Tóm lại, thương mại nội ngành được định nghĩa là thương mại hai chiều, là việc xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các sản phẩm trong cùng một ngành dựa trên phân cấp hàng hóa theo tiêu chu
Trang 11.1 Khái niệm thương mại nội ngành
Trong hơn hai thập kỷ vừa qua, đã có nhiều lý thuyết mới được xậy dựng để bổ sung cho các lý thuyết thương mại quốc tế cổ điiển và tân cổ điển Theo lý thuyết của Heckscher-Ohlin, khác biệt về sự dồi dào các yếu tố sản xuất là nguồn gốc của lợi thế
so sánh Trong khi đó, lợi thế so sánh là một yếu tố quyết định đến thương mại quốc tế
Do vậy, thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh là thương mại liên ngành Tuy nhiên, trên thực tế mô hình của Heckscher-Ohlin đã không giải thích được hiện tượng thương mại giữa các quốc gia tương đồng nhau với sự dồi dào các yếu tố sản xuất như nhau Đây chính là điểm xuất phát của lý thuyết thương mại mới, thương mại nội ngành (IIT) Leontief đã công bố bài báo chứng minh về mặt thực nghiệm định lý của Heckcher-Ohlin, cho rằng: Nước nào có lợi thế về vốn sẽ xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều vốn như sắt, thép, ô tô,… nước nào có lợi thế về lao động sẽ xuất khẩu hàng hóa
sử dụng nhiều lao động như giầy dép, quần áo… Sử dụng bảng đầu vào, đầu ra năm
1947 của Mỹ, ông muốn kiểm định giả thuyết rằng nước Mỹ có lợi thế so sánh đối với hàng hóa sử dụng nhiều vốn và do đó sẽ xuất khẩu hàng hóa sử dụng nhiều vốn và nhập khẩu hàng hóa sử dụng nhiều lao động Kết quả thật đáng ngạc nhiên: Hàng hóa xuất khẩu của Mỹ sử dụng nhiều lao động hơn so với hàng nhập khẩu, điều này trái với mô hình Heckcher- Ohlin
Hiện tượng này là thách thức với các lý thuyết truyền thống về thương mại quốc
tế cho rằng: Việc trao đổi hàng hóa giữa các nước là do sự khác nhau về nguồn lực hoặc nhân tố sản xuất Bằng chứng thực tế chỉ ra rằng các nước có trang bị nguồn lực tương tự nhau nhập khẩu và xuất khẩu đồng thời các sản phẩm tương tự thuộc một ngành Để giải thích hiện tượng này các lý thuyết thương mại mới ra đời trong đó có
lý thuyết thương mại nội ngành (Intra Industry Trade- IIT) Theo Grubel và Lloyd (1975), IIT là việc mua bán đồng thời hàng hóa giống nhau hoặc tương tự nhau Nó có thể xảy ra trong cùng một ngành và có thể ở cùng một giai đoạn sản xuất hoặc có thể ở các giai đoạn sản xuất khác nhau Phan Tú Anh và các đồng nghiệp (2014) cho rằng IIT là việc đồng thời xuất khẩu và nhập khẩu những loại hàng hóa thuộc cùng một ngành hay là nhóm hàng theo phân loại tiêu chuẩn hàng hóa
Trang 2Tóm lại, thương mại nội ngành được định nghĩa là thương mại hai chiều, là việc xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời các sản phẩm trong cùng một ngành dựa trên phân cấp hàng hóa theo tiêu chuẩn phân loại hàng hóa quốc tế
1.2 Đo lường thương mại nội ngành
Chỉ số Grubel và Lloyd (Grubel, Herbert G.; Lloyd, Peter J (1975)) là chỉ số
được sử dụng phổ biến nhất để đo lường IIT và được coi là phương pháp đánh giá thích hợp về cơ cấu thương mại tại một thời kì:
Trong đó: là tỷ phần của thương mại nội ngành trong tổng thương mại của ngành i
Xi, Mi lần lượt là giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của ngành i
Phần còn lại là tỷ trọng thương mại liên ngành:
Chỉ số IIT nằm trong khoảng từ 0 đến 1:
• IIT= 1: giá trị xuất khẩu bằng giá trị nhập khẩu, toàn bộ giá trị thương mại là thương mại nội ngành
• IIT= 0: Chỉ có thương mại một chiều
1.3 Phương pháp phân loại thương mại nội ngành
Có rất nhiều lý thuyết về thương mại nội ngành và có thể chia chúng thành hai loại là thương mại nội ngành theo chiều dọc (HIIT) và thương mại nội ngành theo chiều ngang (VIIT)
1.3.1 Thương mại nội ngành theo chiều ngang
Thương mại nội ngành theo chiều ngang (Horizontal Intra Industry Trade – HIIT) thể hiện sự trao đổi sản phẩm với các đặc tính khác nhau (các sản phẩm khác nhau về chiều ngang) được sản xuất với sự chuyên sâu về yếu tố giống nhau, mô tả chất lượng sản phẩm tương tự và bán tại mức giá như nhau Thương mại nội ngành theo chiều ngang liên quan đến sản phẩm tương tự xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời tại cùng một giai đoạn của quá trình sản xuất và chủ yếu là do sự khác biệt về mặt sản phẩm
Thương mại nội ngành theo chiều ngang xảy ra khi thị trường cạnh tranh hoàn hảo với sự khác biệt hóa sản phẩm để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người tiêu dùng và
sử dụng tính kinh tế nhờ quy mô hay nói cách khác HIIT xuất hiện khi đồng thời xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá trong cùng một ngành và trong cùng giai đoạn sản xuất
Trang 3Cụ thể, việc xuất khẩu và nhập khẩu đồng thời điện thoại di động của Hàn Quốc trong giai đoạn cuối cùng là một ví dụ cho thương mại nội ngành theo chiều ngang Bởi vì những chiếc điện thoại di động này được sản xuất sử dụng công nghệ tương tự nhau và cung cấp các chức năng cũng tương tự nhau, chúng được phân loại cùng một ngành Tuy nhiên, điện thoại Samsung được xuất khẩu thì có một vài sự khác biệt trong hình dáng và đặc điểm sản phẩm so với điện thoại Nokia được nhập khẩu
1.3.2 Thương mại nội ngành theo chiều dọc
Thương mại nội ngành theo chiều dọc (Vertical Intra Industrial Trade – VIIT) liên quan đến thương mại của sản phẩm khác nhau về chất lượng, về công nghệ và khác nhau về một số các yếu tố khác, vì vậy các sản phẩm cũng được bán ở các mức giá khác nhau Cụ thể hơn, thương mại nội ngành theo chiều dọc liên quan đến việc xuất nhập khẩu hàng hóa đồng thời trong cùng một ngành, nhưng tại các giai đoạn sản xuất khác nhau, và chủ yếu là do sự chuyên sâu về nhân tố trong một ngành
Thương mại nội ngành theo chiều dọc bắt nguồn từ thị trường cạnh tranh độc quyền từ việc chuyên môn hóa sản xuất theo công đoạn, như việc Trung Quốc có lợi thế nhân công nên đã nhập khẩu linh kiện máy tính từ nước ngoài, sau đó lắp ráp thành máy vi tính hoàn chỉnh và xuất khẩu trở lại cho các nước, trong khi Mỹ có lợi thế về vốn và kỹ thuật cao nên tập trung nghiên cứu, thiết kế và sản xuất linh kiện máy tính Ngoài ra, thương mại các sản phẩm có chất lượng khác nhau cũng gây ra thương mại nội ngành theo chiều dọc, trường hợp Ý nhập khẩu quần áo chất lượng thấp nhưng lại xuất khẩu quần áo có chất lượng cao
Các nhà kinh tế học quốc tế đã bỏ ra nhiều công sức để phân rã thương mại nội ngành thành theo chiều dọc và theo chiều ngang Đáng chú ý nhất là phương pháp Kandogan (2003) Ông lập luận rằng sự khác biệt giữa HIIT và VIIT dựa trên chất lượng, được thể hiện bởi giá Do đó, ông đề xuất phương pháp phân rã thương mại nội ngành thành VIIT và HIIT dựa trên kim ngạch xuất nhập khẩu tại các mức khác nhau của việc gộp mà không cần dữ liệu lượng xuất khẩu và nhập khẩu Mức gộp cao hơn xác định các ngành và mức gộp thấp hơn xác định các sản phẩm khác nhau trong mỗi ngành
Bằng cách sử dụng mức độ gộp cao hơn (tại cấp ngành), tổng thương mại nội ngành (IIT) được tính bằng kim ngạch xuất khẩu tương xứng với nhập khẩu Thương
Trang 4mại nội ngành theo chiều ngang được tính bằng kim ngạch thương mại tương xứng trong mỗi sản phẩm của một ngành bằng cách sử dụng mức gộp thấp hơn (tại cấp sản phẩm) Phần còn lại của thương mại nội ngành là thương mại nội ngành theo chiều dọc, là thương mại của các sản phẩm khác nhau hoặc các sản phẩm ở các giai đoạn khác nhau trong một ngành Phần không tương xứng của tổng thương mại (TT) trong ngành được coi là thương mại liên ngành (INT) Cụ thể như sau:
Tổng thương mại: TTi = ∑p(Xip + Mip) = Xi + Mi
Thương mại nội ngành: IITi = TTi – |Xi – Mi|
Thương mại liên ngành: INTi = TTi – IITi
Thương mại nội ngành theo chiều ngang: HITi = ∑p (Xip + Mip - |Xip – Mip|)
Khi đó thương mại nội ngành theo chiều dọc: VIITi = IITi – HIITi
Trang 5CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI NỘI NGÀNH CỦA
VIỆT NAM VỚI CÁC NƯỚC CHÂU Á 2.1 Khái quát chung về tình hình thương mại nội ngành ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, xu hướng toàn cầu hóa và hội nhập toàn cầu có tác động rất lớn đối với nền kinh tế thế giới, đặc biệt tạo điều kiện cho thương mại quốc tế phát triển cả về bề rộng lẫn bề sâu Không nằm ngoài xu hướng này, Việt Nam vẫn đang tích cực mở rộng hợp tác quốc tế, tăng cường thương mại tự do giúp cho nền kinh tế nội địa liên tục tăng trưởng Đóng góp vào sự phát triển đó không thể không kể đến vai trò to lớn của thương mại nội ngành
Trước hết ta tìm hiểu kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với một số nước Châu Á tiêu biểu có tỷ trọng thương mại lớn trong giai đoạn 2011-2015 qua biểu đồ dưới đây
Biểu đồ 2.1 Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam với một số nước châu Á
năm 2011-2015
Nguồn: UNSTAT
Có thể thấy, giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam không ngừng gia tăng trong giai đoạn này Đây là một dấu hiệu tích cực cho thấy Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào các nước khu vực châu Á nói riêng và trên thế giới nói chung Tuy nhiên giá trị nhập khẩu tăng mạnh và luôn vượt mức xuất khẩu rất nhiều, điều này cho thấy nền kinh tế Việt Nam vẫn còn kém phát triển, cán cân luôn ở trạng thái nhập siêu, bị phụ thuộc nhiều vào các nước khác Trong số các đối tác kinh tế tiêu biểu thuộc khu vực Châu Á, Trung Quốc là thị trường xuất nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam Giá trị xuất nhập khẩu tại thị trường Trung Quốc cũng liên tục tăng mạnh qua các năm Kế đó
là thị trường Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan cũng có quan hệ thương mại tương đối sâu rộng với thị trường hàng hóa Việt Nam
Trang 6Việt Nam thương mại với các nước khu vực Châu Á ở cả 10 nhóm ngành lớn Tỉ trọng thương mại nội ngành của mỗi nhóm hàng này thay đổi liên tục qua từng năm
Vì vậy, dưới đây là nghiên cứu tỉ trọng của các nhóm hàng này năm 2015 để thấy được mức độ thương mại nội ngành mới nhất của Việt Nam
Bảng 2.1 Giá trị xuất nhập khẩu của các nhóm hàng lớn của Việt Nam với các
nước châu Á năm 2015
Đơn vị: USD
0 - Lương thực, thực phẩm và động vật sống 7883179028 2515880413
2 - Nguyên liệu thô, hàng phi lương thực,
trừ nhiên liệu
3007201822 1780677860
3 - Nhiên liệu, dầu mỡ nhờn và vật liệu liên
quan
3594436228 6076068053
4 - Dầu, mỡ, sáp động thực vật 192272328 528709214
5 - Hoá chất và sản phẩm liên quan 2630350917 11834842874
6 - Hàng công nghiệp phân theo nguyên liệu 7929722804 29109092324
7 - Máy móc, phương tiện vận tải và phụ
tùng
1710964632 0
55302912133
8 - Hàng công nghiệp khác 11757336433 5990939900
9 - Hàng hóa không thuộc các nhóm trên 4699445 39244732
Nguồn: UNSTAT
Trang 7Từ bảng trên, ta tính được chỉ số thương mại nội ngành cho các nhóm hàng lớn như sau:
Biểu đồ 2.2 Biểu đồ thương mại nội ngành các nhóm hàng lớn của Việt Nam với
các nước châu Á năm 2015
Nguồn: UNSTAT
Từ biểu đồ có thể thấy mức độ thương mại nội ngành của Việt Nam với các nước châu Á ở mức trung bình Các nhóm ngành có mức độ thương mại nội ngành cao nhất phải kể đến nhóm 2 (nguyên liệu thô, không ăn được, trừ nhiên liệu) chiếm khoảng 74.38% trong tổng thương mại của ngành Tiếp đến là nhóm ngành số 3 (nhiên liệu khoáng, chất bôi trơn và các vật liệu liên quan) cũng có mức độ thương mại nội ngành cao xấp xỉ nhóm ngành số 2, khoảng 74.33% tổng thương mại ngành Các nhóm ngành còn lại đều có mức độ thương mại nội ngành ở mức trung bình hoặc thấp như nhóm ngành số 5 (hóa chất và các sản phẩm liên quan) chỉ chiếm khoảng 36.37% tổng thương mại ngành hay nhóm ngành số 9 chỉ chiếm khoảng 21.39% tổng thương mại ngành
Trong các nhóm ngành nêu trên, hai nhóm ngành có mức độ thương mại nội ngành cao nhất là SITC 2 và SITC 3 Tập trung phân tích hai nhóm ngành này để thể hiện thương mại Việt Nam không chỉ phát triển theo chiều rộng mà còn theo chiều sâu
2.2 Thương mại nội ngành nhóm hàng SITC 2 (Nguyên liệu thô, hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu)
Theo thống kê của UNSTAT, nhóm hàng SITC 2 đại diện cho Nguyên liệu thô
(hàng phi lương thực, trừ nhiên liệu) Nhóm hàng này có chỉ số thương mại nội ngành cao nhất trong các nhóm hàng thương mại lớn giữa Việt Nam và các nước châu Á năm
2015 (0,7438) SITC 2 bao gồm 9 nhóm hàng nhỏ với kim ngạch xuất nhập khẩu trong năm 2015 như bảng dưới đây:
Bảng 2.2 Kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam với một số nước châu Á năm
2015 của nhóm hàng nhỏ trong SITC 2
Đơn vị: USD
Trang 8Mã hàng Nhập khẩu Xuất khẩu
21 – Da và lông thô
8,193,909 5,500,519
22 - Hạt dầu và quả có dầu
19,046,398 13,094,943
23 - Cao su thô (kể cả tổng hợp và tự
24 – Nứa và gỗ
64,467,870
1,527,786,73 4
25 - Bột giấy và giấy phế liệu
87,385,787 4,036,218
26 - Sợi dệt (trừ len cuộn, len chải khác)
và phế liệu (không được sản xuất thành
27 - Phân bón thô, trừ các loại 56 và các
khoáng chất thô (trừ than đá, dầu khí và
28 - Quặng kim loại và phế liệu kim loại 505,206,97
29 - Vật liệu động vật và thực vật thô 212,616,52
Nguồn: UNSTAT
Trang 9Từ đó ta tính được chỉ số thương mại nội ngành của các nhóm hàng này như sau: Biểu đồ 2.3 Thương mại nội ngành các nhóm hàng thuộc SITC 2 của Việt Nam
năm 2015
Nguồn: UNSTAT
Nhìn vào biểu đồ ta thấy các mã hàng SITC 28, 22 và 21 có chỉ số IIT rất cao (trên 0,8), tiếp đến là mã hàng 23, 26, 27, 29 với chỉ số IIT ở mức trung bình (0,4-0,58), cuối cùng là nhóm hàng 24, 25 với chỉ số IIT rất thấp (dưới 0,1)
Điểm chung giữa các nhóm hàng SITC 28, 22 và 21 là có chênh lệch giữa xuất
và nhập khẩu nhỏ hơn nhiều so với tổng giá trị xuất nhập khẩu Chính giá trị xuất và nhập khẩu đều cao của các nhóm hàng này đã khiến phần chênh lệch giữa chúng nhỏ dẫn tới chỉ số IIT cao
Nhóm hàng Quặng và phế phẩm kim loại (SITC 28) có chỉ số thương mại nội ngành cao nhất trong 9 nhóm trên (0,84), nguyên nhân là do chênh lệch giữa xuất và nhập khẩu (140335423 USD) thấp hơn rất nhiều so với tổng giá trị xuất và nhập khẩu (870078517 USD) Đây là một trong những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam
đi các nước đặc biệt là Trung Quốc do có trữ lượng mỏ kim loại lớn, đa dạng, trong năm 2015 giá trị xuất khẩu là 364,871,547 USD Tuy nhiên, Việt Nam cũng nhập khẩu rất nhiều mặt hàng này (505,206,970 USD) là do:
• Thứ nhất, các chính sách của chính phủ nhằm khuyến khích nguồn vốn FDI đã làm gia tăng các doanh nghiệp, đặc biệt các doanh nghiệp trong ngành công nghiệp nặng (sản xuất thép, cơ khí, điện tử…) khiến nhu cầu sử dụng kim loại tăng cao
• Thứ hai, công nghệ khai khoáng của chúng ta vẫn còn lạc hậu, quá trình khai thác còn nhiều vướng mắc dẫn tới không đáp ứng được đầy đủ và kịp thời nhu cầu sản xuất các doanh nghiệp, nên các doanh nghiệp sẽ chọn nhập khẩu để giảm thiểu chi phí, rủi ro
Trang 10• Thứ ba, mỏ quặng là tài nguyên không tái sinh, hiện nay Việt Nam cũng như các quốc gia khác đang thực hiện chính sách giảm dần lượng xuất khẩu loại tài nguyên này, lưu trữ để sử dụng hợp lý
Cũng như nhóm hàng SITC 28, nhóm hàng Hạt dầu và quả có dầu (SITC 22) có chỉ số IIT ở mức rất cao là 0,81 do chênh lệch giữa xuất và nhập khẩu (5951455 USD) thấp hơn nhiều so với tổng giá trị xuất nhập khẩu (32141341 USD) Việt Nam xuất khẩu nhiều mặt hàng này đặc biệt là đậu nành, lạc, dừa… với giá trị 13,094,943 USD Bên cạnh đó, giá trị nhập khẩu mặt hàng này cũng rất lớn (19,046,398 USD) nhất là dầu oliu, dầu hướng dương Việt Nam nhập khẩu dầu thực vật từ các thị trường như Malaixia, Indonesia, Thái Lan… trong đó Malaixia là nguồn cung chính, chiếm 75,8% thị phần, tiếp đến là Indonesia Lượng nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu là do ngành hạt có dầu không chỉ đáp ứng nhu cầu dầu thực phẩm của các hộ gia đình, dầu trong ngành chế biến thực phẩm mà còn đáp ứng nhu cầu của ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm và thủy hải sản Nhu cầu hạt có dầu và các sản phẩm hạt có dầu của Việt Nam đang ngày càng gia tăng do dân số tăng và sự phát triển kinh tế kéo theo nhu cầu các thực phẩm
sử dụng dầu và các sản phẩm hạt có dầu cũng gia tăng Trong khi đó, sản lượng hạt có dầu tăng rất chậm, do năng suất không tăng mà diện tích đất trồng đậu tương – cây chủ lực cho hạt có dầu ở Việt Nam – bị cạnh tranh gay gắt với các loại cây trồng khác do yếu tố lợi nhuận Kết quả là Việt Nam phải phụ thuộc rất nhiều vào hạt có dầu và các sản phẩm hạt có dầu thực vật nhập khẩu, đẩy giá thành tăng lên, đặc biệt với ngành thức ăn chăn nuôi
Nhóm hàng Da và lông thú thô (SITC 21) có chỉ số IIT cao là 0,80 Da và lông là nguyên liệu đầu vào chủ yếu cho các ngành công nghiệp chiếm tỷ trọng lớn ở Việt Nam như dệt may, da, da giày nên có giá trị nhập khẩu lớn (8,193,909 USD), đồng thời, Việt Nam cũng dồi dào về mặt hàng này nên xuất khẩu đi rất nhiều với giá trị là 5,500,519 USD Cũng như 2 nhóm ngành trên chênh lệch giữa xuất và nhập khẩu (2693390 USD) nhỏ hơn nhiều so với tổng lượng xuất nhập khẩu (13694428 USD) khiến chỉ số IIT của nhóm này cao