân loại thành nợ công của trungương và nợ công của chính quyền địa phương Nợ công của trung ương là cáckhoản nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh Nợ công của địa phương
là khoản nợ công mà chính quyền địa phương là bên vay nợ và có nghĩa vụ trựctiếp trả nợ Theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước năm 2002 thì nhữngkhoản vay nợ của chính quyền địa phương được coi là nguồn thu ngân sách vàđược đưa vào cân đối, nên về bản chất nợ công của địa phương được Chínhphủ đảm bảo chi trả thông qua khả năng bổ sung từ ngân sách trung ương
Trang 94 Những tác động của nợ công
Như trên đã phân tích, nợ công vừa có nhiều tác động tích cực nhưngcũng có một số tác động tiêu cực Nhận biết những tác động tích cực và tiêucực nhằm phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực là điều hết sức cần thiếttrong xây dựng và thực hiện pháp luật về quản lý nợ công
- Những tác động tích cực chủ yếu của nợ công bao gồm:
Nợ công làm gia tăng nguồn lực cho Nhà nước, từ đó tăng cườngnguồn vốn để phát triển cơ sở hạ tầng và tăng khả năng đầu tư đồng bộcủa Nhà nước Việt Nam đang trong giai đoạn tăng tốc phát triển nềnkinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó cơ sở hạtầng là yếu tố có tính chất quyết định Muốn phát triển cơ sở hạ tầngnhanh chóng và đồng bộ, vốn là yếu tố quan trọng nhất Với chính sáchhuy động nợ công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được giải quyết
để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế
Huy động nợ công góp phần tận dụng được nguồn tài chính nhànrỗi trong dân cư Một bộ phận dân cư trong xã hội có các khoản tiếtkiệm, thông qua việc Nhà nước vay nợ mà những khoản tiền nhàn rỗinày được đưa vào sử dụng, đem lại hiệu quả kinh tế cho cả khu vựccông lẫn khu vực tư
Nợ công sẽ tận dụng được sự hỗ trợ từ nước ngoài và các tổ chứctài chính quốc tế Tài trợ quốc tế là một trong những hoạt động kinh tế-ngoại giao quan trọng của các nước phát triển muốn gây ảnh hưởng đếncác quốc gia nghèo, cũng như muốn hợp tác kinh tế song phương NếuViệt Nam biết tận dụng tốt những cơ hội này, thì sẽ có thêm nhiềunguồn vốn ưu đãi để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, trên cơ sở tôn trọnglợi ích nước bạn, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền và chính sáchnhất quán của Đảng và Nhà nước
- Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, nợ công cũng gây ra nhữngtác động tiêu cực nhất định Nợ công sẽ gây áp lực lên chính sách tiền tệ, đặc
Trang 10biệt là từ các khoản tài trợ ngoài nước Nếu kỷ luật tài chính của Nhà nước lỏnglẻo, nợ công sẽ tỏ ra kém hiệu quả và tình trạng tham nhũng, lãng phí sẽ trànlan nếu thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ việc sử dụng và quản lý nợ công
Trang 11II CÁC CUỘC KHỦNG HOẢNG NỢ CÔNG TRÊN THẾ GIỚI
1 Mexico 1994:
Khủng hoảng kinh tế Mexico năm 1994 (còn được gọi bằng các tên khác
là khủng hoảng Peso Mexico, hay bằng tên lóng là khủng hoảng Tequila theotên thứ rượu mạnh Tequila nổi tiếng của México) là một cuộc khủng hoảngkinh tế bùng phát bằng sự mất giá nhanh chóng của peso Mexico vào tháng 12năm 1994 và sau đó lan ra các khu vực của nền kinh tế của đất nước Cuộckhủng hoảng này không chỉ làm cho kinh tế Mexico chao đảo, mà còn ảnhhưởng tiêu cực tới kinh tế các nước Mỹ Latin khác Ảnh hưởng ra nước ngoàicủa nó được gọi là “hiệu ứng Tequila”
1.1 Nguyên nhân
Liên tục trong những năm đầu của thập niên 90, Mexico thực hiện chươngtrình tái cấu trúc nền kinh tế rất mạnh mẽ, thu hút được rất nhiều các dòng vốnnước ngoài vào thúc đẩy nền kinh tế phát triển Thế rồi đến năm 1994 đồng tiềnPeso đã lâm vào tình trạng mất giá, chính phủ do phải chịu thâm hụt cán cânthương mại khổng lồ, các dòng vốn quốc tế rút ra khỏi Mexico trước sự yếukém của nền kinh tế và những rủi ro về chính trị ngày một tăng cao nên đãkhông thể giữa được tỷ giá neo giữa đồng peso và đồng đô la Mỹ Vậy nguyênnhân thực sự của sự sụp đổ này là do đâu?
1.1.1 Thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.
Sau cuộc khủng hoảng nợ năm 1982, Mexico đã tiến hành một loạt cảicách giúp khôi phục được nền kinh tế Kinh tế tăng trưởng trở lại trong khipeso Mexico lại được neo vào dollar Mỹ đã dẫn tới hiện tượng Peso lên giá sovới dollar Đầu thập niên 1990, hiện tượng này diễn tiến nhanh chóng Hậu quả
Trang 12là xuất khẩu của Mexico chịu ảnh hưởng bất lợi trong khi nhập khẩu được thúcđẩy Điều này dẫn tới Mexico trở nên bị thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.Đầu năm 1993, mức độ thâm hụt tương đương 6,5% GDP Sự thâm hụt nàychủ yếu được bù đắp bằng vay nợ ngắn hạn của nước ngoài Một thời gian dài,lãi suất của Mexico cao hơn lãi suất của Mỹ Kinh tế tăng trưởng mạnh, tỷ giáhối đoái danh nghĩa cố định, lãi suất trong nước cao là những nhân tố thúc đẩydòng vốn tư nhân nước ngoài đổ vào nền kinh tế Mexico Riêng thời gian từ
1990 đến 1993, Mexico đã thu hút được 93 tỷ Dollar đầu tư nước ngoài, chiếmmột nửa tổng đầu tư nước ngoài vào Mỹ Latin
Quỹ tiền tệ Quốc tế IMF đã kiến nghị chính phủ Mexico có các biện phápgiảm thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai Tuy nhiên, mức độ thâm hụt tiếp tụcgia tăng trong năm 1994, lên tới 8% GDP Cuộc bầu cử tổng thống Mexico vàotháng 8 năm 1994 cộng với một loạt sự kiện an ninh trong nước (sự nổi dậy củangười Anh-điêng ở Chiapas, vụ ám sát ứng cử viên tổng thống Luis ConaldoColosio) và ngoài nước đã khiến chính phủ không tập trung đủ cho xử lý thâmhụt Chính phủ đã phá giá peso theo từng biên độ nhỏ Các nhà đầu tư trở nên
lo ngại về sự bền vững của nền kinh tế Mexico Việc chính phủ đổi các khoản
nợ định danh bằng peso sang định danh bằng dollar càng làm người ta lo lắnghơn
Trang 13(Nguồn: Ngân hàng trung ương Mexico)
Bên cạnh đó, năm 1994 đã xảy ra hiện tượng lãi suất quốc tế tăng lên kíchthích các nhà đầu tư điều chỉnh danh mục đầu tư của mình theo hướng giảmđầu tư vào các nền kinh tế đang phát triển
Hai xu hướng trên đã kết hợp với nhau tạo nên sự rút vốn ồ ạt khỏiMexico
1.1.2 Tiết kiệm tư nhân giảm sút
Khi các cải cách kinh tế diễn ra đầu những năm 90, người dân Mexico bắtđầu chuyển nhiều hơn thu nhập của họ từ tiết kiệm sang tiêu dùng Theo dữliệu của Ngân hàng Trung ương Mexico, tỷ lệ tiết kiệm của khu vực tư nhânnăm 1989 vào khoảng 16% thì đến năm 1992 đã giảm xuống dưới 9% và đếnnăm 1994 chỉ tăng lên vào khoảng 12% Lý giải cho tình trạng chuyển từ tiếtkiệm sang tiêu dùng này là do nhu cầu bị dồn nén sau nhiều năm khổ cực tronghầu hết thập kỷ 80 và sự hấp dẫn của những sản phẩm ngoại có giá thành rẻhơn, xuất hiện ở Mexico khi nước này mở cửa thị trường Sự giảm sút của tiếtkiệm trong nước cũng được phản ánh thông qua nhu cầu nhập khẩu tăng lên.Điều này đã gây thêm áp lực lên tình trạng thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai.Hơn nữa, nhập khẩu chủ yếu hướng vào tiêu dùng thay vì đầu tư, khiến chomức thâm hụt tài khoản vãng lai trở nên kém bền vững hơn do ít có tiền đầu tưdành cho phát triển lâu dài hơn
(Nguồn: Ngân hàng trung ương Mexico)
1.1.3 Sự lên giá của đồng Peso
Trang 14Như đã đề cập ở trên, trong giai đoạn từ 1988 đến 1994, chính phủ Mexico
đã thực hiện neo tỷ giá của đồng peso với đôla Mỹ Và việc neo tỷ giá này đãgóp phần bình ổn nền kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài và kiềm chế lạm phát.Tuy nhiên, việc neo tỷ giá trong dài hạn sẽ dẫn đến việc lên giá của đồng pes o,ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu và làm giảm tốc độ tăng trưởngcủa nền kinh tế Một trong những lý do của việc đánh giá quá cao giá trị đồngpes o chính là sự mất giá danh nghĩa được chính phủ Mexico cho phép tronggiai đoạn này đã không đạt tới mức chênh lệch lạm phát giữa Mỹ và Mexico.Mặc dù tỷ lệ lạm phát của Mexico có giảm trong những năm này nhưng nó vẫncao hơn tỷ lệ lạm phát của Mỹ Do đó, tỷ giá đồng pes o đối với đồng đô la đãdần tăng trên thực tế dù về danh nghĩa đồng pes o đã mất giá Với đồng pes ođược định giá quá cao, người dân Mexico có nhu cầu nhập khẩu nhiều hơnlượng mà họ có thể chi trả Trong khi đó, xuất khẩu lại bị tăng trưởng hạn chế
do sự định giá cao này Vì vậy, sự tăng giá trị không ngừng và sự định giá quácao đối với đồng pes o trong giai đoạn này đã dẫn đến tình trạng trầm trọnghơn của mức thâm hụt tài khoản hiện tại
Vào giữa năm 1994, hai nhà kinh tế đã cho rằng Mexico cần phải hànhđộng để điều chỉnh tỷ giá hối đoái nhằm bù đắp cho việc định giá quá cao đồngpes o Một lượng phá giá giá hối đoái 20% có thể giảm thâm hụt tài khoản hiệntại xuống mức dễ quản lý hơn Tuy nhiên, theo các quan chức bộ tài chính,quan điểm này không được nhiều nhà kinh tế khu vực tư nhân ủng hộ vì họ chorằng chỉ cần có một sự điều chỉnh nhỏ về tỷ giá hối đoái Các quan chức tàichính của Mexico giải thích họ không bị thuyết phục bởi việc đồng peso bịđịnh giá quá cao vào thời điểm đó Họ lấy dẫn chứng là tình hình xuất khẩumạnh mẽ của Mexico và sự gia tăng năng suất Vì thế, chính phủ Mexico đãkhông sẵn sàng cân nhắc đến việc kêu gọi phá giá tiền tệ
Trang 15(Nguồn: Ngân hàng trung ương Mexico)
1.1.4 Hệ thống ngân hàng còn sơ khai
Kể từ sau cuộc quốc hữu hóa một loạt các ngân hàng vào năm 1982, hệthống ngân hàng Mexico đã bộc lộ rất nhiều các yếu kém Điều đầu tiên phải
kể đến là việc quốc hữu hóa một số các ngân hàng đã làm giảm tính cạnh tranhtrong lĩnh vực tài chính ngân hàng Hơn nữa, các ngân hàng Mexico chưa cóđược hệ thống các tiêu chí đánh giá độ tín nhiệm của khách hàng khi cung cấpcác khoản vay Đặc biệt khi cuộc bùng nổ tín dụng tiêu dùng kể từ sau 1989,vấn đề về đánh giá độ tín nhiệm này đã dẫn việc chồng chất các khoản tín dụngtiêu dùng quá hạn Tỷ lệ nợ quá hạn của các ngân hàng liên tục tăng từ tháng12/1991 đến tháng 3/1994 từ mức 3,5% lên 8,5% (số liệu IMF) Chính sự giatăng các khoản nợ quá hạn này đã làm cho tình hình bảng cân đối kế toán củacác ngân hàng trở nên ngày càng tồi tệ hơn Và một hệ thống ngân hàng bộc lộ
Trang 16nhiều điểm yếu kém như vậy chính là một yếu tố cản trở việc thực thi chínhsách tiền tệ của NHTW một cách hiệu quả, nhằm mục tiêu giảm thâm hụtthương mại.
1.2 Diễn biến.
Ngày 1 tháng 1 năm 1994, lực lượng vũ trang Zapatistas đã nổi dậy.Cuối tháng 2, tỷ giá hối đoái giữa peso và dollar tăng đến kịch trần biên độ giaođộng Nhưng các nhà đầu tư nước ngoài vẫn lạc quan về tình hình Mexico vàdòng vốn nước ngoài vẫn tiếp tục đổ vào
Tháng 3, ứng cử viên tổng thống Luis Donaldo Colos io bị ám sát đã tạonên những căng thẳng chính trị ở Mexico Các nhà đầu tư nước ngoài trở nênbất an và lo lắng cho tài sản của mình ở Mexico Trước những lo ngại về tìnhhình chính trị và kinh tế ở Mexico, các nhà đầu tư trong và ngoài nước đã giảmnhu cầu về chứng khoán của Mexico Peso chịu sức ép mất giá và chính phủ đãtung khoảng 10 tỷ dollar dự trữ ngoại hối nhà nước ra để bảo vệ tỷ giá danhnghĩa
Tháng 4, lãi suất trái phiếu chính phủ định danh bằng peso có xu hướngtăng Lo ngại rằng điều này có thể gây tổn thương cho khu vực ngân hàng cònnon trẻ của đất nước và sợ rằng lãi s uất cao có thể gây ra suy thoái kinh tế vàomột năm có bầu cử tổng thống, nên chính phủ đã một mặt dùng dự trữ ngoạihối để chống lại xu hướng tăng lãi s uất, một mặt tiến hành đổi các trái phiếuchính phủ từ định danh bằng pes o sang định danh bằng dollar
Một số học giả kinh tế đã cảnh báo về việc đồng peso được định giá quácao so với dollar Nhưng đồng thời cũng có ý kiến phản đối việc điều chỉnh tỷgiá vì lý do niềm tin của các nhà đầu tư chưa đủ mạnh để có thể không bịhoảng loạn khi tỷ giá thay đổi mạnh Chính phủ Mexico chọn biện pháp vừadùng dữ trữ ngoại hối để giữ ổn định tỷ giá, vừa từng bước nhỏ điều chỉnh tỷgiá
Trang 17 Tháng 8, tổng thống Ernes to Zedillo nhậm chức phải đương đầu vớinhiều khó khăn trong lĩnh vực kinh tế.Tuy nhiên ông vẫn duy trì các chính sáchtài chính, tiền tệ như trước
Cuối tháng 9, Tổng thư ký của đảng Institutional Revolution, Jos éFrancisco Ruiz Massieu bị ám sát Cộng đồng thế giới cho rằng vụ ám sát này
đã càn chứng tỏ tình hình chính trị tại Mexico rất bất ổn.Các nhà đầu tư thêmbất an.Một số các nhà đầu tư nước ngoài cùng các quỹ đã bắt đầu rút vốn khỏiMexico
Giữa tháng 10, Cục dữ trữ Liên bang Mỹ tuyên bố mặc dù lo ngại về mức
dự trữ ngoại hối ít ỏi của Mexico, song Mexico không nên mong đợi chi việncủa nước ngoài Tâm lý của các nhà đầu tư càng trở nên bất ổn Cũng trongthời gian đó, sau khi một số công ty lớn của Mexico công khai tình trạng lợinhuận của mình giảm sút Thị trường chứng khoán Mexico chao đảo Áp lựcmất giá peso càng tăng lên
Tổng thống mới nhậm chức không muốn phá giá đồng peso trong suốtnhiệm kỳ của mình trừ khi việc phá giá này là không thể tránh được Sự cốgắng duy trì đồng peso được định giá cao đã gây ra cho nền kinh tế Mexiconhiều vấn đề như nó đã không khuyến khích nước ngoài tiêu dùng hàng hóacủa Mexico , trong khi người Mexico lại thích tiêu dùng các sản phẩm củanước ngoài Điều này dẫn đến thâm hụt thương mại ngày càng trầm trọng Bêncạnh đó, các nhà đầu tư và các quỹ đầu tư ở Mexico cũng nhận sự mất giá củađồng Peso nên đã bắt đầu chuyển việc nắm giữ các tài sản bằng đồng pes osang nắm giữ các tài sản bằng đồng dollar Để giữ tỷ giá của đồng nội tệ, cómột cách đó là dùng tiền nước ngoài để mua lại đồng nội tệ Và hàng tỷ dollartrong quỹ dự trữ ngoại hối của Mexico đã được tung ra nhằm giữ giá đồng pesonhưng đã không thành công
Trang 18 Cuối tháng 10, thống đốc ngân hàng trung ương Mexico công khai rằng
dữ trữ ngoại hối của Mexico chỉ còn 17,12 tỷ dollar
Ngày 20 tháng 12 năm 1994, trước áp lực phá giá đồng peso , tổng thốngMexicon Ernes to Zedillo đã phải phá giá đồng peso thêm 15% Bên cạnh đó,chính phủ cũng đã can thiệp nhằm giảm tốc độ mất giá, song không có hiệu quả
mà trái lại làm cho quỹ dự trữ ngoại hối của Mexico ngày càng cạn kiệt Đếnngày 22/12, chính phủ Mexico đã phải quyết định tuyên bố thả nổi đồng pes o Quyết định này đã làm các nhà đầu tư mất hết lòng tin vào khả năng trảcác khoản nợ ngắn hạn (các khoản nợ nước ngoài nếu tính theo pes o đã lớn lêngấp nhiều lần khi tỷ giá giữa peso và dollar tăng lên) Vì thế, các nhà đầu tưbán tháo các tài sản bằng đồng pes o Điều này làm cho đồng peso càng mất giáhơn nữa Bên cạnh đó ,các khoản nợ nước ngoài đột nhiên tăng lên đã khiếnbảng cân đối tài sản của các xí nghiệp và ngân hàng của Mexico xấu đi Hậuquả là nền kinh tế Mexico rơi vào khủng hoảng thực sự
1.3 Các biện pháp.
Vào cuối năm 1994, nợ nước ngoài của Mexico vượt quá 200 tỷ USD, lạmphát ít nhất là 60%, thất nghiệp từ 3,6% tăng lên xấp xỉ 10% Tốc độ tăngtrưởng năm 1995 là -6,2% Khi đó, chính quyền Mexico phải kêu gọi cộngđồng quốc tế giúp đỡ Mexico thoát khỏi cuộc khủng hoảng
Ngoài việc điều chỉnh thị trường tiền tệ, thông qua tỷ giá hối đoái thả nổi
và những tiến bộ trong cải cách cơ cấu và tự do hóa thị trường; các nhà chứctrách Mexico đã thương lượng một gói tài chính khẩn cấp với chính phủ Hoa
Kỳ, IMF và Ngân hàng thế giới Gói tài chính này không chỉ cần thiết để ngănchặn cuộc khủng hoảng ở Mexico mà còn tránh cho nó không lan ra các nướckhác
Bằng việc chấp nhận gói tài chính này kèm theo những điều kiện của IMF,
áp dụng các biện pháp giảm chi tiêu ngân sách, thắt chặt chính sách tiền tệ và
Trang 19đẩy nhanh cải cách cơ cấu kinh tế; từ giữa năm 1996, nền kinh tế Mexico đãthoát ra khỏi khủng hoảng và bắt đầu phục hồi.
1.3.1 Gói tài chính cứu trợ khẩn cấp.
Nguồn lực của gói này gồm 20 tỷ USD của chính phủ Mỹ, 17.8 tỷ USDcủa IMF, còn lại là từ Canada và Ngân hàng thế giới Mexico đã dùng quỹ nàycho 02 mục đích cơ bản:
- Tái tài trợ thương mại của các ngân hàng nước ngoài cho các khoản
nợ:
Mức độ thâm hụt cán cân tài khoản vãng lai của Mexico vào năm 1994 đãlên tới 8% GDP Với động thái trên, chính phủ đã từng vay mượn ngắn hạn quánhiều (dưới hình thức các trái phiếu kho bạc) được cứu khỏi tình trạng phá sản
- Tăng dự trữ ngoại hối:
Vào năm 1994, cuộc nổi dậy Chiapas xảy ra đã làm các nhà đầu tư nướcngoài lo ngại đầu tư vào một thị trường bất ổn chính trị như Mexic; cộng vớinhững mâu thuẫn trong chính phủ dẫn đến quỹ dự trữ ngoại hối giảm gần 35 tỷUSD trong khoảng tháng 2 đến tháng 12 năm 1994
1.3.2 Thay đổi chính sách tài khóa.
Nguồn tín dụng quốc tế đã đi kèm với điều kiện buộc Mexico phải chấpnhận một kế hoạch quản lý tài chính: kiểm soát tiền lương, tiết kiệm, các chitiêu công cộng và giảm mức thâm hụt tài khoản vãng lai Phạm vi cải cách baogồm tư nhân hóa, loại bỏ những quy định, thay đổi sắp xếp các vùng nôngthôn, giảm đáng kể vai trò của nhà nước trong các hoạt động kinh tế
Để kiềm chề lạm phát, chính phủ đã ký một thỏa thuận với công đoàn vàkhu vực tư nhân trong tháng 01/1995
1.3.3 Thay đổi chính sách tiền tệ.
- Tỷ giá hối đoái thả nổi:
Giải pháp phá giá đồng nội tệ giúp cân đối được thị trường nội địa, tăngthu từ thuế, gia tăng sức cạnh tranh cho hàng xuất khẩu, kìm hãm đà tăng giá
cả hàng hóa và trở thành công thức tiêu biểu cho việc cắt giảm chi tiêu công
Trang 20Tuy mặt trái của nó là giảm mức lương thực tế của người lao động ( trong 02năm từ 1994-1996, mức lương đã giảm tới 20%), nhưng đó chỉ là hiệu ứng phụtạm thời Kinh tế Mexico đã hồi phục nhanh chóng và tăng trưởng lần lượt là5% và 7% vào các năm 1996 và 1997 Ngân khố quốc gia trở lại cân bằng, dựtrữ ngoại tệ tăng nhanh, cán cân thanh toán vãng lai được cải thiện, thâm hụtrơi xuống mức có thể kiểm soát được (1,6% GDP).
- Tạm thời giữ lãi suất cao để kiềm chế lạm phát và giảm nhập khẩu.Chính phủ phải thực hiện một chiến dịch nhằm chống lại kim ngạch nhậpkhẩu tăng quá cao và bội chi ngân sách quá lớn như cắt giảm chi tiêu chonhững dự án lớn phải nhập khẩu nhiều, hay thậm chí là hoãn thi hành một số
dự án khổng lồ có mức đầu tư quá lớn Thúc đẩy xuất khẩu, đồng thời tích cựcthực hiện dự án vay tín dụng từ các tổ chức quốc tế, đáp ứng đầy đủ việc trảcác khoản nợ nước ngoài đến hạn, nhằm góp phần khôi phục lòng tin của dânchúng
Nhờ những biện pháp này, mà cuộc khủng hoảng tưởng chừng không thểkhôi phục của Mexico, chỉ sau chưa đầy 03 năm, đã hồi phục và tốc độ tăngtrưởng quý 2 năm 1997 đã đạt 8,8% (năm 1996 đạt 5,1%)
2 Argentina:
2.1 Nguyên nhân khủng hoảng
2.1.1 Nguyên nhân nội tại
2.1.1.1 Hệ thống chuẩn tiền tệ currency board:
Theo TS Quách Mạnh Hào, một currency board tồn tại khi NHTW mộtquốc gia cam kết hỗ trợ tiền tệ quốc gia, mức cung tiền, bằng dự trữ nướcngoài tại mọi thời điểm
Về cơ chế vận hành của currency board như sau: cấm khôn g cho phépNHTW phát hành các khoản nợ - tiền có quyền lực cao (high-power money) -nếu như không được bảo đảm hỗ trợ 100% bằng lượng dự trữ ngoại tệ tương
Trang 21đương Hệ thống này chỉ cho phép NHTW phát hành thêm một lượng tiềntương ứng với lượng ngoại tệ vừa mới bổ sung Do đó, giá trị đồng tiền luônđược bảo đảm và đồng thời cũng giúp kiềm chế lạm phát Tuy nhiên, currencyboard khác với hệ thống “tỷ giá cố định” (fixed exchange rate system) Bởi vì,
“tỷ giá cố định” mặc dù cũng duy trì giá trị đồng tiền như currency boardnhưng lại không có độ tin cậy cao, nói là “tỷ giá cố định” nhưng thật ra đồngtiền cũng có khả năng bị phá giá Còn currency board thì không như vậy, nóluôn giữ đúng tỷ giá trao đổi đã được ấn định trước đó Do đó, currency boardluôn đạt được sự tin tưởng cao từ các nhà đầu tư
Với việc áp dụng currency board, Argentina đã đạt được những thànhcông bước đầu
Khống chế lạm phát: việc giữ cố định tỉ giá làm hạn chế lượng cung tiềnbởi chính phủ phải giữ cân bằng lượng cung tiền peso và lượng USD có trên thịtrường Thực tế chính sách này thực sự có hiệu quả trong kiềm chế lạm phát từnăm 1991 đến năm 1994
Cuộc sống của người dân được nâng lên, giá cả ổn định, người dân cóthể vay nợ bắng đồng dollar với mức lãi suất thấp
Việc cố định tỉ giá cũng khiến Argentina thu hút và giữ chân được cácnhà đầu tư do lãi suất ngân hàng được đảm bảo bởi chính sách neo tỉ giá vàođồng USD, nhà đầu tư nước ngòai có thể yên tâm rằng trong tương lai khôngphải lo lắng về sự biến động tỷ giá
Tuy nhiên, những nhược điểm của nó được bộc lộ thời gian không lâu sauđó:
Đầu tiên, là việc NHTW không thể tự chủ trong chính sách tiền tệ.
Nguyên nhân là do lãi suất của đồng nội tệ phải đúng bằng lãi suất của đồngngoại tệ, nếu không hoạt động arbitrage sẽ xảy ra Do đó, NHTW không thểgiảm lãi suất để kích thích đầu tư hoặc tăng lãi suất để kiềm hãm lạm phát
Thứ hai, currency board có khuynh hướng khuyến khích các nhà đầu tư
trong nước kinh doanh quốc tế vay nợ bằng ngoại tệ mà không hề có bất cứ
Trang 22biện pháp phòng ngừa rủi ro nào cả, dẫn đến vay nợ quá mức Chính vì vậy màkhi khủng hoảng xảy ra, các nhà đầu tư này sẽ là những người chịu thiệt hại lớnnhất.
Thứ ba, NHTW không thể thực hiện chức năng là người cho vai cuối
cùng (nguyên nhân là do hệ thống currency board quy định không cho phépngân hàng phát hành tiền nếu không có lượng ngoại tệ tương ứng bổ xung) Do
đó, khi khủng hoảng niềm tin xảy ra, NHTW không thể cung cấp cho cácNHTM những khoản vay ngắn hạn được, làm cho các NHTM này không thểchi trả các khoản nợ sắp đáo hạn cho khách hàng Cuối cùng, tất yếu là hệthống ngân hàng sẽ sụp đổ
Thứ tư, do không thể in thêm tiền và dự trữ ngoại tệ ngày càng ít đi nên
ngân sách chính phủ sẽ bị thâm hụt nghiêm trọng Chính vì vậy, chính phủArgentina phải bù đắp thăm hụt ngân sách bằng các khoản vay nợ từ nướcngoài Điều này làm cho tình trạng nợ nước ngoài của Argentina ngày càng giatăng
Thứ năm, chính sách currency board làm cho hàng hoá xuất khẩu ngày
càng tăng lên (do đồng đôla tăng giá) và hàng nhập khẩu ngày càng rẻ đi Do
đó, hàng trăm doanh nghiệp trong nước không thể cạnh tranh nổi với các doanhnghiệp nước ngoài, buộc phải dẫn đến phá sản
Thứ sáu, việc đôla hoá nền kinh tế đã tạo ra một hệ thống “tiền tệ kép”
(bimonetary system), cho phép người dân tự do quy đổi từ Peso sang đôla mộtcách dễ dàng Điều này đã làm cho một lượng lớn ngoại tệ “chảy” ra nướcngoài (nguyên nhân là từ những chuyến du lich, nghỉ mát, mua hàng hóa nhậpkhẩu với giá rẻ từ nước ngoài), dẫn đến dự trữ ngoại tệ trong nước bị giảm sút
2.1.1.2 Thâm hụt ngân sách quá lớn
Theo những số liệu chính thức của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ Nợ/GDP tăngtrưởng đều đặn kể từ năm 1993 và có bước đột phá đáng kể từ sau năm 1998
Trang 23Tuy nhiên những số liệu thực tế này đã đánh giá thấp những món nợ này trongsuốt nửa đầu của những năm 90 có nghĩa là những con số này trên thực tế còncao hơn và sự tăng trưởng của chúng cũng có ít tác dụng tích cực trong giaiđoạn này Ngoài ra, một phần của các khoản nợ sau năm 1995 phản ánh quátrình cải cách hệ thống lương hưu (Cải cách lương hưu sang hệ thống tự tài trợlàm giảm nợ cho chính phủ vì ko phải trả lương hưu cho người dân)
Do đó, yếu tố khủng hoảng thứ hai của Argentina gắn liền với việc chínhphủ của Tổng thống Carlos Menem trong nhiệm kỳ thứ hai của mình đã tậndụng uy tín đang lên của quốc gia để liên tục vay nợ nước ngoài Đương nhiênmọi lý lẽ lúc bấy giờ đều được lý giải khá hợp lý Cứ như thế các khoản nợnước ngoài âm thầm tăng lên dần, bắt đầu là ngưỡng an toàn từ tỉ lệ nợ dưới50% GDP (35% trong năm 1995 cho đến gần 65% năm 2001)
Việc chính phủ mắc nợ nhiều đã làm lãi suất trong nước gia tăng (tăng lãisuất để bù đắp ngân sách) Nhiều công ty trong nước đã phải đóng cửa vì tíndụng cho sản xuất, kinh doanh trở nên quá khả năng thanh toán Sự thâm hụtngân sách quá lớn tạo ra tình trạng lo sợ rằng chính phủ sẽ mất khả năng trả nợ.Chính phủ gặp khó khăn trong việc khuyến khích mọi người mua trái phiếu củamình và không thể tài trợ bằng các khoản cho vay nước ngoài; để xử lý vấn đềkhó khăn về ngân sách, chính phủ buộc các ngân hàng phải mua một lượng lớntrái phiếu Khi các nhà đầu tư mất niềm tin vào khà năng của chính phủ trongviệc hoàn trả các khoàn nợ, thì giá của chúng giảm xuống, tạo nên một lỗ hổnglớn trong bảng tổng kết tài sản của ngân hàng thương mại Sự suy yếu như vậytrong bảng tổng kết tài sản làm ngân hàng có ít nguồn lực để cho vay và tìnhhình thiếu vốn cho vay góp phần tạo ra sự thu hẹp trong hoạt động kinh tế
2.1.1.3 Các chính sách quản lý kinh tế vĩ mô sai lầm:
Sai lầm đầu tiên của chính phủ Argentina là việc tự do hóa hoàn toàn hệ
thống ngân hàng, bao gồm việc tư nhân hóa hoàn toàn gần như tất cả các ngân
Trang 24hàng nhà nước ở địa phương và bán một ít tổ chức tài chính trung bình và lớncho nước ngoài Hệ thống ngân hàng tiềm ẩn những yếu kém đã làm suy yếudần khả năng chống chịu trước những cú sốc, và cả chế độ tỷ giá cố định 1peso đổi 1 đô la Trước hết, các ngân hàng hoàn toàn thiếu những quy địnhđược quy định rõ ràng để phòng ngừa những hậu quả lên khả năng thanh toáncủa khu vực phi mậu dịch của việc điều chỉnh tỷ giá thực dẫn tới không cânbằng Do không có sự mất giá danh nghĩa, điều chỉnh này sẽ dẫn tới thời kỳlạm phát danh nghĩa và thất nghiệp chậm chạp Thứ hai, hệ thống tài chínhngày càng tư nhân hóa và trở nên quá yếu đuối trước tình trạng khủng hoảng
nợ nước ngoài không thể kiểm soát được Thứ ba, những biện pháp bảo vệthanh khoản cho hệ thống ngân hàng cho phép bất cứ người gửi tiền nào rúttiền, cho thấy sự không phù hợp của hệ thống thanh toán khi tình trạng rút tiền
ồ ạt xảy ra
Thứ hai, đó là việc tự do cho luân chuyển tư bản - cả trực tiếp và gián tiếp
- mà không có bất kỳ hạn chế nào, dẫn đến việc ngoại tệ bị “bay hơi” do nhữngchi tiêu mua sắm của người dân ở nước ngoài, và tiêu dùng hàng xuất khẩu
Thứ ba, tư nhân hóa các công ty nhà nước, từ công ty hàng không đến
công ty điện và bưu điện, trong khi Argentina không hề có luật lệ mạnh và đầy
đủ, dẫn đến nguồn thu ngân sách của chính phủ không có gì ngoài thuế,
không thể tự chủ trong thu – chi ngân sách Làn sóng tư hữu hóa trong những
năm 1990, dưới thời tổng thống Menem, đã làm nhiều người mất việc Và dophần lớn các công ty tư nhân hóa thuộc lĩnh vực dịch vụ nhu yếu như cung cấpđiện, nước nên các công ty này đẩy giá cả các mặt hàng dịch vụ của mình caohơn Cuộc khủng hoảng của Argentina trở nên trầm trọng khi nhu cầu tiêu dùngtrong nước suy giảm, nhiều doanh nghiệp phá sản và ngày càng có thêm nhiềungười bị sa thải Các khoản nợ của chính phủ cũng theo đó gia tăng vì thất thu
từ nguồn thuế thu nhập đánh vào doanh nghiệp Trong khi đó Quỹ Tiền tệ quốc
tế (IMF) khẳng định mình sẽ không giúp Argentina thoát khỏi khủng hoảngbằng cách chi trước những khoản tiền vay đã được thông qua để nước này
Trang 25thanh toán nợ.
Thứ tư, loại bỏ gần như hàng rào thuế quan và cắt giảm thuế xuất khẩu từ
trung bình 45% đầu thập niên 90 xuống còn 11% năm 2000 Khi đồng USD lêngiá, nguồn thu ngoại tệ từ xuất khẩu giảm cùng đó là khoản nhập khẩu tăng liêntục, và mọi thứ đều dần bộc lộ Bên cạnh đó, chính sách Hội đồng tiền tệ làmcho hàng hoá xuất khẩu ngày càng mắc lên do đồng đôla tăng giá và hàng nhậpkhẩu ngày càng rẻ đi Do đó, hàng trăm doanh nghiệp trong nước không thểcạnh tranh nổi với các doanh nghiệp nước ngoài, buộc phải dẫn đến phá sản
2.2 Ảnh hưởng từ bên ngoài
2.2.1 Các tổ chức tin dụng quốc tế (IMF)
Trong suốt những năm 90, A rgentina trở thành một của tổ chức quốc tế,đặc biệt đối với IMF Đây được coi như hình mẫu cho các nền kinh tế mới nổinoi theo Tổ chức Tiền tệ thế giới đã ủng hộ cho các chính sách kinh tế vĩ môcác cải cách quan trọng trong nền kinh tế (tự do hóa thị trường tài chính, tưnhân hóa, cải cách hệ thống tiền lương…) của chính phủ Argentina Ban đầu,IMF có chú t hoài nghi về quá trình chuyển đổi Tuy nhiên, bằng chứng về việcArgentina đã vượt qua được khủng hoảng Tequila (tên gọi khác của khủnghoảng Mexico) đã thuyết phục các nhà chức trách của IMF Bất chấp nhữngcon số cho thấy kinh tế tăng trưởng bền vững , một phần lớn người dân kođược hưởng lợi từ những thành quả của nền kinh tế: trong suốt những năm 90,
tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, tỷ lệ người nghèo vẫn duy trì ở mức cao và sự bấtbình đẳng trong xã hội ngày một trầm trọng Điều này cho chúng ta thấy nhữngcon số đó đã được đánh giá quá cao so với giá trị thật của nó, đây cũnng là mộttrong những nguyên nhân khiến cho chính phủ Argentina chủ quan vào nhữngchính sách của mình trong suốt những năm 90
Khi Argentina lâm vào khủng hoảng, tháng 11/2000 IMF hợp tác WB ,IDB thông qua chương trình hỗ trợ với quy mô lớn, tên gọi “el blindaje” IMFđồng ý cho Argentina vay tiền với điều kiện nước này phải thắt chặt các chính
Trang 26sách tài chính, như không để tham hụt ngân sách và nâng lãi suất “Blindaje” chương trình được thiết kế đặc biệt với mục đích làm giảm sự lan truyền củakhủng hoảng và kích thích tăng trưởng đã thất bại Xác suất thành công vôcùng thấp, tỷ lệ vẫn duy trì ở mức ban đầu Cụ thể : chương trình chỉ hoạt độnghiệu quả trong 2 tháng, sau đó bắt đầu đi xuống Những chính sách của chươngtrình này dẫn đến những cuộc biểu tình và đình công khắp quốc gia.
-Vào cuối năm 2001, khi tình hình đất nước đang vô cùng khó khăn với dựtrữ ngoại tệ của ngân hàng trung ương chỉ còn đúng 2 tỷ Để tăng ngân sách,Tổng thống de la Rua quyết định người dân chỉ được rút tối đa 1000 đô la mộttháng Ngay sau đó, IMF đã quay lưng lại với Argentina, tuyên bố ngừng cấpcác khoản cho vay mới với lý do chính phủ nước này không đáp ứng được cácđòi hỏi tài chính Điều này đã khiến cho Argentina tuyên bố phá sản Cướp bóc
và bạo loạn nổ ra khắp nơi khiến vài chục nghìn người chết
2.2.2 Các quốc gia khác
Năm 1997 cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu Á nổ ra và lan ra khắp các nướcđang phát triển trên thế giới
Mỹ: Vào những năm 90, nền kinh tế Mỹ đã có thời kỳ phát triển liên tục
và kéo dài nhất trong lịch sử của mình:
Tỷ lệ lạm phát thấp: trung bình khoảng 2.5%/năm (ngoại trừ năm 1990 là5%/năm)
Tỷ lệ thất nghiệp thấp: 21 triệu việc làm mới được tạo ra từ 1990-2000
Tỷ lệ tăng trưởng trung bình gần 4%/năm
Thâm hụt ngân sách giảm từ 1993-1997 và từ năm 1998-2001 có thặng dưngân sách
Với sự phát triển của mình, Mỹ là quốc gia thu hút đầu tư nước ngoài lớndẫn đến đồng USD tăng giá Để giữ tỷ giá cố định, Chính phủ A rgentina đãbuộc phải dùng dữ trữ ngoại hối để mua đồng peso vào và bán đồng USD ra;đồng thời phải tăng lãi suất của đồng peso để hạn chế rút tiền của người dân
Trang 27Hành động đó của Chính phủ Argentina đã đẩy đồng peso tăng giá theo dẫnđến 1 loạt các hệ qủa: tính cạnh tranh của hàng xuất khẩu giảm; lãi suất cao hạnchế việc đầu tư giảm phát xuất hiện.
Mêhico : Mêhico đã phá giá đồng tiền của mình vào năm 1994 với cuộc
khủng hoảng tequila cũng đã tác động đến Argentina Các ngân hàng củaArgentina phải đối mặt với tình trạng rút tiền lớn từ các tài khoản đồng peso vàChính phủ đã phải để cho một số ngân hàng phá sản Tuy Argentina đứngvững mặc dù GDP giảm 4% nhưng điều đó đã phản ánh sự thiếu niềm tin vào
cơ chế Hội đồng tiền tệ (currency board)
Brazil : Năm 1998, tình hình tài chính thế giới rối loạn do các vấn đề của
Nga và nỗi lo lắng của các nhà đầu tư vào Brazil đã làm cho lãi suất trong nướctăng lên mức cao nhất trong hơn ba năm, làm giảm một nửa tỷ lệ tăng trưởngcủa nền kinh tế
Vào năm 1999, Brazil đã phá giá đồng real 29% Do tỷ giá USD/Peso cốđịnh nên sau khi đồng USD tăng giá so với đồng real thì đồng peso cũng tănggiá so với đồng real Trong khi Argentina là nước xuất khẩu nhiều hơn nhậpkhẩu mà Brazil lại là đối tác chính yếu của Argentina, việc tăng giá đó đã làmtính cạnh tranh của xuất khẩu suy giảm dẫn đến lượng hàng xuất khẩu vàoBrazil giảm làm cho nguồn thu ngoại tệ của Argentina giảm đáng kể
2.3 Diễn biến khủng hoảng
Hệ thống ngân hàng Argentina sụp đổ vào vào tháng 12/2001, nhấn chìmmột trong những trung tâm kinh tế năng động và thành công nhất tại khu vựcNam Mỹ Gần như chỉ sau một đêm, đất nước này rơi vào cảnh đói nghèo Tìnhcảnh sau đó hết sức hỗn độn Chỉ trong vòng 2 tuần, có tới 5 vị Tổng thống lên
và xuống chức Người dân, công nhân, viên chức xuống đường biểu tình.Chính quyền Argentina cho rằng thủ phạm là các chính sách mà Quỹ Tiền tệQuốc tế và Ngân hàng Thế giới áp dụng tại đây từ những năm 1990 Kể từ đóđến nay, giới lãnh đạo nước này đi theo một đường lối tài chính độc lập và đãphục hồi đáng kể Tuy nhiên, vẫn còn một chặng đường xa để Argentina đạt
Trang 28được sức mạnh như họ đã từng có
Diễn biến:
Năm 2001, những bất ổn đạt đến đỉnh cao, với mức tiêu dùng vào cuối quí
3 giảm sâu tới 5,8% và đầu tư giảm 17,5%, kéo theo tăng trưởng GDP âm vàthất nghiệp tăng cao kỷ lục (18,3%)
Ngày 12/1/2001, do kinh tế của Argentina vẫn còn suy thoáỉ mạnh, IMF
tăng thỏa thuận ngày 10/3/2000 lên 7 tỷ USD như một phần của gói 40 tỷ USDviện trợ cả gói liên quan đến Ngân hàng Phát triển Trung Mỹ, WB, Tây BanNha và tư nhân cho vay Thỏa thuận này nhằm đảm bảo GDP của nước này sẽtăng trưởng ở mức 2,5% năm 2001 (thực tế năm 2001 GDP nước này tăngtrưởng - 5%)
Ngày 17/6/2001, Chính phủ thông báo khoản nợ trị giá 29.5 tỷ USD được
hoán đổi từ khoản nợ ngắn hạn thành khoản nợ mới với thời gian đáo hạn dàihơn và lãi suất cao hơn
Ngày 19/6/2001, giảm giá 7% đồng Peso trong tương quan so sánh với
USD, đối với thương mại hàng hóa với kỳ vọng cải thiện năng lực cạnh tranhthương mại quốc tế của nước này
Ngày 29/7/2001, Quốc hội thông qua “Luật Thân hụt bằng 0”, đòi hỏi một
ngân sách cân bằng vào quí IV/2001
Ngày 7/9/2001, dựa trên những cam kết của Argentina thực thi Luật Thâm
hụt bằng bằng 0, IMF tăng cam kết cho vay lên 7,2 tỷ USD
Tháng 10/2001, Chính phủ sử dụng trái phiếu địa phương “scrip” để trả
lương một cách phổ biến khi nguồn thu ngân sách Chính phủ bị giảm sútnghiêm trọng
Ngày 6/11/2001, Chính phủ chỉ đạo việc đảo nợ lần 2: Đổi 60 tỷ USD trái
phiếu với mức lãi suất trung bình 11-12%/năm lấy thương phiếu với kỳ hạn dàihơn, nhưng lãi suất chỉ 7% Các tổ chức đánh giá trái phiếu quốc tế coi đó làmột sự “vỡ nợ mang tính hiệu quả”
Ngày 30/11/2011, dân chúng đổ xô đi rút tiền ở các NHTM, làm dự trữ
Trang 29của NHTƯ giảm khoảng 2 tỷ USD/ngày
Ngày 5/12/2001 khi IMF từ chối giải ngân khoản vay trị giá 1,24 tỷ USD.
Số tiền này nằm trong khuôn khổ khoản vay trọn gói 39,7 tỷ USD (đã đượcthỏa thuận vào cuối tháng 12/2000), đẩy Argentina đứng trước nguy cơ vỡ nợđối với các khoản nợ nước ngoài trị giá đến 146 tỷ USD (trong đó, riêng cáckhoản nợ Chính phủ đạt tới 132 tỷ USD, chiếm 46% GDP cùng năm của nướcnày) Argentina tuyên bố phá sản ngay sau đó Cướp bóc và bạo loạn nổ rakhắp nơi khiến vài chục người chết
Tháng 12/2001, Chính Phủ ra hạn mức rút tiền là 1000 USD/tháng Thay
các khoản tiền gửi bằng trái phiếu chính phủ thời hạn 10 năm
Ngày 24/12/2001, Chính phủ Argentina chính thức tuyên bố đình chỉ các
khoản nợ nước ngoài lớn nhất trong lịch sử Nếu tính trung bình nợ nước ngoàibình quân/người của Argentina thì mỗi người phải gánh trên lưng mình tới trên3.000 USD (kể cả những đứa trẻ mới chào đời)
Tháng 1/2002, thả nổi tiền, Peso mất giá 29%, USD/peso = 1,4
Tháng 2/2002, USD/peso=2,6 người dân Argentina rút 100 triệu USD
khỏi ngân hàng mỗi ngày Chính Phủ phải ra hạn mức rút tiền mới là 500 USD/tháng
Tháng 3/2002, tài sản ngân hàng được chuyển đổi sang đồng Peso, các
ngân hàng lỗ khoảng 10-20 tỷ USD USD/peso=3,75, các ngân hàng bắt đầuthiếu tiền mặt
Ngày 19/4/2002, NHTƯ Argentina quyết định tạm ngừng vô thời hạn tất
cả các giao dịch ngoại hối cho tới khi Chính phủ có được một chương trìnhkinh tế ngăn chặn dòng vốn tháo chạy ồ ạt khỏi các ngân hàng thương mại(NHTM) (trung bình khoảng 100 triệu USD/ ngày) Song, quyết định này cũngkhông tồn tại được lâu, bởi ngày 26/4/2002, tức là chỉ 1 tuần sau khi ngưnghoạt động, các NHTM nước này mở cửa trở lại, tình hình càng trở nên tồi tệhơn rất nhiều
Những bất ổn về chính trị cộng với những sai lầm của Chính phủ trong
Trang 30ứng phó với khủng hoảng (thực hiện chế độ đa tỷ giá, áp dụng các biện phápkiểm soát hành chính đối với giá cả, các biện pháp bảo hộ khác.) đã khiến chotình hình ngày càng trở nên xấu đi trong năm 2002: thị trường chứng khoán suysụp, đồng Peso bị mất giá mạnh, lạm phát bùng phát, thất nghiệp gia tăng,, tăngtrưởng kinh tế giảm sút nghiêm trọng
Các nhà kinh tế cho rằng, tính chất cuộc khủng hoảng tại Argentina hoàn toàn khác so với những gì đã xảy ra ở Mexico và Brazil năm 1999 Hai ông Ricarfo Lagos - Tổng thống Chile và Pedrro Pablo Kuczynski - Bộ trưởng Thương mại
Peru nói rằng các nền kinh tế Mỹ Latin đã tách biệt khỏi Argentina và cuộc
khủng hoảng tại đất nước này, vì thế, sẽ “không đáng lo ngại”.
Hầu hết các chuyên gia đều đồng ý rằng, khủng hoảng đem lại hậu quả rất xấu đối với Argentina, nhưng tác động ra thế giới bên ngoài thì không đáng kể.
lệ lớn khoản nợ này là các khoản vay từ nước ngoài Vậy vì đâu mà từ mộtnước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực châu Âu lại rơi vào tìnhtrạng tiến thoái lưỡng nan như hiện tại?
Có thể kể đến 06 nguyên do chính sau đây:
3.1.1. Tiết kiệm trong nước thấp dẫn tới phải vay nợ nước ngoài cho chi tiêu công
Trang 31Thập niên 90 tỷ lệ tiết kiệm trong nước bình quân của Hy Lạp chỉ ở mức11%, thấp hơn nhiều so với mức 20% của các nước như Bồ Đào Nha, Ý, TâyBan Nha và đang có xu hướng sụt giảm nhanh chóng (Khoảng 30% hoạt độngcủa nền kinh tế nước này có gian lận, 90% những người thu nhập cao khai thunhập dưới 30.000 Euro/năm nhằm trốn thuế.) Do vậy, đầu tư trong nước phụthuộc khá nhiều vào các dòng vốn đến từ bên ngoài Lợi tức trái phiếu liên tụcgiảm nhờ vào việc gia nhập liên minh châu Âu EU (năm 1981) và làn sóng bántháo trái phiếu từ dân chúng cho thấy Hy Lạp đã để vuột khỏi tay một kênh huyđộng vốn sẵn có buộc chính phủ Hy Lạp tăng cường vay nợ tài trợ cho chi tiêucông.
3.1.2. Chi tiêu công tăng cao dẫn đến thâm hụt ngân sách
Tăng trưởng GDP của Hy Lạp vẫn được ca ngợi với tốc độ tăng trung bìnhhàng năm là 4,3% (2001 – 2007) so với mức trung bình của khu vực Eurozone
là 3,1% Tuy nhiên, trong giai đoạn này, mức chi tiêu chính phủ tăng 87%trong khi mức thu của chính phủ chỉ tăng 31%, khiến cho ngân sách thâm hụtvượt quá mức cho phép 3% GDP của EU
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008-2009 đã ảnhhưởng mạnh mẽ lên các ngành công nghiệp chủ chốt của Hy Lạp Doanh thungành du lịch và vận tải biển – 2 ngành chủ chốt của nền kinh tế này, sụt giảmtrên 15% vào năm 2009 Kinh tế Hy Lạp lâm vào khó khăn, các nguồn thuthuế, phí …để tài trợ cho ngân sách bị thu hẹp, trong khi Chính phủ vẫn phảităng cường chi tiêu công để hỗ trợ nền kinh tế vượt qua khủng hoảng, đã đẩy
nợ công đến con số khổng lồ Đến năm 2010, báo cáo của OECD cho thấy
nợ công của Hy Lạp đã lên tới con số 330 tỷ Euro, tương đương với 147.8% GDP Các chuyên gia kinh tế dự đoán dù Hy Lạp có thực hiện được kế hoạch thắt lưng buộc bụng kéo dài 3 năm, nợ của Hy Lạp đến năm 2012 vẫn tăng lên mức 172% GDP.
Trang 32(Nguồn: Morgan Stanley)
Ngoài ra, do kinh tế lún sâu hơn vào suy thoái, mặc dù đã cam kết những
chính sách khắc khổ nhằm giảm thâm hụt ngân sách nhưng thâm hụt ngân sách trong 8 tháng đầu năm 2011 của Hy Lạp đã lên tới 18,1 tỷ euro (24,67
tỷ USD), tăng mạnh so với 14,813 tỷ euro cùng kỳ năm trước đó Biểu đồ
dưới cho thấy mức thâm hụt ngân sách của một số quốc gia Châu Âu, trong đó
Hy Lạp và Ireland là 2 nước có mức thâm hụt lớn nhất Trong khi thâm hụtngân sách của Ireland chủ yếu là những khoản nợ chuyển từ khu vực tư nhânsang khu vực công do chính phủ phải “ra tay” cứu hệ thống ngân hàng, thâmhụt ngân sách Hy Lạp lại chủ yếu gây ra bởi trình độ quản lý công yếu kém
Trang 33(Nguồn: Morgan Stanley)
Như vậy, Hy Lạp đang cùng lúc đối mặt với những vấn đề nan giải: nợ công quá cao (147,8%), thâm hụt ngân sách lớn (13,6% GDP năm 2010)
và thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai lớn (trung bình vào khoảng 9% GDP – so với mức trung bình của toàn khu vực Eurozone là 1%) Cả hai
mức thâm hụt ngân sách và thâm hụt cán cân vãng lai của Hy Lạp đều vượt quátrần quy định cho phép của Liên minh Tiền tệ và Kinh tế châu Âu (EMU), đặcbiệt vi phạm Hiệp ước Bình ổn và Tăng trưởng của Liên minh châu Âu (EU)với quy định trần thâm hụt ngân sách 3% GDP
Việc ngụy tạo các số liệu kinh tế nhằm che dấu thực trạng đất nước đãkhiến uy tín của Chính phủ Hy Lạp bị suy giảm nặng nề Cả 3 hãng xếp hạngtín nhiệm lớn nhất thế giới hiện đều đều hạ mức tín nhiệm của Hy Lạp xuốngmức gần thấp nhất trong thang điểm đánh giá tín nhiệm đồng thời cảnh báo
nguy cơ vỡ nợ của quốc gia này là rất cao Lợi suất trái phiếu chính phủ Hy Lạp kỳ hạn 2 năm đã tăng lên trên 60%, trong khi đó kỳ hạn 1 năm đã
Trang 34vượt 110% Điều này đồng nghĩa với việc Hy Lạp gặp nhiều khó khăn trong việc huy động thêm vốn từ thị trường vốn quốc tế và chỉ có thể mong đợi các khoản cứu trợ đặc biệt từ IMF, ECB hay một số quốc gia khác.
Lợi suất TPCP Hy Lạp (1 năm) (Nguồn: Morgan Stanley)
3.1.3. Nguồn thu giảm sút.
Trốn thuế và hoạt động kinh tế ngầm ở Hy Lạp là nhân tố làm giảm nguồnthu ngân sách Theo đánh giá của WB, kinh tế không chính thức ở Hy Lạpchiếm tới 25 – 30% GDP(so với mức 15,6% GDP của Việt Nam; 13,1% GDPcủa Trung Quốc và Singapore; 11,3% GDP của Nhật Bản) Hệ thống thuế vớinhiều mức thuế cao và bộ luật phức tạp cùng với sự điều tiết dư thừa và thiếuhiệu quả của cơ quan quản lý là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trốn thuế vàkinh tế ngầm phát triển ở Hy Lạp
Theo Tổ chức Minh bạch quốc tế, Hy Lạp là một trong những nước có tỷ
lệ tham nhũng cao nhất trong EU Năm 2008, hơn 13% người Hy Lạp đã chitới 750 triệu EUR tiền phong bì cho các lãnh đạo khu vực công và khu vực tư,trong đó có bác sĩ là những người đòi nhiều tiền hơn cho các cuộc phẫu thuật;các nhà quy hoạch thành phố và các quan chức ở địa phương cũng liên quan