Các quy định của CPTPP về sở hữu trí tuệ Về sở hữu trí tuệ được nêu trong chương 18 của hiệp định này.. Vì thế, chính sách và pháp luật phảiđược ban hành để bảo hộ tài sản trí tuệ nhằm x
Trang 1I GIỚI THIỆU CHUNG VỀ HIỆP ĐỊNH THƯƠNG MẠI CPTPP VÀ VẤN ĐỀ SỞ HỮU TRÍ TUỆ (SHTT) Ở VIỆT NAM
1 Hiệp định thương mại CPTPP
1.1 Lịch sử
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (tiếng Anh: Trans-Pacific
Partnership Agreement - viết tắt TPP) là một hiệp định/thỏa thuận thương mại
tự do được ký kết giữa 12 nước vào ngày 4 tháng 2 năm 2016 tại Auckland,New Zealand sau 5 năm đàm phán với mục đích hội nhập các nền kinh tế thuộckhu vực châu Á-Thái Bình Dương Thỏa thuận ban đầu được cácnước Brunei, Chile, New Zealand và Singapore ký vào ngày 3 tháng 06, 2005 và
có hiệu lực ngày 28 tháng 05 năm 2006 Sau đó, thêm 5 nước đàm phán để gianhập, đó là các nước Australia, Malaysia, Peru, Hoa Kỳ, và Việt Nam Ngày 14tháng 11 năm 2010, ngày cuối cùng của Hội nghị thượng đỉnh APEC tại NhậtBản, lãnh đạo của 9 nước (8 nước trên và Nhật Bản) đã tán thành lời đề nghị củatổng thống Obama về việc thiết lập mục tiêu của các cuộc đàm phán thuộc Hộinghị thượng đỉnh APEC năm 2011 diễn ra tại Hoa Kỳ.Vào cuối năm 2016, saukhi tổng thống Mỹ Donald Trump đắc cử, theo chính sách mới của DonaldTrump, Mỹ đã chính thức rút khỏi hiệp định này
Ngày 11 tháng 11 năm 2017, các bộ trưởng TPP đã đạt được thoả thuận cơ bảncho hiệp định TPP-11, đồng thời thống nhất tên mới cho hiệp định là Hiệp địnhĐối tác Toàn diện và Tiến bộ Xuyên Thái Bình Dương (CPTPP -Comprehensive and Progressive Agreement for Trans-Pacific Partnership)
1.2 Phạm vi đàm phán
CPTPP sẽ giúp cắt giảm hàng rào thuế quan giữa 11 quốc gia thành viên vớitổng sản phẩm quốc nội (GDP) lên đến 10 nghìn tỷ USD, tương đương hơn 13%nền kinh tế thế giới
11 quốc gia thành viên CPTPP gồm có Australia, Brunei, Canada, Chile, NhậtBản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam
Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), tiền thân của CPTPP, với 12quốc gia thành viên, liên tục gặp sóng gió khi Tổng thống Donald Trump tuyên
bố rút Mỹ khỏi hiệp định này chỉ ba ngày sau khi nhậm chức Ông Trump chobiết quyết định này nhằm bảo vệ người lao động Mỹ
11 quốc gia thành viên còn lại đã thống nhất bản sửa đổi của hiệp định vàotháng 1 vừa qua Hiệp định này sẽ có hiệu lực khi có ít nhất 6 quốc gia hoàn tấtquá trình phê chuẩn trong nước
Trang 21.3 Những điểm mới của CPTPP so với TPP
Thứ nhất, đó là thay đổi về tên gọi TPP cũ có tên đầy đủ là Hiệp định Đối tác
xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Partnership) Hiệp định mới lần này đã
bổ sung 2 từ "Toàn diện" (Comprehensive) và "Tiến bộ" (Progressive) vào têngọi chính thức
Đây là hiệp định rất toàn diện, bao gồm nhiều lĩnh vực không chỉ về thương mại
mà còn đầu tư, sở hữu trí tuệ và nhiều vấn đề, nguyên tắc khác Về bản chất làcao hơn, tiến bộ hơn so với các hiệp định đã được ký kết trước đây Và vấn đềchúng ta đang quan tâm ở đây là lĩnh vực sở hữu trí tuệ đã được bổ sung
Thứ hai, số lượng thành viên trong Hiệp định CPTPP mới còn 11 nước, bao gồm
Úc, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru,Singapore và Việt Nam, với quy mô kinh tế chiếm khoảng 13,5% GDP và15,2% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu, thấp hơn khá nhiều so với quy môcủa TPP khi có Mỹ (38.2% GDP và 26.5% kim ngạch thương mại toàn cầu)
Mặc dù Mỹ rời khỏi nhưng quy mô của CPTPP vẫn khá lớn và bao hàm một sốthị trường quan trọng với Việt Nam như Nhật Bản, Úc, Canada, Mexico …trong khi gánh nặng thực thi các điều khoản đã giảm đáng kể so với trước Do
đó, Việt Nam vẫn sẽ tìm được những nguồn lợi ích tương đối lớn khi tham giaHiệp định này Hơn nữa, hầu hết các quốc gia tham gia đàm phán đều kỳ vọng
sự quay lại của Mỹ trong tương lai, nên CPTPP sẽ là bước đầu để thúc đẩy liênkết và hợp tác trong khu vực
Thứ ba, thay đổi về hiệu lực của Hiệp định Theo quy định của TPP cũ, để Hiệp
định có hiệu lực thì tổng GDP của các nước triển khai phải bằng 85% tổng GDPcủa 12 nước đã ký từ năm 2013 Như vậy, với tình huống Mỹ, quốc gia chiếmtới 60% GDP toàn khối, rút lui khỏi TPP, thì 11 nước còn lại sẽ phải thay đổiđiều khoản hiệu lực để CPTPP có thể bắt đầu Theo đó, chỉ cần ít nhất 6 quốcgia thành viên ký phê chuẩn thì Hiệp định sẽ có hiệu lực sau 60 ngày kể từ ngàyký
Sự thay đổi này đã tạo điều kiện thuận lợi để CPTPP có thể dễ dàng được thựchiện trong bối cảnh hiện nay Ngoài ra, Hiệp định mới còn bổ sung các quy định
về quy trình rút lui, gia nhập, rà soát lại CPTPP trong tương lai, tạo tính linhhoạt của Hiệp định và có thể sẵn sàng cho những đợt kết nạp thành viên mới
Cuối cùng, CPTPP có khoảng 20 nội dung bị tạm hoãn so với TPP cũ, chủ yếu
là các cam kết cứng rắn về sở hữu trí tuệ mà Mỹ là quốc gia đề xuất trước đây
Cụ thể, có 11/20 điều khoản liên quan đến sở hữu trí tuệ, bảo vệ chặt chẽ quyềnlợi của người sở hữu sáng chế CPTPP sẽ hoãn việc yêu cầu các nước thành viênthay đổi luật và thông lệ của mình để bảo vệ các dược phẩm mới, bao gồm cảchế phẩm sinh học, không bị cạnh tranh bởi các thuốc gốc (generic drug)
Trang 3CPTPP cũng đình chỉ quy định về gia hạn thời hạn bản quyền trong nhữngtrường hợp do sự chậm trễ cuả cơ quan cấp bằng hoặc những trì hoãn bất hợp lýtrong việc cấp bản quyền, cũng như cấp phép nhập khẩu một loại dược phẩmnào đó vào các nước thành viên Ngoài ra, các nước thành viên của Hiệp địnhmới sẽ không cần phải gia hạn thời gian bảo hộ bản quyền từ 50 lên 70 năm …
1.4 Các quy định của CPTPP về sở hữu trí tuệ
Về sở hữu trí tuệ được nêu trong chương 18 của hiệp định này Đây là nội dungmới được bổ sung sau khi đổi tên hiệp định thành CPTPP Chương 18 được sơlược như sau:
Chương 18 (Sở hữu trí tuệ)
(a) Điều 18.8: Đối xử Quốc gia
(b) Điều 18.37: Đối tượng có thể được Cấp bằng Độc quyền Sáng chế
(c) Điều 18.46: Điều chỉnh Thời hạn Bằng sáng chế do sự chậm trễ không lý docủa Cơ quan cấp Bằng sáng chế
(d) Điều 18.48: Điều chỉnh Thời hạn Bảo hộ Sáng chế do bị rút ngắn bất hợp lý (e) Điều 18.50: Bảo hộ Dữ liệu thử nghiệm bí mật hoặc Dữ liệu bí mật khác (f) Điều 18.51: Sinh phẩm
(g) Điều 18.63: Thời hạn bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan
(h) Điều 18.68: Các biện pháp Công nghệ Bảo vệ Quyền (TPMs)
(i) Điều 18.69: Thông tin Quản lý Quyền (RMI)
(j) Điều 18.79: Bảo hộ Tín hiệu cáp và Tín hiệu vệ tinh mang chương trìnhđược Mã hoá
(k) Điều 18.82: Chế tài pháp lý và Khu vực an toàn
Phần phụ lục
2 Giới thiệu về sở hữu trí tuệ
2.1 Khái niệm sở hữu trí tuệ
a) Khái niệm
Sở hữu trí tuệ là một thuật ngữ được cấu tạo bởi hai cụm từ là cụm từ “sở hữu”
và cụm từ “trí tuệ” Muốn hiểu rõ khái niệm này, cần phải tìm hiểu nghĩa cả haicụm từ “sở hữu” và “trí tuệ”
“Sở hữu” là khái niệm dùng để chỉ sự chiếm hữu của con người đối với tài sản.Của cải vật chất trong xã hội là những giá trị hữu hình hoặc vô hình đem lại lợiích thiết thực cho người sở hữu Hay nói cách khác, của cải vật chất này chính là
Trang 4tài sản Có hai loại tài sản, tài sản hữu hình và tài sản vô hình Tài sản trí tuệ làtài sản vô hình.
“Trí tuệ” là thuật ngữ chỉ “khả năng nhận thức lý tính của con người đạt đếnmột trình độ nhất định” về một sự vật hay hiện tượng nào đó Tài sản trí tuệ làkết quả nghiên cứu thông qua hoạt động lao động sáng tạo của con người vàđem lại cho người sáng tạo những lợi ích thiết thực
Sở hữu trí tuệ là sở hữu tri thức, sở hữu những sản phẩm sáng tạo của bộ óc conngười Một cách dễ hiểu, sở hữu trí tuệ là việc chiếm hữu, sử dụng và hưởng thụlợi ích có được từ các sản phẩm sáng tạo đó Do đặc tính vô hình của tri thức,của loại tài sản trí tuệ nên khó có thể xác định được đặc điểm vật chất của sởhữu trí tuệ
Một người đầu tư công sức, tiền bạc để viết một cuốn sách nhưng sau khi công
bố thì thông tin trong cuốn sách trở thành của chung và ai cũng có thể sử dụng
và hưởng thụ thông tin đó Như vậy, từ giác độ kinh tế, nếu không có một cơ chếhoàn trả chi phí thì sẽ không thể khuyến khích các chủ thể sáng tạo, càng khôngthể phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức Vì thế, chính sách và pháp luật phảiđược ban hành để bảo hộ tài sản trí tuệ nhằm xác lập, thừa nhận, củng cố quyền
sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện cho tài sản trí tuệ phát triển và đóng góp vào sự tăngtrưởng kinh tế của đất nước
b) Mục tiêu của luật sở hữu trí tuệ
* Ngăn chặn được sự sản xuất và tiêu thụ hàng giả, hàng nhái Hàng giả, hàngnhái đều là những sản phẩm vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và gây thiệt hại chonhà sản xuất chân chính cả về doanh thu và uy tín Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
sẽ giúp loại bỏ các sản phẩm này ra khỏi thị trường, đảm bảo quyền lợi của cảnhà sản xuất chân chính và người tiêu dùng
* Khuyến khích sáng tạo tại chỗ và chuyển giao công nghệ Nhiều nhà phátminh trong nước và các nhà đầu tư nước ngoài thường nản lòng khi không cóchế độ bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đủ mạnh ở nước sở tại, họ không có độnglực để sáng tạo và cũng không muốn đem công nghệ mới hoặc nghiên cứuphát triển công nghệ ở nước sở tại vì sợ bị mất bí mật công nghệ
Từ góc độ vật chất, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là nhằm đảm bảo cho ngườisáng tạo có thể khai thác giá trị kinh tế từ các sản phẩm sáng tạo của mình để bùđắp lại công lao sáng tạo
Trang 5Việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ luôn gắn với thời hạn bảo hộ Hết thời hạn này,các sáng tạo trở thành tài sản chung của nhân loại và tất cả mọi người có thểkhai thác, sử dụng mà không phải xin phép hoặc trả thù lao cho người sáng tạo.Trong thời gian bảo hộ sáng chế, những người khác chỉ được sử dụng thông tin
về sáng chế để nghiên cứu chứ không phải để kinh doanh, trừ phi đã được người
sở hữu bằng sáng chế cho phép
2.2 Hệ thống luật Sở hữu trí tuệ ở Việt Nam
a) Quá trình hình thành luật
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam, được Quốc hội Việt Nam khóa XI trong kỳ họp
thứ 8 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 7năm 2006, là luật quy định về quyền tác giả, quyền liên quan đến quyền tácgiả, quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng và việc bảo
hộ các quyền đó
Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam bảo vệ các quyền như sau:
1 Quyền sở hữu trí tuệ: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ,bao gồm quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu côngnghiệp và quyền đối với giống cây trồng
2 Quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sángtạo ra hoặc sở hữu
3 Quyền liên quan đến quyền tác giả: quyền của tổ chức, cá nhân đối vớicuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệtinh mang chương trình được mã hóa
4 Quyền sở hữu công nghiệp: quyền của tổ chức, cá nhân đối với sángchế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tênthương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu
và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh
5 Quyền đối với giống cây trồng: quyền của tổ chức, cá nhân đối với giốngcây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc đượchưởng quyền sở hữu
6 Tên thương mại: tên gọi của tổ chức, cá nhân dùng trong hoạt động kinhdoanh để phân biệt chủ thể kinh doanh mang tên gọi đó với chủ thể kinh doanhkhác trong cùng lĩnh vực và khu vực
b) Đối tượng của Luật SHTT
Trang 6Người ta đã nhóm các loại hình sáng tạo của con người thành một số loại đốitượng của quyền sở hữu trí tuệ sau đây:
1 Những vấn đề còn tồn tại về vấn đề SHTT ở Việt Nam
Hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở nước ta được bắt đầu triển khai từnhững năm 80, nhưng chỉ từ khi Quốc hội ban hành bộ Luật Dân sự (năm 1995)thì hoạt động này mới bắt đầu tiến triển Đặc biệt, từ khi Quốc hội ban hànhLuật Sở hữu trí tuệ (năm 2005) và Việt Nam là thành viên chính thức của WTOthì hoạt động này trở nên sôi động với tất cả các dạng tài sản trí tuệ được bảo hộ,bao gồm: bản quyền tác giả và các sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệuhàng hóa, tên gọi xuất xứ và chỉ dẫn địa lý, giống cây trồng mới Từ năm 2005đến nay, việc đăng ký và cấp chứng nhận bảo hộ tăng bình quân hằng năm 20%
Về quyền tác giả, nhiều cuốn sách hay của nước ngoài đã được mua bản quyềntác giả để dịch và xuất bản ở trong nước Về quyền sở hữu công nghiệp, đăng kýnhãn hiệu hàng hóa tăng 25% - 30%, đăng ký bảo hộ các sáng chế cũng tăng10% - 15%, nhưng phần lớn (chiếm trên 65%) là của nước ngoài đăng ký ở Việt
Trang 7Nam Thời gian được cấp chứng nhận quyền sở hữu trí tuệ sau khi hoàn tất thủtục chỉ trong hai tháng (nếu không xảy ra tranh chấp), đây là những kết qủa khá
ấn tượng Trong những nhận định đánh giá, nhất là đánh giá của một số đối tácquan trọng trong kinh tế (đầu tư, thương mại) trong quá trình đàm phán gia nhậpWTO của Việt Nam là EU, Thụy Sĩ, Nhật Bản, Mỹ và Ô-xtrây-li-a đều có chungnhận định rằng Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng các văn bảnpháp luật về sở hữu trí tuệ nhưng vấn đề thực thi là một điểm yếu cần phải khắcphục
Thực tế, tình trạng vi phạm luật sở hữu trí tuệ và xâm phạm quyền sở hữu trí tuệđang biểu hiện ở các mặt sau:
a) Có tính phức tạp và có dấu hiệu phổ biến
+ Về quyền tác giả, những vi phạm với tác giả nước ngoài đã giảm (chỉ xảy ramột, hai vụ bị kiện) trong mấy năm gần đây, nhưng trong nước thì tình trạngxuất bản, điện ảnh, nhiếp ảnh, nghệ thuật tạo hình bị sao chép nhiều (như tranh
ký tên Bùi Xuân Phái hay Nguyễn Tư Nghiêm trên thị trường nhiều gấp ba, bốnlần số tranh đích thực do hai họa sĩ này vẽ) Nghệ thuật biểu diễn, công nghiệpghi âm, ghi hình, sao chép lậu sách báo, phim ảnh, các chương trình biểu diễn canhạc, chương trình truyền hình cũng ở tình trạng tương tự (như các phim doTrung tâm truyền hình Việt Nam, Chương trình "Gặp nhau cuối tuần" bị in bántràn lan trên thị trường, nguy hiểm hơn đã có nhiều phim và chương trình truyềnhình của VTV bị đánh cắp, biên tập lại và phát hành băng đĩa lậu tại Việt Nam,
Mỹ, Ô-xtrây-li-a, châu Âu ) Sự xâm phạm quyền tác giả của các tác phẩm vănhọc, nghệ thuật, thậm chí cả khoa học và nổi bật nhất là những phần mềm máytính vẫn diễn biến phức tạp (đặc biệt có vụ in lậu số lượng lớn sách giáo khoamới phát hiện vào tháng 8-2007)
+ Đối với sở hữu công nghiệp, vi phạm xảy ra phổ biến nhất là với các nhãnhiệu hàng hóa và kiểu dáng công nghiệp Tuy vậy, các dạng tài sản khác cũng đã
có xâm phạm như: chỉ dẫn địa lý (do sự nổi tiếng của nước mắm Phú Quốc nên
có nhiều hãng trong nước và nước ngoài đã gắn tên sản phẩm của họ bằng nhãn
Trang 8hiệu "Nước mắm Phú Quốc" để dễ dàng tiêu thụ sản phẩm); tên thương hiệu(điển hình là vụ khiếu kiện đặt tên "Vang đỏ Đà Lạt" gây nhầm lẫn cho ngườitiêu dùng với sản phẩm có tiếng "Vang Đà Lạt" đã xin bảo hộ nhãn hiệu hànghóa); và gần đây xuất hiện các vụ việc xâm phạm sáng chế và giống cây trồng.Cũng không kém phần nghiêm trọng là mọi chủng loại sản phẩm hàng hóa đều
có hàng nhái, hàng giả từ hàng tiêu dùng thông thường như thực phẩm, đồ uống,quần áo, giày dép, đồ dùng vệ sinh cá nhân, đến đồ gia dụng, phương tiện máymóc hoặc các sản phẩm cao cấp, đặc dụng như mỹ phẩm, dược phẩm (ví dụcác sản phẩm Sunligh, P/S, Sunsilk, Clear, Dove và Lifebuoy của hãng UnileverViệt Nam); sao chép kiểu dáng (nhái phông chữ, thương hiệu, kiểu dáng bao bìtương tự của Công ty Acecook Việt Nam sản xuất và kinh doanh mì ăn liền;hoặc mang các chỉ dẫn địa lý giả mạo Xâm phạm sở hữu trí tuệ còn xảy ra cả ởkhu vực sản xuất, chế biến, lưu thông và xuất nhập khẩu (do thiếu hiểu biết vềluật lệ quốc tế mà không ít trường hợp nhà sáng chế Việt Nam bỏ lỡ quyền củamình như máy quay băng Vũ Hùng, võng xếp Vĩnh Lợi), trong đó phổ biến nhất
là ở khâu nhập khẩu Hàng nhái, hàng sao chép phi pháp, hàng có chứa yếu tố viphạm có mặt cả ở thành thị lẫn nông thôn, được bày bán cả ở các sạp hàng nhỏ,tại các chợ lẫn ở các trung tâm thương mại hiện đại và các siêu thị Hành vi xâmphạm xảy ra ở mọi thành phần kinh tế: tư nhân, nhà nước và liên doanh, thậmchí ở cả một số doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài (tuy nhiên chỉ có một sốtrường hợp hãn hữu)
b) Mức độ nghiêm trọng của tình trạng xâm phạm sở hữu trí tuệ đang gia tăng.Theo thống kê sơ bộ, số vụ vi phạm về sở hữu trí tuệ vào đầu những năm 90 thế
kỷ xx chỉ có vài chục vụ, thì đến nay đã tăng đáng kể Như, năm 1994 chỉ có 48
vụ (trong đó, 1vụ xâm phạm sáng chế, 6 vụ xâm phạm kiểu dáng công nghiệp và
41 vụ xâm phạm nhãn hiệu hàng hóa), năm 2003 là 326 vụ (với số tương ứng là
23, 43 và 260), đến năm 2006 đã tăng lên gần 500 vụ (tương ứng 60, 152 và288) Số liệu đó cho thấy việc xâm phạm quyền sở hữu công nghiệp khôngnhững gia tăng về số lượng, mà bắt đầu xảy ra ngày càng nhiều với các sáng chế
Trang 9và giải pháp hữu ích Về chất lượng hoặc hình thức, cách đây một thập niên sựxâm phạm dễ phát hiện và phân biệt với hàng chính hiệu, còn hiện nay lâm vàotình trạng thật giả lẫn lộn, rất khó phân biệt, nhận biết Việc nhái các nhãn hiệu,kiểu dáng bao bì không chỉ xảy ra với các sản phẩm tiêu dùng thông thường
mà đã và đang xảy ra với những sản phẩm có công dụng và chức năng đặc biệtnhư thuốc chữa bệnh, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, sắtthép xây dựng, xi-măng
Về quyền tác giả, việc sao chép tác phẩm không chỉ xảy ra với các sản phẩmgiải trí như băng đĩa ca nhạc, phim ảnh và không chỉ thực hiện bởi những ngườibuôn bán thuần túy, mà còn xảy ra cả với các sản phẩm nghiên cứu, sáng tác,phần mềm Việc mạo nhận tác giả, sao chép từng phần hoặc toàn bộ tác phẩm,xào xáo lại tác phẩm xuất hiện ở một số lĩnh vực Cùng với đà phát triển côngnghệ, phương tiện và công nghệ sao chép, bắt chước ngày càng được cải tiến và
có mặt ở Việt Nam ngày một nhiều, nên sản phẩm vi phạm được sản xuất với sốlượng lớn và tốc độ tăng nhanh Thực tế, nhiều người buôn bán, nhiều cửa hàngbăng đĩa ở các thành phố lớn đều bán băng đĩa sao chép lậu, thậm chí tỷ lệ cònlớn hơn băng đĩa có bản quyền
Mặt khác, một bộ phận lớn dân cư không có khả năng tiếp cận với sản phẩmchính hiệu giá cao, nhu cầu chất lượng bị giá cả của sản phẩm đẩy xuống hàngthứ yếu, do đó trong thực tế đang tồn tại một mâu thuẫn lớn giữa cung và cầuđối với sản phẩm trí tuệ
Từ thực trạng trên, có thể rút ra một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất, cơ chế bảo đảm thực thi chưa được hoàn thiện và chưa phát huy đúngmức, biểu hiện vụ việc được giải quyết ở tòa án rất ít ỏi, mà chủ yếu được giảiquyết ở các cơ quan hành chính, cùng với các quy định đã có nhưng mới chỉdừng ở nguyên tắc chứ chưa đủ chi tiết, nên việc áp dụng các chế tài bị lẫn lộn
và thiếu hiệu quả Trình tự dân sự đáng lẽ phải được coi là biện pháp chủ yếunhưng các quan hệ dân sự thông thường đã bị hành chính hóa một cách quámức
Trang 10Thứ hai, các tổ chức bảo đảm thực thi chưa thực sự phù hợp Chúng ta tuy cónhiều cơ quan (mỗi cơ quan lại có nhiều cấp: tỉnh, huyện) có chức năng và thẩmquyền xử lý hành chính về sở hữu trí tuệ , nhưng năng lực chuyên môn củachính hệ thống này lại chưa đáp ứng với đòi hỏi của thực tế Hiện nay, tại cáctòa án và các cơ quan bảo đảm thực thi sở hữu trí tuệ khác có rất ít cán bộ đượcđào tạo về lĩnh vực này.
Thứ ba, sự hiểu biết của toàn xã hội đối với vấn đề bảo hộ sở hữu trí tuệ còn hạnchế: chưa hình thành tập quán tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ, các chủ thể sở hữutrí tuệ chưa chủ động thực hiện việc bảo vệ quyền và tài sản của mình mà cònmang nặng tâm lý trông chờ, ỷ lại vào Nhà nước Đây còn là lĩnh vực mới mẻvới đa số cán bộ, công chức nhà nước và gần như hầu hết các doanh nghiệp,nhất là các doanh nghiệp nhỏ và vừa Mạng lưới dịch vụ về sở hữu trí tuệ còn rấtmỏng, số chuyên gia dịch vụ mới chỉ có khoảng gần 200 người với trên 30 công
ty cung cấp dịch vụ này Thông tin sở hữu trí tuệ đang là một trong các khâu yếunhất của hoạt động sở hữu trí tuệ, với năng lực tài nguyên thông tin có tại ViệtNam về sở hữu trí tuệ thuộc loại trung bình, song chưa được phát huy đầy đủ, sốlượt người khai thác thông tin sáng chế rất thấp chỉ khoảng hơn 1.000 lượtngười/năm ở cả ba trung tâm tư liệu sáng chế: Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh
và Đà Nẵng và phần lớn các yêu cầu tra cứu là về nhãn hiệu hàng hóa và kiểudáng công nghiệp
Thứ tư, do ảnh hưởng từ mặt trái của quá trình hội nhập kinh tế, thực tế khôngphải mọi loại hàng nhái, hàng xâm phạm sở hữu trí tuệ đều được sản xuất ở ViệtNam, mà một khối lượng hàng hóa loại đó được sản xuất ở nước ngoài rồi đưavào Việt Nam theo nhiều đường, bằng nhiều cách để tiêu thụ