1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phân tích các nội dung cơ bản của cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean. So sánh với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean.

8 394 17

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 24,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

MỞ ĐẦU I. Các nội dung cơ bản của cơ chế tư do hóa thương mại dịch vụ của asean 1. Khái quát về dịch vụ, thương mại dịch vụa. Dịch vụb. Thương mại dịch vụ c. Tự do hóa thương mại dịch vụd. Các phương thức cung ứng dịch vụ quốc tế 2. Hạn chế và xóa bỏ rào cản thương mại dich vụII. So sánh cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean1. Điểm giống nhau2. Điểm khác nhauKẾT LUẬNMỞ ĐẦUTrong cơ cấu nền kinh tế thế giới nói chung, khu vực ASEAN nói riêng, dịch vụ ngày càng chiếm vị trí trọng yếu và có đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng kinh tế. Cùng với đó, tự do hóa thương mại dịch vụ ngày nay, có vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các nước. Nhận thức được vai trò của thương mại dịch vụ đối với sự phát triển của ASEAN, các nhà lãnh đạo ASEAN đã tiến hành những nỗ lực nhằm đảm bảo sự tự do hóa thương mại dịch vụ trong khu vực bằng việc kí kết hiệp định khung ASEAN về dịch vụ viết tắt là AFAS vào ngày 15121995. AFAS được xây dựng trên nền tảng cơ sở pháp lí quan trọng là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ gọi tắt là hiệp định GATS. Để làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean, em xin chọn đề tài Phân tích các nội dung cơ bản của cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean. So sánh với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean. Để làm rõ hơn một số vấn đề trong cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean.NỘI DUNGI. Các nội dung cơ bản của cơ chế tư do hóa thương mại dịch vụ của asean 1. Khái quát về dịch vụ, thương mại dịch vụa. Dịch vụTheo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật. Các khái niệm để tham khảo khác: Trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng hóa nhưng là phi vật chất. Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ (nguồn trích dẫn wikipedia.org) Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256 Từ điển Wikipedia: Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ...và mang lại lợi nhuận. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. (Luật Thương mại 2005)b. Thương mại dịch vụ trong tiếng Anh được gọi là Trade in Services.Quan hệ mua bán giữa người tạo ra dịch vụ và người sử dụng dịch vụ diễn ra dưới hình thức cung ứng dịch vụ. Đây là một quá trình liên hoàn bao gồm nhiều khâu có liên quan mật thiết với nhau. Quá trình này được gọi chung là thương mại dịch vụ. Do đối tượng của thương mại dịch vụ là dịch vụ (sản phẩm vô hình) nên việc định nghĩa về thương mại dịch vụ thường không đồng nhất. Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thương mại dịch vụ.c. Tự do hóa thương mại dịch vụTự do hóa thương mại dịch vụ là một bộ phận cấu thành nên xu hướng tự do hóa nói chung. Theo đó, tự do hóa thương mại dịch vụ là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động loại bỏ các cản trở hiện hành đối với thương mại dịch vụ. Tự do hóa thương mại dịch vụ được thực hiện thông qua xóa bỏ ( có lộ trình) các hạn chế đối với thương mại dịch vụ, xây dựng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau( MRA) tăng cường phát triển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực trong lĩnh vực dịch vụ . Trong một nền kinh tế thị trường, những cân nhắc về khả năng sinh lời mang tính cá nhân là động lực để xác định việc phân bổ sản xuất bên trong công ty và giữa các công ty, các ngành và các nước. Người ta trông đợi mở cửa thị trường để khuyến khích cải thiện chất lượng và sáng tạo quy trình và sản phẩm., làm giảm phạm vi lãng phí và tiền thuê mướn. Chúng ta có thể lập luận rằng những sáng kiến đó có xu hướng cấp thiết hơn, đồng thời nhiều thách thức hơn và nhiều triển vọng hơn trong những ngành dịch vụ chủ chốt.

Trang 1

Phân tích các nội dung cơ bản của cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean So sánh với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean

Mục lục

MỞ ĐẦU

I Các nội dung cơ bản của cơ chế tư do hóa thương mại dịch vụ của asean

1 Khái quát về dịch vụ, thương mại dịch vụ

a Dịch vụ

b Thương mại dịch vụ

c Tự do hóa thương mại dịch vụ

d Các phương thức cung ứng dịch vụ quốc tế

2 Hạn chế và xóa bỏ rào cản thương mại dich vụ

II So sánh cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean

1 Điểm giống nhau

2 Điểm khác nhau

KẾT LUẬN

Trang 2

MỞ ĐẦU

Trong cơ cấu nền kinh tế thế giới nói chung, khu vực ASEAN nói riêng, dịch vụ ngày càng chiếm vị trí trọng yếu và có đóng góp rất lớn cho sự tăng trưởng kinh tế Cùng với đó, tự do hóa thương mại dịch vụ ngày nay, có vai trò quan trọng, góp phần thúc đẩy sự phát triển của các nước Nhận thức được vai trò của thương mại dịch vụ đối với sự phát triển của ASEAN, các nhà lãnh đạo ASEAN đã tiến hành những nỗ lực nhằm đảm bảo sự tự do hóa thương mại dịch

vụ trong khu vực bằng việc kí kết hiệp định khung ASEAN về dịch vụ- viết tắt

là AFAS vào ngày 15/12/1995 AFAS được xây dựng trên nền tảng cơ sở pháp lí quan trọng là Hiệp định chung về thương mại dịch vụ - gọi tắt là hiệp định GATS Để làm rõ hơn những vấn đề liên quan đến cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean, em xin chọn đề tài Phân tích các nội dung cơ bản của cơ chế

tự do hóa thương mại dịch vụ của asean So sánh với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean Để làm rõ hơn một số vấn đề trong cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean

Trang 3

NỘI DUNG

I Các nội dung cơ bản của cơ chế tư do hóa thương mại dịch vụ của asean

1 Khái quát về dịch vụ, thương mại dịch vụ

a Dịch vụ

Theo Luật giá năm 2013: Dịch vụ là hàng hóa có tính vô hình, quá trình

sản xuất và tiêu dùng không tách rời nhau, bao gồm các loại dịch vụ trong hệ thống ngành sản phẩm Việt Nam theo quy định của pháp luật

* Các khái niệm để tham khảo khác:

- Trong kinh tế học: Dịch vụ được hiểu là những thứ tương tự như hàng

hóa nhưng là phi vật chất Có những sản phẩm thiên về sản phẩm hữu hình và những sản phẩm thiên hẳn về sản phẩm dịch vụ, tuy nhiên đa số là những sản phẩm nằm trong khoảng giữa sản phẩm hàng hóa, dịch vụ (nguồn trích dẫn wikipedia.org)

- Theo Từ điển Tiếng Việt: Dịch vụ là công việc phục vụ trực tiếp cho

những nhu cầu nhất định của số đông, có tổ chức và được trả công [Từ điển Tiếng Việt, 2004, NXB Đà Nẵng, tr256]

- Từ điển Wikipedia: Định nghĩa về dịch vụ trong kinh tế học được hiểu là

những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất Theo quan điểm kinh tế học, bản chất của dịch vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như: dịch vụ du lịch, thời trang, chăm sóc sức khoẻ và mang lại lợi nhuận

- Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi

là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận (Luật Thương mại 2005)

b Thương mại dịch vụ trong tiếng Anh được gọi là Trade in Services.

Quan hệ mua bán giữa người tạo ra dịch vụ và người sử dụng dịch vụ diễn

ra dưới hình thức cung ứng dịch vụ Đây là một quá trình liên hoàn bao gồm nhiều khâu có liên quan mật thiết với nhau Quá trình này được gọi chung

là thương mại dịch vụ

Do đối tượng của thương mại dịch vụ là dịch vụ (sản phẩm vô hình) nên việc định nghĩa về thương mại dịch vụ thường không đồng nhất Cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về thương mại dịch vụ

c Tự do hóa thương mại dịch vụ

Tự do hóa thương mại dịch vụ là một bộ phận cấu thành nên xu hướng tự

do hóa nói chung Theo đó, tự do hóa thương mại dịch vụ là thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động loại bỏ các cản trở hiện hành đối với thương mại dịch vụ Tự do hóa thương mại dịch vụ được thực hiện thông qua xóa bỏ ( có lộ trình) các hạn

Trang 4

chế đối với thương mại dịch vụ, xây dựng các thỏa thuận công nhận lẫn nhau( MRA) tăng cường phát triển nguồn nhân lực và xây dựng năng lực trong lĩnh vực dịch vụ

Trong một nền kinh tế thị trường, những cân nhắc về khả năng sinh lời mang tính cá nhân là động lực để xác định việc phân bổ sản xuất bên trong công

ty và giữa các công ty, các ngành và các nước Người ta trông đợi mở cửa thị trường để khuyến khích cải thiện chất lượng và sáng tạo quy trình và sản phẩm., làm giảm phạm vi lãng phí và tiền thuê mướn Chúng ta có thể lập luận rằng những sáng kiến đó có xu hướng cấp thiết hơn, đồng thời nhiều thách thức hơn

và nhiều triển vọng hơn trong những ngành dịch vụ chủ chốt

d Các phương thức cung ứng dịch vụ quốc tế

GATSquy định rõ về các phương thứ cung ứng dịch vụ quốc tế gồm:

Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài: Tiêu dùng dịch vụ ở nước ngoài là việc

cung cấp dịch vụ trên lãnh thổ của một thành viên, cho người tiêu dùng dịch vụ của bất kỳ thành viên nào khác.Phương thức cung ứng này là đặc trưng của một

số ngành dịch vụ như dịch vụ du lịch hay dịch vụ chăm sóc sức khỏe Ví dụ như khách du lịch đến một quốc gia và sử dụng dịch vụ khách sạn, lữ hành…ở tại quốc gia đó

Hiện diện thương mại: Đây là phương thức cung cấp dịch vụ bởi một nhà

cung cấp dịch vụ của một thành viên, thông qua sự hiện diện thương mại trên lãnh thổ của một thành viên khác

Hiện diện thể nhân: Đây là phương thức cung ứng dịch vụ, theo đó, dịch

vụ được cung ứng với nhà cung ứng của một thành viên, thông qua hiện diện của nhà cung ứng này ở lãnh thổ của một thành viên khác Tuy nhiên, trong phương thức cung ứng này, nhà cung ứng dịch vụ chỉ là một thể nhân

Cung cấp dịch vụ qua biên giới: đây là phương thức mà dịch vụ được

cung cấp từ lãnh thổ của quốc gia thành viên này qua lãnh thổ của quốc gia thành viên khác Nói cách khác, chỉ có dich vụ được dich chuyển qua biên giới còn nhà cung cấp không có măt tại quốc gia tiếp nhận dịch vụ

2 Hạn chế và xóa bỏ rào cản thương mại dich vụ

Đê hạn chế hoạt đông của các nhà cung cấp dich vụ nước ngoài và bảo hộ các nhà cung cấp dịch vụ trong nước, các quốc gia thường sử dụng các biện pháp

để hạn chế các nhau cung cấp dich vụ ngước ngoài tại hai thời điểm:

Thứ nhất, khi nhà cung cấp dich vụ nước ngoài muốn được phép cung

cấp dịch vụ và hoặc muốn được có mặt tại quốc gia chủ nhà để cung cấp dịch vụ

Thứ hai, sau khi nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài đã được phép cung cấp

dịch vụ và hoặc đã có mặt tại quốc gia chủ nhà

Đối với thời điểm thứ nhất, quốc gia thường đưa ra các điều kiện mà nếu không đáp ứng được thì nhà cung cấp dich vụ nước ngoài sẽ không được phép cung cấp dịch vụ tai quốc gia chủ nhà Đây chính là các rào cản về mở cửa thi

Trang 5

trường, hạn chế khả năng tiếp cận thị trường của các nhà cung cấp dịch vụ hoặc sản phẩm dịch vụ nước ngoài như: hạn chế về số lượng nhà cung cấp dich vụ, hạn chế về tổng giá trị các giao dịch dịch vụ… Đối với thời điểm thứ hai, các điều kiên được nêu ra thường là những biện pháp phân biệt đối xử giữa các nhà cung cấp hoặc các sản phẩm dịch vụ của quốc gia sở tại với các nhà cung cấp hoặc các sản phẩm dịch vụ nước ngoài

Cơ chế hạn chế hạn chế và xóa bỏ các rào cản thương mại dịch vụ được thực hiện như sau:

- AFAS đưa ra khung pháp lí chung cho tiến trình hạn chế và xóa bỏ các rào cản thương mại

- Các văn bản pháp lí về hội nhập các ngành ưu tiên đưa ra phạm vi và lộ trình cụ thể cho các lĩnh vực dịch vụ được ưu tiên hội nhập

- Trên cơ sở và để triển khai cu thể AFAS, các quốc gia thành viên sẽ tiến hành các vòng đàm phán để đưa ra các gói cam kết theo hướng ngày càng mở rộng phạm vi các lĩnh vực dịch vụ được tự do hóa, đồng thời mức độ tự do hóa từng lĩnh vực dịch vụ sẽ ngày càng được nâng cao

Theo quy định tại hiệp định khung ASEAN về dịch vụ, các quốc gia thành viên sẽ thực hiên tự do hóa thương mại dịch vụ một số đáng kể trong một số lĩnh vực trong khoảng thời gian hợp lí bằng cách:

- Xóa bỏ đáng kể các biện pháp phân biệt đối xử và các hạn chế tiếp cận thị trường hiện tại giữa các quốc gia thành viên

- Cấm các biện pháp phân biệt đối xử và hạn chế tiếp cận thị trường mới hoặc có tính chất hạn chế và phân biệt đối xử hơn

- Đồng thời các quốc gia sẽ tiến hành đàm phán về các biện pháp gây ảnh hưởng đến thương mại dịch vụ trong các lĩnh vực cụ thể

Các quy định của GATS mang tính chất mở, quyền chủ động vẫn thuộc

về các nước thành viên Ví dụ, các quy định ở trong nước chính là công cụ tác động và kiểm soát đối với thương mại dịch vụ GATS quy định chính phủ các nước phải điều tiết các ngành dịch vụ một cách hợp lí, khách quan và công bằng GATS không buộc các nước phải dỡ bỏ mọi quy định trong bất kì ngành dịch vụ nào Các cam kết tự do hóa không làm phương hại đến quyền của các nước được

ấn định những chuẩn mực về chất lượng, độ an toàn hay giá cả cũng như quyền được đưa ra những quy định nhằm theo đuổi bất cứ mục tiêu nào mà họ cho là phù hợp Hay khi hai hay nhiều chính phủ kí các hiệp định công nhận hệ thống chất lượng của nhau (chẳng hạn trong việc cấp giấy phép hoặc công nhận cho các nhà cung ứng dịch vụ) thì GATS quy định rằng họ phải tạo điều kiện cho các thành viên khác được đàm phán với họ về các thỏa thuận tương tự Việc công nhận hệ thống chất lượng của các nước cũng không được mang tính phân biệt đối xử cũng như mang tính bảo hộ trá hình

Như vậy, nếu như hiệp định GATS mới chỉ quy định một cách chung chung về các phương pháp tự do hóa thương mại dịch vụ trong phạm vi tổ chức

Trang 6

thì Hiệp định AFAS đã có bước tiến mới khi quy định cụ thể hơn cách thức tự do hóa thương mại dịch vụ đối với từng quốc gia thành viên, giúp cho việc thực hiện mục tiêu tự do hóa được thực hiện một cách hiệu quả và phù hợp với điều kiện của từng quốc gia thành viên hơn

Đối với những ngành dịch vụ thuộc lĩnh vực ưu tiên, việc xóa bỏ các rào cản sẽ được tiến hành nhanh hơn với mức độ tự do hóa cao hơn những ngành dịch vụ còn lại

II So sánh cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean

1 Điểm giống nhau

- Thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ có rất nhiều điểm tương đồng với nhau Chúng đều là những hoạt động của các chủ thể trên thị trường, đều

có sự tham gia của bên bán (bên cung cấp) và bên mua (bên sử dụng dịch vụ)

- Việc trao đổi trong thương mại hàng hoá và thương mại dịch vụ đều mang tính chất đền bù ngang giá…

2 Điểm khác nhau

Tuy nhiên, do có sự khác biệt về đối tượng (hàng hoá và dịch vụ) nên giữa thương mại dịch vụ và thương mại hàng hoá có những điểm khác biệt

+ Thứ nhất, trong thương mại hàng hoá, việc mua bán, trao đổi hàng hoá

luôn dẫn đến hệ quả pháp lí là sự chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá từ người bán sang người mua Người mua được hưởng lợi trực tiếp từ việc khai thác các quyền năng sở hữu đối với hàng hoá

Còn trong thương mại dịch vụ, hoạt động cung ứng dịch vụ không dẫn đến việc xác lập quyền sở hữu của bên mua đối với dịch vụ

Nó đem lại lợi ích cho bên nhận cung ứng dịch vụ bằng việc làm thuận lợi hoá hoạt động thương mại, làm thay đổi về điều kiện hay trạng thái của cá nhân hay hàng hoá thuộc sở hữu của bên đó

+ Thứ hai, trong thương mại dịch vụ, do dịch vụ không đồng nhất và

thường được thay đổi cho phù hợp với từng khách hàng hoặc từng điều kiện hoàn cảnh cụ thể, nên việc duy trì tính ổn định về chất lượng của việc cung ứng dịch vụ thương mại là khó khăn hơn so với việc cung cấp hàng hoá

Thước đo để đánh giá chất lượng dịch vụ là mức độ "hài lòng" của bên nhận cung ứng dịch vụ về quá trình thực hiện công việc của bên cung ứng dịch vụ."

+ Thứ ba, khác với thương mại hàng hoá thường có sự tách rời giữa khâu

sản xuất và tiêu thụ, quá trình tạo ra và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời và trực tiếp giữa người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ

+ Thứ tư, việc tiêu dùng dịch vụ không đem lại hiểu quả tức thời cho

người sử dụng dịch vụ mà nó thường đòi hỏi cả một quá trình Chính vì yếu tố

Trang 7

này nên giữa người cung ứng dịch vụ và người sử dụng dịch vụ thương mại thường thiết lập mối quan hệ kinh doanh lâu dài hơn so với việc cung cấp hàng hoá

Trang 8

KẾT LUẬN

Qua việc phân tích các nội dung cơ bản của cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean và so sánh với cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean đã cho thấy điểm tương đồng và khác biệt trong phương thức và mức độ tư

do hóa thương mại dịch vụ hai cơ chế này Từ đó rút ra được những đặc trưng bản chất của cơ chế tự do hóa thương mại dịch vụ của asean và cơ chế tự do hóa thương mại hàng hóa của asean trong sự tự do hóa thương mại dịch vụ, một trong những ngành đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu ngày nay

Ngày đăng: 28/08/2020, 09:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w