Tại nhiều nước phát triển, những nước đã có một nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, một trong những xu thế đang nổi lên và khá thành công, đó là bảo vệ thị trường nội địa thông qua sử d
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế mạnh mẽ của toàn cầu hóa thế giới, Việt Nam cũng đang nỗ lực hết mình: gia nhập ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998) và gần nhất là gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới WTO (2006), chứng tỏ chúng ta đang cố gắng hết mình để có thể hội nhập kinh tế một cách toàn diện và hiệu quả nhất Tuy nhiên, cũng có thể thấy rằng một nền kinh tế mà sức cạnh tranh còn kém thì nếu hội nhập, chúng ta cần thiết phải áp dụng một cơ chế chính sách bảo vệ thị trường nội địa một cách hợp lý để không bị “tổn thương” trước nguy cơ cạnh tranh từ bên ngoài và làn sóng mạnh mẽ của toàn cầu hóa, để phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế an toàn và hiệu quả
Chính vì thế, một trong những khía cạnh được quan tâm nhất của chính sách bảo hộ hiện nay với tất cả các quốc gia trên thế giới là làm thế nào để chính sách bảo hộ thực sự mang lại hiệu quả tích cực đối với nền kinh tế đất nước, đặc biệt là các nước đang phát triển với trình độ phát triển kinh tế chưa cao Tại nhiều nước phát triển, những nước đã có một nền kinh tế hàng hóa phát triển cao, một trong những xu thế đang nổi lên và khá thành công, đó là bảo vệ thị trường nội địa thông qua sử dụng rào cản kỹ thuật thương mại Đây chính là lý do tác giả chọn viết
khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Sử dụng rào cản kỹ thuật thương mại nhằm bảo vệ thị trường nội địa của một số nước trên thế giới và kinh nghiệm cho Việt Nam”
Kết cấu của tiểu luận:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, khoá luận gồm 3 chương:
Chương I Khái niệm về rào cản kỹ thuật trong thương mại quốc tế và quy
định của một số nước
Chương II Thực trạng sử dụng rào cản kỹ thuật thương mại nhằm bảo vệ thị
trường nội địa của một số nước trên thế giới
Chương III Một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam về vấn đề rào cản kỹ
thuật trong thương mại quốc tế
Trang 2CHƯƠNG I KHÁI NIỆM VỀ RÀO CẢN KỸ THUẬT TRONG THƯƠNG MẠI
QUỐC TẾ VÀ QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ NƯỚC 1.Khái niệm rào cản kỹ thuật trong thương mại
Thương mại quốc tế ngày càng phát triển, không chỉ giới hạn ở thương mại hàng hóa mà còn mở rộng ra các lĩnh vực khác, đem lại lợi ích cho rất nhiều các quốc gia trên thế giới Tuy nhiên, do trình độ phát triển kinh tế- xã hội không đồng đều mà các biện pháp bảo hộ thuế quan và phi thuế quan ra đời nhằm bảo hộ nền sản xuất nội địa Bởi vậy, trong thương mại quốc tế hiện nay tồn tại hai loại rào cản chính, đó là: Hàng rào thuế quan (Custom duties barriers) và hàng rào phi thuế quan (Non-tariff-Trade barriers)
Nói cách khác, trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” (technical barriers to trade) thực chất là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật
mà một nước áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu hoặc quy trình đánh giá sự phù hợp của hàng hóa nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó Về nguyên tắc, nếu hàng nhập khẩu không đạt một trong các tiêu chuẩn được đưa ra đều không được nhập khẩu vào lãnh thổ nước nhập hàng
2 Một vài đặc điểm của rào cản kỹ thuật TMQT
Thứ nhất, tiêu chuẩn và các quy định trong rào cản kỹ thuật thương mại mang
lại hiệu quả xã hội cao hơn so với thuế và hạn ngạch thương mại
Thứ hai, rào cản kỹ thuật tác động hai mặt tới thương mại quốc tế Các quy
định và tiêu chuẩn kỹ thuật một mặt đảm bảo cho thương mại (chất lượng thương mại) vì chúng ra đời từ mối quan tâm chung của cả Chính phủ và người tiêu dùng đối với vấn đề sức khỏe, an toàn và chất lượng môi trường
Thứ ba, từ đặc điểm trên, có thể thấy rằng hiện này, nếu như đối với các nước
phát triển, rào cản kỹ thuật là một công cụ chính sách thương mại hữu hiệu phục
vụ việc bảo vệ thị trường nội địa, thì ngược lại, rào cản kỹ thuật đang trở thành mối quan tâm, lo ngại đặc biệt đối với các nước đang phát triển
3.WTO và những quy định về hàng rào kỹ thuật thương mại
3.1 Hiệp định về hàng rào kỹ thuật đối với thương mại (Agreement on Technical Barriers to Trade-TBT)
Hiệp định về rào cản kỹ thuật có hiệu lực từ tháng 01/1980 Mục đích của Hiệp định là đưa ra các nguyên tắc trên cơ sở bình đẳng về việc sử dụng các tiêu chuẩn bắt buộc,các tiêu chuẩn tự nguyện, các quy định kỹ thuật nhằm đảm bảo các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật đó được các nước thành viên sử dụng đúng mục đích và không tạo ra một rào cản bất hợp lý đối với thương mại hàng hóa giữa các thành viên
Những nội dung chính trong Hiệp định TBT bao gồm: Thứ nhất, soạn thảo và
áp dụng các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật dưa trên cơ sở các tiêu chuẩn quốc tế
Thứ hai, các tiêu chuẩn và quy định được áp dụng đối với hàng nhập khẩu phải
Trang 3dựa trên các thông tin khoa học rõ ràng Thứ ba, không soạn thảo, thông qua hay
áp dụng các quy định kỹ thuật gây ra trở ngại không cần thiết đối với thương mại
Thứ tư, tham gia quá trình hài hòa và công nhận lẫn nhau các quy định kỹ thuật
3.2 Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ (Agreement on Sanitary and Phytosanytary Measures)
Hiệp định về các biện pháp vệ sinh dịch tễ gồm những quy định trong việc áp dụng các biện pháp kiểm dịch động thực vật nhằm đảm bảo cho sức khỏe cây trồng, vật nuôi, và an toàn thực phẩm Hiệp định quy định rõ các hàng hóa trước khi đưa ra thị trường cần đáp ứng được những yêu cầu cơ bản để bảo vệ con người, vật nuôi hoặc cây trồng hay sức khỏe Hiệp định cũng yêu cầu các thành viên không phân biện đối xử một cách tùy tiện và vô căn cứ với nhau vì các mục đích thương mại
Trang 4CHƯƠNG II THỰC TRẠNG SỬ DỤNG RÀO CẢN KỸ THUẬT THƯƠNG
MẠI NHẰM BẢO VỆ THỊ TRƯỜNG NỘI ĐỊA CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI.
1.Thực trạng sử dụng rào cản kỹ thuật thương mại của Hoa Kỳ
1.1 Mặt hàng thịt gia súc
Một trong các rào cản kỹ thuật lớn nhất mà các nhà sản xuất thịt gia súc vào thị trường Mỹ đó là quy định ghi nhãn nguồn gốc xuất xứ (Country of Origin Labeling) Quy định này bắt đầu được áp dụng từ năm 2008 và tiến hành sửa đổi vào năm 2013 nhằm yêu cầu việc ghi nhãn phải nghiêm ngặt, minh bạch và chính xác hơn nhằm giúp người tiêu dùng hiểu rõ về sản phẩm, đặc biệt là các sản phẩm thịt Quy định được xây dựng theo hướng bắt buộc các sản phẩm thịt bò và thịt lợn đóng gói tiêu thụ trên thị trường nước này cần ghi rõ nguồn gốc xuất xứ từ con giống- vật nuôi được sinh ra, nơi chăn nuôi đến nơi chế biến Quy định này áp dụng bắt buộc đối với bắp bò (kể cả bê), thịt cừu, thịt gà, dê và thịt lợn; ngoài ra còn có một số loài cá và nông sản dễ hỏng Trước đây, quy định về nhãn nguồn gốc chỉ yêu cầu ghi nhãn xuất xứ trên tẳng thịt có nguồn gốc từ quốc gia khác với cụm từ bắt đầu bằng “Sản phẩm của ”
1.2 Mặt hàng thủy sản
Mỹ là một nước xuất khẩu hải sản lớn nhất thế giới đồng thời cũng là nước nhập khẩu hải sản lớn thứ hai thế giới (sau Nhật Bản), bởi vậy các quy định liên quan đến việc xuất nhập khẩu mặt hàng này rất được quan tâm Theo luật, tất cả các thực phẩm nhập khẩu đều phải chịu sự điều tiết của Luật Liên bang như: Luật
về Thực phẩm, Dược phẩm, Luật về nhãn hàng và bao bì Ngoài ra còn có các quy định riêng của Cục Nghề cá biển quốc gia Mỹ Ngoài hai cơ quan lớn chịu là Cơ quan hành chính đều có hệ thống pháp luật riêng Pháp luật bang và khu hành chính không được mâu thuẫn với Hiến pháp của Liên bang.Ngoài ra, bên cạnh cơ quan thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ FDA và Cục Hải Quan Mỹ, Cơ quan thủy, hải sản quốc gia Mỹ (NMFS) trực thuộc Vụ Hải Dương quốc gia, Bộ thương mại
1.3 Mặt hàng dệt may
Mỹ là một trong những thị trường tiêu thụ chính của hàng dệt may thế giới Lượng nhập khẩu mặt hàng dệt may vào thị trường này liên tục tăng qua các năm (Nhập khẩu năm 2007 gấp đôi so với năm 1997) Trên thực tế, các nhà chức trách
Mỹ ý thức rất rõ ràng về điều này và thực hiện nhiều các biện pháp giảm nhập khẩu nhằm bảo hộ thị trường dệt may nội địa Rào cản kỹ thuật được coi như một trong các công cụ hữu hiệu để đạt được mục tiêu này Trong vòng 10 năm trở lại đây, số lượng các rào cản kỹ thuật đối với mặt hàng dệt may tăng mạnh Việt Nam
là một đối tác lâu dài của Mỹ, trở thành nước cung cấp hàng dệt may lớn thứ 7 về khối lượng và đứng thứ 3 về giá trị tại thị trường nước này
Trang 52.Thực trạng sử dụng rào cản kỹ thuật thương mại của EU
Liên quan đến rào cản kỹ thuật của EU đối với các nhà xuất khẩu, mới đây nhất, tháng 1 năm 2015, EU bắt đầu thực hiện lệnh cấm nhập khẩu thủy sản từ Sri Lanka Nguyên nhân của lệnh cấm này bắt nguồn từ việc Sri Lanka vi phạm những quy định về khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không được quản lý (IUU) Theo quy định của IUU, các lô hàng thủy sản khi xuất khẩu vào thị trường EU cần cung cấp thông tin về tàu khai thác, tên chủ tàu, phương tiện đánh bắt, vùng biển khai thác, loại sản phẩm, trọng lượng, giấy báo chuyển hàng trên biển, trong khu vực cảng, tàu tiếp nhận hoặc đơn vị tiếp nhận trong cảng Quy định này được Ủy ban châu Âu về nghề cá chấp thuận và đưa ra thảo luận vào tháng 4/2005 tại Rome (Italia) nhằm quản lý chặt chẽ đội tàu khai thác các nước xuất khẩu thủy sản, ngăn chặn việc khai thác trái phép, bảo vệ môi trường biển, hệ sinh thái và các nguồn lợi thủy hải sản Sri Lanka là nước xuất khẩu cá kiếm ướp lạnh, tười và cá ngừ lớn thứ hai sang EU Trước khi lệnh cấm được đề xuất, tháng 11 năm 2012, Ủy ban châu Âu EC đã ban hành một “thẻ vàng” cho Sri Lanka do không hoàn thành nghĩa vụ của mình trong việc giải quyết vấn đề khai thác IUU
Bên cạnh đó, càng ngày EU càng có xu hướng đặt ra nhiều rào cản phức tạp và mang tính bắt buộc cao hơn trước, trong đó có mặt hàng dệt may của việt Nam:
- Luật EU đối với hàng dệt may về môi trường, an toàn và sức khỏe con người, quy định cấm nhập khẩu và bán các sản phẩm dệt may có chứa các chất bị cấm (RS)
- Các quy định về an toàn tính cháy của vật liệu dệt may
- Các quy định đối với nhà nhập khẩu và phân phối tại EU
- REACH: là một trong các luật quản lý hóa chất nghiêm ngặt và phức tạp nhất trên thế giới, gồm qui chuẩn và đăng ký, thông báo, đánh giá và cấp phép hóa chất
Trang 6Cùng với đó, EU ban hành rất nhiều thông tư quy định về môi trường, an toàn
và sức khỏe của con người liên quan đến hàng dệt may, trong đó có thể kể đến một
số thông tư được áp dụng phổ biến như:
- Thông tư 91/338/EC về hạn chế sử dụng Cadimi trong pigment, chất ổn định cho chất dẻo, chất mạ điện
- Thông tư 2003/11/EC về hạn chế sử dụng các chất chống cháy trong sản phẩm dệt may: penta BDE, octa BDE
- Thông tư 2003/53/EC về việc cấm bán và sử dụng chất nonylphenol và nonylphenol etoxylat
- Quy chuẩn EC 850/2004 cấm sử dụng các chất hữu cơ gây ô nhiễm (POP)
- Luật REACH 1907/2006/EC quy định đăng ký, đánh giá, cấp phép hóa chất
- Sắc luật về bao bì và phế liệu bao bì
- Luật về an toàn quần áo
Có thể thấy vấn đề an toàn sức khỏe rất được các quốc gia thuộc Liên minh châu Âu quan tâm Thị trường này yêu cầu các nhà xuất khẩu phải đáp ứng được các quy định thông qua việc đầu tư vào công nghệ để cho ra sản phẩm cuối cùng đạt mức tiêu chuẩn
Việc đóng gói sản phẩm theo yêu cầu của phía EU cần phải nghiên cứu kĩ bao
bì nào có thể bảo vệ tốt cho hàng hóa trong quá trình vận chuyển, chống ảnh hưởng của khí hậu, nhiệt độ …
Việc ghi nhãn mác sản phẩm phải đảm bảo đủ thông tin cho người tiêu dùng
về sản phẩm được mua Việc ghi nhãn mác cơ bản cần đáp ứng hai nhu cầu: Một
là yêu cầu thông tin về xuất xứ, thành phần sợi, khả năng cháy Hai là yêu cầu kích
cỡ nhãn hiệu và hướng dẫn giặt tẩy Tuy nhiên, mới đây nhất, EU bỏ phiếu nhằm thông qua việc yêu cầu các nhà sản xuất dán nhãn nước xuất xứ- “Made in ” một cách bắt buộc (thay thế cho việc yêu cầu gắn nhãn mác xuất xứ một cách tự nguyện) vào tháng 4/2014 Lý do cho sự thay đổi trong tương lai này là bởi có nhiều hình thức kinh doanh mới phát triển mạnh mẽ vào thị trường EU (trong đó
có thương mại điện tử) nhưng thiếu đi hoạt động kiểm tra một cách đầy đủ Chính
vì vậy, việc thay đổi về bao bì này nhằm mục đích đảm bảo các hàng hóa lưu thông trên thị trường EU là an toàn và không gây hại đến sức khỏe người tiêu dùng Tuy quy định mới này rất có thể sẽ khiến các doanh nghiệp trong khối phải giải quyết nhiều thủ tục giấy tờ hơn, việc thay đổi vẫn nhận được nhiều sự ủng hộ
từ chính phủ các nước Đức, Anh, Tây Ban Nha, Pháp, Italy và coi đó là một biện pháp ngăn chặn hiệu quả những mặt hàng giá rẻ chất lượng thấp từ thị trường Trung Quốc và Ấn Độ gia nhập thị trường này, đồng thời cũng tạo cơ hội để phát triển thị trường nội khối
Đối với các quy định về điều kiện lao động, EU thực hiện các chiến dịch và quy tắc nhằm bảo vệ lợi ích người lao động cũng như cải thiện các điều kiện lao động trong ngành công nghiệp dệt may như: Thanh toán lương thực, không bắt
Trang 7buộc về làm thêm giờ, không phân biệt đối xử, tự do trong tổ chức và đám phán tập thể, nghiêm cấm bóc lột sức lao động trẻ em và các điều kiện về môi trường làm việc an toàn
Bên cạnh đó, một nội dung đổi mới EU đưa ra liên quan đến nhãn mác sản phẩm, đó là việc EU khuyến khích gắn nhãn sinh thái đối với sản phẩm:
- Nhãn EU Ecolabel: áp dụng cho áo cổ tròn, áo tay dài hoặc ngắn, áo thun dệt,
bộ drap giường
- Nhãn SKAL EKO: áp dụng cho dây chuyền sản xuất và kiểm tra Những tiêu chuẩn mà hệ thống cho phép xử lý ở công đoạn hoàn thiện là: Xử lý không co, phủ láng mặt ngoài, tạo độ bền, thấm nước hoặc không thấm nước
- Nhãn SG: quy định về giới hạn định mức đối với các chất nguy hiểm
- Nhãn OKO- Tex: áp dụng cho sản phẩm cuối cùng, thay vì tập trung vào toàn bộ quá trình (áp dụng phổ biến ở Ba Lan, Thụy Điển và Đức)
Đặc biệt riêng đối với mặt hàng vải lụa, một hệ thống về mã hiệu cũng cấp thông tin về loại sợi cấu thành được bán ra trên thị trường được lập bởi ra bởi EU nhằm đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu riêng của mặt hàng Bất cứ loại vải hay lụa nào được sản xuất ra trên cơ sở hai hay nhiều loại sợi mà một trong các loại ấy chiếm tối thiểu 85% tổng trọng lượng thì trên mã hiệu có thể đề tên loại sợi đó kèm theo tỷ lệ về trọng lượng, hoặc đề tên của loại sợi đó kèm tỷ lệ tối thiểu 85%, hoặc ghi cấu thành chi tiết của sản phẩm Ngược lại, nếu con số đó đạt tỷ lệ dưới 85% tổng trọng lượng thì mã hiệu ít nhất phải ghi tỷ lệ của hai loại sợi quan trọng nhất, kèm theo tên các loại sợi khác đã được sử dụng
3 Những tác động tích cực
- Rào cản kỹ thuật giúp hạn chế nhập khẩu, tạo điều kiện phát triển cho các doanh nghiệp trong nước Đây là tác động có thể dễ dàng nhận ra khi việc sử dụng rào cản kỹ thuật bắt đầu phát huy tác dụng Năm 2002, Nhật Bản tăng yêu cầu về
dư lượng thuốc sâu Chlorpyrifos trong rau cải (spinach) từ 0,1 ppm xuống còn 0,01 ppm, khiến các nhà xuất khẩu rau cải của Trung Quốc giảm mạnh, từ 33,9 triệu đô la năm 2001 xuống còn 14,3 triệu đô la năm 2002, và giảm rất nhanh xuống còn 3,9 triệu đô la năm 2003 Sau đó, Chính phủ và các doanh nghiệp Trung Quốc dần có những động thái thu hẹp dần phạm vi kinh doanh sản phẩm này tại thị trường Nhật Bản để chuyển qua những mặt hàng khác ít các rào cản hơn Cùng lúc thực hiện các rào cản, Nhật Bản đồng thời đẩy mạnh đầu tư vào các trang trại trồng rau cải tại khu vực miền Nam trong nước, phát động chiến dịch
“Nhà nhà ăn rau cải Nhật Bản” Kết quả là các doanh nghiệp nội địa dần chiếm lợi thế trên thị trường rau cải, với doanh thu năm 2004 tăng gần gấp 2 lần so với năm trước Có thể nói, nhìn từ phía nước nhập khẩu, việc bảo vệ thị trường nội địa thông qua các rào cản nhằm gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu, giành lại lợi thế
Trang 8cạnh tranh cho các doanh nghiệp nội địa chính là một trong những động lực chính cho hoạt động này Việc phải đối phó với các rào cản kỹ thuật ngay từ khi thâm nhập thị trường sẽ khiến các nhà xuất khẩu gặp nhiều khó khăn Trường hợp khi các lô hàng xuất khẩu vi phạm các quy định của nước nhập khẩu và bị giữa lại tại cửa khẩu phục vụ công tác kiểm tra thì chắc chắn doanh nghiệp sẽ tốn một khoản phí không nhỏ gồm phí lưu kho lưu bãi chưa kể đến những mặt hàng cần được bảo quản trong điều kiện đặc biệt, phí thanh tra kiểm tra hoặc thậm chí phí tiêu hủy lô hàng nếu phát hiện những vi phạm nghiên trọng vào quy tắc tiêu chuẩn của nước nhập khẩu Đây cũng được coi là thời điểm tốt để các doanh nghiệp nội địa tìm hiểu kỹ hơn về đối thủ trước khi bắt đầu cuộc chiến cạnh tranh giành thị trường Không chỉ vậy, các doanh nghiệp nội địa hoàn toàn có thể tận dụng thời cơ để khai thác các cơ hội bị bỏ lỡ bởi các nhà xuất khẩu nước ngoài trong khi đang phải xoay xở với các rào cản kỹ thuật
- Rào cản kỹ thuật giúp bảo vệ lợi ích người tiêu dùng với những sản phẩm
an toàn, chất lượng cao và tốt cho sức khỏe Đây là một trong những mục tiêu ban đầu phổ biến nhất trong sử dụng rào cản kỹ thuật Việc các quốc gia tập trung sử dụng rào cản kỹ thuật dựa trên cơ sở này sẽ khiến tỷ lệ thành công cao hơn nhiều
so với động cơ sử dụng vì những lợi ích thương mại không dựa trên mục đích minh bạch, rõ ràng
- Rào cản kỹ thuật giúp gia tăng tiếng nói và vị thế của các quốc gia trên trường quốc tế Tất nhiên, không phải lúc nào các rào cản kỹ thuật cũng đem đến lợi thế cho các quốc gia sử dụng nó theo cách đó Tác động tích cực này chỉ xảy ra khi việc sử dụng rào cản kỹ thuật là hiệu quả, minh bạch, đáng tin cậy, mục tiêu hướng đến sức khỏe và lợi ích người tiêu dùng, và nhận được nhiều sự ủng hộ quan tâm của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới Đặc biệt với những nước đang phát triển như Việt Nam, việc mạnh dạn sử dụng các rào cản kỹ thuật một cách hợp lý và đúng đắn sẽ khiến thay đổi quan điểm và cách nhìn nhận của nhiều quốc gia đối với Việt Nam, nâng cao tiếng nói và uy tín của đất nước trên trường quốc tế
4 Những tác động tiêu cực
Trên thực tế, việc sử dụng các rào cản kỹ thuật không phải lúc nào cũng đem lại các tác động như mong đợi đối với thị trường nội địa của những nước đặt ra chúng Ngược lại, sử dụng các rào cản kỹ thuật không hợp lý luôn tiềm ẩn rất nhiều nguy cơ về những tác động tiêu cực đến thị trường nội địa:
- Rào cản kỹ thuật sử dụng không hợp lý có thể gây thiệt hại cho thị trường nội địa, làm mất cân bằng thị trường Việc chọn sai thời điểm và hình thức sử dụng rào cản kỹ thuật rất có thể sẽ trở thành một mối nguy hại lớn nếu thị trường nội địa khi
đó không ổn định, gặp phải các yếu tố bất lợi từ bên ngoài hay các mối rủi ro khác
Trang 9chưa được giải quyết toàn diện Môi trường như vậy vừa làm giảm hiệu quả sử dụng rào cản kỹ thuật vừa có nguy cơ gây ra một cú sốc lớn cho thị trường nội địa, nhất là khi không có một phương án dự phòng nào để đối phó với những hậu quả
có thể xảy đến Nhiều chuyên gia nhận định việc nóng vội trong sử dụng rào cản
kỹ thuật khi thị trường nội địa chưa sẵn sàng được coi như một sự khiêu chiến thiếu không ngoan và tiềm ẩn đầy rủi ro Ngoài ra, việc sử dụng rào cản kỹ thuật quá nhiều làm hạn chế nhập khẩu trong khi chưa các ngành hàng trong nước chưa
đủ mạnh để cung cấp đủ số lượng và chất lượng hàng hóa cho toàn thị trường nội địa thậm chí sẽ khiến người tiêu dùng mất niềm tin vào hệ thống doanh nghiệp nước mình
- Sử dụng rào cản kỹ thuật tràn lan, không kiểm soát và thiếu minh bạch sẽ tạo
ra môi trường thương mại không thông thoáng, gây bất lợi cho tiến trình tự do hóa thương mại trên phạm vi khu vực và thế giới, đồng thời khiến thị trường nội địa gặp nhiều khó khăn, gây ra những ngăn chặn thương mai không cần thiết
- Rào cản kỹ thuật có thể gây ra các tranh chấp thương mại Đây được coi là một trong số những hệ quả phổ biến nhất có thể xảy ra khi việc sử dụng các rào cản kỹ thuật không theo mong muốn Theo thông tin của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO, đến nay WTO đã có tổng cộng hơn 400 tranh chấp thương mại, trong đó có 52 tranh chấp liên quan đến rào cản kỹ thuật trong thương mại (chiếm khoảng 10%) Với Việt Nam, mặc dù mới trở thành thành viên của tổ chức WTO gần 8 năm nhưng đã có 4 quan ngại về rào cản kỹ thuật về các sản phẩm rượu, mỹ phẩm, điện thoại di động và Nghị định của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật An toàn Thực phẩm Lý do được đưa ra từ các quốc gia khác chủ yếu liên quan đến vấn đề thiếu minh bạch, một số điểm chưa phù hợp, tính hạn chế vượt quá mức có thể chấp nhận được hoặc các quy định mâu thuẫn với Hiệp định TBT Những hệ quả đến từ tranh chấp thương mại rất dễ có thể nhìn thấy Việc tham gia vào các tranh chấp thương mại sẽ khiến các doanh nghiệp và quốc gia liên quan tốn thời gian, tiền bạc và công sức Không chỉ thể, hệ quả nghiêm trọng nhất là việc bị WTO xử phạt với những bất lợi trong thương mại quốc tế Thậm chí trong một số các tranh chấp đã được xét xử, WTO thậm chí còn cho phép nước thắng kiện được thực hiện các biện pháp trừng phạt thương mại trả đũa nhằm vào quốc gia mà WTO cho rằng đã sử dụng rào cản kỹ thuật không hợp lý, thiếu minh bạch hoặc mang tính chất phân biệt đối xử Khi đó, thị trường nội địa sẽ chịu những tác động trực tiếp và khó kiểm soát từ những biện pháp trừng phạt thương mại này Không chỉ vậy, một khi việc đặt ra các quy định tiêu chuẩn liên tiếp gặp các vấn đề sẽ khiến WTO nghi ngờ năng lực và đưa vào danh sách cần “lưu tâm”, đồng thời cũng làm giảm uy tín của quốc gia đó trong các nước thành viên, vô hình chung tạo ra những khó khăn trong tương lai Nói cách khác, việc sử dụng rào
Trang 10cản kỹ thuật thiếu hiệu quả và khôn khéo rất có thể sẽ ảnh hưởng đến quan hệ hợp tác quốc tế, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội giữa các nước