Trong khoảng giữa thập niên 1950 năm 1957, những chính sáchđầy tham vọng của Mao Trạch Đông về Đại nhảy vọt nhằm tập trung hóa sản xuất tại cácvùng nông thôn, sự chấm dứt viện trợ tái th
Trang 1I NỀN KINH TẾ TRUNG QUỐC SAU 40 NĂM MỞ CỬA
1 Kinh tế Trung Quốc trước cải cách 1978
Từ năm 1949, Trung Quốc đã theo đuổi một chiến lược phát triển công nghiệp nặng
xã hội chủ nghĩa (hay chiến lược Cú hích Lớn theo cách gọi của kinh tế học) Ưu tiêncông nghiệp hóa đồng thời triệt để tiết giảm tiêu dùng theo chính sách "thắt lưng buộcbụng" để tập trung các nguồn lực cho công nghiệp hóa Chính phủ đã giữ quyền kiểm soátmột phần lớn nền kinh tế và chuyển các nguồn lực sang xây dựng các nhà máy Nhiềungành mới đã được tạo lập Kinh tế tăng trưởng mạnh Việc kiểm soát chặt ngân sách vàcung tiền tệ đã làm giảm lạm phát cuối năm 1950
Năm 1952, tổng sản lượng công nghiệp của Trung Quốc ước tính là 34.900 triệuNhân dân tệ theo tỷ giá hối đoái thực tế, nghĩa là bằng 3% tổng sản lượng công nghiệp thếgiới lúc đó và gấp 1,5 lần của Nhật Bản và Ấn Độ theo giá trị tuyệt đối (không theo giá trịbình quân đầu người) Trong khoảng giữa thập niên 1950 (năm 1957), những chính sáchđầy tham vọng của Mao Trạch Đông về Đại nhảy vọt nhằm tập trung hóa sản xuất tại cácvùng nông thôn, sự chấm dứt viện trợ tái thiết và phát triển từ phía Liên Xô, sự thô sơ của
hệ thống quản lý sản xuất, sự tàn phá của thiên tai đã khiến nền kinh tế lâm vào nguyngập, nạn đói Hậu quả là kinh tế suy thoái, nông nghiệp bị tàn phá, công nghiệp ngưngphát triển, trên 20 -30 triệu người đã chết vì những nguyên nhân phi tự nhiên Nền kinh tếTrung Quốc tiếp tục suy thoái trong 10 năm Cách mạng văn hóa
2. Nền kinh tế Trung Quốc trong giai đoạn cải cách, mở
cửa a) Giai đoạn đầu chuyển đổi thể chế kinh tế (1978 - 1991)
Trước 1978, chế độ công xã nhân dân thực hiện trong 20 năm ròng kèm với nhữngmặt trái của cơ chế tập thể hóa ruộng đất, kết quả là hiệu suất nông nghiệp thấp, nông dân
đi vào bước đường cùng Trong tình cảnh không biết đi về đâu, nông dân đòi phải được
4
Trang 2khoán ruộng đất Và chế độ khoán ruộng đất ấy rất hiệu nghiệm, nhanh chóng lan rộngtrên toàn quốc, mang lại Trung Quốc những thay đổi mà cả thế giới đều phải thừa nhận.Vào năm 1978, dự trữ ngoại tệ của Trung Quốc chỉ có 167.000.000 USD, rất thấp.
30 năm sau, đến năm 2008, con số này đã vượt quá 1.700 tỷ USD, gấp 10.000 lần.Trongthời kỳ đầu cải cách, Đặng Tiểu Bình dựa vào “nguồn vốn lớn tập trung đầu tư”, dùngtiền CNTB để xây dựng Trung Quốc Kêu gọi đầu tư nước ngoài là nhiệm vụ hàng đầucủa chính phủ Nhưng mọi việc không thuận lợi, những nhà đầu tư nhanh chóng phát hiện
ra rằng, một nước Trung Quốc với môi trường chính sách dao động không rõ ràng, thiết bị
và cơ sở hạ tầng vô cùng lạc hậu, vì thế không phải là một nước lý tưởng cho việc đầu tư.Ngay khi nhận ra kế hoạch này không thể thực hiện được, Đặng Tiểu Bình lập tức thayđổi chiến lược, ông bắt đầu tập trung vào cải tạo mấy chục ngàn xí nghiệp nhà nước, tậptrung xây dựng đặc khu ở những nơi có vị trí heo hút, thực lực kinh tế thấp kém tại miềnNam, cụ thể là Thâm Quyến, để từ đó thu hút vốn đầu tư và kỹ thuật của nước ngoài.Đảng Cộng sản Trung Quốc với phương châm “giải phóng tư tưởng, thực sự cầuthị”, chuyển trọng tâm công tác từ “lấy đấu tranh giai cấp làm cương lĩnh” sang “lấy xâydựng kinh tế làm trung tâm” nhằm mục tiêu xây dựng hiện đại hóa xã hội chủ nghĩa Giaiđoạn đầu tập trung vào chuyển đổi thể chế kinh tế với việc “khoán ruộng đất”, “phát triển
xí nghiệp hương trấn” ở nông thôn, sau đó tiến hành mở rộng thí điểm quyền tự chủ kinhdoanh của xí nghiệp quốc hữu ở thành phố, tiến hành mở cửa, xây dựng đặc khu kinh tế,xây dựng các loại thị trường Việc xây dựng các đặc khu kinh tế (SEZs) ở Trung Quốctương đối thành công SEZs đã phát huy được vai trò “cửa sổ” và “cầu nối” có ảnh hưởngtích cực đối với trong và ngoài nước SEZs của Trung Quốc đã đạt được thành công bướcđầu trong sự kết hợp giữa kế hoạch và thị trường Những năm 1984 - 1991, cải cách xínghiệp quốc hữu là trọng tâm, cải cách giá cả là then chốt trong toàn bộ cuộc cải cách.Trong giai đoạn chuyển đổi thể chế kinh tế (1979 - 1991), Trung Quốc đã tìm tòi, tổ chứcthí điểm, từng bước tiếp nhận cơ chế thị trường, sửa chữa những khuyết điểm của thể chếkinh tế kế hoạch
b) Giai đoạn xây dựng khung thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (1992
- 2002)
Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, tình hình thế giới diễn ra những biến đổi tolớn và sâu sắc Hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, Liên Xô giải thể, đảng cộng sản ở cácnước Đông Âu mất địa vị cầm quyền Chiến tranh lạnh kết thúc, nhiều nước tiến hànhđiều chỉnh chính sách phát triển kinh tế - xã hội, đối ngoại
Trang 3Tại Trung Quốc, sự nghiệp cải cách, mở cửa đối mặt với nhiều thách thức to lớn.Vấn đề cải cách, mở cửa thành công hay thất bại, đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (họXã) hay tư bản chủ nghĩa (họ Tư) thổi bùng các cuộc tranh luận (đại luận chiến) Trướctình hình đó, Đảng Cộng sản Trung Quốc chủ trương gác lại các cuộc tranh luận, tiếnhành “Ba điều có lợi” (có lợi cho phát triển sức sản xuất xã hội chủ nghĩa, có lợi cho đấtnước, có lợi cho đời sống nhân dân), mạnh dạn xông pha vào thực tiễn và lấy thực tiễn đểkiểm nghiệm Đại hội XIV Đảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1992) nêu mục tiêu xâydựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh mở cửa Đây được coi là cuộcgiải phóng tư tưởng lần thứ hai, là mốc quan trọng trong tiến trình cải cách, mở cửa ởTrung Quốc.
Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Trung Quốc, đặc biệt là Hội nghị Trung ương 3khóa XIV (năm 1993) thông qua “Quyết định về một số vấn đề xây dựng thể chế kinh tếthị trường xã hội chủ nghĩa”, trong đó chỉ rõ: “lấy chế độ công hữu làm chủ thể, nhiềuthành phần kinh tế khác cùng phát triển, xây dựng chế độ phân phối thu nhập, lấy phânphối theo lao động làm chính, ưu tiên hiệu quả, quan tâm tới công bằng, khuyến khíchmột số vùng, một số người giàu có lên trước, đi con đường cùng giàu có”(1) Đại hội XVĐảng Cộng sản Trung Quốc (năm 1997) đã xác định mục tiêu xây dựng Nhà nước pháptrị xã hội chủ nghĩa
Trung Quốc thực hiện chế độ tỷ giá hối đoái chính thức và tỷ giá trên thị trườngsong song với nhau, đã làm nảy sinh một chợ đen hùng mạnh Đồng nhân dân tệ mất giáquá nhiều khiến cho các mặt hàng Trung Quốc xuất ra thị trường thế giới bỗng trở nên rẻ
rề, nhưng có sức thu hút rất lớn đối với nhà đầu tư nước ngoài
Các nhà kinh tế học đưa ra quan điểm “không thể ôm gọn tất cả các xí nghiệp Nhànước chỉ cần nắm chắc một số xí nghiệp đầu não nhất, còn những xí nghiệp nhỏ vừakhông đủ sức cạnh tranh, không liên quan chặt chẽ đến quốc kế dân sinh thì sẽ “bỏ qua”
Tư tưởng cải cách này khác hoàn toàn so với trước đây, mang đến chấn động lớn, nhữngthành quả của đợt cải cách này cho đến năm 2003 mới bắt đầu thể hiện ra một cách rõràng nhất
Năm 1994, là năm Đại chiến giá cả và sự hưng khởi của hàng nội địa Trung Quốc.Các công ty xí nghiệp Trung Quốc phát triển mạnh, các công ty nước ngoài cũng kéonhau tới Nếu so sánh giữa tính năng và giá cả, người tiêu dùng Trung Quốc chú ý nhiềuhơn đến giá cả sản phẩm Sản phẩm nội địa Trung Quốc có giá bằng một nửa so với công
ty nước ngoài Đó là lí do các công ty nước ngoài thua trong trận chiến về giá cả
Trang 4Năm 1997, một trận khủng hoảng kinh tế Châu Á, bắt đầu từ Thái Lan, sau đó lansang Malaysia, Philippines, Indonesia… Trung Quốc tuy không bị ảnh hưởng trực tiếp,nhưng thời gian đó với Trung Quốc thật không dễ dàng Thị trường cổ phiếu trầm lắng,thị trường tiêu dùng vắng vẻ, hàng loạt công ty đã từng sang chói rơi vào tình cảnh khókhăn, … Một chiến lược mới có tên “Quốc thoái dân tiến”, tiền vốn của nhà nước phầnlớn rút lui khỏi các lĩnh vực cạnh tranh, đồng thời nắm độc quyền những ngành nghề nhưgang, thép, hàng không, ngân hàng, …
Cuối năm 1999, ngày 15 tháng 11, Trung Quốc chính thức sở hữu tấm vé để bướcvào thế giới toàn cầu hóa WTO, kết quả là sự phất lên của những doanh nghiệp nhà nướcqui mô lớn đã lập nên kỷ lục lợi nhuận cao nhất Những tập đoàn quy mô lớn của TrungQuốc đã xuất hiện trên thị trường nước ngoài như New York, Hồng Kông…, tập thểdoanh nhân của các doanh nghiệp nhà nước bắt đầu lộ diện và thể hiện rõ bản lĩnh củamình, các công ty nước ngoài có mặt tại Trung Quốc, làm dấy lên đợt sóng tư nhân hóa.Cùng lúc ấy, sự lựa chọn ngành nghề của các công ty nước ngoài xuất hiện những chuyểnbiến tinh tế, bắt đầu đi từ lĩnh vực mang tính cạnh tranh, nhưng những công ty nước ngoàisau này phát hiện ra rằng, cạnh tranh với các công ty mới của Trung Quốc trong lĩnh vựchàng tiêu dùng thì khó thành công Sau đó chuyển sang đầu tư vào các cơ sở hạ tầngmang tính kỹ thuật cao hơn, kết quả khá thành công
Các hạng mục đầu tư tài chính của những công ty nước ngoài tăng lên khá nhanhchóng, nguồn tài chính của các công ty trong nước đang lớn mạnh trở lại và đang phấnđấu giành lấy không gian sinh tồn cho bản thân
c) Giai đoạn đẩy mạnh xây dựng thể chế kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (2002 - 2012), cải cách theo chiều sâu.
Từ sau chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, tác động của nó đến Trung Quốc hết sức
to lớn, một mặt nó điều chỉnh những căng thẳng quân sự trước đó giữa Trung – Nga theochiều hướng tích cực hơn, một mặt Trung Quốc phải đối đầu trước sự bao vây kiềm chếcủa một đối thủ vô cùng lớn mạnh là Mỹ Cùng với sự phát triển về kinh tế thì việc tăngcường quân sự, nhất là các vũ khí chiến lược lại vô cùng trở nên cấp bách Bước sang thế
kỷ XXI, “sự kiện ngày 11 tháng 9” gây chấn động toàn thế giới đặt ra cho tất cả các quốcgia đứng trước một nguy cơ mới – nguy cơ về một chiến dịch khủng bố Xuất khẩu củaTrung Quốc và Mỹ, Nhật và EU suy giảm đáng kể (vào khoảng 5%, thấp hơn rất nhiều sovới năm 2000 là 27,8%) Cuộc khủng hoảng kinh tế – tài chính bùng nổ ở Đông Nam Á
1997 tác động mạnh mẽ vào kinh tế Hồng Kông, một đặc khu hành chính của Trung
Trang 5Quốc Chính quyền Trung Quốc đã thực hiện nhiều biện pháp nhằm khắc phục khủnghoảng, trong đó có việc điều chỉnh ngoại thương mà không phá giá đồng nhân dân tệ.Những năm đầu của thập niên 20 nền kinh tế Trung Quốc đứng trước nhiều khó khăn vềmột bài toán kinh tế trong bối cảnh toàn cầu rối ren và bất ổn.
Đại hội lần thứ XVI năm 2002 khẳng định tư tưởng quan trọng “ba đại diện” về xâydựng Đảng và đề ra nhiệm vụ chiến lược “xây dựng toàn diện xã hội khá giả” trong 20năm đầu thế kỉ XXI
3. Thành tựu và vấn đề đặt ra đối với nền kinh tế Trung
Quốc a) Thành tựu
Quy mô kinh tế Trung Quốc không ngừng lớn mạnh Khi mới thực hiện cải cách và
mở cửa vào năm 1978, Trung Quốc là một trong những quốc gia nghèo trên thế giới Bốnmươi năm sau, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc tăng 33,5 lần, ước khoảng12.300 tỷ USD, chiếm 15% GDP toàn cầu, trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, sau
Mỹ Giai đoạn 1978 - 2017, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hằng năm đạt 9,5%, caohơn nhiều so với mức tăng trưởng trung bình hằng năm của nền kinh tế thế giới là 2,9%.Theo Ngân hàng Thế giới (WB), giai đoạn 2012 - 2016, hằng năm, kinh tế Trung Quốcđóng góp 34% vào tăng trưởng kinh tế toàn cầu Tiến trình công nghiệp hóa của TrungQuốc tăng nhanh, cơ cấu ngành nông nghiệp, công nghiệp - xây dựng ngày càng hợp lýhóa Ngành dịch vụ dần chiếm vị thế chủ đạo, mức tăng trưởng của ngành dịch vụ vượtqua ngành nông nghiệp, ngành công nghiệp - xây dựng, trở thành lực lượng chính thúcđẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc
Trình độ phát triển tổng thể kinh tế - xã hội được nâng cao Xét từ góc độ tăngtrưởng kinh tế, tăng trưởng kinh tế 40 năm qua của Trung Quốc thực sự là một kỳ tích.Phát triển kinh tế không chỉ bao gồm chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, mà còn là góc độ phúclợi xã hội Nếu như năm 1978, GDP bình quân đầu người ở Trung Quốc mới chỉ ở mức
156 USD, là một trong những nước nghèo nhất thế giới, nhưng đến năm 2017, GDP bìnhquân đầu người đã đạt 8.800 USD, được xếp vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao
Số người nghèo ở Trung Quốc giảm từ 770 triệu người năm 1978 xuống còn 30,46 triệungười năm 2017, tức tỷ lệ người nghèo giảm từ 97,5% năm 1978 xuống mức 3,1% năm
2017 Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo các ngành, nghề nền tảng như năng lượng, giaothông vận tải, viễn thông, khoa học, giáo dục, y tế, xây dựng cơ sở hạ tầng… cùng pháttriển Các khoản đầu tư vào khoa học - công nghệ tăng Chỉ riêng trong năm 2017, có hơn1,3 triệu đơn đăng ký sáng chế được cấp bằng sáng chế Hằng năm, hơn 3 triệu sinh viên
Trang 6chuyên ngành khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học ở các trường đại học TrungQuốc tốt nghiệp, lớn hơn gấp 5 lần so với Mỹ.
Kinh tế Trung Quốc không chỉ có tốc độ tăng trưởng nhanh chóng, mà trong các giaiđoạn khác nhau, còn thể hiện sự thay đổi trong cách thức phát triển, phù hợp với từng bốicảnh Ngay từ tháng 7-2003, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc khi đó là Hồ CẩmĐào đề xuất “kiên trì lấy con người làm gốc, thiết lập quan niệm phát triển toàn diện, hàihòa, bền vững, thúc đẩy phát triển toàn diện kinh tế xã hội và con người” Tại Đại hộiXIX Đảng Cộng sản Trung Quốc, tháng 10-2017, Tổng Bí thư Tập Cận Bình đưa ra quanđiểm “thúc đẩy nâng cấp sự chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế, xây dựng hệ thốngkinh tế hiện đại hóa, thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc phát triển theo con đường mới chấtlượng cao, bền vững”
Ảnh hưởng và đóng góp vào nền kinh tế toàn cầu của Trung Quốc không ngừng giatăng Thành tựu mà kinh tế Trung Quốc đạt được trong 40 năm cải cách và mở cửa khôngtách rời với mối quan hệ và ảnh hưởng với thị trường thế giới Là nước lớn với dân sốchiếm khoảng 18% dân số toàn cầu, ảnh hưởng của Trung Quốc đối với nền kinh tế thếgiới là rất rõ rệt Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế, Trung Quốc luôn tích cực thúc đẩyphát triển thương mại, đầu tư song phương và đa phương Trao đổi thương mại nướcngoài của Trung Quốc tăng trưởng với tốc độ trung bình hằng năm là 14,5% Kể từ khiTrung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), năm 2001, Trung Quốc thựchiện đầy đủ các cam kết đối với WTO Trung Quốc giảm đáng kể thuế nhập khẩu và cáchàng rào phi thuế quan Mức thuế trung bình giảm từ 15,3% năm 2001 xuống còn 9,8%năm 2017 Trung Quốc cũng mở cửa thị trường dịch vụ, liên tục giảm và xóa bỏ nhữnghạn chế đối với đầu tư nước ngoài, tăng cường bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ Lĩnh vựcngoại thương của Trung Quốc càng tăng trưởng thì mức đóng góp cho thị trường vàthương mại quốc tế ngày càng lớn Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 bùng
nổ, nhiều quốc gia chịu sự tác động của suy thoái kinh tế toàn cầu, tỷ lệ tăng trưởng củakim ngạch thương mại toàn cầu nằm ở mức thấp trong một thời gian dài nhưng tăngtrưởng xuất nhập khẩu của Trung Quốc tương đối ổn định, góp phần ổn định thương mạitoàn cầu
Trang 7Năm 2018, dù xảy ra xung đột thương mại Mỹ - Trung, các nhân tố bất ổn bên ngoàigia tăng, nhưng về tổng thể, nền kinh tế Trung Quốc vẫn ổn định và sự chuyển dịch cơcấu vẫn đang tiếp diễn WTO cho rằng, việc cải cách cơ cấu kinh tế của Trung Quốc sẽ cótác động tích cực đến tăng trưởng thương mại toàn cầu Sự chuyển đổi mô hình kinh tếcủa Trung Quốc từ chủ yếu dựa vào đầu tư sang tiêu dùng, xét về lâu dài sẽ giúp TrungQuốc tăng trưởng kinh tế bền vững hơn, từ đó hỗ trợ nền kinh tế toàn cầu tiếp tục tăngtrưởng Điều quan trọng hơn, với tư cách là nước đang phát triển lớn nhất thế giới hiệnnay, sự nâng cấp, chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế của Trung Quốc sẽ cung cấp bàihọc quan trọng cho các nước đang phát triển khác trong quá trình phát triển Thông qua
Trang 8cải cách và nâng cấp, chuyển đổi mô hình, cơ cấu ngành, nghề liên tục, nền kinh tế TrungQuốc sẽ an toàn hơn, có tính bền vững hơn, điều này sẽ có lợi cho cả thế giới Phát biểutại Hội chợ Nhập khẩu quốc tế Trung Quốc (CIIE) lần đầu tiên, Tổng Giám đốc WTO R.Azevedo cho biết, CIIE gửi một thông điệp rõ ràng về vai trò ngày càng tăng của TrungQuốc trong thương mại toàn cầu Trung Quốc đang ngày càng tích cực tham gia vào quátrình cải cách WTO, giúp các nước đang phát triển và kém phát triển tham gia và hưởnglợi từ hệ thống thương mại đa phương này, thông qua nhiều chương trình khác nhau.
Vấn đề đặt ra đối với kinh tế Trung Quốc hiện nay là chất lượng tăng trưởng kinh tếvẫn còn thấp, mất cân bằng, không hợp lý và không bền vững Nợ công và sản xuất thừavẫn là mối nguy tiềm tàng
Do tăng trưởng tốc độ cao trong một thời gian dài, những hệ lụy để lại cho nền kinh
tế Trung Quốc vẫn chưa được giải quyết triệt để, chưa được khắc phục kịp thời, như cạnkiệt các nguồn tài nguyên và ô nhiễm môi trường
Khoảng cách chênh lệch giàu - nghèo ngày càng rộng, phát triển không cân đối vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”, hướng tới thu nhập cao, chất lượng cao, phát triển xãhội và quản trị xã hội vẫn là những thức thức lớn
Từ năm 2018, để vận hành tốt nền kinh tế, lãnh đạo Trung Quốc cần vượt qua bathách thức lớn: xóa đói, giảm nghèo; phòng, chống ô nhiễm; phát triển từ “tốc độ cao”sang “chất lượng cao” Trọng tâm của cải cách, xây dựng hiện đại hóa của Trung Quốc sẽ
mở rộng từ kinh tế sang chính trị, xã hội
Qua bốn thập niên cải cách, mở cửa, các tầng lớp xã hội mới xuất hiện, sự chuyểndịch xã hội giữa các tầng lớp và khu vực diễn ra mạnh mẽ
Trang 9Sự xuất hiện của các tầng lớp xã hội mới, đặc biệt là tầng lớp trung lưu gắn với xâydựng xã hội khá giả sẽ là nhân tố không thể bỏ qua trong quá trình cải cách chính trị - xãhội ở Trung Quốc Việc chuyển đổi mô hình phát triển đòi hỏi Đảng Cộng sản TrungQuốc phải chuyển đổi phương thức lãnh đạo và nâng cao năng lực cầm quyền Xây dựng
và thúc đẩy pháp trị, dân chủ trở thành yêu cầu bức thiết
Cục diện thế giới có nhiều diễn biến mới với vai trò và vị thế của Trung Quốc đượcnâng cao khi tổng lượng kinh tế đã đứng thứ hai thế giới Mặt khác, Trung Quốc cũngphải đối mặt với những thách thức về vấn đề nhân quyền, dân tộc, tôn giáo, giữa cải cáchtrong nước và mở cửa đối ngoại, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước láng giềng, đặcbiệt là cạnh tranh chiến lược với các nước lớn hiện nay
II ẢNH HƯỞNG CỦA TRUNG QUỐC ĐẾN PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP
Ở VIỆT NAM
1 Sự trỗi dậy của Trung Quốc trong sản xuất và xuất khẩu hàng công nghiệp
Từ đầu thập niên 1980 đến nay, kinh tế Trung Quốc phát triển trung bình gần 10%.Kết quả là hiện nay nước này vươn lên vị trí thứ hai thế giới về GDP, mậu dịch và cólượng dự trữ ngoại tệ nhiều nhất thế giới
Sự trỗi dậy của Trung Quốc có một số đặc điểm sau:
Thứ nhất, đó là quá trình công nghiệp hóa tiến nhanh trên quy mô lớn Nhiều ngànhtrong công nghiệp chế biến, chế tác (manufacturing) phát triển trên dưới 20% mỗi nămnhư đồ điện gia dụng, xe hơi, máy tính cá nhân và nhiều loại máy móc khác Trong nhiềumặt hàng thuộc các ngành này, Trung Quốc chiếm tới trên dưới 40% sản lượng thế giới
Vì vậy mà Trung Quốc được xem là công xưởng của thế giới
Thứ hai, phát triển của Trung Quốc ngày càng dựa vào xuất khẩu Xuất khẩu ngàycàng giữ vai trò chủ đạo trong quá trình công nghiệp hóa của nước này Tỉ trọng của xuấtkhẩu trong GDP chỉ có 7% vào năm 1980 nhưng đã tăng lên 33% năm 2008 Xuất khẩucủa Trung Quốc hiện nay cũng hầu hết là hàng công nghiệp Vào những năm mới mở cửa,
tỉ trọng của hàng công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc chưa tới50% nhưng từ năm 2001 con số đó đã lên trên 90% Như vậy trong quá trình phát triển,Trung Quốc ngày càng hướng ngoại và chiếm lĩnh thị trường thế giới bằng hàng côngnghiệp
Thứ ba, phát triển của Trung Quốc còn có đặc tính là dựa nhiều vào đầu tư Trướcnăm 1992 tỉ lệ của đầu tư trên GDP vào khoảng 30% nhưng năm 2002 tăng lên 40% và
Trang 10mấy năm gần đây lên tới 50% Các tỉnh cạnh tranh đầu tư và sản xuất hàng công nghiệp,gây nên hiện tượng đầu tư trùng lặp và sản xuất thừa làm kém hiệu suất của toàn nền kinh
tế Nhưng đối với Việt nam và các nước có nền kinh tế còn nhỏ ở Đông Nam Á, hiệntượng sản xuất thừa của Trung Quốc là một trong những nguyên nhân chính làm trànngập hàng công nghiệp giá rẻ vào thị trường các nước này
Thứ tư, cơ cấu công nghiệp của Trung Quốc ngày càng chuyển dịch lên cao.Khuynh hướng này phản ảnh rõ trong cơ cấu xuất khẩu Biểu đồ 1 chia các mặt hàngthành 5 nhóm, trong đó 3 nhóm được chia theo 3 trình độ liên quan đến kỹ năng của laođộng Những sản phẩm có hàm lượng công nghệ càng cao càng cần nhiều lao động có kỹnăng cao và do đó để sản xuất và xuất khẩu được những mặt hàng này đòi hỏi nền giáodục, đào tạo, nghiên cứu khoa học phải cung cấp đủ nguồn nhân lực có trình độ tươngứng
Biểu đồ 1 cho thấy cho đến năm 2008 có tới trên 30% kim ngạch xuất khẩu củaTrung Quốc thuộc nhóm hàng công nghiệp có kỹ năng cao như máy tính, máy móc vềviễn thông, về y tế, dược phẩm, v.v Nếu kể cả nhóm hàng dùng nhiều kỹ năng vừa phảinhư xe hơi, xe máy, đồ điện gia dụng, kim khí, v.v thì tỉ trọng của 2 nhóm hàng này
Trang 11chiếm tới 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc Một điểm đáng chú ý là cácmặt hàng có hàm lượng kỹ năng thấp như may mặc, giày dép, dụng cụ lữ hành, v.v vẫncòn chiếm một tỉ trọng lớn Tỉ trọng trong xuất khẩu của Trung Quốc chỉ giảm đáng kểtrong hai lĩnh vực nông sản và nguyên liệu Điều này cho thấy các loại hàng công nghiệp,
từ trình độ thấp đến trình độ cao Trung Quốc đều hiện diện trên thị trường thế giới với sốlượng lớn
Nhìn ở một khía cạnh khác, sự trỗi dậy của Trung Quốc không phải chỉ tạo ra tháchthức đối với khu vực Á châu và thế giới Trung Quốc phát triển mạnh không phải chỉnhập khẩu tài nguyên, năng lượng mà còn trở thành một thị trường tiêu thụ hàng côngnghiệp nhập khẩu từ nước ngoài Như Biểu đồ 2 cho thấy, từ năm 1990 đến 2008, nhậpkhẩu của Trung Quốc tăng 18 lần Trong 983 tỉ USD nhập khẩu năm 2008, hàng côngnghiệp chiếm trên 60%, đặc biệt riêng các loại máy móc chiếm khoảng 40% Từ cùngnguồn tư liệu như trong Biểu đồ 1, ta tính thử tỉ trọng của các loại máy móc trong tổngxuất khẩu của Trung Quốc thì thấy con số đó là 47.5% Nhìn từ hàm lượng kỹ năng tronghàng xuất khẩu, Biểu đồ 2 cũng cho thấy khuynh hướng tương tự Máy móc là các loạisản phẩm có nhiều bộ phận, linh kiện, công đoạn nên trong nội bộ mỗi ngành, các công ty
đa quốc gia (MNCs) triển khai phân công lao động trên quy mô toàn cầu, hình thành cácchuỗi cung ứng Từ đầu thập niên 1990, Trung Quốc đã thành công trong việc thu hút đầu
tư nước ngoài (FDI) tập trung trong các ngành chế tạo các loại máy móc từ trung cấp (như
đồ điện gia dụng) đến cao cấp (như máy tính, máy chụp hình kỹ thuật số) làm thành cáccụm công nghiệp ở các tỉnh ven biển, nhất là ở tam giác sông Châu Giang tỉnh QuảngĐông Qua đó, Trung Quốc tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, vừa xuấtkhẩu vừa nhập khẩu các mặt hàng thuộc nội bộ các ngành này Hiện nay có hơn 50% kimngạch xuất và nhập khẩu của Trung Quốc do MNCs thực hiện, nhất là MNCs có gốcNhật, Hàn Quốc và Đài Loan