Không nằm ngoài xu thế trên, cả Việt Nam và Nhật Bản đều đã tìm thấy ởnhau những điều kiện thuận lợi cũng như lợi ích kinh tế của bản thân mỗi nước khixây dựng, phát triển và củng cố mố
Trang 1Lời mở đầu
Từ những năm đầu của thập kỷ 90 trở lại đây, việc mở rộng hội nhập và hợptác kinh tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu của quá trình toàn cầu hóa nềnkinh tế thế giới Những lợi ích kinh tế của việc hội nhập kinh tế quốc tế đã mang lạicho mỗi thành viên tham gia những lợi ích kinh tế mà không một quốc gia nào cóthể phủ nhận Việt Nam cũng không ngoại lệ Để đẩy mạnh quá trình công nghiệphiện đại hóa đất nước, Đảng và Nhà nước ta đã và đang thực hiện chính sách đốingoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa và các quan hệ kinh tế quốc tế, lấy mụctiêu vì hòa bình và phát triển làm tiêu chuẩn và phương châm cho mọi hoạt động đốingoại Thêm vào đó, trong bối cảnh phân công lao động quốc tế đang diễn ra mạnh
mẽ, việc hợp tác kinh tế quốc tế đã và đang trở thành cách tốt nhất để các quốc giaphát huy được tối đa lợi thế của mình, có con đường phát triển một cách chuyênnghiệp và đầy hiệu quả
Không nằm ngoài xu thế trên, cả Việt Nam và Nhật Bản đều đã tìm thấy ởnhau những điều kiện thuận lợi cũng như lợi ích kinh tế của bản thân mỗi nước khixây dựng, phát triển và củng cố mối quan hệ hợp tác song phương giữa hainước.Việt Nam và Nhật Bản đã ký kết Hiệp định đối tác kinh tế Việt - Nhật năm
2008, 2 nước đã áp dụng quy chế tối huệ quốc từ năm 2009, Nhật Bản đã ký kếtHiệp định đối tác toàn diện với ASEAN (Việt Nam là thành viên), 2 nước cùng làthành viên của nhiều tổ chức kinh tế thế giới, điển hình như: TPP, WTO , nhờ đómối quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia liên tục được cải thiện Trong nhiều năm,Nhật Bản là đối tác đầu tư FDI lớn nhất và là quốc gia cung cấp nguồn vốn ODAhàng đầu cho Việt Nam, do vậy Nhật Bản có vai trò rất quan trọng đối với quá trìnhphát triển kinh tế của Việt Nam
Tính đến thời điểm hiện nay, đã có nhiều nghiên cứu đi trước về vấn đề quan hệthương mại của Việt Nam với Nhật Bản như: Lê Tuấn Lộc (2016) với đề tài "Traderelationship between Vietnam and Japan: Current situation and trend", Le Thuy NgocVan (2013) với đề tài "Vietnam-Japan Trade Relations in the 1st Decade of the 21stCentury", Ngo Xuan Binh (2009) với "Quan hệ kinh tế Việt Nam với Nhật Bản" Nhìn chung, các nghiên cứu đã chỉ ra đặc điểm thương mại của Việt Nam với Nhật Bản
từ năm 2015 trở về trước, ít có nghiên cứu nào có số liêu cập nhật đến thời điểm
Trang 2hiện tại cũng như đưa ra các giải pháp cụ thể cho Việt Nam trong bối cảnh toàn cầuhóa hiện nay.
Nhận thấy tầm quan trọng của mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật
Bản hiện nay nên chúng em quyết định lựa chon đề tài: "Phân tích tình hình quan
hệ thương mại của Việt Nam-Nhật Bản hiện nay và một số kiến nghị đối với Việt Nam" Qua bài tiểu luận, chúng em nhằm mục đích đánh giá mối quan hệ thương mại,
nhận dạng xu hướng thương mại giữa 2 quốc gia và đề xuất những kiến nghị chính sáchđối với phát triển mối quan hệ thương mại của Việt Nam với Nhật Bản
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung củatiểu luận được kết cấu gồm 3 phần như sau:
Phần I: Cơ sở lý thuyết và tổng quan tình hình thương mại Việt Nam - Nhật
Bản
Phần II: Phân tích tình hình thương mại Việt Nam - Nhật Bản
Phần III: Một số kiến nghị đối với Việt Nam nhằm thúc đẩy mối quan hệ Việt
Nam - Nhật Bản
2
Trang 3Phần nội dung
I Cơ sở lý thuyết, mô hình đánh giá thương mại và tổng quan tình
hình thương mại Việt Nam - Nhật Bản
1.1 Cơ sở lý thuyết
Lý thuyết lợi thế tuyệt đối của Adam Smith ra đời vào đầu thế kỷ 18 đã làm
lý thuyết nền tảng cho việc xây dựng mối quan hệ thương mại giữa các quốc gia.Lợi thế thuyệt đối đạt được thông qua trao đổi thương mại quốc tế khi mỗi quốc giatập trung chuyên môn hoá sản xuất và trao đổi những sản phẩm có mức chi phí sảnxuất thấp hơn hẳn so với các quốc gia khác và thấp hơn mức chi phí trung bình củathế giới thì tất cả các quốc gia đều cùng có lợi Mô hình thương mại đề xuất từ lýthuyết lợi thế tuyệt đối là quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuất khẩu sản phẩm
có lợi thế tuyệt đối và nhập khẩu sản phẩm không có lợi thế tuyệt đối, trên cơ sở đócác quốc gia đều thu được lợi ích từ hoạt động thương mại quốc tế (Bano, 2012)
Lý thuyết lợi thế so sánh của David Recardo ra đời giải quyết hạn chế của lýthuyết lợi thế tuyệt đối và mở rộng hơn cơ sở để xây dựng mối quan hệ thương mạigiữa các quốc gia, lợi thế so sánh có được khi sản xuất hàng hoá trong nước có chiphí thấp tương đối so với sản xuất chúng ở nước khác Mô hình thương mại quốc tếtheo lý thuyết lợi thế so sánh đề xuất là quốc gia chuyên môn hoá sản xuất và xuấtkhẩu sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm không có lợi thế so sánh,trên cơ sở đó quốc gia thu được lợi ích từ hoạt động tương mại quốc tế (Hassan,2013)
Bằng Lý thuyết cân bằng các yếu tố sản xuất, 2 nhà kinh tế học Heckscher vàOhlin đã giải quyết hạn chế của Lý thuyết lợi thế so sánh nhờ lý giải nguồn gốc củalợi thế so sánh Mỗi sản phẩm được sản xuất là sự kết hợp một tỉ lệ nhất định cácyếu tố sản xuất gồm: lao động, công nghệ và vốn, sự dư thừa yếu tố sản xuất nào sẽthuận lợi hơn khi sản xuất sản phẩm sử dụng nhiều yếu tố đó Sự dư thừa yếu tố sảnxuất là nguồn gốc tạo ra lợi thế so sánh của sản phẩm, ví dụ: quốc gia dư thừa laođộng sẽ thuận lợi khi sản xuất các sản phẩm sử dụng nhiều lao động, nhờ đó sảnphẩm có lợi thế so sánh (Leamer, 1995)
Đo lường sự dư thừa yếu tố sản xuất là việc làm khó khăn và nhiều trường hợp
Trang 4gia và thế giới để xác định lợi thế so sánh hiển thị thông qua chỉ số RCA (revealedcomparative advantage) theo công thức (1) Nếu RCA lớn hơn 1 thì sản phẩm có lợithế so sánh, ngược nếu RCA < 1 thì sản phẩm không có lợi thế so sánh, chỉ số lợithế so sánh càng cao thể hiện sản phẩm có khả năng cạnh tranh quốc tế càng cao vàngược lại (Balassa, 1965).
Xki⁄
RCAki = ⁄ (1)
Trong đó: RCA(ki) là chỉ số lợi thế so sánh của sản phẩm k;
X(ki) là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của nước i;
X(i) là kim ngạch xuất khẩu của nước i;
X(kw) là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của thế
giới; X(w) là kim ngạch xuất khẩu của thế giới
Tuy nhiên RCA phản ảnh lợi thế so sánh của sản phẩm trên thị trường thế giới,không phản ảnh được lợi thế so sánh của sản phẩm ở từng thị trường cụ thể, ví dụ: mặthàng gạo của Việt Nam có chỉ số lợi thế so sánh cao, nhưng không thể cạnh tranh
ở thị trường Nhật Bản Xác định lợi thế so sánh ở từng thị trường cụ thể cần bổ sungchỉ số định hướng khu vực (Regional Orientation - RO)
⁄ ROkij = − ⁄ (2)
− Trong đó: RO là chỉ số định hướng khu vực;
X(kij) là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của nước i đến khu vực
j; X(ki) là tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của nước i;
X(ki - j) là kim ngạch xuất khẩu sản phẩm k của nước i đến các nước ngoài j; X(i - j) là kim ngạch xuất khẩu của nước i đến khu vực ngoài j
Nếu RCA > 1 và RO > 1, thì sản phẩm k có lợi thế so sánh trên thị trường j, cáctrường hợp khác sẽ không xác định hoặc sản phẩm không có lợi thế so sánh trên thịtrường j (David, C 2010) Như vậy, quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia xây dựng dựatrên cơ sở xuất khẩu sản phẩm có lợi thế so sánh và nhập khẩu sản phẩm không có lợithế so sánh, trên cơ sở đó thương mại quốc tế đem lại lợi ích cho cả 2 quốc gia
1.2 Các chỉ số đo lường quan hệ thương mại
4
Trang 5Cường độ thương mại phản ánh mức độ quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia.Cường độ thương mại bao gồm cường độ xuất khẩu (The Export Intensity Index -XII), cường độ nhập khẩu (The Import Intensity Index - MII), cường độ thương mại(Trade Intensity Index - TII) và được xác định theo các công thức dưới (Kojima
1964, Wadhva 1985)
Cường độ xuất khẩu phản ánh mức độ quan hệ xuất khẩu của 1 quốc gia với 1 quốc gia hoặc 1 nhóm quốc gia khác và được xác định bởi công thức (3) Trường hợp XII lớn hơn 1, thì quốc gia j là thị trường xuất khẩu quan trọng của quốc gia i và ngược lại XII tăng lên phản ánh mức tăng của khu vực j đối với nước i trong hoạt động xuất khẩu và ngược lại (Bandara and Smith, 2002).
⁄
⁄
− Trong đó: XII(ij) là cường độ xuất khẩu;
X(ij) là kim ngạch xuất khẩu của nước i sang nước
j; X(i) là kim ngạch xuất khẩu của nước i;
M(j) là kim ngạch nhập khẩu của nước j;
M(i) là kim ngạch nhập khẩu của nước i;
M(w) là tổng kim ngạch nhập khẩu thế giới
Cường độ nhập khẩu phản ánh mức độ quan hệ nhập khẩu của 1 quốc gia với 1quốc gia hay 1 nhóm quốc gia khác và được đo lường bằng công thức (4) Trường hợp MII lớn hơn 1, thì khu vực j là thị trường nhâp khẩu quan trọng của nước i và ngược lại MII tăng lên phản ánh mức tăng của khu vực j đối với nước i trong hoạt động nhập khẩu và ngược lại.
⁄
⁄
− Trong đó:
MII(ij) là cường độ nhập khẩu;
M(ij) là kim ngạch nhập khẩu của nước i từ khu vực j;
X(j) là kim ngạch xuất khẩu của nước j;
X(w) là kim ngạch xuất khẩu của thế giới;
5
Trang 6M(i) là kim ngạch nhập khẩu của nước i;
X(i) là kim ngạch xuất khẩu của nước i
Cường độ thương mại phản ánh mức độ thương mại của 1 quốc gia với quốcgia hoặc nhóm quốc gia khác và được đo lường bằng công thức (5) Trường hợp TIIlớn hơn 1, khu vực j là đối tác thương mại quan trọng của nước i, TII tăng lên phảnảnh vai trò của khu vực j đối với nước i tăng lên trong hoạt động thương mại quốc tế
và ngược lại (Bandara and Smith 2002)
⁄
TIIij= ⁄ (5)
Trong đó:
TII(ij) là cường độ thương mại;
T(ij) là kim ngạch xuất nhập khẩu của nước i với khu vực
j; T(iw) là kim ngạch xuất nhập khẩu của nước i;
T(jw) là kim ngạch xuất nhập khẩu của khu vực
j; T(ww) là kim ngạch thương mại toàn cầu
Thương mại nội ngành (Intra - Industry Trade): Chỉ số thương mại nội ngành(IIT) được xây dựng bởi 2 nhà khoa học Grubel và Lloyd và được xác định bởi côngthức (6), chỉ số IIT phản ảnh mức độ trao đổi thương mại trong cùng một ngànhgiữa 2 quốc gia
IIT = 1 − | − | + (6)Trong đó: IIT: chỉ số thương mại nội ngành
X(i) là kim ngạch xuất khẩu của ngành i
M(i) là kim ngạch nhập khẩu của ngành i
Nếu một quốc gia xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời cùng một loại hàng hóatrong ngành i, thì Xi= Mi, quốc gia này có ngành i là trao đổi nội ngành, khi đó chỉ
số IIT sẽ bằng 1 Vậy chỉ số này càng gần với 1 thì ngành i mang tính trao đổi nộingành càng cao, và ngược lại nếu nó càng gần với 0 thì ngành i mang tính trao đổinội ngành càng thấp
6
Trang 71.3 Tổng quan tình hình thương mại Việt Nam – Nhật Bản
Hình 1: Thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản giai đoạn 2010 – 2019
Đơn vị: Nghìn đô
Xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản Nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản Cán cân thương mại
Nguồn : Tác giả tổng hợp và tính toán từ Trademap
Nhìn chung, thương mại Việt Nam – Nhật Bản có xu hướng tăng trong giaiđoạn 2010 – 2019, cụ thể xuất khẩu tăng 2,9 lần và nhập khẩu tăng 1,8 lần Cán cânthương mại ghi nhận mức thấp nhất trong khoảng thời gian này là vào năm 2015,Việt Nam thâm hụt khoảng gần 1.3 tỷ đô la Mỹ Nhìn chung, kim ngạch thương mại
có lợi thế hơn đối với Việt Nam, nhất là trong giai đoạn 2012-2014 kim ngạchthương mại thặng dư đạt mức rất cao khoảng 1.9 tỷ đô la Mỹ Từ năm 2015 trở lạiđây, cán cân thương mại lại có xu hướng quay trở về mức cân bằng, tuy nhiên, dấuhiệu đáng mừng đó là xuất khẩu và nhập khẩu có xu hướng tăng đều qua các năm vàchưa có dấu hiệu giảm
Trang 8Bảng 1: 10 nhóm hàng có tổng kim ngạch cao nhất trong thương mại
Việt Nam - Nhật Bản
Đơn vị : Nghìn đô
Trang 9'73 Các sản phẩm bằng 433097 575276 1008373
sắt và thép
Nguồn : Tác giả tổng hợp và tính toán từ Trademap
Trong giao dịch thương mại quốc tế, Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản cácsản phẩm truyền thống thuộc các lĩnh vực: nông, lâm, thủy sản và các ngành sửdụng nhiều lao động Trong khi đó, Nhật Bản xuất khẩu sang Việt Nam các sảnphẩm chế tác có hàm lượng công nghệ cao, các sản phẩm thâm dụng về vốn và côngnghệ, như: máy móc, thiết bị và phương tiện vận tải; nguồn nguyên liệu đầu vào.Trong năm 2019, mặt hàng có giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu là máy móc vàthiết bị điện tử(’85) Trong đó Việt Nam xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản cáclinh kiện phụ trợ còn Nhật Bản xuất khẩu sang thị trường Việt Nam máy móc đãhoàn chỉnh Từ bảng 1, có thể thấy mặt hàng mà Việt Nam đang có thế mạnh đó làcác sản phẩm quần áo, may mặc (’62,’61) với cường độ xuất khẩu gấp hơn 200 lần
so với cường độ nhập khẩu Trong đó, Nhật Bản có thế mạnh ở máy móc và cácthiết bị cơ khí (’84) khi xuất khẩu sang Việt Nam khoảng hơn 2,7 tỷ đô, nâng tổngkim ngạch của mặt hàng này lên đến khoảng 3,6 tỷ đô
II Phân tích tình hình thương mại Việt Nam – Nhật Bản
2.1 Cơ cấu xuất nhập khẩu
2.1.1 Cơ cấu xuất khẩu
Cơ cấu xuất khẩu và chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam với Nhật
Bản phản ánh trong Bảng 2 với các đặc điểm sau:
Thứ nhất, cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản có xu hướng phântán, sản phẩm xuất khẩu trải rộng ở 7 cụm sản phẩm, từ nông sản, nguyên liệu thôđến sản phẩm chế tác, trong đó sản phẩm sơ chế và nguyên liệu (từ Mã 0 đến Mã 4)chiếm 17%, sản phẩm chế tác (từ Mã 5 đến Mã 9) chiếm khoảng 83% (năm 2017).Thứ hai, chiếm tỉ lệ cao nhất trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam là hàng chếtác, máy móc và phương tiện vận tải Chiếm tỉ lệ thấp nhất là các mặt hàng nguyênliệu thô và hóa chất Việt Nam hầu như không xuất khẩu sang Nhật Bản các mặthàng như giải khát và thuốc lá, dầu mỡ động thực vật
Trang 10Thứ ba, chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam theo hướng giảm dần tỉtrọng các mặt hàng nông nghiệp và nhiên liệu, tăng dần tỉ trọng các cụm sản phẩmcông nghiệp chế tạo.
Nhìn chung, tỉ trọng các nhóm hàng dao động không đáng kể trong giai đoạn
bị và hàng chế tác hỗn hợp là 2 nhóm hàng chiếm tỉ trọng lớn nhất trong các mặthàng được xuất khẩu qua các năm
Như vậy xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản trong giai đoạn từ 2010 đến
2017 được cải thiện đáng kể về chất lượng, sản phẩm chế tác hỗn hợp liên tục tăng,giảm mạnh các mặt hàng thực phẩm, động vật sống và nhiên liệu, từ đó gia tăng giátrị của hoạt động xuất khẩu
Bảng 2: Cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản
Trang 11Comtrade 2.1.2 Cơ cấu nhập khẩu
Từ Bảng 3, bài viết rút ra được một số nhận xét về cơ cấu nhập khẩu và
chuyển dịch cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam với Nhật Bản như sau:
Thứ nhất, nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản tập trung vào sản phẩm chếtạo, bao gồm máy móc và phương tiện vận tải, sản phẩm chế tác phân loại theonguồn nguyên liệu, sản phẩm chế tác hỗn hợp và hoá chất với tổng tỉ lệ gần 95%(năm 2017) kim ngạch nhập khẩu
Thứ hai, cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam với Nhật Bản tương đối ổn định, cáccụm sản phẩm kể trên chiếm tỉ trọng lớn và không thay đổi nhiều trong giai đoạnnghiên cứu
Thứ ba, các cụm sản phẩm liên quan tới thực phẩm, sản phẩm nông hải sản,nhiên liệu chiếm tỉ lệ không đáng kể hoặc hoàn toàn không tồn tại trong cơ cấu nhậpkhẩu của Việt Nam từ Nhật Bản Riêng nhập khẩu nguyên liệu thô của Việt Namtăng mạnh trong những năm cuối của giai đoạn nghiên cứu nhờ nhu cầu dầu thôtăng nhằm đáp ứng nguồn nhiên liệu cho Nhà máy lọc dầu Dung Quất
Hầu hết sản phẩm nhập khẩu của Việt Nam gắn với nhu cầu của quá trình côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước với các sản phẩm: máy móc thiết bị, phương tiệnvận tải hay nguồn đầu nguyên liệu đầu vào Do vậy cơ cấu nhập khẩu đã phản ảnh được
xu hướng nhập khẩu của Việt Nam từ Nhật Bản trong giai đoạn vừa qua
Trang 12Bảng 3: Cơ cấu nhập khẩu của Việt Nam vào Nhật Bản
Comtrade 2.2 Cường độ thương mại
Chỉ số cường độ thương mại của Việt Nam với Nhật Bản được tính toán dựa
vào số liệu thống kê thương mại của Liên Hợp Quốc và được thể hiện trong Bảng 4.
Chỉ số TII lớn hơn 1, ngoại trừ năm 2013 giảm xuống còn 0.44, cho thấy Nhật Bản
là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam trong giai đoạn 2010-2017
Chỉ số MII giảm từ 2.07 xuống 1.95, đặc biệt giảm mạnh vào năm 2013 với giá trị
là 0.23, dẫn đến chỉ số TII giảm thấp nhất còn 0.44 Tuy vậy, năm 2015 cho thấy quan
hệ thương mại giữa Việt Nam và Nhật Bản đã trở lại bình thường và có bước
Trang 13phát triển rõ rệt khi các chỉ số đều cao hơn 2 Đây cũng là năm ghi nhận chỉ số MII
và TII cao nhất trong giai đoạn 2010 đến 2017
Chỉ số XII cho thấy xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản có xu hướng giảmdần qua các năm nhưng luôn duy trì ở mức cao với giá trị lớn hơn 1,00 (thấp nhấtđạt 2.01) trong suốt giai đoạn nghiên cứu phản ánh Nhật Bản là thị trường quantrọng đối với hoạt động xuất khẩu của Việt Nam
Xu hướng xuất khẩu và nhập khẩu giảm phụ thuộc vào thị trường Nhật Bản lànhờ Việt Nam tích cực tham gia vào quá trình hội nhập quốc tế: Việt Nam tham giahầu hết với các tổ chức kinh tế thế giới và khu vực, Việt Nam ký kết nhiều hợp tácthương mại song phương và đa phương với tổ chức và quốc gia trên thế giới và khuvực, tham gia tích cực vào các khu mậu dịch tự do, nhờ vậy thị trường xuất khẩu lẫnnhập khẩu của Việt Nam liên tục được mở rộng Do đó, trong những năm qua, tốc
độ tăng xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam ra thị trường thế giới luôn cao vàtăng nhanh hơn so với tăng xuất khẩu và nhập khẩu vào Nhật Bản
Bảng 4: Cường độ thương mại giữa Việt Nam với Nhật Bản
Nguồn: Tính toán từ UN Comtrade
Như vậy, mối quan hệ của Việt Nam với Nhật Bản luôn chặt chẽ trong thờigian qua bất chấp việc hai nước đã mở rộng thị trường xuất nhập khẩu Ngoài ra sảnphẩm xuất nhập khẩu của Việt Nam và Nhật Bản đã bổ sung hiệu quả cho nhau,trong khi Nhật Bản xuất khẩu vào Việt Nam máy móc, thiết bị và nguồn nguyênliệu đầu vào đáp ứng quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, thì Việt Nam bổ sungsản phẩm nông nghiệp, nguyên liệu, hàng tiêu dùng đáp ứng nhu cầu của Nhật Bản.Hơn nữa Nhật Bản là quốc gia hàng đầu về đầu tư trực tiếp nước ngoài và cấp vốnODA cho Việt Nam, do vậy nhu cầu xuất nhập khẩu máy móc thiết bị, linh kiện vànguyên liệu là rất lớn phục vụ cho hoạt động đầu tư và sản xuất tại Việt Nam
Trang 142.3 Thương mại nội ngành
Bảng 5: Chỉ số thương mại nội ngành đối với 21 nhóm ngành của Việt Nam với
Nhật Bản trong giai đoạn 2010-2018 STT Cụm sản phẩm 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017 2018
1 Động vật sống và sản 0.07 0.11 0.13 0.14 0.15 0.18 0.19 0.18 0.21phẩm từ động vật
2 Sản phẩm rau củ quả 0.18 0.15 0.10 0.11 0.11 0.12 0.14 0.13 0.17
3 Dầu mỡ động thực vật 0.11 0.15 0.10 0.17 0.14 0.11 0.30 0.35 0.90
4 Đồ uống, thực phẩm 0.13 0.09 0.09 0.08 0.09 0.13 0.20 0.20 0.22đóng hộp
5 Sản phẩm khoáng chất 0.33 0.13 0.05 0.08 0.19 0.14 0.52 0.39 0.33Sản phẩm của các ngành
6 công nghiệp hóa chất 0.57 0.65 0.73 0.85 0.87 0.81 0.75 0.70 0.66hay liên kết
7 Nhựa, cao su và các sản 0.63 0.61 0.61 0.66 0.76 0.73 0.71 0.65 0.72phẩm
8 Da, lông động vật và các 0.20 0.19 0.16 0.16 0.12 0.10 0.13 0.11 0.13sản phẩm
9 Gỗ, than đá, rơm rạ, các 0.05 0.03 0.03 0.02 0.02 0.02 0.03 0.03 0.02sản phẩm từ cây mây