Tín ngưỡng tôn giáo là một nhucầu tinh thần của nhân dân, nhưng tôn giáo với tư cách là một thực thể xã hội đã luôn hoạt động và tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với cả hai
Trang 3Chương 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI 8
VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO HOÀ HẢO VÀ ĐẶC ĐIỂM
CỦA PHẬT GIÁO HOÀ HẢO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1 Phật giáo Hoà Hảo – Sự ra đời và đặc điểm cơ bản 8
1.2 Nhận thức chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động của
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI 37
HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO Ở VIỆT NAM VÀ
Chương 3: XU HƯỚNG HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA 63
HẢO VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO
HÒA HẢO
3.1 Xu hướng hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo 633.2 Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối 71với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo ở Việt Nam hiện nay
KẾT LUẬN 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Tôn giáo là một thực thể xã hội xuất hiện rất sớm trong lịch sử loàingười và có ảnh hưởng đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội trongmỗi quốc gia và trên toàn thế giới Tự do tôn giáo là một trong những quyền tựnhiên của con người và phải được pháp luật bảo vệ, đồng thời đó cũng là mộtmặt của giá trị dân chủ trên thế giới hiện nay Tín ngưỡng tôn giáo là một nhucầu tinh thần của nhân dân, nhưng tôn giáo với tư cách là một thực thể xã hội
đã luôn hoạt động và tác động tới mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, với cả haimặt tích cực và tiêu cực, do đó cũng phải được nhà nước quản lý như các hoạtđộng xã hội khác Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo là một yêu cầukhách quan, nhằm đảm bảo cho các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường,đúng pháp luật; để quan hệ giữa các tôn giáo, các tín đồ thực sự bình đẳng;quyền tự do theo hoặc không theo tôn giáo của công dân được thực thi; pháthuy được mặt tích cực cũng như hạn chế mặt tiêu cực của tôn giáo và để tôngiáo không bị lợi dụng vào mục đích chính trị hay ý đồ xấu
Việt Nam là một đất nước có nhiều tôn giáo,với nguồn gốc phát sinh, dunhập, phát triển và ảnh hưởng khác nhau trong đời sống xã hội Hiện nay, theo
tư liệu mới nhất, Việt Nam có hơn 24 triệu người theo đạo, chiếm 27% dân số
cả nước, có 14 tôn giáo và hơn 40 tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước côngnhận tư cách pháp nhân và cấp đăng ký hoạt động Các tôn giáo có gần 82.000chức sắc, nhà tu hành và hơn 250.000 chức việc, có hơn 25.000 cơ sở thờ tự vànhiều học viện, trường đào tạo các nhà hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp
Chức sắc, tín đồ các tôn giáo đa số là nhân dân lao động, có tinh thầnyêu nước, gắn bó cùng dân tộc, là một bộ phận quan trọng của khối đại đoànkết dân tộc, tham gia đấu tranh, góp phần giành độc lập tự do của dân tộc, cũngnhư trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Xã hội chủ nghĩa
Trang 5biến hoà bình” của các thế lực thù địch, các tôn giáo, tín ngưỡng ở nước ta
hoạt động đa dạng và phức tạp; thậm chí có hoạt động bị kẻ xấu kích động đã
đi ngược lại lợi ích của dân tộc, cũng như lợi ích của đại đa số tín đồ
Trong các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo nộisinh, ra đời ở tỉnh An Giang và ảnh hưởng chủ yếu ở các tỉnh đồng bằng sôngCửu Long, có nhiều đặc điểm mang đậm nét văn hóa, tính cách của người dânNam bộ Dưới thời kỳ Việt Nam bị đế quốc Pháp xâm chiếm, Phật giáo HòaHảo với giáo lý dễ hiểu, lễ nghi đơn giản dễ thực hành, tỏ ra rất phù hợp vớihoàn cảnh kinh tế - xã hội của nhân dân lao động, nên đã được đông đảo quầnchúng nhân dân tiếp nhận và không ngừng tăng nhanh Tuy nhiên, Phật giáoHòa Hảo cũng bị các thế lực thù địch lợi dụng nhằm chống phá cách mạng.Mặt khác, nội bộ đạo cũng nảy sinh mâu thuẫn, chia rẽ sâu sắc và không dừnglại ở vấn đề nội bộ, mà đã trở thành vấn đề xã hội phức tạp
Năm 1999, Phật giáo Hòa Hảo được Nhà nước công nhận tư cách phápnhân và sự kiện này đã kịp thời động viên tinh thần, đáp ứng nguyện vọngchính đáng của tín đồ Từ đó đến nay, với tinh thần khép lại quá khứ, hướng tớitương lai, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo luôn phát huy tinh thần đại đoàn kết dântộc, tích cực phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, làm tốt công tác từ
thiện nhân đạo Những đóng góp của Phật giáo Hòa Hảo với phương châm “Vì đạo pháp, vì dân tộc” là rất to lớn và thiết thực cho công cuộc xây dựng, phát
triển quê hương, đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn một số tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tham gia
sinh hoạt, hoạt động tôn giáo chưa đúng tinh thần “Vì dân tộc”, chưa “Tuỳ tài, tuỳ sức, nỗ lực hy sinh cho xứ sở” như lời dạy của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ.
Nhiều vụ việc liên quan đến Phật giáo Hoà Hảo rất phức tạp, kéo dài, gây không
ít khó khăn trong công tác quản lý nhà nước Trong đó, một số đối tượng cựcđoan ở tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ, hoạt động gây mất an ninh trật tự
Trang 6trong nhiều năm Các vấn đề, như xây dựng cơ sở thờ tự không phép; xin lại,đòi lại, phục hồi lại cơ sở thờ tự; lợi dụng hoạt động từ thiện xã hội mà chínhquyền chưa kiểm soát được Tất cả đều đòi hỏi phải được giải quyết từphương diện quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo.
Xuất phát từ những yêu cầu bức thiết về nhận thức và thực tiễn nêu trên,
tôi chọn đề tài “Quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo
ở Việt Nam hiện nay”, làm luận văn tốt nghiệp cao học ngành Chính trị học,
chuyên ngành Quản lý xã hội
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trước năm 1975 các công trình của Phật giáo Hòa Hảo có: “Nguyễn Văn Hầu với các tác phẩm: “Nhận thức Phật giáo Hoà Hảo”, “Năm cuộc đối thoại
về Phật giáo Hoà Hảo”, “Thất Sơn mầu nhiệm”, “Muốn về cõi Phật”,…các tác phẩm này đã đi sâu vào các vấn đề pháp môn “Học Phật -Tu Nhân”, giáo
lý, giáo luật và lễ nghi của Phật giáo Hòa Hảo
Sau năm 1975, các nghiên cứu về Phật giáo Hoà Hảo có nhiều kết quả,
thể hiện qua các công trình: “Một số tôn giáo ở Việt Nam” của Ban Tôn giáo Chính phủ (1993); Phạm Bích Hợp có luận án PTS Dân tộc học về “Đời sống
xã hội và tâm lý nông dân người Việt ở làng Hoà Hảo tại An Giang trước và sau 1975”, các tác phẩm này đã tổng quan về Phật giáo Hòa Hảo với tư cách
là một tổ chức tôn giáo (có giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tín đồ), đời sống tâm lýcủa tín đồ Phật giáo Hòa Hảo và người dân không có đạo ở làng Hòa Hảo
Năm 1997, Bùi Thị Thu Hà có luận văn Thạc sĩ: “Đảng bộ An Giang vận động quần chúng tín đồ Phật giáo Hoà Hảo tham gia kháng chiến chống
Mỹ cứu nước từ năm 1954-1975” Viện Nghiên cứu khoa học – Bộ Công an có
đề tài về Phật giáo Hoà Hảo nghiên cứu ở cấp độ nghiệp vụ, đã nhận diện rõnét về tính chính trị và tính tôn giáo của Phật giáo Hòa Hảo từ khi ra đời đến
khi có Nghị quyết số 24 (1990) của Bộ Chính trị “Về tăng cường công tác tôn giáo trong tình hình mới”.
Trang 7Từ năm 1999 khi Phật giáo Hoà Hảo được Nhà nước công nhận nhiềucông trình nghiên cứu ở các góc độ khác nhau.
Năm 2001, Ban Tôn giáo Chính phủ có đề tài: “Khảo sát thực trạng Phật giáo Hoà Hảo – kiến nghị và chủ trương, chính sách”.
Đề tài (2001), “Thực trạng, xu hướng phát triển Phật giáo Hòa Hảo ở nước ta hiện nay” thuộc đề tài cấp Nhà nước “Xu hướng phát triển tôn giáo ở nước ta hiện nay và những vấn đề đặt ra đối với công tác lãnh đạo, quản lý”
do TS.Nguyễn Thị Nga làm chủ nhiệm, đã phân tích về thực trạng, xu hướng
và đề xuất giải pháp đối với tôn giáo này từ phương diện công tác tôn giáo
Năm 2004, Phan Bá Tài có luận văn tốt nghiệp đại học về “Phật giáo Hoà Hảo ở Đồng Tháp thực trạng và chính sách”.
Nguyễn Thanh Xuân (2005), Một số tôn giáo ở Việt Nam, Nxb Tôn giáo,
Hà Nội Trong cuốn sách tác giả đề cập đến các tôn giáo lớn ở Việt Nam và đã
có nhiều trang nói về sự hình thành và phát triển; về giáo lý, giáo luật; về sựphân hóa nội bộ và hoạt động liên quan đến lĩnh vực chính trị của tôn giáo này
Năm 2006, Bùi Văn Hải có luận văn Thạc sĩ Triết học “Về công tác tôn giáo đối với Phật giáo Hoà Hảo hiện nay” Luận văn phản ánh thực trạng Phật
giáo Hòa Hảo, quá trình thực hiện chính sách đối với tôn giáo này và đề xuấtgiải pháp cho công tác đối với Phật giáo Hòa Hảo Đến năm 2013, tác giả Bùi
Văn Hải đã phát triển luận văn này thành đề tài luận án tiến sỹ: “Phật giáo Hoà Hảo – lịch sử và những vấn đề hiện nay” với sự mở rộng và sâu sắc thêm
nhiều vấn đề căn cốt của Phật giáo Hòa Hảo trong lịch sử và hiện tại
Phạm Bích Hợp (2007), Người Nam bộ và tôn giáo bản địa, Nxb Tôn
giáo Cuốn sách giới hạn ở việc khảo sát và kiến giải về đạo Cao Đài, Bửu Sơn
Kỳ Hương và Phật giáo Hòa Hảo từ góc độ tâm lý Tác giả đã dành một số trangnói về Phật giáo Hòa Hảo, tóm tắt về Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ và khảo sát vềảnh hưởng của nó trong đời sống tinh thần ở đồng bằng sông Cửu Long
Trang 8Đoàn Nô (2007), Phật giáo Hòa Hảo ở Miền Tây Nam bộ, Nxb Văn hóa
Sài Gòn, đã bàn về lịch sử hình thành, phát triển của Phật giáo Hòa Hảo và ảnhhưởng ở miền Tây Nam bộ
Đề tài khoa học (2012), Tổng kết lịch sử đấu tranh chống các thế lực thù địch phản động lợi dụng Phật giáo Hòa Hảo (1975 – 2010), Cục A88 - Bộ
Công an chủ trì Đề tài đã khái quát lịch sử đấu tranh chống các thế lực phảnđộng lợi dụng Phật giáo Hòa Hảo và rút ra các bài học kinh nghiệm
Bùi Thị Thu Hà (2012), Phật giáo Hòa Hảo tri thức cơ bản, trình bày
tương đối toàn diện về tôn giáo này từ khi ra đời cho đến nay; về đồng bàoPhật giáo Hòa Hảo đồng hành cùng dân tộc trong hai cuộc kháng chiến chốngPháp và Mỹ, góp phần vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước
Các công trình đó nghiên cứu đó đã làm sáng tỏ về nguồn gốc lịch sử,giáo lý, giáo luật, lễ nghi, tổ chức, thực trạng, nguyên nhân, xu hướng pháttriển và các giải pháp lãnh đạo, quản lý đối với Phật giáo Hoà Hảo, cũng như lýluận chung về tôn giáo Vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phậtgiáo Hoà Hảo, với tính cách là một đề tài chuyên sâu cả về lý luận và thực tiễn,vẫn là một đòi hỏi của hôm nay
Thực hiện đề tài luận văn này, các công trình nghiên cứu về Phật giáoHòa Hảo là tư liệu quý giá để tác giả tham khảo và kế thừa biện chứng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát về Phật giáo Hòa Hảo, lý luận quản lý nhà nước,thực trạng công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo,tác giả đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạtđộng của Phật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam hiện nay
3.2 Nhiệm vụ
Trang 9+ Khái quát đặc điểm của Phật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam và những nhậnthức chung về quản lý nhà nước đối với tôn giáo này.
+ Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáoHoà Hảo ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra
+ Dự báo xu hướng vận động và đề xuất các giải pháp nhằm tăng cườngquản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam hiệnnay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động củaPhật giáo Hòa Hảo ở Việt Nam hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động củaPhật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam từ năm 1999 đến nay (khi Phật giáo Hòa Hảođược nhà nước công nhận tư cách pháp nhân)
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện dựa trên quan điểm của chủ nghĩa Mác –Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; quan điểm, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước ta đối với tôn giáo nói chung và với Phật giáo Hoà Hảonói riêng
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng những phương pháp luận của chủnghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; những phương pháp nghiên cứuchuyên ngành quản lý xã hội và các phương pháp nghiên cứu liên ngành củatôn giáo học, xã hội học, chính trị học, luật học,
6 Đóng góp mới về khoa học của luận văn
Trang 10Thứ nhất, luận văn khảo sát làm rõ thực trạng quản lý nhà nước đối với
hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo
Thứ hai, luận văn đề xuất giải pháp nhằm tăng cường quản lý nhà nước
đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo ở Việt Nam hiện nay
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy lý luận về tôn giáo nói chung và Phật giáo Hòa Hảo nói riêng
7.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn góp phần xây dựng, hoàn thiện chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước về tôn giáo nói chung và với Phật giáo Hoà Hảo nói riêng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục, luận văn có kết cấu gồm 3 chương và 6 tiết
0
Trang 11PHẬT GIÁO HOÀ HẢO
VÀ NHẬN THỨC CHUNG VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO HOÀ HẢO
1.1 Phật giáo Hoà Hảo – Sự ra đời và đặc điểm cơ bản
1.1.1 Sự ra đời của Phật giáo Hoà Hảo
1.1.1.1 Bối cảnh và điều kiện ra đời của Phật giáo Hoà Hảo Thứ
nhất, về bối cảnh địa lý khai sinh ra Phật giáo Hòa Hảo.
Với vị trí giáp biên giới Việt Nam - Campuchia (khoảng 30 km), làng Hoà Hảo là một địa danh mới được hình thành từ cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ
XIX Từ xa xưa, nơi đây cùng với vùng núi Thất Sơn hợp thành "Châu Đốc Tân Cương" được coi là nơi biên viễn xa xôi hiểm trở của miền Tây Nam Bộ.
Làng Hòa Hảo là một làng thuần nông và do đất chật, người đông, đã hìnhthành một vùng dân cư sầm uất Làng Hoà Hảo - nơi sinh ra và là trung tâmPhật giáo Hoà Hảo thuộc quận Tân Châu, tỉnh Châu Đốc trước đây, ngày naythuộc huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
Thứ hai, về bối cảnh kinh tế của đất nước.
Đầu những năm 1930, bắt nguồn từ chính sách “đại khai thác” của thựcdân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ nhất, Việt Nam bước vào cuộc khủnghoảng kinh tế nặng nề và kéo dài, cuộc sống nhân dân đói khổ cùng cực Nam
bộ, nhất là đồng bằng sông Cửu Long, là trọng điểm cho chúng vơ vét, bóc lộtnhân dân đến mức kiệt quệ; thiên tai, dịch bệnh, nạn đói hoành hành… cànglàm tăng thêm nỗi thống khổ của nhân dân lao động đã bùng lên nhu cầu tínngưỡng, tôn giáo
Thứ ba, về bối cảnh chính trị - xã hội.
Trang 12hưởng lẫn nhau ở Việt Nam, làm cho tình hình nước Việt Nam thuộc địa vốn
đã căng thẳng lại càng căng thẳng thêm Trong khi đó, Nhà nước phong kiếnViệt Nam và hệ tư tưởng của nó đang suy tàn, thì sự phản động của Nhà nướcbảo hộ và bản chất kẻ xâm lược ngày càng lộ rõ Hệ tư tưởng tư sản đã tỏ ra bấtlực; một số trí thức yêu nước cũng bị bế tắc về đường lối Niềm hy vọng và chỗdựa vững chắc của nhân dân lao động lúc bấy giờ là Đảng Cộng sản Song, vàothời kỳ này, Đảng cộng sản bị thực dân Pháp và triều đình Huế đàn áp khốc liệtnên phong trào yêu nước tạm thời đi vào thoái trào
Trong hoàn cảnh đó, mâu thuẫn giữa nhân dân ta với thực dân, phongkiến tay sai càng trở nên sâu sắc Khi các phong trào cách mạng bị đàn áp vàchịu tổn thất nặng nề thì một bộ phận quần chúng, trong đó phần lớn là nôngdân, mất phương hướng, khủng hoảng niềm tin, cộng thêm trình độ dân trí thấpkém, đời sống cùng cực, quần chúng đã tìm đến tín ngưỡng, tôn giáo, cầumong có được chỗ dựa tinh thần và đó là tất yếu Vì vậy, khi ông Huỳnh Phú
Sổ đứng ra khai đạo Phật giáo Hòa Hảo thì những người nông dân miền TâyNam bộ đã nhanh chóng tìm đến, tự nguyện làm tín đồ
Thứ tư, về tiền đề tư tưởng.
Đó là sự suy thoái của các tín ngưỡng, tôn giáo đương thời ở Nam bộ
Sự suy vi của Phật giáo Bắc tông truyền thống kéo dài từ mấy thế kỷ trước,nhưng đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX càng thêm trầm trọng; thứ đến làNho giáo - chỗ dựa của chế độ phong kiến, tỏ ra không thích hợp với thay đổimọi mặt của xã hội Nam bộ Còn các tôn giáo khác mới du nhập, như Cônggiáo và Tin lành, cũng không phát triển được vì gắn với thực dân đế quốc, lạikhác lạ về văn hoá, lối sống
Trong sự mở rộng và củng cố lãnh thổ phía nam Tổ quốc, các tộc ngườiChăm, Hoa, Khơme đã cùng người Việt khai hoang lập ấp đã có mối quan hệgắn bó trong mọi lĩnh vực xã hội, tạo ra những nét đặc trưng văn hoá của một
Trang 13vùng vừa phong phú về nội dung vừa đa dạng về hình thức Nam bộ còn là nơi
có nhiều tôn giáo: Hồi giáo, Công giáo, Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân HiếuNghĩa, Cao Đài Theo đó, làm nảy sinh quá trình dung hợp, tiếp biến văn hoánhư các tôn giáo địa phương tiếp biến giáo lý từ nhiều tôn giáo khác nhau.Ngoài ra, thiên nhiên đa dạng, phức tạp, cùng với trình độ dân trí có hạn lạiđược giải thích một cách huyền bí, cũng là nguyên nhân dẫn đến việc xuất hiệnnhiều đạo mang tính cứu thế suốt thế kỷ XIX và rộ lên vào cuối thế kỷ XIXđầu thế kỷ XX, với hai địa điểm là miền Thất Sơn và núi Bà Đen Những đạonày (đạo Nằm, đạo Ngồi, đạo Dừa, Bửu sơn kỳ hương, Tứ ân hiếu nghĩa…) đã
có ảnh hưởng lớn đến sự xuất hiện đạo Cao Đài và Phật giáo Hoà Hảo
Những năm 30 của thế kỷ XX Việt Nam xuất hiện “phong trào chấn hưng Phật giáo” Cuộc vận động chấn hưng Phật giáo không chỉ có mục tiêu là
chấn chỉnh tổ chức và tín ngưỡng Phật giáo để nó thích hợp với xã hội đươngthời, mà còn để nâng cao nhận thức đối với giáo lý, nâng cao tư duy lý luận củaPhật tử, nâng cao sự hiểu biết của người dân Việt Nam đối với Phật giáo.Thôngqua phong trào này, Phật giáo Việt Nam có sự phát triển mới về nội dung vàmục đích hành đạo
Kết quả của Phong trào Chấn hưng Phật giáo đã mở đường cho Phật giáocanh tân, ảnh hưởng đến các "Ông Đạo" ở Nam bộ, tạo điều kiện cho các tôngiáo mới xuất phát từ tư tưởng Phật giáo, đã ra đời Ông Đoàn Minh Huyên(1807-1856)- người sáng lập ra Bửu Sơn Kỳ Hương đã có ảnh hưởng to lớn đếnngười sáng lập cũng như đến toàn bộ nội dung của Phật giáo Hoà Hảo
Thứ năm, về người sáng lập Phật giáo Hoà Hảo:
Ông Huỳnh Phú Sổ (1920-1947) sinh tại làng Hoà Hảo, là con thứ batrong gia đình, nhưng là trưởng nam của ông Huỳnh Công Bộ (Hương Cả Bộ)
và bà Lê Thị Nhậm
Trang 14Sau khi tốt nghiệp tiểu học, ông phải bỏ học vì mắc nhiều bệnh Ông lênvùng Thất Sơn chữa bệnh và tại đây ông bắt đầu học đạo, học làm thuốc Cóthể nói đây là bước ngoặt trong cuộc đời ông.
Năm 1939, sau 5 - 6 năm ở vùng Thất Sơn chữa bệnh, Huỳnh Phú Sổ vềquê vừa bốc thuốc vừa tuyên truyền tư tưởng của đạo Đoàn Minh Huyên (BửuSơn Kỳ Hương) là "Tứ Ân Hiếu Nghĩa" Ông tự nhận là người được Đức Di đàphái xuống trần để truyền dạy những tư tưởng của Đức Phật
Ngày 18/5 năm Kỷ Mão (1939), ông Huỳnh Phú Sổ tổ chức lễ CáoHoàng Thiên, thành lập Phật giáo Hoà Hảo, hay đạo Hoà Hảo Ông Huỳnh Phú
Sổ được tín đồ tôn làm Giáo chủ (Đức Huỳnh Giáo chủ hay Đức Thày) Tronghoàn cảnh lịch sử đặc biệt ở thời đó của đất nước thì Phật giáo Hoà Hảo đượcxem là một "phương thuốc" cứu thế của một bộ phận nông dân Nam Bộ
1.1.1.2 Các giai đoạn phát triển của Phật giáo Hoà Hảo
Giai đoạn thứ nhất, từ ngày thành lập đạo (1939) đến trước năm 1975.
Từ ngày thành lập đạo (1939) đến năm 1947 là thời kỳ "hoàng kim" củaPhật giáo Hoà Hảo Ông Huỳnh Phú Sổ trở thành Phật sống vì những việc làm
và lời lẽ "siêu phàm" Chính trong khoảng thời gian ngắn này, Huỳnh Phú Sổ
đã cho ra đời 6 tác phẩm trong "Sấm giảng giáo lý"
Thời kỳ này, Phật giáo Hoà Hảo phát triển mạnh mẽ về giáo lý; hìnhthành nghi lễ ổn định, đặc biệt là việc phát triển số lượng tín đồ Thời kỳ này,người theo Phật giáo Hoà Hảo có đóng niên liễm là 2,1 triệu người Nguyênnhân cơ bản là do quần chúng ngưỡng mộ giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, tự nguyệntheo theo đạo để thoả mãn nhu cầu tinh thần và họ có đức tin bền vững
Từ năm 1947 Phật giáo Hoà Hảo chuyển sang một thời kỳ mới: có tổchức hành chính đạo, nhưng cũng là thời kỳ nó dần bị suy giảm, biến dạng
Tháng 11 năm 1964, Ban Trị sự Phật giáo Hoà Hảo nhiệm kỳ I chính thứchoạt động và đây là mốc mở đầu cho thời kỳ Phật giáo Hoà Hảo có tổ chức,
Trang 15nhưng cũng là tiền đề gây ra sự bất đồng và suy thoái trong nội bộ giáo hội Phậtgiáo Hoà Hảo chia ra 2 hệ phái, một do Lương Trọng Tường đứng đầu, (đây là
hệ phái có tổ chức quân sự), có quan hệ mật thiết với chính quyền nguỵ và đếquốc Mỹ Hệ phái khác do Nguyễn Duy Hinh - Huỳnh Văn Nhiệm đứng đầu.Phái này có ảnh hưởng lớn trong tín đồ ở miền Tây, sinh hoạt tôn giáo thuần tuý,còn đối với chính trị phải có chủ trương ôn hoà Năm 1972 xuất hiện hệ phái thứ
3 do Lê Quang Liêm làm hội trưởng Lê Quang Liêm nguyên là cố vấn kiêmgiám đốc trung tâm phổ thông giáo lý của hệ phái Lương Trọng Tường, nhưng
do mâu thuẫn mà tách ra thành lập giáo hội mới Lê Quang Liêm không phải làtín đồ thuần tuý mà là người từng hoạt động chính trị, từng phục vụ cho cả Pháp
và Mỹ, tham gia bộ máy nguỵ quyền Sài Gòn
Giai đoạn thứ hai, từ năm 1975 đến tháng 5/1999 (giai đoạn trước khi Phật giáo Hoà Hảo được công nhận tư cách pháp nhân).
Sau khi Sài Gòn giải phóng, ngày 19/6/1975, đại diện tổ đình là bàHuỳnh Thị Kim Biên và Huỳnh Văn Quốc ra thông cáo giải tán Ban Trị Sự cáccấp của Phật giáo Hoà Hảo Phật giáo Hoà Hảo từ đây không còn tổ chức hànhchính và nó tồn tại thông qua hoạt động tôn giáo của từng cá nhân tín đồ.Trong môi trường chế độ xã hội mới, sự đạo của Phật giáo Hoà Hảo vẫn duy trìbình thường
Giai đoạn thứ ba, từ tháng 5/1999 đến nay (Giai đoạn từ Đại hội lần thứ
I đến Đại hội lần thứ IV tháng 6/2014).
Phật giáo Hoà Hảo tiến hành Đại hội đại biểu toàn đạo lần thứ nhất vàotháng 5/1999, bầu chọn ra Ban Đại diện Đại hội đại biểu toàn đạo lần thứ II,tháng 6/2004, đã xây dựng Hiến chương, khẳng định đường hướng hành đạo
của Phật giáo Hoà Hảo là: "Vì đạo pháp, vì dân tộc"; kiện toàn tổ chức, bao
bồm Ban Trị sự 2 cấp: cấp toàn đạo và cấp cơ sở Đại hội đại biểu toàn đạo lầnthứ III, tháng 5/2009, đại hội nhất trí thành lập Ban Đại diện ở các tỉnh, thànhphố trực thuộc Trung ương có Phật giáo Hoà Hảo do Ban Trị sự Trung ương
Trang 16Phật giáo Hoà Hảo phân công (trước đây là Đại diện tỉnh) Tháng 6/2014 Đạihội đại biểu toàn đạo lần thứ IV Trải qua bốn nhiệm kỳ hoạt động, Phật giáoHoà Hảo đã từng bước lớn mạnh và có tổ chức giáo hội 2 cấp, gồm có 01 BanTrị sự Trung ương và 379 Ban Trị sự xã, phường, thị trấn (cấp cơ sở), cùng 13Ban Đại diện tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Đến nay, Phật giáo Hoà Hảo có 1,3 triệu tín đồ, ở 20 tỉnh, thành phố màchủ yếu là ở 09 tỉnh miền Tây Nam bộ là: An Giang, Cần Thơ, Đồng Tháp,Vĩnh Long, Bến Tre, Hậu Giang, Tiền Giang, Long An và Kiên Giang
Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo đã từng bước được củng cố vànâng cao chất lượng hoạt động Giáo hội đã vận động tín đồ tự nguyện tham gia
có hiệu quả cao trong hoạt động từ thiện- xã hội, như: xây mới và sửa chữa cầunông thôn; sửa chữa và nâng cấp đường bộ; sửa chữa và xây dựng nhà tìnhthương; quyên góp để tổ chức cứu trợ xã hội Thời gian qua, tín đồ Phật giáoHoà Hảo đã nêu cao trách nhiệm công dân sống, hoạt động theo luật pháp, kịpthời đấu tranh với những hoạt động gây chia rẽ đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn
giáo; góp phần giữ vững ổn định chính trị, xây dựng quê hương đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
1.1.2 Đặc điểm về giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức của Phật giáo Hoà Hảo
1.1.2.1 Giáo lý của Phật giáo Hoà Hảo
Kinh sách của Phật giáo Hoà Hảo do ông Huỳnh Phú Sổ viết bao gồmphần Sấm giảng giáo lý và phần Thi văn giáo lý viết theo dạng thơ sấm vãntruyền ngôn, giản dị dễ nhớ
Trang 17Hai cuốn trên đều được viết năm 1939, chứa đựng nội dung tiên trinhững cảnh lầm than trong thời kỳ Hạ nguyên, tác giả tự xưng mình được pháixuống trần làm kẻ điên để giảng đạo cho dân chúng, tỉnh ngộ họ mau mau tuniệm kẻo muộn Ông tự nhận là kẻ "điên" vì không làm theo những điều mànhững người bình thường vẫn làm trong một xã hội chạy theo những hammuốn vật chất.
- Cuốn 3: Sấm giảng, viết năm 1939, theo thể lục bát, dài 612 câu, trong cuốnnày ông dạy người ta phải tu nhân đạo
- Cuốn 4: Giác mê tâm kệ, viết năm 1939, thơ 7 chữ, dài 846 câu, viết về cáckhái niệm Phật giáo, như Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Ngũ uẩn, Lục trần… vàkhuyên người tu cốt ở lòng thành, không câu nệ hình thức, nghi lễ
- Cuốn 5: Khuyến thiện, viết năm 1941, gồm 756 câu thơ lục bát, kể chuyệnThích Ca ngộ đạo, luận khổ về tịnh độ, diệt ngã trược, trừ thập ác, hành thậpthiện
- Cuốn 6: Cách tu hiền và cách ăn ở của người bổn đạo, viết năm 1945, dướidạng văn xuôi Cuốn này bàn về cách tu của Phật giáo Hoà Hảo là học phật
tu nhân; lý giải Tứ Ân, Tam nghiệp, Thập ác, Bát chính đạo; quy định cáchthờ phượng, hành lễ, những kiêng kỵ, cấm kỵ Cuốn sách là kết quả của mộtthời kỳ đạo đã hình thành, phát triển, có hệ thống tổ chức, giáo luật
Phần thi văn giáo lý bao gồm những bài thi văn xướng hoạ được tập hợp lại từ năm 1939 đến 1947, gồm 253 bài văn vần và văn xuôi.
Giáo lý của Phật giáo Hoà Hảo tóm gọn trong 4 chữ: Học Phật tu nhân.Cốt lõi của học Phật tu nhân là tứ ân:
1- Ân tổ tiên, cha mẹ
2- Ân đất nước
3- Ân tam bảo
Trang 184- Ân đồng bào nhân loại.
Nhìn chung, giáo lý Phật giáo Hoà Hảo chứa đựng các tư tưởng của Nho,Phật, Lão, bởi "Tứ ân" là một hình thức tam giáo mà tính trội thuộc về Nho giáo,thứ đến là Đạo giáo vì dùng phù phép trừ tà chữa bệnh, cuối cùng mới đến làPhật giáo (ân Tam bảo) Nhưng đối với đạo Hoà Hảo, tư tưởng Phật giáo lại làtính trội Theo Phật giáo Hoà Hảo thì “tu nhân” tạo nên “công”, “học Phật” tạonên “đức”, có công có đức mới trở thành bậc hiền nhân
1.1.2.2 Giáo luật của Phật giáo Hoà Hảo
Tín đồ thực hiện 8 điều răn của Đức Giáo chủ:
1 Không nên uống rượu, cờ bạc, thuốc phiện, chơi bời, đàng điếm, phải giữtrọng luân lý tam cương, ngũ thường
2 Không nên lười biếng, phải cần kiệm, sốt sắng lo làm ăn và lo tu hiền chânchất, không nên gây gổ lẫn nhau, hãy tha thứ tội lỗi cho nhau trong khi nónggiận
3 Không nên ăn xài chưng diện thái quá và lợi dụng tiền tài mà quên nhânnghĩa đạo lý, đừng ích kỷ và xu phụng kẻ giàu sang, phụ người nghèo khó
4 Không nên kêu Trời, Phật, Thần, Thánh mà sai hay nguyền rủa vì thần thánhkhông can phạm đến ta
5 Không ăn thịt trâu, bò, chó và sát sinh hại vật mà cúng thần, Thánh vì ThầnThánh không bao giờ dùng hối lộ mà tha tội cho ta vì nếu ta làm tội sẽ chịutội, còn những hạng ăn đồ cúng mà hết bệnh là tà Thần: Nếu ta cúng kiếng mãithì chúng ăn quen sẽ nhiễu hại ta
6 Không nên đốt giấy, tiền, vàng, bạc, giấy quần áo mà tốn tiền vô lý, vì cõiDiêm Vương không bao giờ ăn hối lộ của ta mà cũng không xài được nữa,phải để tiền lãng phí ấy trợ cứu cho những người đói rách, tàn tật
Trang 197 Đứng trước mọi việc gì về sự đời, hay đạo đức, phải suy xét cho minh lý rồi sẽphán đoán việc ấy.
8 Tóm lại phải yêu thương lẫn nhau như con một cha, dìu dắt nhau vào conđường đạo đức, nếu ai giữ được trọn lành, trọn sáng về nơi cõi Tây phương andưỡng mà học đạo cho hoàn toàn đặng trở lại cứu vớt chúng sinh
Rõ ràng những lời khuyên răn trên là những tư tưởng tiến bộ của Phậtgiáo Hoà Hảo không chỉ phù hợp với thời kỳ trước mà còn có ích với thời nay
Về thủ tục nhập đạo:
Trước năm 1975, người nhập đạo phải tự nguyện, đủ 18 tuổi, có hai tín
đồ tiến cử và bảo lãnh Phải xin phép cha mẹ, phải nguyện trước bàn thờ ông
bà, tổ tiên Trưởng Ban trị sự cơ sở phát cho họ cuốn sách “Cách tu hiền và sự
ăn ở của một người bổn đạo” để hướng dẫn cách thờ phượng, cách hành xử
của tín đồ, coi đó là sách gối đầu giường Tín đồ mới sẽ được giới thiệu vớiBan trị sự cơ sở Sau khi nhập đạo, họ được phát thẻ tín đồ và đóng nguyệtliễm, được tham gia các sinh hoạt đạo Ai muốn ra khỏi đạo thì báo trước chongười tiến cử và Ban trị sự cơ sở để xoá tên trong danh sách
Ngày nay, người muốn vào đạo phải đủ 18 tuổi, tự nguyện viết đơn xinnhập đạo, có hai tín đồ giới thiệu Họ đến Ban Trị sự cơ sở ghi danh, học giáo
lý, giáo luật và phải xin phép cha mẹ mình về tự nguyện quy y theo đạo
Về những ngày lễ trọng:
Cho đến nay các tín đồ Phật giáo Hoà Hảo đã nhìn nhận tôn giáo của họ
có một ngày lễ trọng, đó là ngày 18/5 âm lịch hàng năm là ngày khai đạo Phậtgiáo Hoà Hảo, với tín đồ thì điều đó đã trở thành đức tin bền vững Vào ngàynày, tín đồ dù xa xôi cũng cố gắng về thị trấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh AnGiang để viếng Tổ đình Đức Giáo chủ Phật giáo Hòa Hảo và An Hoà tự
Trang 20Ngoài ra còn một số ngày lễ khác: ngày 7/3 âm lịch giỗ Đức ông, ngày26/4 âm lịch giỗ Đức Bà, ngày 12/8 âm lịch vía Phật Thầy Tây An, ngày 25/11
âm lịch ngày sinh Đức Huỳnh Giáo chủ
1.1.2.3 .3 Lễ nghi của Phật giáo Hoà Hảo Về
Đi làm ruộng khi xa nhà đến giờ cúng ngó về hướng Tây nguyện rồi xábốn hướng Đi xa nhà thì nguyện tưởng trong tâm cũng được
Về tang lễ:
Bắt nguồn từ quan niệm người thân và anh em đồng đạo thông qua cầunguyện có thể giúp cho vong linh người chết được siêu linh nơi cõi thọ, nênnghi lễ đối với người chết vẫn thực hành theo truyền thống địa phương kèmtheo sự cầu nguyện Trong tang lễ, Phật giáo Hoà Hảo không xử dụng thầycúng, không đốt vàng mã Giáo lý còn khuyên mọi người đừng nên khóc lóc
mà ảnh hưởng đến sự siêu thoát của người chết
Trang 21Về lễ vật thờ cúng:
Phật giáo Hoà Hảo thờ Phật, nhưng không bằng tượng cốt, tranh ảnh, màchỉ bằng tấm Trần Dà thay cho tấm vải Trần Điều của Bửu Sơn Kỳ Hương, cùng
một quan niệm là “Phật tức tâm, tâm tức Phật” Đồ thờ cúng Phật, cúng trời đất
thường có nước lạnh, hoa, hương và được giải thích như sau:
- Nước lạnh thể hiện sự trong sạch,
- Hoa thể hiện sự tinh thiết,
- Hương thơm xua đuổi tà khí
Lễ vật cúng ông bà tổ tiên là đồ chay hoặc mặn tuỳ ý Không dùng vàng
mã trong cúng giỗ, họ cho rằng đó là điều giả tạo, lãnh phí không cần thiết
Phật giáo Hòa hảo không lạy người lúc sống, trừ ông bà, cha mẹ Thôngthường, khi tín đồ làm lễ cầm hương vái 3 vái rồi quỳ xuống khấn theo bài quyđịnh, sau đó cầm hương đứng thẳng, chắp tay trước ngực, tiếp tục khấn lờikhấn theo quy định của Phật giáo Hòa Hảo Kết lúc việc lễ, tín đồ lạy 4 lạy.Khi làm lễ ở bàn thờ Thông thiên, lần lượt vái cả 4 hướng
Về cúng giỗ:
Ông Huỳnh Phú Sổ khuyên tín đồ không nên làm giỗ linh đình tốn kém,
vì Thánh thần, người chết không ăn được những thứ đó và không dùng vàng
mã khi cúng giỗ
Nơi thờ tự:
Tại gia đình, tại An Hoà tự, tại Tổ đình Đức Giáo chủ Phật giáo Hòa hảo
và tại chùa của Phật giáo Hoà Hảo
1.1.2.4 Tổ chức của Phật giáo Hoà Hảo
Khi mới khai đạo Phật giáo Hoà Hảo chủ trương không có hàng giáophẩm và không có tổ chức của đạo Nhưng sau này (1964) đạo phát triển mạnh,một số người có tham vọng chính trị lập ra hệ thống các Ban Trị sự từ Trung
Trang 22Dân xã mà đảng viên chủ yếu là tín đồ Phật giáo Hoà Hảo Ngoài ra, trong thờigian từ 1945 đến 1975, còn tồn tại các lực lượng vũ trang Hoà Hảo khác nhau,gần như độc lập với nhau và độc lập với hệ thống tổ chức đạo.
Hiện nay, tại Điều 4 của Hiến chương quy định Hệ thống tổ chức củaGiáo hội Phật giáo Hòa Hảo gồm 2 cấp:
- Cấp toàn đạo gọi là Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo
- Cấp cơ sở gọi là Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo xã, phường, thị trấn(gọi chung là cấp xã)
- Tại những tỉnh, thành phố có đông tín đồ Phật giáo Hòa Hảo lập Ban Đạidiện Phật giáo Hòa Hảo tỉnh, thành phố
- Ban Trị sự các cấp có tư cách pháp nhân, có con dấu và được đăng ký tàikhoản ở ngân hàng hoặc Kho bạc Nhà nước Ban Đại diện tỉnh, thành phố vàcác ban chuyên ngành, văn phòng (trực thuộc Ban Trị sự Trung ương) cócon dấu sử dụng lưu hành nội bộ theo quy định của pháp luật
Giúp việc cho Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo vànối liên hệ với cơ sở, tại mỗi tỉnh, thành phố (trực thuộc Trung ương) có BanĐại diện Phật giáo Hòa Hảo tỉnh, thành phố do Ban Trị sự Trung ương Giáohội Phật giáo Hòa Hảo bổ nhiệm
Ban Trị sự Trung ương Giáo hội Phật giáo Hòa Hảo do Đại hội Đại biểutín đồ Phật giáo Hòa Hảo toàn đạo suy cử có từ 25 đến 29 Trị sự viên, nhiệm
kỳ là 5 năm, là tổ chức hợp pháp duy nhất của Phật giáo Hòa Hảo, đại diện chotoàn thể tín đồ Phật giáo Hòa Hảo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, hoạtđộng trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa Xã hội Chủnghĩa Việt Nam (Điều 5)
Như vậy, Phật giáo Hòa Hảo là 1 tôn giáo”dung dị hóa” Phật giáo nênvới người nông dân Nam bộ, nó trở nên dễ gần, dễ theo Phật giáo Hòa Hảo có
Trang 23người giáo chủ mà tín đồ luôn sủng ái, tin tưởng dù đã “vắng bóng” từ lâu Vềmặt tổ chức, tôn giáo này từ chỗ không có để rồi như một quy luật, đến một lúcnào đó lại có tổ chức Đó là những đặc điểm của Phật giáo Hòa Hảo cần phảinắm vững từ phương diện quản lý.
1.2 Nhận thức chung về quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo
1.2.1 Lý luận về quản lý nhà nước về tôn giáo
1.2.1.1 Các khái niệm liên quan Khái
niệm quản lý:
Tùy từng mục tiêu, góc độ nghiên cứu khác nhau, người ta có thể đưa ranhững quan niệm khác nhau về “quản lý” Có quan điểm coi “quản lý” là tiếntrình bao gồm các khâu lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra của cácthành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực để đạt mục tiêu Quanđiểm khác cho rằng “quản lý” là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệthống nào đó nhằm trật tự hóa nó và hướng nó phát triển phù hợp với nhữngquy luật nhất định Mặc dù có nhiều quan niệm, song thuật ngữ “quản lý” đượcthống nhất ở hai nội dung:
- Quản lý là sự tác động mang tính tổ chức, tính mục đích của chủ thể quản lýtới đối tượng quản lý
- Mục tiêu quản lý là nhằm làm cho đối tượng quản lý hoạt động phù hợp với
ý chí của chủ thể quản lý đã định ra từ trước
Vậy, Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lýlên đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đã đặt ra từ trước
Khái niệm về tôn giáo:
Thuật ngữ tôn giáo xuất phát từ tiếng La tinh (Relegere), nghĩa là: thulượm thêm sức mạnh siêu nhiên
Trang 24Theo từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn ngữ học chủ biên xuất bản năm
2005 thì tôn giáo: "1 Hình thái ý thức xã hội gồm những quan niệm dựa trên
cơ sở tin và sùng bái những lực lượng siêu tự nhiên, cho rằng có lực lượng siêu
tự nhiên quyết định số phận con người, con người phải phục tùng và tôn thờ; 2
Hệ thống những quan niệm tín ngưỡng; sùng bái một hay những vị thần linhnào đó và những lễ nghi thể hiện sự sùng bái ấy" [58, 305]
Ở nước ta hiện nay, tôn giáo thường được hiểu từ phương diện là mộtthực thể xã hội, hơn nữa là tôn giáo có cơ cấu Đó là: tôn giáo là niềm tin củacon người vào lực lượng siêu nhiên, với một hệ thống giáo lý, giáo luật, lễ nghi
và tổ chức
Khái niệm hoạt động tôn giáo:
Điều 3, khoản 5 của Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo đã xác định: “Hoạt động tôn giáo là việc truyền bá, thực hành giáo lý, giáo luật, lễ nghi, quản lý tổ chức của tôn giáo”[27, tr 9] Như vậy có thể hiểu truyền bá giáo lý, giáo luật là
việc tuyên truyền lịch sử hình thành, phát triển, nội dung giáo lý, giáo luật, lễnghi,…của tôn giáo; thực hành giáo luật, lễ nghi (còn gọi là hành đạo) là hoạtđộng của tín đồ, nhà tu hành, chức sắc tôn giáo thể hiện sự tuân thủ giáo luật,thỏa mãn đức tin tôn giáo của cá nhân tôn giáo hay của cộng đồng tín đồ; quảnđạo là hoạt động quản lý của tổ chức tôn giáo nhằm thực hiện quy định theogiáo luật, thực hiện hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo, đảm bảo duy trìtrật tự hoạt động trong tổ chức tôn giáo
Khái niệm quản lý nhà nước:
Hoạt động quản lý bao gồm nhiều loại, trong đó quản lý xã hội là mộtdạng quản lý đặc biệt Quản lý xã hội là sự tác động có ý thức để chỉ huy, điềukhiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người phùhợp với ý chí nhà quản lý và qui luật khách quan Quản lý xã hội do nhiều chủthể tiến hành Khi Nhà nước xuất hiện, những công việc quản lý xã hội quan
Trang 25trọng nhất do Nhà nước đảm nhiệm và quản lý nhà nước ra đời Khái niệm quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa:
- Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội của nhà nước,được sử dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành
vi hoạt động của con người do tất cả các cơ quan nhà nước (Lập pháp, Hànhpháp, Tư pháp) tiến hành để thực hiện các chức năng của nhà nước đối với xãhội
- Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước là dạng quản lý xã hội mang tính quyềnlực nhà nước với chức năng chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện phápluật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dâncác cấp)
Như vậy, quản lý nhà nước là việc các cơ quan nhà nước sử dụng quyềnlực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người, phùhợp với ý chí nhà quản lý và qui luật khách quan
Khái niệm quản lý nhà nước về tôn giáo:
- Theo nghĩa rộng: Là quá trình dùng quyền lực nhà nước (Lập pháp, Hànhpháp, Tư pháp) của các cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật để tácđộng nhằm điều chỉnh, hướng dẫn các quá trình tôn giáo và hành vi hoạtđộng tôn giáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra phù hợp với pháp luật, đạtđược mục tiêu cụ thể của chủ thể quản lý
- Theo nghĩa hẹp: Là quá trình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện phápluật của các cơ quan trong hệ thống hành pháp (Chính phủ, Ủy ban nhân dâncác cấp) để điều chỉnh các quá trình tôn giáo và mọi hành vi hoạt động tôngiáo của tổ chức, cá nhân tôn giáo diễn ra theo quy định của pháp luật
Như vậy, quản lý nhà nước về tôn giáo là hoạt động của các cơ quan nhànước có thẩm quyền nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền
tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, hướng các hoạt động tôn giáo
Trang 26phục vụ lợi ích chính đáng của các tín đồ và phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam.
Khái niệm quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hoà Hảo:
Quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo là việc đảmbảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của chức việc, tín đồ tôn giáo này; là quátrình chấp hành pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật của các cơ quan trong
hệ thống hành pháp (Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp) để điều chỉnh cáchoạt động tôn giáo của cá nhân tín đồ và tổ chức Phật giáo Hòa Hảo các cấpđược diễn ra theo quy định của pháp luật
Ở luận văn, tác giả vận dụng khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp
để nghiên cứu quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo
1.2.1.2 Quản lý nhà nước đối với tôn giáo - tính tất yếu, mục tiêu, nguyên
lý nhà nước về tôn giáo thì không có tự do tôn giáo Có quan điểm, chúng ta
đã có Hiến pháp, bộ luật dân sự, hình sự quy định về tự do và bảo vệ tự do tínngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo nên không cần có phápluật riêng về tôn giáo Thực tiễn ngày nay cho thấy, các quốc gia, ở đâu có tôngiáo, hoạt động tôn giáo thì đều có sự can thiệp điều chỉnh của nhà nước
Bước vào thời kỳ đổi mới ở nước ta, công tác quản lý nhà nước đối vớihoạt động tôn giáo không những là cần thiết mà còn cần phải tăng cường Yêucầu tăng cường quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo xuất phát từnhững lý do sau:
Trang 27Thứ nhất, tôn giáo có ảnh hưởng khá sâu sắc đến đời sống xã hội, tham gia thực hiện nhiều chức năng đối với xã hội vừa mang những ưu điểm vừa có những hạn chế tiêu cực.
Để đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những mặt tích,hạn chế những tiêu cực, Nhà nước cần phải quản lý hoạt động tôn giáo, đảmbảo cho các hoạt động tôn giáo diễn ra vừa phù hợp với pháp luật, vừa phù hợpvới sự phát triển chung của xã hội
Thứ hai, không quản lý nhà nước về tôn giáo sẽ dẫn đến các tôn giáo hoạt động vô chính phủ, chèn ép, công kích lẫn nhau.
Xã hội sẽ không phát triển lành mạnh vì sự sa đà, tốn kém, về sự hiếuchiến hoặc yếm thế của một số tôn giáo, sự lợi dụng tôn giáo để phá hoại đoànkết dân tộc, an ninh quốc gia, trật tự xã hội do đó, quản lý nhà nước về tôngiáo là yêu cầu khách quan của mọi quốc gia
Thứ ba, cải cách hành chính nhà nước nói chung và quản lý hành chính nhà nước về hoạt động tôn giáo nói riêng đặt ra nhiều vấn đề về hệ thống pháp luật điều chỉnh hoạt động tôn giáo.
Hệ thống pháp luật quy định về trình tự, thủ tục hành chính và về bộ máyquản lý nhà nước về tôn giáo
Thứ tư, quá trình hội nhập, mở cửa, bên cạnh những thành quả tích cực, cũng có không ít những hạn chế, tiêu cực.
Tăng cường quản lý nhà nước, tăng cường cảnh giác để góp phần đấutranh có hiệu quả với những âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch lợidụng tôn giáo để chống lại công cuộc đổi mới đất nước của nhân dân ta
Tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo không đồngnhất với việc hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân Thôngqua tăng cường quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo, hoạt động tôngiáo chính đáng, hợp pháp được Nhà nước bảo hộ; hoạt động lợi dụng tín
Trang 28ngưỡng, tôn giáo để thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị xử lý nghiêm minh.
Từ những yêu cầu chung nêu trên, đối với Phật giáo Hoà Hảo là mộttrong các tôn giáo lớn ở nước ta và là tôn giáo có ảnh hưởng lớn tại vùng đồngbằng sông Cửu Long, với khoảng 1,3 triệu người, vì vậy việc quản lý nhà nướcđối với hoạt động của tôn giáo này là tất yếu
- Mục tiêu của quản lý nhà nước đối với tôn giáo:
Thứ nhất, phải tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, đảm bảo cho các hoạt động tôn giáo được diễn ra bình thường theo quy định của pháp luật.
Đặt ra mục tiêu này bởi lẽ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trongnhững quyền cơ bản của con người được Công ước quốc tế về các quyền dân
sự và chính trị của Liên hợp quốc ghi nhận
Cùng với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của tín đồ Phậtgiáo Hòa Hảo Quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo, cần phải phân biệt
rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần túy với hành vi lợi dụng tôn giáo để có nhữngbiện pháp quản lý phù hợp, tránh can thiệp vào công việc nội bộ tôn giáo
Thứ hai, phải đảm bảo sự tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước trong việc điều chỉnh các hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo.
Hoạt động tôn giáo phải tuân thủ những quy định của Nhà nước Khi vaitrò của Nhà nước trong điều chỉnh các hoạt động tôn giáo được tăng cường,hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với lĩnh vực này sẽ được nâng cao,các quyết định quản lý nhà nước được các tổ chức, cá nhân tôn giáo tự giácthực hiện nghiêm chỉnh, triệt để, pháp chế trong công tác tôn giáo sẽ được giữvững Làm được như vậy, quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo đã đảmbảo được vai trò lãnh đạo của Đảng trong đời sống xã hội
Trang 29Phật giáo Hòa Hảo là tổ chức tôn giáo hợp pháp được Nhà nước thừanhận và bảo hộ, vì vậy, việc điều chỉnh các hoạt động của Phật giáo Hòa Hảotheo pháp luật là mục tiêu tiếp tục được tăng cường.
Thứ ba, phát huy tinh thần đoàn kết giữa tín đồ Phật giáo Hòa Hảo với tín đồ các tôn giáo khác và đồng bào không có tín ngưỡng, tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Mục tiêu đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết lương giáo là xuyên suốtcủa quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nghị quyết số 25-NQ/TW của BanChấp hành Trung ương Đảng khóa IX về “Công tác tôn giáo” xác định mụctiêu đoàn kết dân tộc, đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, đồng bàotheo tôn giáo và đồng bào không theo tôn giáo chẳng những là một trongnhững quan điểm và chính sách lớn trong công tác tôn giáo mà còn có ý nghĩachiến lược cơ bản, lâu dài của sự nghiệp cách mạng nước ta
Thứ tư, phải phát huy được những mặt tích cực, khắc phục được những hạn chế tiêu cực của Phật giáo Hòa Hảo đối với sự phát triển của xã hội.
Cũng như các tôn giáo khác, vai trò tích cực và những hạn chế, tiêu cựccủa Phật giáo Hòa Hảo trong công cuộc đổi mới ở nước ta là rất rõ, bởi vậytrong quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo phải phát huyđược những yếu tố tích cực thể hiện trong giáo lý, giáo luật của tôn giáo Phát
huy tính hướng thiện, từ bi, bác ái, “Vì đạo pháp, vì dân tộc” của Phật giáo
Hòa Hảo Thông qua quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo HòaHảo giúp cho chức việc, tín đồ hạn chế những hoạt dộng trái với văn hóa, đạođức tốt đẹp của dân tộc và phương hại tới pháp luật Đặc biệt ngăn chặn âmmưu của các thế lực thù địch lợi dụng Phật giáo Hòa Hảo xâm phạm đến anninh chính trị, trật tự an toàn xã hội
- Nguyên tắc quản lý nhà nước đối với tôn giáo:
Trang 30Thứ nhất, nhà nước đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; nghiêm cấm sự phân biệt đối xử vì lý
do tín ngưỡng, tôn giáo.
Chủ trương công nhận Phật giáo Hòa Hảo, từng bước bình thường hóahoạt động của Phật giáo Hòa Hảo trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật củaNhà nước, bao gồm cả sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ và hoạt động của tổchức Tuy nhiên, quá trình ra đời và phát triển của Phật giáo Hòa Hảo gắn liềnvới các giai đoạn lịch sử, nó vừa mang màu sắc tôn giáo vừa mang màu sắcchính trị Nếu không nhìn nhận thấu đáo vấn đề này sẽ tạo ra những trở ngạinhất định cho công tác quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo, thậm chílàm rạn nứt khối đoàn kết lương giáo, đoàn kết dân tộc
Thứ hai, công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng mọi quyền công dân và có trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ công dân.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bảncủa con người Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sớm ý thức được tầm quan trọng củavấn đề này trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc Quán triệt, kế thừa, phát triểnquan điểm tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Người, Đảng và Nhànước ta đã không ngừng hoàn thiện chủ chương, cơ chế, chính sách, pháp luật
về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tínngưỡng, tôn giáo của mình
Thứ ba, các hoạt động tôn giáo phải tuân thủ pháp luật của nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam.
Đến nay, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điềuchỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến tôn giáo và hoạt động tôn giáo Phápluật về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trở thành một bộ phận không thể thiếutrong hệ thống pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam Công tác quản
lý nhà nước trong lĩnh vực này ngày càng được củng cố, hoàn thiện, góp phần
Trang 31quan trọng bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đoàn kếtđồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc và đấu tranh làm thất bại
âm mưu, hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo xâm phạm an ninh quốc gia
Hoạt động tôn giáo nói chung và hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo nóiriêng không chỉ thuần túy nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần của tín đồ, chứcsắc, nhà tu hành, mà còn liên quan đến các lĩnh vực đời sống xã hội Ví dụ nhưviệc xây dựng nơi thờ tự, không chỉ đơn thuần là việc củng cố, phát triển cơ sởvật chất của giáo hội, mà còn liên quan đến những quy định của Nhà nước vềđất đai, quy hoạch, xây dựng; hoạt động in ấn kinh bổn, sản xuất đồ dùng việcđạo liên quan đến những quy định về văn hóa, xuất bản; hoạt động quan hệ vớicác tổ chức, cá nhân tôn giáo nước ngoài liên quan đến chính sách, pháp luậttrên lĩnh vực đối ngoại, xuất nhập cảnh của Nhà nước Mọi hoạt động của các
cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, xã hội và mọi công dân liên quan đến cáclĩnh vực đời sống xã hội đều phải tuân thủ pháp luật của Nhà nước
Thứ tư, mọi hành vi vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống lại nhà nước Việt Nam, phá hoại sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc đều bị xử lý theo pháp luật.
Hoạt động lợi dụng các vấn đề tôn giáo, dân tộc của các thế lực phảnđộng, thù địch trong và ngoài nước để chống phá cách mạng nước ta đang diễn
ra bằng những thủ đoạn vừa tinh vi, vừa thô bạo Trong khi Phật giáo Hòa Hảobản thân có chứa đựng nhiều vấn đề lịch sử chưa được giải quyết rõ ràng, nênđòi hỏi chúng ta không được lơ là, mất cảnh giác trước những âm mưu, thủ đoạncủa các thế lực xấu Tăng cường các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn và xử lýnghiêm các hoạt động lợi dụng Phật giáo Hòa Hảo phá hoại chính sách đại đoànkết toàn dân tộc, phá hoại sự nghiệp cách mạng ở nước ta
Thư năm, giải quyết kịp thời yêu cầu chính đáng của chức việc, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo theo pháp luật, xây dựng củng cố niềm tin của chức việc, tín đồ Phật giáo Hòa Hảo vào chính sách tôn giáo của Nhà nước.
Trang 32Hầu hết tín đồ Phật giáo Hòa Hảo có niềm tin khá vững chắc vào tôngiáo, giáo chủ và giáo lý nhiệm màu của tôn giáo mình Nhu cầu sinh hoạt tínngưỡng tôn giáo của quần chúng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo là bình thường theo
tôn chỉ “Vì đạo pháp vì dân tộc” Song, trình độ học vấn, văn hóa của tín đồ
Phật giáo Hòa Hảo nhìn chung còn hạn chế, do đó, việc quan tâm giải quyếtkịp thời yêu cầu chính đáng của Phật giáo Hòa Hảo theo pháp luật của chínhquyền các cấp, sẽ góp phần củng cố niềm tin vào sự thân thiện, dân chủ, côngkhai, minh bạch của Nhà nước
- Phương pháp thức, biện pháp quản lý nhà nước về tôn giáo:
Trong quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cần sửdụng nhiều phương thức, biện pháp như:
+ Phương pháp giáo dục, thuyết phục là phương pháp hàng đầu quyết
định đến hiệu lực, hiệu quả của quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôngiáo (Nghị quyết số 24/NQ-BCT ngày 16/10/1990 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ
“Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần chúng”)
+ Quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo, đây là công cụ để
quản lý hữu hiệu nhất, bởi vì, pháp luật có tính cưỡng chế, bắt buộc mọi ngườiphải tuân theo, mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật
+ Phương pháp kinh tế là dùng những lợi ích vật chất để tác động vào
đối tượng quản lý, qua đó hướng hoạt động của đối tượng quản lý phù hợp với
ý chí của nhà quản lý
+ Phương pháp cưỡng chế (phương pháp hành chính) là phương pháp
ngoài ý muốn của chủ thể quản lý nhưng cần thiết để đảm bảo thực hiện hiệuquả quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo
Có thể nói, quản lý bằng pháp luật đối với hoạt động tôn giáo là công cụhữu hiệu nhất đối với hoạt động tôn giáo Để giải quyết tốt các vấn đề về tôngiáo cũng như thực hiện chức năng quản lý về tôn giáo đòi hỏi phải thực hiện
Trang 33kết hợp nhiều phương thức, biện pháp Các văn bản pháp luật của nhà nước vềtín ngưỡng, tôn giáo được ban hành trên cơ sở đường lối, chính sách của Đảng,thể hiện sự quan tâm, tôn trọng của Đảng, Nhà nước đối với nhu cầu tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân Mặt khác, cũng có thái độ kiên quyết đấu tranhvới mọi tổ chức, cá nhân lợi dụng tôn giáo để chống phá cách mạng, đi ngượclại quyền lợi của dân tộc Tùy theo mỗi giai đoạn cách mạng, quan điểm, chínhsách tôn giáo của Đảng, pháp luật của Nhà nước có sự điều chỉnh, bổ sung chophù hợp với tình hình phát triển của đất nước.
1.2.1.4 Nội dung của quản lý nhà nước đối với tôn giáo
Quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo bao gồm: đối tượng quản lý, nội dung quản lý và phương pháp quản lý:
Về đối tượng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo:
Đối tượng quản lý nhà nước đối với các hoạt động tôn giáo ở đây là một
cá nhân tôn giáo hoặc một cộng đồng người cùng chung một tôn giáo, trong đóbao gồm chức sắc và tín đồ, là một tổ chức hoặc nhiều tổ chức tôn giáo - mộtloại hình tổ chức mang nhiều nét khác biệt với các loại hình tổ chức chungkhác biệt được thiết lập trong xã hội Một tín đồ tôn giáo lúc nào cũng có hai tưcách: tư cách công dân và tư cách tín đồ tôn giáo mà không dễ gì có thể táchbạch hai tư cách đó một cách riêng rẽ Họ là một khối công dân như nhữngcông dân khác nhưng cùng lúc là một khối tôn giáo với một niềm tin tôn giáosâu sắc, mãnh liệt
Về nội dung chủ yếu của quản lý nhà nước đối với họat động tôn giáo:
Hiện nay, quản lý các hoạt động tôn giáo bao gồm một số nội dung chủ yếu sau:
- Ban hành các văn bản quy phạm pháp luật đối với các hoạt động tôn giáo
- Tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật đối với hoạt động tôn giáo
- Tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật đối với hoạt động tôn giáo
Trang 34- Quy định về việc phối hợp với các cơ quan nhà nước trong công tác quản lýnhà nước đối với các hoạt động tôn giáo.
- Tổ chức quản lý công tác nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chứclàm công tác tôn giáo
1.2.2 Quan điểm, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước đối với Phật giáo
Hoà Hảo
1.2.2.1 Những căn cứ của quản lý nhà nước về các hoạt động tôn giáo.
Quản lý nhà nước về hoạt động tôn giáo căn cứ vào các chủ trương, chínhsách pháp luật của Đảng, Nhà nước về công tác tôn giáo Đó là: Nghị quyết 24-NQ/TW của Bộ chính trị, ngày 16/10/1990, về "Tăng cường công tác tôn giáotrong tình hình mới"; Chỉ thị 37-CT/TW ngày 02/7/1998 của Bộ chính trị về
"Công tác tôn giáo trong tình hình mới "; Nghị quyết 25-NQ/TW ngày12/3/2003 lần thứ 7 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX "Về côngtác tôn giáo"; Thông báo số 165-TB/TW của Bộ Chính trị (khoá VIII) ngày04/9/1998 về "Chủ trương công tác đối với Phật giáo Hoà Hảo trong tình hìnhmới" và Pháp lệnh tín ngưỡng tôn giáo của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội (khoáXI) 18/6/2004; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2012 củaChính phủ quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôngiáo (thay thế Nghị định số 22/NĐ-CP); Chỉ thị số 1940/CT-TTg, ngày31/12/2008, của Thủ tướng Chính phủ về nhà đất liên quan đến tôn giáo
1.2.2.2 Về định hướng chung của Đảng, Nhà nước đối với Phật giáo Hoà Hảo.
Giải quyết vấn đề Phật giáo Hoà Hảo với tư cách là một tôn giáo, khôngphân biệt đối xử giữa đức tin Phật giáo Hoà Hảo với đức tin các tôn giáo khác,như Công giáo, Phật giáo, Cao Đài…Cảnh giác với đối tượng lợi dụng tôn giáo,nhưng không thành kiến với quá khứ của Phật giáo Hoà Hảo Bảo đảm cho tín
Trang 35pháp luật hiện hành (Thông báo số 165-TB/TW), chủ yếu gồm:
- Tăng cường công tác vận động quần chúng, tuyên truyền sâu rộng các chủtrương chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước tới quần chúng tín đồ Phậtgiáo Hoà Hảo; chăm lo xây dựng lực lượng cốt cán trong Phật giáo Hoà Hảo,đồng thời có các biện pháp hữu hiệu để nâng cao đời sống tinh thần, vật chấttrong đồng bào Phật giáo Hoà Hảo
- Phát huy tinh thần yêu nước và các nhân tố tích cực trong tín đồ Phật giáoHoà Hảo; hạn chế những mặt tiêu cực về chính trị và đời sống tín ngưỡng, tôngiáo, nhằm loại bỏ những yếu tố chính trị phản động ra khỏi Phật giáo HoàHảo; xây dựng Phật giáo Hoà Hảo trở thành một tôn giáo thuần tuý, gắn bó vớidân tộc, hoạt động tuân thủ pháp luật
- Nâng cao cảnh giác, đấu tranh ngăn chặn và xử lý đúng, kịp thời những hoạtđộng lợi dụng Phật giáo Hoà Hảo của các phần tử cơ hội phản động trongnước và ngoài nước, nhất là âm mưu chống phá cách mạng Việt Nam bằng
"diễn biến hoà bình" với chiêu bài dân chủ, nhân quyền và tự do tôn giáo củacác thế lực thù địch quốc tế
- Trên cơ sở nhìn nhận và giải quyết vấn đề Phật giáo Hoà Hảo với tư cách làmột tôn giáo hoạt động hợp pháp, Nhà nước đã cho phép Phật giáo Hoà Hảothành lập giáo hội 2 cấp; ngoài ra còn được thành lập Ban Đại diện Phật giáoHoà Hảo các tỉnh, thành phố có đông tín đồ, đây không phải là một cấp, mà làđầu mối trung gian giữa Ban trị sự Trung ương với Ban Trị sự cơ sở
- Đồng ý để Phật giáo Hoà Hảo có cờ đạo, có biểu tượng riêng, được xuất bản vàlưu hành Sấm giảng, Thi văn, Giáo lý, in chân dung giáo chủ Huỳnh Phú Sổ vàđáp ứng yêu cầu về đồ dùng việc đạo Phần thi văn không xuất bản những nộidung không có lợi cho sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc
Trang 36- Đối với cơ sở thờ tự của Phật giáo Hoà Hảo: những chùa đang sinh hoạtbình thường, không tranh chấp thì tiếp tục cho hoạt động; nếu hư hỏng,xuống cấp thì tiến hành sửa chữa theo quy định của pháp luật Một số chùađang đóng cửa hoặc Nhà nước quản lý, sử dụng cần xem xét về nguồn gốc, nếukhông tranh chấp và xét nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng chính đáng của quầnchúng thì có thể giao lại quyền sử dụng cho Phật giáo Hoà Hảo Những chùa
do lịch sử để lại nếu tranh chấp thì xem xét để giải quyết thoả đáng Vì đây làvấn đề rất nhạy cảm, tế nhị, dễ xảy ra tranh chấp mới, gây phức tạp
Không đặt vấn đề giao lại quyền sử dụng các Toà đọc giảng, Hội quán
và các cơ sở kinh tế - văn hoá của Phật giáo Hoà Hảo mà Nhà nước đang quản
lý Vấn đề cho Phật giáo Hoà Hảo xây chùa mới sẽ căn cứ vào nhu cầu chínhđáng của tín đồ và truyền thống của đạo để xem xét giải quyết phù hợp với quyđịnh chung
- Đối với trụ sở làm việc của Phật giáo Hoà Hảo:
+ Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo làm việc tại An hoà Tự, thịtrấn Phú Mỹ, huyện Phú Tân, tỉnh An Giang
+ Ban Trị sự xã, phường, thị trấn làm việc tại chùa của Phật giáo HoàHảo tại xã, nơi nào không có chùa thì mượn nhà tín đồ
+ Ban Đại diện Phật giáo Hoà Hảo ở tỉnh, thành phố làm việc tại chùaPhật giáo Hoà Hảo hoặc tại địa điểm khác do Ủy ban nhân dân tỉnh sở tại quyếtđịnh
- Ban Trị sự Trung ương Phật giáo Hoà Hảo được mở các lớp bồi dưỡng giáo lýviên và tổ chức truyền giáo cho tín đồ Phật giáo Hoà Hảo theo đúng quyđịnh của Pháp luật
Những chủ trương của Đảng và Nhà nước nêu trên đối với Phật giáoHòa Hảo là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với đặc điểm tôn giáo của Phật GiáoHòa Hảo Giúp giáo hội Phật giáo Hòa Hảo được định hình và dần đi vào ổn
Trang 37định với những chuyển biến tích cực, đặc biệt có thể nhận thấy từ một tôn giáochịu nhiều ảnh hưởng chính trị trước đây, nay đã trở lại hoạt động thuần tuý,tín đồ Phật Giáo Hòa Hảo ngày càng cởi mở, thể hiện sự gắn bó với quêhương, đất nước, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo Tuy nhiên, cơ chế, chínhsách trong việc giải quyết các khiếu nại về cơ sở thờ tự, đất đai chưa rõ ràng;hoạt động đào tạo chức việc tôn giáo chưa có quy định cụ thể, do đó trong thờitới cần tiếp tục nghiên cứu sửa đổi và bổ sung những vấn đền này nhằm đảmbảo quyền và nghĩa vụ của tín đồ Phật giáo Hòa Hảo.
1.2.3 Chủ thể quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo
Chủ thể quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo ở Trung ương
Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói chung và Phậtgiáo Hòa Hảo nói riêng ở Trung ương là các cơ quan nhà nước thuộc hệ thốnghành pháp gồm: Chính phủ, ngoài ra có các cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhânđược nhà nước trao quyền quản lý như Bộ Công an, Bộ Xây dựng, Bộ Tàinguyên và môi trường, Bộ Nội vụ - Ban Tôn giáo Chính phủ
Chủ thể quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo ở địa phương
Chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt động tôn giáo nói chung và Phậtgiáo Hòa Hảo nói riêng ở địa phươnglà UBND các cấp Ngoài ra có các cơquan nhà nước, tổ chức, cá nhân được nhà nước trao quyền quản lý như: cấptỉnh có Sở Công an, Sở Xây dựng, Sở Tài nguyên và môi trường, Sở Nội vụ -Ban Tôn giáo;… cấp huyện có Công an huyện, Phòng quản lý đô thị, PhòngTài nguyên và Môi trường, Phòng Nội vụ… và cấp xã là chuyên viên phụ tráchtôn giáo
Nhìn chung cho đến nay, chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt độngcủa Phật giáo Hòa Hảo về cơ bản đã được hoàn thiện và khá ổn định Tuynhiên nó vẫn đặt ra vấn đề tăng cường về chất lượng và hợp lý về bộ máy
Trang 381.2.4 Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo.
Căn cứ Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo; Nghị định số 92/2012/NĐ-CP,
ngày 08 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ “Quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo” và các văn bản có liên quan, nội dung
quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo gồm:
- Quản lý sinh hoạt tôn giáo của tín đồ: quản lý các cuộc lễ của tổ chức tôngiáo, việc thực hành nghi thức tôn giáo…
- Quản lý hoạt động của Ban Đại diện Phật giáo Hòa Hảo tỉnh và Ban Trị sựPhật giáo Hòa Hảo cơ sở: quản lý việc tổ chức lễ trọng, tổ chức thuyết giảnggiáo lý, hoạt động từ thiện xã hội, xây sửa tôn tạo cơ sở thờ tự, đăng ký thànhlập tổ chức cơ sở,…
- Quản lý văn hóa phẩm, đồ dùng việc đạo: các loại kinh sách, tạp chí, trangweb…
- Quản lý cơ sở thờ tự: việc xây dựng, cơi nới, sửa chữa cơ sở thờ tự; việc sửdụng đất đai đúng mục đích…
- Quản lý các lớp phổ truyền giáo lý: nội dung giáo trình, tài liệu được sử dụngtrong các lớp phổ truyền giáo lý
- Quản lý đối với các hoạt động từ thiện - xã hội: đảm bảo nguồn kinh phí vàhoạt động từ thiện trên cơ sở tự nguyện và đúng quy định của pháp luật
Tiểu kết chương 1
Tự do tôn giáo là một trong những quyền tự nhiên của con người và phảiđược pháp luật bảo vệ Tín ngưỡng tôn giáo là một nhu cầu tinh thần của nhândân, nhưng tôn giáo với tư cách là một thực thể xã hội, là một lĩnh vực của đờisống xã hội thì tôn giáo cũng phải được nhà nước có chủ quyền quản lý nhưquản lý các lĩnh vực khác
Trang 39Vấn đề quản lý nhà nước về tôn giáo nói chung và quản lý nhà nước đốivới Phật giáo Hòa Hảo nói riêng là một yêu cầu khách quan, cần thiết, bởi chỉ
có được quản lý thì hoạt động tôn giáo mới thực sự diễn ra bình thường, quan
hệ giữa các tôn giáo, giữa các tín đồ mới thực sự bình đẳng, quyền tự do theohoặc không theo tôn giáo nào của công dân mới được đảm bảo và tôn giáokhông bị lợi dụng để nhằm mục đích chính trị hay ý đồ xấu
Kể từ khi nước Việt Nam dân chủ cộng hoà ra đời (tháng 8/1945) đếnnay là nước Cộng hoà XHCN Việt Nam, vấn đề quản lý nhà nước đối với hoạtđộng tôn giáo luôn được thực hiện nhất quán đó là: đảm bảo quyền tự do tínngưỡng tôn giáo của công dân; mọi tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, cáchành vi lợi dụng tôn giáo vào mục đích chính trị gây mất an ninh, trật tự và chủquyền quốc gia đều bị nghiêm trị Nó được thể hiện sinh động trong các vănkiện của Đảng, các bản Hiến pháp 1946, 1959, 1980, 1992, 2013
Trang 40THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA PHẬT GIÁO HÒA HẢO VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
2.1 Thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo
nhâ
n
2.1.1 Kết quả quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo và nguyên
2.1.1.1 Kết quả quản lý nhà nước đối với Phật giáo Hòa Hảo
Sau khi Phật giáo Hòa Hảo được Nhà nước công nhận (năm 1999) về tổchức, hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo ở địa phương được định hình và dần đivào ổn định với những chuyển biến tích cực Công tác quản lý nhà nước đốivới các hoạt động của Phật giáo Hòa Hảo được quan tâm chỉ đạo, tạo điều kiệnthuận lợi cho Phật giáo Hòa Hảo hoạt động, từ đó bà con ngày càng tin tưởngvào chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước, tiếp tục gắn bó, đồng hành
cùng dân tộc theo đường hướng hành đạo “Vì đạo pháp, vì dân tộc” Những
kết quả đó, thể hiện qua một số mặt công tác như sau:
- Một là, về quản lý sinh hoạt tôn giáo của tín đồ.
Trước khi Phật giáo Hòa Hảo được hoạt động bình thường, sinh hoạt tôngiáo của tín đồ chủ yếu diễn ra tại gia đình (thắp hương cầu nguyện, lễ Khaiđạo 18/5 ÂL, lễ Đản sinh Đức Huỳnh giáo chủ 25/11 ÂL …) Chỉ có nhữngngày lễ lớn của Phật giáo Hòa Hảo, rất đông tín đồ ở các tỉnh, thành phố về TổĐình và An Hòa tự (tỉnh An Giang) ngoài quy định hoặc qua sự mặc nhận củachính quyền địa phương Thực trạng như vậy tại thời điểm này là hoàn toànphù hợp với phương châm hành đạo “Cư sỹ tại gia” theo truyền thống của Phậtgiáo Hòa Hảo