Về vấn đề này, “Chiến lược phát triển GD 2001-2010” đã nêu: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp GD, chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn ngư
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
PHẠM THỊ THẢO
TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN PHI KIM
HÓA HỌC 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM HÓA HỌC
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC
(BỘ MÔN HÓA HỌC)
Mã số: 60 14 10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Sửu
HÀ NỘI – 2013
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được luận văn này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban Giám hiệu, các thầy cô giáo và cán bộ của trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã truyền thụ cho tôi những kiến thức, kinh nghiệm quí báu và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Đặc biệt, tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Thị Sửu, đã tận
tình hướng dẫn, tạo mọi điều kiện trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Tam Dương, THPT Tam Đảo – tỉnh Vĩnh Phúc đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện để tôi hoàn thành luận văn này
Tôi cũng xin cảm ơn tới gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn
Hà Nội, tháng 12 năm 2013
PHẠM THỊ THẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU VÀ CÁC CHỮ VIẾT TẮT
đktc Điều kiện tiêu chuẩn
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn i
Danh mục viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vii
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 5
1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 5
1.2 Đổi mới phương pháp dạy và học 6
1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học 6
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học 6
1.3 Phương pháp tự học 7
1.3.1 Khái niệm tự học 7
1.3.2 Các hình thức của tự học 7
1.3.3 Chu trình học 8
1.3.4 Vai trò của tự học 10
1.3.5 Những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành tự học 11
1.3.6 Những biện pháp để hướng dẫn và quản lí việc tự học của HS 11
1.3.7 Hệ dạy học: Tự học – Cá thể hóa – Có hướng dẫn 13
1.4 Năng lực tự học và kĩ năng tự học 14
1.4.1 Khái niệm năng lực tự học 14
1.4.2 Thành phần của năng lực tự học 14
1.4.3 Kĩ năng tự học 15
1.4.4 Dấu hiệu của năng lực tự học 15
1.4.5 Một số năng lực học tập hóa học cần bồi dưỡng cho HS THPT 16
1.4.6 Đánh giá năng lực tự học 16
1.4.7 Một số yêu cầu HS cần có để tự học tốt 17
1.5 Những kĩ năng giáo viên cần có để hỗ trợ học sinh tự học môn hóa học 18
1.5.1 Kĩ năng xây dựng ngân hàng bài tập và soạn thảo chuyên đề 18
Trang 51.5.2 Kĩ năng tác động tâm lí 20
1.6 Bài tập hóa học 20
1.6.1 Khái niệm bài tập hóa học 20
1.6.2 Phân loại BTHH 20
1.6.3 Ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong dạy học 21
1.6.4 Hoạt động của học sinh trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH
21 1.7 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học hiện nay ở trường THPT 23
1.7.1 Mục đích điều tra 23
1.7.2 Đối tượng, phương pháp điều tra 23
1.7.3 Kết quả điều tra 23
Tiểu kết chương 1 25
Chương 2: TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN PHI KIM HÓA HỌC 10 26
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình phần phi kim HH 10 26
2.1.1 Chương “Nhóm halogen” 26
2.1.2 Chương “Oxi – Lưu huỳnh” 28
2.1.3 Những chú ý về PPDH phần phi kim HH 10 29
2.2 Hệ thống BTHH phần phi kim HH 10 để hỗ trợ HS tự học 30
2.2.1 Những nguyên tắc lựa chọn xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học 30
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập 30
2.2.3 Nguyên tắc sắp xếp BTHH 31
2.2.4 Phân loại và phương pháp giải các dạng bài tập phần phi kim HH 10 31
2.3 Phương pháp sử dụng hệ thống bài tập trong dạy học hướng dẫn HS tự học 73
2.3.1 Sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự học trong các bài dạy nghiên cứu kiến thức mới 73 2.3.2 Sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự học trong các bài luyện
Trang 6tập 74
2.3.3 Sử dụng hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ rèn kĩ năng thí nghiệm, thực hành 75
2.3.4 Sử dụng hệ thống bài tập hướng dẫn HS tự kiểm tra, đánh giá 77
2.4 Giáo án bài dạy có sử dụng BTHH hướng dẫn HS tự học 78
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 86
3.1 Mục đích thực nghiệm 86
3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 86
3.3 Tiến hành TNSP 86
3.3.1 Đối tượng và địa bàn TNSP 86
3.3.2 Tiến hành TN 87
3.4 Kết quả TNSP 88
3.4.1 Kết quả các bài dạy TNSP 88
3.4.2 Xử lý kết quả TNSP 88
3.4.3 Đánh giá khả năng tự học của HS qua bảng kiểm qua sát và tự đánh giá của HS 93
3.5 Phân tích kết quả TNSP 94
3.5.1 Phân tích định tính kết quả TNSP 94
3.5.2 Phân tích định lượng kết quả TNSP 94
3.6 Nhận xét 95
Tiểu kết chương 3 97
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 98
Kết luận 98
Khuyến nghị 98
TÀI LIỆU THAM KHẢO 100
PHỤ LỤC 102
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Đối tượng và địa bàn TNSP 86
Bảng 3.2 Bài dạy TN và bài kiểm tra đánh giá 87
Bảng 3.3 Kết quả các bài kiểm tra 88
Bảng 3.4 Bảng phân phối tần số các bài kiểm tra 89
Bảng 3.5 Bảng phân phối tần suất các bài kiểm tra 90
Bảng 3.6 Bảng phân phối tần suất lũy tích các bài kiểm tra 90
Bảng 3.7 Số % HS đạt điểm yếu – kém, trung bình, khá và giỏi 92
Bảng 3.8 Bảng giá trị các tham số đặc trưng của lớp TN và ĐC 93
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 1.1 Chu trình học ba thời 8
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Nhóm Halogen 26
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Oxi – Lưu huỳnh 28
Hình 3.1 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 1 91
Hình 3.2 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 2 91
Hình 3.3 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 3 91
Hình 3.4 Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra số 4 91
Hình 3.5 Đồ thị đường lũy tích tổng hợp 4 bài kiểm tra 91
Hình 3.6 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 1 92
Hình 3.7 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 2 92
Hình 3.8 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 3 92
Hình 3.9 Biểu đồ hình cột bài kiểm tra số 4 92
Hình 3.10 Biểu đồ hình cột 4 bài kiểm tra 93
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đòi hỏi ngành giáo dục (GD) phải “đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD- đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học”
Để đạt được mục đích đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng mà nhà trường phải quan tâm là đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) Về vấn đề này, “Chiến
lược phát triển GD 2001-2010” đã nêu: “Đổi mới và hiện đại hóa phương pháp
GD, chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp, phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính
tự chủ của học sinh trong quá trình học tập ” Như vậy, để có thể đào tạo người lao
động mới, năng động và sáng tạo, có năng lực tự học để thích ứng với nền kinh
tế hòa nhập của xã hội, chúng ta cần đưa học sinh (HS) vào vị trí chủ thể hoạt động nhận thức, thông qua hoạt động tự lực của bản thân mà chiếm lĩnh kiến thức, phát triển năng lực trí tuệ Điều 28, mục 2 của Luật Giáo dục (2005) cũng quy định:
“Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS”
Để bồi dưỡng năng lực tự học, phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo cho HS trong dạy học hóa học thì việc sử dụng hệ thống bài tập một cách hợp lý
và khoa học là một trong những biện pháp quan trọng để dạy HS phương pháp tự học tạo ra được sự chuyển biến tích cực từ học tập thụ động sang học tập chủ động cho HS Bài tập hóa học (BTHH) ở trường phổ thông có ý nghĩa quan trọng trong việc củng cố, đào sâu, mở rộng, hoàn thiện kiến thức lí thuyết và rèn luyện cho HS khả năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn Giải BTHH đòi hỏi ở HS sự hoạt động trí tuệ tích cực, tự lực và sáng tạo nên có tác dụng tốt đối với sự phát triển tư duy và
hỗ trợ HS tự học một cách tích cực
Tuy nhiên, trong dạy học hóa học (HH) ở trường Trung học phổ thông
Trang 10(THPT), thì việc sử dụng BTHH để hỗ trợ HS tự học một cách hiệu quả chưa được giáo viên (GV) quan tâm đúng mức
Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều sách viết về BTHH, trên mạng internet cũng xuất hiện nhiều trang web, nhiều website cung cấp các bài tập để phục vụ cho việc học của HS và việc dạy của GV Đây là thuận lợi, đồng thời cũng là khó khăn không nhỏ đối với các HS mà sức học còn non yếu, vì các em sẽ thấy choáng ngợp trước cả “núi” bài tập đồ sộ và “hỗn độn” đó Do vậy, việc tuyển chọn các bài tập sao cho phù hợp với nhiều đối tượng HS, phân loại bài tập theo từng dạng, đưa ra các phương pháp giải bài cụ thể để hướng dẫn HS có thể dễ dàng luyện tập, hỗ trợ
HS tự học nhằm góp phần rèn luyện và phát huy tính tích cực, tự lực của HS đang là vấn đề hết sức cần thiết
Với những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài : ”Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ học sinh tự học phần phi kim hóa học 10 Trung học phổ thông” làm đề tài nghiên cứu của mình
2 Mục đích nghiên cứu
Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học trong dạy học phần phi kim HH 10-THPT góp phần nâng cao chất lượng dạy học HH ở trường THPT
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tự học và hướng dẫn HS tự học thông qua việc sử dụng hệ thống BTHH
Tuyển chọn và xây dựng hệ thống bài tập phần phi kim HH 10 chương trình
cơ bản trường THPT có tác dụng hỗ trợ HS tự học
Hướng dẫn HS sử dụng hệ thống bài tập đã xây dựng trong quá trình tự học một cách hợp lí, hiệu quả trong các dạng do bài dạy HH
Thực nghiệm sư phạm (TNSP) để đánh giá hiệu quả của hệ thống bài tập đã xây dựng và các biện pháp đã đề xuất, từ đó rút ra kết luận về khả năng áp dụng chúng trong việc hỗ trợ HS tự học HH
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Khách thể nghiên cứu : Quá trình dạy học HH ở trường THPT
- Đối tượng nghiên cứu : Việc tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ
Trang 11trợ HS tự học phần phi kim HH 10 trường THPT
5 Vấn đề nghiên cứu
"Tuyển chọn, xây dựng và hướng dẫn HS sử dụng hệ thống bài tập phần phi kim HH 10 như thế nào để hỗ trợ HS tự học, góp phần nâng cao được chất lượng dạy học HH ở trường THPT?”
6 Giả thuyết khoa học
Nếu tuyển chọn, xây dựng được hệ thống bài tập HH đa dạng, phong phú và
hướng dẫn sử dụng chúng một cách cụ thể, hợp lí trong dạy học thì sẽ có tác dụng tốt cho việc hỗ trợ HS tự học và góp phần nâng cao được chất lượng dạy học HH ở trường THPT
7 Giới hạn và phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung tuyển chọn, xây dựng và phương pháp sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học phần phi kim HH 10 Việc TNSP trong năm học 2012 – 2013, được tiến hành ở 2 trường:
+ Trường THPT Tam Đảo, Vĩnh Phúc
+ Trường THPT Tam Dương, Vĩnh Phúc
- Khảo sát và sử dụng các số liệu năm 2013
8 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
- Đề xuất phương pháp sử dụng hệ thống BTHH đã xây dựng trong việc hỗ trợ HS
tự học và rèn luyện các kĩ năng giải BTHH một cách hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy học HH trong giai đoạn hiện nay
9 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài chúng tôi sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên cứu sau:
Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 12- Đọc và nghiên cứu các nguồn tài liệu lí luận dạy học có liên quan đến đề tài
- Phân tích và tổng hợp các tài liệu đã thu thập được
Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra GV và HS bằng các phiếu câu hỏi
- Trao đổi với chuyên gia và đồng nghiệp
- TNSP đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi của hệ thống bài tập và các biện pháp đã đề xuất để hỗ trợ HS tự học phần phi kim HH 10 trường THPT
Phương pháp xử lý thông tin
Sử dụng toán thống kê để xử lý số liệu TNSP
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Tuyển chọn, xây dựng và sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học phần phi kim HH 10
Chương 3:Thực nghiệm sư phạm
Trang 13Đã có một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ khoa học chuyên ngành HH nghiên cứu về vấn đề sử dụng hệ thống BTHH ở trường THPT ở các khía cạnh, mức độ khác nhau như :
1 Cao Thị Thặng (1995), Hình thành kỹ năng giải bài tập hoá học ở trường phổ
thông trung học cơ sở, Luận án tiến sĩ, ĐHSP Hà Nội
2 Lê Văn Dũng (2001), Phát triển tư duy cho HS thông qua BTHH, Luận án tiến sĩ
ĐHSP Hà Nội
3 Vũ Anh Tuấn (2003), Xây dựng hệ thống BTHH nhằm rèn luyện tư duy trong
việc bồi dưỡng HS giỏi hóa học ở trường THPT, Luận án tiến sĩ ĐHSP Hà Nội
4 Đặng Thị Thanh Bình (2006), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH bồi
dưỡng HS khá giỏi lớp 10 THPT (ban nâng cao), Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP
Hà Nội
5 Đỗ Mai Luận (2006), Phát triển năng lực tư duy tích cực, độc lập, sáng tạo của
HS qua BTHH vô cơ lớp 11- Ban Khoa học tự nhiên, Luận văn thạc sỹ khoa học,
ĐHSP Hà Nội
6 Lê Thị Kim Thoa (2009), Tuyển chọn và xây dựng hệ thống BTHH gắn với thực
tiễn dùng trong dạy học hóa học ở trường THPT, Luận văn thạc sỹ khoa học, ĐHSP
TpHCM và một số Luận văn thạc sỹ khác
Tuy nhiên việc nghiên cứu sử dụng hệ thống BTHH phần phi kim lớp 10 ở các trường THPT nhằm hỗ trợ HS tự học vẫn chưa được quan tâm đúng mức
Trang 141.2 Đổi mới phương pháp dạy và học [7]
1.2.1 Nhu cầu đổi mới phương pháp dạy và học
Sự thay đổi cơ cấu nền kinh tế xã hội chuyển đổi từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Sự thay đổi này đòi hỏi ngành GD cần có những đổi mới nhất định để đáp ứng được yêu cầu nguồn nhân lực cho một xã hội phát triển Sự phát triển mạnh của công nghệ thông tin và khoa học đang làm thay đổi xã hội Sự thay đổi này đòi hỏi phải xây dựng một xã hội tri thức, xã hội học tập Với yêu cầu mới này đòi hỏi ngành GD phải đào tạo nguồn nhân lực theo hướng phát triển năng lực: nhận thức, tư duy, phát hiện và giải quyết vấn đề, thích ứng, hợp tác, tự học và khả năng tự học suốt đời
Thực trạng GD hiện nay: Chưa chú trọng bỗi dưỡng năng lực cho HS, đặc biệt
là năng lực tự học Chủ yếu là HS học thụ động, học để thi cử vào đại học và căn bệnh thành tích, do đó chỉ chú trọng kĩ năng làm bài Với các yếu tố trên đỏi hỏi ngành GD nước ta phải đổi mới căn bản và hoàn thiện
1.2.2 Các xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học
Việc đổi mới PPDH trên thế giới và ở nước ta hiện nay thực hiện theo các xu hướng sau:
1 Phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của người học Chuyển trọng tâm hoạt động từ GV sang HS Chuyển lối học từ thông báo tái hiện sang sáng tạo, tìm tòi, khám phá
2 Cá thể hóa việc dạy học
3 Sử dụng tối ưu các phương tiện dạy học đặc biệt là tin học và công nghệ thông tin vào dạy học
4 Tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống Chuyển từ lối học nặng
về tiếp nhận kiến thức sang lối học coi trọng việc vận dụng kiến thức
5 Cải tiến việc kiểm tra - đánh giá kết quả dạy học
6 Phục vụ ngày càng tốt hơn hoạt động tự học và phương châm học suốt đời
7 Gắn dạy học với nghiên cứu khoa học với mức độ ngày càng cao (theo sự phát triển của HS, theo cấp học, bậc học)
Trong 7 xu hướng đổi mới trên thì việc phát huy tính tích cực và khả năng tự học của HS đang là những xu hướng đổi mới quan trọng về phương pháp dạy và học hiện nay
Trang 151.3 Phương pháp tự học [11], [15], [24]
1.3.1 Khái niệm tự học
Theo từ điển Giáo dục học – NXB Từ điển Bách khoa 2001 tự học là: “…quá
trình tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức khoa học và rèn luyện kỹ năng thực hành…”
Tiến sĩ Võ Quang Phúc cho rằng: “Tự học là một bộ phận của học, nó cũng
được hình thành bởi những thao tác, cử chỉ, ngôn ngữ, hành động của người học trong hệ thống tương tác của hoạt động dạy học Tự học phản ánh rõ nhất nhu cầu bức xúc về học tập của người học, phản ánh tính tự giác và sự nỗ lực của người học, phản ánh năng lực tổ chức và tự điều khiển của người học nhằm đạt được kết quả nhất định trong hoàn cảnh nhất định với nồng độ học tập nhất định”
Tự học thể hiện bằng cách tự đọc tài liệu giáo khoa, sách báo các loại, nghe radio, xem truyền hình, nghe nói chuyện, báo cáo, tham gia giao tiếp với mọi người
để thu nhận tri thức cho mình Người tự học phải biết cách lựa chọn tài liệu, tìm ra những điểm chính, điểm quan trọng trong các tài liệu đã đọc, đã nghe, phải biết cách ghi chép những điều cần thiết, biết viết tóm tắt và làm đề cương, biết cách tra cứu từ điển và sách tham khảo, biết cách làm việc trong thư viện, … Đối với HS, tự học còn thể hiện bằng cách tự làm các bài tập chuyên môn, các câu lạc bộ, các nhóm thực nghiệm và các hoạt động ngoại khóa khác Tự học đòi hỏi phải có tính độc lập,
tự chủ, tự giác và kiên trì cao
1.3.2 Các hình thức của tự học
Tự học có các hình thức cơ bản sau:
- Tự học hoàn toàn (không có GV): HS tự học thông qua tài liệu, qua tìm hiều thực
tế, học kinh nghiệm của người khác Với hình thức này HS sẽ gặp nhiều khó khăn
do có nhiều lỗ hổng kiến thức, HS khó thu xếp tiến độ, không tự đánh giá được kết quả tự học của mình… Từ đó, HS dễ chán nản và không tiếp tục tự học
- Tự học trong một giai đoạn của quá trình học tập: HS tự học lại bài học hay làm bài tập ở nhà (khâu vận dụng kiến thức) là công việc thường xuyên của HS phổ thông Để giúp học sinh có thể tự học ở nhà, GV cần tăng cường kiểm tra, đánh giá kết quả học bài, làm bài tập ở nhà của họ
- Tự học qua phương tiện truyền thông (học từ xa): HS được nghe GV giảng giải, minh họa, nhưng không được tiếp xúc với GV, không được hỏi han, không nhận
Trang 16được sự giúp đỡ khi gặp khó khăn Với hình thức tự học này, HS cũng không đánh giá được kết quả học tập của mình
- Tự học qua tài liệu hướng dẫn: Trong tài liệu trình bày cả nội dung, cách xây dựng kiến thức, cách kiểm tra kết quả sau mỗi phần, nếu chưa đạt thì chỉ dẫn cách tra cứu,
bổ sung, làm lại cho đến khi đạt được (thí dụ học theo phần mềm máy tính) Song nếu chỉ dùng tài liệu tự học, HS cũng có thể gặp khó khăn và không biết hỏi ai
- Tự lực hoạt động học dưới sự hướng dẫn chặt chẽ của GV ở lớp: Với hình thức này cũng đem lại kết quả nhất định Song nếu HS vẫn dùng sách giáo khoa (SGK) hóa học như hiện nay thì họ cũng gặp phải một số khó khăn khi tiến hành tự học vì thiếu sự hướng dẫn về phương pháp học
Như vậy, mỗi hình thức tự học đều có những mặt ưu điểm và nhược điểm nhất định Nhằm khắc phục những nhược điểm của các hình thức tự học đã có này và xét đặc điểm của HS THPT chúng tôi thấy cần chú ý đến hình thức hướng dẫn HS tự học theo hệ thống bài tập có hướng dẫn và có sự giúp đỡ trực tiếp một phần của GV gọi tắt là “tự học có hướng dẫn qua BTHH”
1.3.3 Chu trình học [23]
Theo Nguyễn Kỳ “Chu trình học là chu trình chủ thể tìm hiểu, xử lý, giải quyết vấn đề hay vật cản của một tình huống học với sự hợp tác của tác nhân và sự
hỗ trợ của môi trường sư phạm” Chu trình học diễn biến theo ba thời : Tự nghiên
cứu (I), Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy (II), Tự kiểm tra, tự điều chỉnh (III)
Hình 1.1 Chu trình học ba thời
Thời (I): Tự nghiên cứu
Trước một tình huống học, chủ thể bắt đầu thấy có nhu cầu hay hứng thú tìm
hiểu, nhận biết vấn đề của tình huống học : Đây là vấn đề gì? Có ý nghĩa ra sao? Có
Trang 17thể giải quyết theo hướng nào ? Từ chỗ nhận biết vấn đề, chủ thể tiến hành thu nhận thông tin có liên quan đến vấn đề đó, xử lý thông tin, xây dựng các giải pháp, thử nghiệm giải pháp, kết quả, đưa ra kết luận và giải quyết vấn đề Chủ thể ghi lại kết quả “tự nghiên cứu” của thời (I) thành sản phẩm học cá nhân ban đầu
Sản phẩm này có thể mang tính chủ quan, phiến diện, thiếu khoa học Bằng con đường nào để làm cho sản phẩm ban đầu trở thành khách quan, khoa học thật sự? Đó là con đường người học tự thể hiện mình để hợp tác với các bạn và thầy trong cộng đồng lớp học Đó là các hoạt động học ở thời (II) của chu trình học
Thời (II) : Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy
Qua thời (I), chủ thể đã tự thể hiện mình bằng cách tự đặt mình vào tình huống, bằng sắm vai, bằng văn bản của sản phẩm học ban đầu Người học tiếp tục
tự thể hiện để hợp tác với các bạn và thầy bằng cách tự trình bày và bảo vệ sản phẩm học của mình, hỏi bạn và thầy về những điều mà không tự trả lời được, tỏ rõ thái độ của mình trước chủ kiến của bạn; tham gia tranh luận Tranh luận có trọng
tài, có kết luận của thầy Tranh luận và kết luận của thầy sẽ giúp chủ thể bổ sung vào sản phẩm ban đầu của mình thành một sản phẩm khách quan, có tính hợp tác,
xã hội thông qua việc “tự kiểm tra, tự điều chỉnh” ở thời (III)
Thời (III) : Tự kiểm tra, tự điều chỉnh
Thảo luận ở cộng đồng lớp và kết luận của thầy đã cung cấp thông tin phản hồi về sản phẩm học ban đầu của chủ thể Đó là cơ sở để người học so sánh, đối
chiếu, tự kiểm tra lại sản phẩm học, tự đánh giá, tự phê bình và cuối cùng tổng hợp, chốt lại vấn đề rồi tự sửa sai, điều chỉnh, hoàn chỉnh thành sản phẩm khoa học, và
tự rút kinh nghiệm về cách học, cách tư duy, cách giải quyết vấn đề của mình, sẵn
sàng bước vào một tình huống học mới
Chu trình học ba thời “Tự nghiên cứu – Tự thể hiện, hợp tác với bạn và thầy –
Tự kiểm tra, tự điều chỉnh” – thực chất cũng chính là con đường “Nhận biết, phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết và giải quyết vấn đề” của việc nghiên cứu khoa học ở tầm vóc và trình độ của người học, dẫn dắt người học đến tri thức khoa học,
đến chân lý mới (đối với người học) và chỉ có thể diễn ra dưới sự hướng dẫn của thầy
Ngay tự thời (I), thầy đã hướng dẫn người học cách tự nghiên cứu như giới
thiệu vấn đề (ý nghĩa, mục tiêu, định hướng), hướng dẫn cách thu nhận, xử lý thông
Trang 18tin, cách giải quyết vấn đề và tạo điều kiện thuận lợi cần thiết để trò có thể tự nghiên cứu, tự tìm ra kiến thức
Ở thời (II), thầy là người tổ chức cách học hợp tác hai chiều đối thoại trò – trò,
trò – thầy, như giúp đỡ cá nhân trình bày, bảo vệ sản phẩm học, tổ chức thảo luận ở cộng đồng lớp học, lái cuộc tranh luận theo đúng mục tiêu Cuối cùng thầy là người
trọng tài kết luận về những gì người học đã tự tìm ra và tranh luận thành tri thức
khoa học
Ở thời (III), thầy là người cố vấn cho trò tự kiểm tra, tự điều chỉnh như cung
cấp thông tin liên hệ ngược về sản phẩm học (kết luận, đánh giá, cho điểm, …), giúp đỡ trò tự đánh giá, tự sửa sai, tự rút kinh nghiệm về cách học
Chu trình học ba thời không có ranh giới rạch ròi, máy móc, tách rời nhau, mà
có thể đan xen, hoà nhập lẫn nhau và có thể biến động theo hoàn cảnh người học Thời chỉ có nghĩa là vào lúc đó, nổi bật lên vai trò của cá nhân người học, của lớp
hay của thầy Điều cốt yếu là cả ba thời đều diễn ra trên cái nền chung là hành động học, tự học, tự nghiên cứu, tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo của chủ thể, dưới sự hướng dẫn hợp lý của GV Ba thời cũng có thể xem như là ba cách học
tổng quát: cách tự nghiên cứu, cách học hợp tác, cách tự kiểm tra, tự điều chỉnh Chu trình học ba thời được phát triển theo con đường xoắn ốc nhiều tầng từ tự học đến học hợp tác tự điều chỉnh rồi trở lại tự học để dần dần kiến tạo cho bản thân chủ thể trình độ nhận thức và năng lực tự học, tự nghiên cứu, năng lực tư duy, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
Như vậy, chu trình học là “cuộc hành trình nội tại” phát triển bền vững ở mỗi người học năng lực tự học và thói quen tự học suốt đời “để hiểu”, “để làm”, “để hợp tác cùng chung sống” và “để làm người” lao động tự chủ, năng động và sáng tạo của thế kỷ XXI
1.3.4 Vai trò của tự học
Tự học là một giải pháp khoa học giúp giải quyết mâu thuẫn giữa khối lượng kiến thức đồ sộ với quỹ thời gian ít ỏi ở nhà trường Nó giúp khắc phục nghịch lý : học vấn thì vô hạn mà tuổi học đường thì có hạn
Tự học là giúp tạo ra tri thức bền vững cho mỗi người bởi lẽ nó là kết quả của
sự hứng thú, sự tìm tòi, nghiên cứu và lựa chọn Có phương pháp tự học tốt sẽ đem lại kết quả học tập cao hơn, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở HS và
Trang 19biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo
Tự học của HS THPT còn có vai trò quan trọng đối với yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo tại các trường phổ thông Đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa người học sẽ phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của người học trong việc lĩnh hội tri thức khoa học Vì vậy, tự học chính là con đường phát triển phù hợp với quy luật tiến hóa của nhân loại và là biện pháp sư phạm đúng đắn cần được phát huy ở các trường phổ thông
Theo phương châm học suốt đời thì việc “tự học” lại càng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với HS THPT Vì nếu không có khả năng và phương pháp tự học, tự nghiên cứu thì khi lên đến các bậc học cao hơn như đại học, cao đẳng, … HS sẽ khó thích ứng để thu được một kết quả học tập tốt Hơn thế nữa, nếu không có khả năng
tự học thì chúng ta không thể đáp ứng được phương châm “Học suốt đời” mà Hội đồng quốc tế về giáo dục đã đề ra vào tháng 4 năm 1996
1.3.5 Những khó khăn HS gặp phải khi tiến hành tự học
Khi tiến hành tự học, HS sẽ gặp những khó khăn nhất định như:
- Khó khăn khách quan: Xa GV, xa bạn, phải tự giải quyết việc học …
- Khó khăn chủ quan: tâm lý thiếu tự tin, dễ nản chí khi gặp bế tắc và chưa có kĩ năng tự học như:
+ Sưu tầm tài liệu và phân loại tài liệu học tập
+ Nghiên cứu, phân tích tư liệu thu được
+ Khả năng khắc phục khó khăn khi không có sự giúp đỡ
+ Tự kiểm soát và quản lý quá trình học
+ Đánh giá kết quả và hiệu quả tự học
1.3.6 Những biện pháp để hướng dẫn và quản lí việc tự học của HS
1.3.6.1 Thiết kế các tài liệu, bài tập tự học cho HS
Các bài tập tự học chứa nội dung học tập mà HS phải tự hoàn thành Đồng thời nó là bản chỉ dẫn cách học cho HS, là bản cam kết và là hồ sơ để GV đánh giá kết quả tự học Vì vậy, việc biên soạn tài liệu tự học có ý nghĩa quan trọng trong việc hướng dẫn tự học
Khi soạn thảo bài tập tự học, GV cần lựa chọn và quyết định nội dung tự học Thông thường các nội dung được lựa chọn là những vấn đề cơ bản, đơn giản, mang tính thực tiễn cao, có nhiều nguồn tài liệu để HS tham khảo Phân tích nội dung đã
Trang 20được lựa chọn thành những đơn vị kiến thức nhỏ và theo các mục rõ ràng để dễ thiết lập các bài tập và HS dễ soạn đề cương Các bài tập tự học có thể được soạn theo hai dạng: bài tập theo bài học và bài tập theo chủ đề
+ Bài tập theo bài học là các bài tập được soạn thảo chi tiết, cụ thể và thường bám sát nội dung của SGK Bài tập được cấu trúc theo hệ thống phù hợp với hệ thống tri thức đã có của HS
+ Bài tập theo chủ đề thường dùng để ôn tập, các bài tập được soạn theo chủ đề và thường có đề cương ôn tập kèm theo
Độ khó của các bài tập cũng là vấn đề cần quan tâm Độ khó chủ yếu của người tự học là không có người trợ giúp khi bế tắc Vì vậy, bài tập đưa ra không nên khó quá, thường ở mức trung bình, có nâng cao (cần chỉ rõ đây là bài tập nâng cao) và kèm theo gợi ý, hướng dẫn ngắn gọn Để tránh sự sao chép, các bài làm (các phiếu giải) nên yêu cầu HS viết tay, không nên đánh máy
1.3.6.2 Giám sát quá trình tự học
Đặc điểm của phương pháp tự học là không đánh giá quá trình học tập Điều này gây khó khăn không nhỏ cho cả người học, người dạy trong việc kiểm soát quá trình học tập, đánh giá sự tiến bộ của việc học Để khắc phục, có thể thực hiện:
- Cho các bài tập tự kiểm tra để HS tự đánh giá tiến bộ và mức độ hiểu biết của mình và GV nên yêu cầu HS nộp lại bài làm
- Cho đáp án các câu hỏi ghi trên phiếu học tập để HS có thể tự kiểm tra đánh giá mình với người khác
- Cung cấp các bài mẫu và cách giải tối ưu, sau khi HS đã hoàn thành phiếu học tập, HS có thể dùng để tự đánh giá
- Khuyến khích HS tìm bài tập để tự kiểm tra có trong tài liệu giáo khoa GV nên yêu cầu HS nộp lại bài làm
- Yêu cầu HS phát biểu tự đánh giá về quá trình và hiệu quả tự học
- Cho HS đóng vai trò người GV để nâng cao trách nhiệm đối với bạn cùng học …
1.3.6.3 Hướng dẫn nguồn tài liệu
Nguồn tài liệu quyết định một phần rất lớn chất lượng tự học Vì vậy, người
GV nên lập danh mục các loại tài liệu học tập cho HS Nếu cần, chỉ rõ tài liệu nào
là bắt buộc, tài liệu nào là tham khảo Đối với tài liệu bắt buộc nên chỉ rõ số trang kèm theo bài hỏi
Trang 21Sưu tầm và phân loại tài liệu cũng là một trong những kĩ năng cần được hình thành trong hoạt động tự học của HS
1.3.6.4 Đánh giá việc tự học
Hình thức đánh giá phổ biến là làm bài thi ngay sau khi kết thúc các bài tập tự học Việc đánh giá cần phù hợp với đặc điểm lứa tuổi của từng lớp học Bài thi cho
HS thường có 2 mức độ: thấp và cao
Mức độ thấp là bài thi tự cho điểm, còn bài thi có mức độ cao là bài thi giống như bài thi thông thường Khi có những HS không đạt yêu cầu, GV cần dành thời gian và bài tập tự học để HS củng cố Không nên lặp lại những bài tập đã giao
1.3.7 Hệ dạy học: Tự học – Cá thể hóa – Có hướng dẫn
Hệ dạy học lớp bài gồm nhiều hình thức cụ thể chia ra các dạng cơ bản như:
- Dạy học trên lớp (bài học, tự học, các hình thức khác)
- Hệ dạy học: tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn
- Dạy học kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp
- Hoạt động ngoài lớp, ngoài trường, tự chọn
Trong các hình thức trên, hệ dạy học “Tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn” là hình thức dạy học hiện đại Xuất hiện vào năm 1968 do F.S.Killer và J.G.Sherman thiết kế và đã được hoàn thiện dần trong thời gian gần đây
Hệ dạy học “Tự học – cá thể hóa – có hướng dẫn” có những đặc trưng sau:
- Việc học được cá thể hóa cao độ, tức là tự học – cá thể hóa, tôn trọng nhịp độ cá nhân phù hợp với năng lực từng người
- Việc học được khách quan hóa tối đa Nghĩa là: Quan hệ giao tiếp dạy và học, những mệnh lệnh điều khiển của dạy (kể cả kiểm tra) đều được chuyển hóa thành ngôn ngữ viết và được đưa vào tài liệu giáo khoa tự học của HS để họ chấp hành, đây chính là mặt “có hướng dẫn’ chủ yếu của tự học
- Diễn giảng không còn giữ vai trò là nguồn thông tin xuất phát nữa, mà trở thành nguồn gây động cơ nhận thức khoa học: Giải đáp thắc mắc, tổng kết tư tưởng khoa học, kích thích tư duy mới tạo nhu cầu chiếm lĩnh chân lí mới, kiến thức mới
- Tài liệu giáo khoa (giáo trình) được chia thành những học phần theo đơn vị kiến thức HS phải chiếm lĩnh đơn vị trước mới được đi vào đơn vị tiếp theo
- Mục tiêu dạy học được được diễn đạt một cách cụ thể, tường minh và có tính đo
Trang 22lường dưới những chuẩn mực về kiến thức, kĩ năng Và việc đánh giá tổng hợp kết quả học tập được thực hiện theo hệ tín chỉ
- Sử dụng những PPDH và phương tiện kỹ thuật hiện đại bên trong hoặc đồng thời với tài liệu giáo khoa modun hóa Chẳng hạn, tài liệu giáo khoa tự học có hướng dẫn kèm theo băng (Audio – Tutorial Work book)
1.4 Năng lực tự học và kĩ năng tự học [15], [23]
1.4.1 Khái niệm năng lực tự học
Năng lực tự học là khả năng tự mình tìm tòi, nhận thức, vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự với chất lượng cao Năng lực tự học là năng lực quan trọng vì tự học là chìa khóa tiến vào thế kỉ với quan niệm học suốt đời, xã hội học tập Có năng lực tự học mới có thể học suốt đời được
1.4.2 Thành phần của năng lực tự học
Năng lực tự học bao gồm:
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề
Năng lực nhận biết, tìm tòi và phát hiện vấn đề đòi hỏi HS phải nhận biết, hiểu, phân tích, tổng hợp, so sánh hiện tượng được tiếp xúc; suy xét từ nhiều góc độ, có hệ thống trên cơ sở những lí luận và hiểu biết đã có của mình; phát hiện ra các khó khăn, mâu thuẫn xung đột, các điểm chưa hoàn chỉnh cần giải quyết, bổ sung; các bế tắc, nghịch lý cẩn phải khai thông khám phá, làm sáng tỏ…
Năng lực giải quyết vấn đề
Bao gồm khả năng trình bày giả thuyết; xác định cách thức giải quyết và lập
kế hoạch giải quyết vấn đề; khảo sát các khía cạnh, thu thập và xử lý thông tin; đề xuất các giải pháp, kiến nghị các kết luận
Năng lực xác định các kết luận đúng (kiến thức, cách thức, con đường, giải pháp, biện pháp …) từ quá trình giải quyết vấn đề
Năng lực này bao gồm các khả năng khẳng định hay bác bỏ giả thuyết, hình thành kết quả và đề xuất vấn đề mới, hoặc áp dụng (nếu cần thiết) Trên thực tế có rất nhiều trường hợp được đề cập đến trong lúc giải quyết vấn đề, nên HS có thể đi chệch hướng vấn đề đang giải quyết hoặc lạc với mục tiêu đề ra ban đầu Vì vậy hướng dẫn cho HS kĩ thuật kết luận đúng không kém phần quan trọng so với kĩ thuật phát hiện và giải quyết vấn đề Các quyết định phải dựa trên logic của quá trình giải quyết vấn đề và nhắm đúng mục tiêu
Trang 23Năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn (vào nhận thức kiến thức mới) Kết quả cuối cùng của việc học tập phải được thực hiện ở chính ngay trong thực tiễn cuộc sống, hoặc là HS vận dụng kiến thức đã học để nhận thức, cải tạo thực tiễn, hoặc trên cơ sở kiến thức và phương pháp đã có, nghiên cứu, khám phá, thu thập thêm kiến thức mới
Năng lực đánh giá và tự đánh giá
Dạy học đề cao vai trò tự chủ của HS (hay tập trung vào người học), đòi hỏi phải tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích (thậm trí bắt buộc) HS đánh giá và tự đánh giá mình Chỉ có như vậy, họ mới dám suy nghĩ, dám chịu trách nhiệm và luôn luôn tìm tòi sáng tạo, tìm ra cái mới, cái có hiệu quả hơn
1.4.3 Kĩ năng tự học
Các kĩ năng về tự học bao gồm:
- Biết đọc, nghiên cứu giáo trình và tài liệu học tập, chọn ra những tri thức cơ bản, chủ yếu, sắp xếp, hệ thống hóa theo trình tự hợp lý, khoa học
- Biết và phát huy những thuận lợi, hạn chế những mặt còn non yếu của bản thân trong quá trình học ở lớp, ở nhà, ở thư viện, ở phòng thí nghiệm, ở cơ sở thực tế …
- Biết vận dụng các lợi thế, khắc phục các khó khăn, thích nghi với điều kiện học tập (cơ sở vật chất, phương tiện học tập, thời gian học tập …)
- Biết sử dụng linh hoạt các hình thức và phương pháp học tập cho phép đạt hiệu quả học tập cao
- Biết xây dựng kế hoạch học tập trong tuần, tháng, học kì, cả năm, cả khóa học
- Biết và sử dụng có hiệu quả các kĩ thuật đọc sách, nghe giảng trao đổi, thảo luận, tranh luận, xây dựng đề cương, viết báo cáo, thu thập, xử lý thông tin
- Biết sử dụng các phương tiện học tập, đặc biệt là phương tiện nghe nhìn và công nghệ thông tin
- Biết lắng nghe và thông tin tri thức, giải thích tài liệu cho người khác
- Biết phân tích, đánh giá và sử dụng thông tin
- Biết kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của bản thân và bạn học
- Biết vận dụng thực hành, tham gia nghiên cứu, TN, ứng dụng
1.4.4 Dấu hiệu của năng lực tự học
Năng lực tự học được biểu hiện thông qua các dấu hiệu sau:
Trang 24- Có khả năng tự mình tìm tòi nhận thức và vận dụng kiến thức vào tình huống mới hoặc tương tự nhưng chất lượng cao hơn
- Không rập khuôn máy móc mà phải luôn thích ứng với các tình huống mới
- Tái hiện kiến thức và thiết lập những mối quan hệ bản chất một cách nhanh chóng
- Vận dụng kiến thức để giải quyết tốt những bài toán thực tế: định hướng nhanh, biết phân tích, suy đoán và vận dụng các thao tác tư duy để tìm tòi cách tư duy để tìm cách tối ưu và thực hiện có hiệu quả
1.4.5 Một số năng lực học tập hóa học cần bồi dưỡng cho HS THPT
Để học giỏi HH, HS phổ thông cần có kiến thức HH cơ bản vững vàng, sâu sắc và hệ thống Bên cạnh đó, không thể thiếu năng lực tư duy sáng tạo, kĩ năng thực hành tốt và phương pháp nghiên cứu khoa học Tất cả những điểm đó thể hiện
ở một số năng lực sau:
1 Năng lực tiếp thu kiến thức: là khả năng nhận thức vấn đề nhanh, có hứng thú, nhất là với những vấn đề mới
2 Năng lực suy luận logic: là khả năng phân tích sự vật, hiện tượng, vấn đề qua các dấu hiệu đặc trưng của chúng, biết thay đổi góc nhìn, xét đủ các điều kiện và còn biết quay lại điểm xuất phát để tìm đường đi mới
3 Năng lực lao động sáng tạo: Là khả năng tổng hợp các yếu tố, các thao tác để thiết kế một dãy các hoạt động nhằm đạt kết quả theo nhiều chiều khác nhau, để tìm
ra con đường ngắn nhất, hiệu quả nhất Biết vận dụng linh hoạt, mềm dẻo những kiến thức cơ bản, hướng nhận thức đó vào tình huống mới không theo đường mòn
4 Năng lực kiểm chứng: là khả năng biết suy xét đúng – sai từ một loạt sự kiện, tạo
ra các sự tương phản để khẳng định hoặc bác bỏ một vấn đề nào đó, biết rút ra kết luận sau kiểm nghiệm
5 Năng lực thực hành: HH là môn khoa học TN nên HS cần có khả năng về TN, tiến hành thí nghiệm HH; biết sử dụng thành thạo hệ thống kí hiệu, quy ước, trật tự HH; biết thực hiện các thao tác khi làm thí nghiệm, kiên trì với quá trình thí nghiệm nhằm làm sáng tỏ vấn đề lý thuyết qua TN
Trang 25Đánh giá qua quan sát là thông qua quan sát mà đánh giá thao tác, động cơ, các hành vi, kĩ năng thực hành và kĩ năng nhận thức, chẳng hạn như cách giải quyết vấn đề trong một tình huống cụ thể
Để đánh giá năng lực tự học, GV yêu cầu HS tự nghiên cứu một nội dung học tập, HS có thể làm việc độc lập theo nhóm GV có thể quan sát để đánh giá các năng lực và kĩ năng tự học của từng HS trong một nhóm và khả năng hợp tác với các thành viên trong nhóm
b Đánh giá qua hồ sơ học tập của HS
GV yêu cầu HS về nhà tự học một nội dung học tập với các yêu cầu cụ thể HS ghi chép lại các kết quả thu thập được trong quá trình tự học của mình vào vở ghi chép, GV kiểm tra qua vở ghi Qua đó, GV cũng có đánh giá được kĩ năng và một phần hiệu quả tự học của mỗi HS
c Đánh giá đồng đẳng
Trong đó các nhóm HS cùng độ tuổi hoặc cùng lớp sẽ đánh giá công việc lẫn nhau Phương pháp có thể dùng để hỗ trợ cho HS trong quá trình học nhưng chủ yếu được để hỗ trợ HS trong quá trình học Việc đánh giá đồng đẳng thực hiện qua trình bày, bài làm, kết quả phiếu học tập
d Đánh giá qua bài kiểm tra
Bài kiểm tra dưới một số hình thức như: Kiểm tra miệng; Kiểm tra viết qua bài kiểm tra tự luận và trắc nghiệm trong đó tự luận là chủ yếu
e Phương pháp tự đánh giá
GV yêu cầu HS tự đánh giá về các năng lực, kĩ năng tự học của mình sau một thời gian tự học qua phiếu điều tra
1.4.7 Một số yêu cầu HS cần có để tự học tốt
Để tự học tốt, HS cần đảm bảo một số yêu cầu sau:
- Về tư tưởng cần xác định việc học là nhiệm vụ của người HS và không ai có thể thay thế được Để học tốt môn hóa nói riêng và các môn khác nói chung, điều đầu tiên phải là sự nỗ lực của bản thân người học, phải tích cực học tập, mong muốn học giỏi, học giỏi hôm nay gắn liền với sự thành đạt trong cuộc sống tương lai
- Luôn luôn tìm phương pháp học tập tốt nhất cho mình Đồng thời có ý chí quyết tâm cao độ, thoát khỏi những tình trạng bị động, khắc phục chướng ngại nhận thức, đây là yếu tố cơ bản làm cho năng lực tự học, tự tìm tòi cái mới được nâng lên
Trang 26- HS phải học bằng chính sức của mình, nghĩ bằng cái đầu của mình, nói bằng lời nói của mình và viết theo ý của mình không dập khuôn theo từng câu chữ của GV
- Mạnh dạn nêu thắc mắc và đặt câu hỏi khi không hiểu bài
- Không dừng lại ở việc tìm ra đáp số của bài tập mà phải biết rút ra những điều bổ ích cho mình thông qua việc xây dựng tiến trình luận giải, luôn luôn suy nghĩ tìm ra cách giải hay hơn nữa và phải biết nghiền ngẫm để hiểu sâu sắc từng vấn đề bài toán đưa ra, trong nhiều trường hợp hãy thay đổi một vài dữ kiện của bài toán để xem bài toán sẽ đi theo hướng nào và tìm cách giải quyết một cách khoa học,
- Phải thường xuyên dành thời gian cho việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học
để thấy được sự logic đồng thời tạo điều kiện để hiểu sâu các kiến thức đã học hơn nữa Chỉ khi HS hiểu được kiến thức một cách sâu sắc thì mới vận dụng kiến thức một cách linh hoạt, mềm dẻo và giải quyết được các vấn đề mà bài toán đặt ra Như vậy, để có thể tự học tốt người HS phải chủ động, tích cực, độc lập suy nghĩ để thông hiểu sâu sắc kiến thức, biến kiến thức lĩnh hội được từ nhiều nguồn khác nhau thành kiến thức của mình và vận dụng nó một cách linh hoạt, sáng tạo
1.5 Những kĩ năng GV cần có để hỗ trợ HS tự học môn HH
Ngoài các kĩ năng như kĩ năng trình bày, diễn đạt, thiết kế giáo án, sử dụng thành thạo các phương tiện dạy học, … thì trong việc sử dụng BTHH hỗ trợ học sinh tự học môn HH, GV cần chú trọng đến các kĩ năng sau đây :
1.5.1 Kĩ năng xây dựng ngân hàng bài tập và soạn thảo chuyên đề
1.5.1.1 Xây dựng ngân hàng bài tập
Ngân hàng bài tập : Kho lưu trữ các hệ thống bài tập theo chủ đề
Hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học phải đáp ứng được các yêu cầu :
- Đảm bảo mục tiêu và chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học
- Phù hợp với trình độ của HS và đáp ứng nội dung kiểm tra, thi cử ở từng lớp, từng cấp (trường, tỉnh, thành phố, quốc gia)
- Phát huy được trí thông minh, sáng tạo, tính tích cực chủ động của người học
- Rèn luyện các thao tác tư duy (phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hóa…)
- Kích thích sự ham học, say mê tìm tòi của HS đối với môn HH
Cách soạn thảo bài tập: GV có thể tự xây dựng bài tập hoặc sưu tầm các dạng bài
tập từ các nguồn khác nhau (SGK, SBT, các sách tham khảo, internet, …) Đồng
Trang 27thời cũng có thể kết hợp sưu tầm và biến đổi bài tập cho phù hợp với mục đích của
GV và trình độ nhận thức của HS
Cập nhật bài tập mới, sưu tầm cách giải hay
- Liên tục sưu tầm và cập nhật những tư liệu, bài tập mới nhất có liên quan đến
HH, về các chất HH được sử dụng cho đời sống của con người và phát triển công nghiệp, nông nghiệp thông qua các tài liệu nghiên cứu về lý luận đổi mới PPDH
- Từ thực tế dạy học, các cách giải hay, bài tập mới lạ từ HS, đồng nghiệp cũng cần được thu thập đưa vào ngân hàng bài tập
1.5.1.2 Soạn thảo một chuyên đề hướng dẫn HS tự học
Chuyên đề hướng dẫn HS tự học bao gồm: nội dung kiến thức cơ bản và phát triển của một bài, một chương, một lớp và HTBT vận dụng với cơ sở lí thuyết đó
Để giúp HS đi sâu vào kiến thức trọng tâm và mở rộng chúng, GV cần soạn thảo các chuyên đề để hỗ trợ việc vận dụng kiến thức của HS vào giải các dạng BTHH
cơ bản và nâng cao Thông qua đó mà HS nắm vững kiến thức và kĩ năng giải các dạng BTHH tương ứng
Ví dụ chuyên đề các phương pháp giải nhanh bài tập HH định lượng hỗ trợ HS
tự học, rèn kĩ năng giải BTHH
Các bước để soạn thảo một chuyên đề hướng dẫn HS tự học
a Xây dựng cơ sở lí thuyết về nội dung của chuyên đề
- Nêu lên những vấn đề lí thuyết cơ bản, trọng tâm xoay quanh nội dung chuyên đề
- Đi sâu vào những phần lí thuyết khó, phức tạp, có tác dụng rèn luyện tư duy và có nhiều cách vận dụng kiến thức trong các dạng bài tập khác nhau
- Dựa trên cơ sở lí thuyết, hệ thống hóa cách giải các dạng bài tập khác nhau theo chuyên đề
Các kiến thức này có thể lấy từ các tài liệu nâng cao và mở rộng kiến thức HH, các tài liệu tham khảo
b Xây dựng hệ thống bài tập của chuyên đề
- Xây dựng hệ thống bài tập theo các chuyên đề từ dạng bài tập điển hình đến bài tập tương tự, bài tập có biến đổi, nâng cao
- Phân tích các bài tập điển hình có minh họa làm rõ sự vận dụng lí thuyết chủ đạo
và phương pháp giải tương ứng
Trang 28- Hệ thống bài tập có thể trình bày theo hai hướng : đặt sau phần cơ sở lí thuyết của toàn bộ chuyên đề hoặc để sau mỗi mục lí thuyết nhỏ trong chuyên đề
1.5.2 Kĩ năng tác động đến tâm lí HS khi hướng dẫn tự học
GV cần tạo không khí thoải mái, hào hứng trong dạy học và khuyến khích các
em tham gia vào việc giải bài tập cùng với các bạn với tinh thần học hỏi, cố gắng vượt qua chính mình ở thời điểm cần thiết, không nên tạo tâm lí ăn thua, mà cần động viên các em hãy khai thác tối đa nội lực của mình GV tiếp nhận thông tin phản hồi từ HS và điều chỉnh cho phù hợp khi chưa hiểu cách thức làm bài và yêu cầu được hướng dẫn lại thì nên vui vẻ, yêu cầu HS làm rõ điều chưa hiểu và giúp
HS hiểu thấu đáo vấn đề, tuyệt đối không la mắng hoặc xúc phạm HS
1.6 Bài tập hóa học [5], [27]
1.6.1 Khái niệm bài tập hóa học
Theo từ điển tiếng việt, bài tập là yêu cầu của chương trình cho HS làm để vận dụng những điều đã học và cần giải quyết vấn đề bằng phương pháp khoa học Theo các nhà lý luận dạy học, bài tập bao gồm cả câu hỏi và bài toán, mà trong khi hoàn thành chúng, HS vừa nắm được, vừa hoàn thiện một tri thức hay một kỹ năng nào
đó, bằng cách trả lời miệng, trả lời viết hoặc kèm theo thí nghiệm Ở nước ta, SGK hoặc sách tham khảo, thuật ngữ “bài tập” được dùng theo quan điểm này
1.6.2 Phân loại BTHH
Có nhiều cách phân loại BTHH:
- Dựa vào hình thức trình bày BTHH được chia làm hai loại: bài tập trắc nghiệm khách quan và bài tập tự luận
- Dựa vào tính chất của BTHH có dạng bài tập định tính (câu hỏi) và bài tập định lượng (BTHH)
- Dựa vào nội dung và yêu cầu của bài tập, BTHH được chia thành các dạng: bài tập giải thích, chứng minh, bài tập nhận biết chất, điều chế chất, tính theo PTHH của phản ứng, lập công thức chất
- Dựa vào mức độ nhận thức của HS, BTHH chia thành các mức độ: biết, hiểu, vận dụng và vận dụng sáng tạo
Như vậy, tùy theo cách sử dụng nội dung dạy học mà có thể phân loại BTHH theo các dạng khác nhau
Trang 291.6.3 Ý nghĩa và tác dụng của BTHH trong dạy học
BTHH là một trong những phương tiện hiệu nghiệm cơ bản nhất để dạy HS vận dụng các kiến thức đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và tập nghiên cứu khoa học, biến những kiến thức đã thu được qua bài giảng thành kiến thức của chính mình
Cụ thể là:
Giúp HS đào sâu, mở rộng kiến thức đã học một cách sinh động, phong phú
Là phương tiện để ôn tập, củng cố, hệ thống hoá kiến thức một cách tốt nhất
Rèn luyện kỹ năng HH cho HS như kỹ năng viết và cân bằng PTHH, tính toán theo công thức và PTHH, kỹ năng thực hành HH, sử dụng ngôn ngữ HH
Phát triển năng lực nhận thức, rèn trí thông minh cho HS (HS cần phải hiểu sâu mới hiểu được trọn vẹn)
BTHH phát huy tính tích cực, tự lực của HS và hình thành phương pháp học tập,
1.6.4 Hoạt động của HS trong quá trình tìm kiếm lời giải cho BTHH
1.6.4.1 Các giai đoạn của quá trình giải bài tập HH
Bao gồm 4 giai đoạn cơ bản như sau
a) Nghiên cứu đầu bài
+ Đọc kĩ đề bài và phân tích các điều kiện và yêu cầu của đề bài (có thể tóm tắt dưới dạng sơ đồ)
+ Chuyển các giả thiết đã cho về các giả thiết cơ bản
+ Viết các PTHH của các phản ứng có thể xảy ra
b) Xây dựng tiến trình luận giải
Xây dựng tiến trình luận giải thực chất là đi tìm con đường đi từ các điều kiện suy ra các yêu cầu của bài toán đặt ra bằng con đường suy luận logic từ kiến thức,
kĩ năng đã có hoặc bằng cách giải quyết một vài bài toán cơ bản có liên quan Tính logic của tiến trình luận giải được thể hiện qua các bước giải bài tập cụ thể và việc
Trang 30thông qua việc trả lời một số câu hỏi như: Để giải quyết vấn đề này cần biết kiến thức, giá trị nào? Bằng cách nào để xác định được chúng?
c) Thực hiện tiến trình giải
Thực hiện tiến trình giải thực chất là trình bày lời giải một cách tường minh tiến trình luận giải đã xác định để đi từ giả thiết đến cái cần tìm Với các bài tập định lượng, quá trình thực hiện con đường giải quyết vấn đề thông qua việc sử dụng phương pháp giải các dạng bài tập đã có hoặc sự lập luận logic để tìm ra kết quả
d) Đánh giá việc giải
Bằng cách khảo sát lời giải, kiểm tra lại toàn bộ quá trình giải Có thể đi đến kết quả bằng cách khác không ? tối ưu hơn không ? tính đặc biệt của bài toán là gì?, Trên thực tế, HS thường bỏ qua giai đoạn nhìn lại các bước giải, khảo sát, phân tích kết quả và con đường đã đi GV cần giúp HS hiểu rõ vai trò và tác dụng của giai đoạn này để rút ra được những kinh nghiệm và phương pháp tự học hiệu quả
1.6.4.2 Mối quan hệ giữa nắm vững kiến thức và giải BTHH
Việc giải BTHH chính là quá trình vận dụng kiến thức vào giải quyết các nhiệm vụ học tập và thực tiễn khác nhau, HS phải tìm được kiến thức, kĩ năng thích hợp trong vốn kiến thức, kĩ năng đã có để giải quyết một nhiệm vụ mới Thông qua việc giải BTHH, kiến thức đã được nắm vững một cách thực sự, sâu sắc hơn, quá trình nắm vững kiến thức một cách tự giác, sáng tạo, mối quan hệ giữa lý thuyết và thực tiễn càng sâu sắc, gần gũi Mặt khác, trong khi vận dụng kiến thức, các thao tác
tư duy được trau dồi, một số kỹ năng kỹ xảo được hình thành và củng cố, hứng thú học tập của HS được nâng cao
Để đảm bảo cho HS nắm vững được kiến thức HH một cách chắc chắn cần phải hình thành cho họ kỹ năng, kỹ xảo vận dụng kiến thức thông qua nhiều hình thức tập luyện khác nhau Trong đó, việc giải bài tập một cách có hệ thống từ dễ đến khó là một hình thức rèn luyện phổ biến được tiến hành nhiều nhất trong quá trình dạy học Theo nghĩa rộng, quá trình học tập là quá trình liên tiếp giải các bài tập Vì vậy, kiến thức sẽ được nắm vững hoàn toàn nếu như họ tự lực, tích cực vận dụng linh hoạt, dùng kiến thức ấy để giải quyết các bài toán khác nhau Như vậy, giữa việc nắm vững kiến thức HH và vận dụng kiến thức thông qua việc giải BTHH trong quá trình nhận thức của HS có mối quan hệ biện chứng gắn bó với nhau:
Trang 311.7 Tình hình sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học hiện nay ở trường THPT
Để tìm hiểu về thực trạng sử dụng BTHH trong việc hỗ trợ HS tự học cho HS THPT chúng tôi đã tiến hành điều tra 28 GV và 411 HS ở các trường THPT: Trường THPT Tam Dương, Trường THPT Tam Dương II, Trường THPT Tam Đảo, Trường THPT Vĩnh Yên (tỉnh Vĩnh Phúc) , Trường THPT Nguyễn Siêu (Hà Nội)
1.7.1 Mục đích điều tra
Hiểu rõ được hình thức sử dụng hệ thống bài tập, cách GV hướng dẫn HS giải bài tập trên lớp Đồng thời, tìm hiểu nhận thức của HS về tự học, vai trò của tự học, phương pháp tự học, những khó và các yếu tố tác động đến hiệu quả tự học của HS
1.7.2 Đối tượng, phương pháp điều tra
- Đối tượng điều tra: Việc dạy và học các tiết có sử dụng bài tập ở trường THPT
- Phương pháp điều tra: Phát phiếu điều tra cho các GV dạy HH và HS lớp 10 ở một
số trường THPT khác nhau ở tỉnh Vĩnh Phúc, thành phố Hà Nội Nội dung điều tra được trình bày trong phần Phụ lục
Các phiếu điều tra được thu về và phân tích kết quả
1.7.3 Kết quả điều tra
1.7.3.1 Về việc sử dụng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học của GV
Qua phân tích kết quả khảo sát, điều tra ban đầu, chúng tôi nhận thấy thực trạng sử dụng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học ở các trường THPT như sau:
1 93% GV cho rằng để nâng cao kết quả học tập của HS cần phải sử dụng thêm hệ thống bài tập ngoài SGK, SBT
2 Tuy nhiên, chỉ có 40% GV thường xuyên sử dụng thêm hệ thống bài tập, trong khi đó có tới 50% GV chỉ thỉnh thoảng sử dụng, 10% GV không thường xuyên sử dụng do không đủ thời gian để hướng dẫn cặn kẽ (70%), không có hệ thống bài tập chất lượng hỗ trợ HS tự học (87%)
3 98% GV cho rằng việc xây dựng hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học là cần thiết
4 80 % GV yêu cầu tài liệu hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học cần phần loại theo nội dung bài học (hoặc theo chương), có hướng dẫn giải bài tập theo các dạng và sử
Trang 32dụng các phương pháp giải khác nhau (75%), có bài giải mẫu cho từng dạng (78%),
có các bài tập tương tự để HS vận dụng, luyện tập và đáp số (90%), có hướng dẫn giải ngắn gọn với bài tập có biến đổi với dạng bài tập mẫu (75%), có bài tập biến đổi trong mỗi chương để học sinh vận dụng kiến thức và kĩ năng giải (70%)
5 Để tài liệu hệ thống BTHH hỗ trợ HS tự học trong dạy đạt hiệu quả cao nhất, 10% GV đồng ý với ý kiến yêu cầu HS đọc tài liệu về bài tập hỗ trợ tự học tự làm bài tập tương tự; 20% GV đồng ý giới thiệu các dạng bài tập, yêu cầu HS đọc tài liệu hướng dẫn bài tập mẫu, vận dụng vào một số bài tập tương tự, GV kiểm tra; 70% GV đồng ý giới thiệu các dạng bài tập, các bước giải, yêu cầu HS đọc tài liệu, hướng dẫn giải bài mẫu, vận dụng giải 3-4 bài tương tự GV tổ chức cho HS trao đổi nhóm về các nội dung chưa rõ GV chỉnh lý, nhấn mạnh các bước giải, tổ chức kiểm tra, đánh giá
1.7.3.2 Thực trạng việc tự học của HS qua phiếu điều tra HS
1 Đối với việc giải BTHH, chỉ có 10% HS cảm thấy thích thú, còn lại gần 90% HS thấy bình thường hoặc không thích do các bài tập lộn xộn không theo dạng (85%), không có bài giải mẫu cho từng dạng để vận dụng (75%), không có đáp án số cho bài tập tương tự (84%), trong khi đó, HS không nắm được phương pháp giải BTHH (80%) nên khi gặp một bài toán khó, HS phải mày mò tự tìm cách giải (20%) hoặc chán nản không làm (65%)
2 Có tới 90% HS chỉ dành 30 phút đến 60 phút để làm BTHH trước khi đến lớp bằng cách làm trước những bài tập về nhà (75%), đọc, tóm tắt, ghi nhận nhưng chỗ chưa hiểu (45%)
3 Để giải thành thạo 1 dạng bài tập, 90% HS đều cho rằng cần GV giải kỹ 1 bài tập mẫu, HS xem lại bài tập đã giải rồi tự làm lại bài tập đã giải và vận dụng vào một
số bài tương tự, trao đổi với HS khác để làm quen và nhận dạng bài tập, các cách giải, sau đó làm các bài tập tương tự, có sự biến đổi so với bài mẫu
4 Khi thi hoặc kiểm tra, để đạt được kết quả cao, 90% HS cho rằng yếu tố tự học,
tự nghiên cứu của mình là cần thiết
5 85% HS cho rằng tự học giúp hiểu bài tập trên lớp sâu sắc hơn, giúp HS nhớ bài lâu hơn và thực hiện yêu cầu kiểm tra của GV (80%), nội dung bài học thường được
đề cập trong các kỳ thi (90%), rèn luyện thêm khả năng đọc, tư duy, suy luận logic (65%), có thói quen tự học và tự nghiên cứu suốt đời (35%)
Trang 336 60% HS sử dụng thời gian tự học để đọc lại bài trên lớp, 75% HS chuẩn bị bài trên lớp theo hướng dẫn của GV, 50% HS để đọc tài liệu tham khảo
7 85% HS chỉ học bài, làm bài tập cần thiết, 70% HS học theo hướng dẫn, có nội dung câu hỏi, bài tập của GV, 25% HS chỉ học phần nào quan trọng, cảm thấy thích thú
8 85% HS gặp khó khăn trong khi tự học là thiếu tài liệu học tập, tham khảo, thiếu
sự hướng dẫn cụ thể cho việc học tập, kiến thức rộng khó bao quát
9 35% HS cho rằng tác động hiệu quả đến việc tự học của HS là niềm tin và sự chủ động của HS, 90% là sự tổ chức, hướng dẫn cụ thể của GV, 92% là có tài liệu hướng dẫn học tập chi tiết Như vậy, các GV và đa số HS đều xác định vai trò tự học của HS là quan trọng, quyết định đến chất lượng học tập HH Việc xây dựng hệ thống BTHH và sử dụng chúng trong dạy học có tác dụng tích cực đến sự phát triển năng lực tự học của HS
Tiểu kết chương 1
Trong chương này chúng tôi đã tổng quan những cơ sở lí luận của đề tài về các vấn đề: xu hướng đổi mới PPDH đi sâu vào hình thức tự học của HS và BTHH được xác định như là phương pháp, phương tiện sử dụng trong dạy học để hỗ trợ
HS tự học
Chúng tôi đã tiến hành điều tra thực trạng về vệc tự học và việc sử dụng BTHH để hỗ trợ HS tự học qua 28 GV dạy hóa học và 411 HS ở một số trường THPT ở tỉnh Vĩnh Phúc và thành phố Hà Nội Từ sự phân tích các phiếu điều tra
GV và HS đã có những nhận xét, đánh giá làm cơ sở cho việc tuyển chọn, xây dựng hệ thống bài tập và đề xuất phương pháp sử dụng chúng trong dạy học phần phi kim HH 10 trường THPT để hỗ trợ HS tự học
Trang 34CHƯƠNG 2 TUYỂN CHỌN, XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG HỆ THỐNG BÀI TẬP HỖ TRỢ
HỌC SINH TỰ HỌC PHẦN PHI KIM HÓA HỌC 10
2.1 Phân tích nội dung và cấu trúc chương trình phần phi kim HH 10
2.1.1 Chương “Nhóm halogen”
2.1.1.1 Mục tiêu của chương
Việc xác định mục tiêu chương “Nhóm halogen” HH 10 được căn cứ vào chuẩn kiến thức - kĩ năng được qui định bởi bộ GD và đào tạo Nội dung chuẩn kiến thức
- kĩ năng được tham khảo trong tài liệu tham khảo [21]
2.1.1.2 Cấu trúc nội dung kiến thức trong chương
Chương 5 – Nhóm Halogen bao gồm 12 tiết trong đó có 9 tiết học (7 tiết học bài mới và 2 tiết luyện tập), 2 tiết thực hành và 1 tiết kiểm tra cuối chương
Hình 2.1 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Nhóm Halogen
2.1.1.3 Kiến thức trọng tâm của chương
Kiến thức trọng tâm của chương bao gồm:
* Cấu tạo nguyên tử và phân tử của các halogen
- Bán kính nguyên tử tăng dần từ flo đến iot
Hiđroclorua – Axit clohiđric và muối clorua
Thực hành: Tchh của khí clo và hợp chất của clo
Sơ lược về hợp chất có oxi của clo
Luyện tập về clo và hợp chất của clo Thực hành: Tchh của brom và iot
Trang 35Nguyên tố halogen F Cl Br I Cấu hình e lớp ngoài cùng 2s22p5 3s23p5 4s24p5 5s25p5
Oxi hóa nhiều kim loại t o
muối bromua
nhiều kim loại t o,xtmuối iotua Với khí
I2 + H2
o
t
2HI Với nước Phân hủy mãnh
Ở to thường chậm hơn so với Cl2
Br2 + H2O HBr + HBrO
không tác dụng
* Tính chất hóa học của các hợp chất halogen
Nước Gia – ven và clorua vôi có tính tẩy màu và sát trùng do các muối NaClO
và CaOCl2 là các chất oxi hóa mạnh
* Phương pháp điều chế các đơn chất halogen
Trang 36+ F2 : điện phân hỗn hợp KF và HF
+ Cl2: Cho axit HCl đặc tác dụng với chất oxi hóa mạnh như MnO2, KMnO4… (trong phòng thí nghiệm) và điện phân dd NaCl có màng ngăn (trong công nghiệp) + Br2: dùng Cl2 oxi hóa NaBr (có trong nước biển) thành Br2
+ I2: sản xuất I2 từ rong biển
2.1.2 Chương “Oxi – Lưu huỳnh”
2.1.2.1 Mục tiêu của chương
Việc xác định mục tiêu chương “Oxi – Lưu huỳnh” HH 10 được căn cứ vào
chuẩn kiến thức - kĩ năng được qui định bởi bộ Giáo dục và đào tạo Nội dung chuẩn kiến thức - kĩ năng được tham khảo trong tài liệu tham khảo [21]
2.1.2.2 Cấu trúc nội dung kiến thức trong chương
Chương 6 bao gồm 12 tiết, trong đó có 9 tiết học (7 tiết học bài mới và 2 tiết luyện tập), 2 tiết thực hành và 1 tiết kiểm tra cuối chương
Hình 2.2 Sơ đồ cấu trúc nội dung kiến thức trong chương Oxi – Lưu huỳnh
2.1.2.3 Kiến thức trọng tâm của chương
* Oxi
Cấu tạo nguyên tử và phân tử
Tính chất hóa học: tính oxi hóa mạnh (O2 + 2e → 2O2-)
O2 Phòng TN: nhiệt phân các hợp chất giàu oxi và ít bền (KMnO4, KClO3, H2O2)
Điều chế Công nghiệp: từ không khí, nước
Tự nhiên: quang hợp của oxi
O3: là chất oxi hóa mạnh, mạnh hơn oxi (so sánh cấu tạo)
H2O2: kém bền, dễ phân hủy; vừa thể hiện tính oxi hóa, vừa thể hiện tính khử
Thực hành: Tính chất các hợp chất của lưu huỳnh
Trang 37Tính chất vật lý: Cấu tạo của phân tử lưu huỳnh phụ thuộc vào nhiệt độ
Đơn chất Tính oxi hóa: So +2e → S-2
(tác dụng với kim loại, hiđro …) Tchh
Tính khử: So – ne → S+4, S+6 (n = 4,6) Tính chất vật lý: khí mùi trứng thối, độc
Oxi hóa mạnh khi đặc, nóng
Thụ động một số kim loại
khi đặc, nóng (Al, Fe, Cr)
Sản xuất H2SO4 : (FeS2, S) →SO2 →SO3 H SO2 4
Oleum: H2SO4.nSO3
2.1.3 Những chú ý về PPDH phần phi kim HH 10
Trong các nghiên cứu về các phi kim HH 10 cần chú ý lựa chọn các PPDH và
tổ chức các hoạt động hoạt động học tập cho HS cần đảm bảo các yêu cầu:
- Sử dụng tích cực chức năng giải thích, dự đoán lý thuyết trong các bài dạy
- Xác định việc nghiên cứu các kiến thức về các nhóm phi kim dựa trên quan điểm của thuyết electron, liên kết HH, định luật tuần hoàn là chính chứ không phải là cung cấp tư liệu về tính chất của các phi kim
- Vận dụng triệt để các kiến thức về sự biến đổi số oxi hóa của nguyên tố trong các đơn chất và hợp chất để giải thích các Tchh của chúng
- Thường xuyên làm rõ mối quan hệ phụ thuộc của tính chất các chất vào cấu tạo nguyên tử, liên kết HH trong phân tử, so sánh tính chất các nguyên tố trong nhóm
Trang 38và giải thích quy luật biến thiên tính chất, nguyên nhân giống nhau, khác nhau theo quan điểm cấu tạo chất
- Cần sử dụng thí nghiệm để nghiên cứu những tính chất mới, củng cố và phát triển nội dung kiến thức đã có về các phi kim ở Trung học cơ sở
- Phát huy tối đa tính tích cực, độc lập của HS trong các hoạt động học tập
2.2 Hệ thống BTHH phần phi kim HH 10 để hỗ trợ HS tự học
2.2.1.Những nguyên tắc lựa chọn xây dựng hệ thống bài tập hỗ trợ HS tự học
Nguyên tắc 1: Đảm bảo tính chính xác, khoa học và mục tiêu môn học
Nguyên tắc 2: Lựa chọn các bài tập tiêu biểu điển hình Biên soạn hệ thống bài tập
đa cấp để tiện sử dụng : sắp xếp theo từng dạng bài toán và xếp theo mức độ từ dễ đến khó
Nguyên tắc 3: Hệ thống bài tập phải bao quát hết các kiến thức cơ bản, cốt lõi nhất
cần cung cấp cho HS Tránh bỏ sót, phần thì qua loa, phần thì quá kĩ
Nguyên tắc 4: Bài tập trong một chương, một học kì, một năm phải mang tính kế
thừa và phát triển, bổ sung lẫn nhau
Nguyên tắc 5: Đảm bảo tính phân hóa, tính vừa sức với từng đối tượng HS
Nguyên tắc 6: Đảm bảo sự cân đối về thời gian học lý thuyết và làm bài tập Không
tham lam bắt HS làm bài tập quá nhiều ảnh hưởng đến các môn học khác
2.2.2 Quy trình xây dựng hệ thống bài tập
Ngoài việc triệt để sử dụng các bài tập có sẵn trong SGK, SBT hoặc các tài liệu tham khảo khác, trong quá trình giảng dạy, GV HH cần biết cách xây dựng một
số đề bài tập mới phù hợp với đối tượng HS Để biên soạn một bài tập mới cần tiến hành các bước sau đây :
Bước 1: Chọn nội dung kiến thức để ra bài tập Ví dụ ra bài tập về các phản ứng xảy
ra trong dung dịch các chất điện li, Tchh của một nguyên tố hay các hợp chất của
nó, …
Bước 2: Xét tính chất và mối quan hệ qua lại giữa các chất (phù hợp với nội dung kiến thức đã chọn) và tạo ra các biến đổi HH Trên cơ sở các biến đổi HH, xây dựng các giả thiết (tạo ra các số liệu) và kết luận của bài toán (hướng đến cái phải tìm) Bước 3: Viết đề bài tập (cần diễn đạt mạch lạc, dễ hiểu, ngắn gọn và súc tích)
Trang 39Bước 4: Giải bài tập vừa xây dựng bằng nhiều cách, phân tích ý nghĩa HH, tác dụng của mỗi cách giải và xem mỗi cách giải đó ứng với trình độ tư duy của đối tượng
HS nào
Bước 5: Xem lại đề bài , loại bỏ các dữ kiện thừa; các câu, chữ gây hiểu nhầm đồng thời sửa chữa các lỗi ngữ pháp, chính tả để hoàn thiện đề bài
2.2.3 Nguyên tắc sắp xếp hệ thống BTHH
Với hệ thống bài tập đã xây dựng được sắp xếp theo:
Nguyên tắc 1: Sắp xếp theo từng dạng bài tập, với từng dạng bài tập có bài tập điển
hình, hướng dẫn giải và bài tập vận dụng (bài tập vận dụng nguyên mẫu, vận dụng
có biến đổi và sáng tạo)
Nguyên tắc 2: Sắp xếp các dạng bài tập theo nội dung kiến thức cơ bản, cần cung
cấp và củng cố các phương pháp giải, kĩ năng giải BTHH cơ bản cần rèn luyện cho
HS Hệ thống bài tập bao gồm cả bài tập định tính và bài tập định lượng Các bài tập tương tự nhau được bố trí gần nhau
Nguyên tắc 3: Sắp xếp các bài tập theo mức độ nhận thức tăng dần từ dễ đến khó, từ
đơn giản đến phức tạp, từ cơ bản đến tổng hợp
2.2.4 Phân loại và phương pháp giải các dạng bài tập phần phi kim HH 10
2.2.4.1 Phân loại
Chúng tôi phân loại bài tập phi kim HH 10 theo các dạng như sau:
* Bài tập định tính (Bài tập TNKQ và bài tập tự luận)
- Dạng 1: Viết PTHH, viết PTHH theo sơ đồ chuyển hóa các chất
- Dạng 2: Giải thích hiện tượng thí nghiệm, hiện tượng thực tiễn
- Dạng 3: Nhận biết, tách, điều chế chất
- Dạng 4: Bài tập có sử dụng hình vẽ
* Bài tập định lượng (Bài toán HH, bài tập TNKQ và bài tập tự luận)
- Dạng 1: Pha chế dd, xác định nồng độ dd
- Dạng 2: Bài toán tính theo PTHH của phản ứng
- Dạng 3: Xác định thành phần hỗn hợp chất
- Dạng 4: Bài tập tổng hợp
Để tạo điều kiện thuận lợi cho HS khi sử dụng BTHH trong tự học với mỗi dạng bài tập chúng tôi đều có sự phân tích đặc điểm, các chú ý và phương pháp giải
Trang 40bài tập Từ đó hướng dẫn giải với bài tập điển hình, bài tập vận dụng tương tự và bài tập có biến đổi để HS tự giải
2.2.4.2 Hệ thống bài tập và hướng dẫn giải các dạng bài tập định tính
Dạng 1: Viết PTHH, viết PTHH theo sơ đồ chuyển hóa các chất
*Đặc điểm, các chú ý và phương pháp giải
Để giải dạng bài tập này, HS phải hiểu rõ và nắm vững tính chất vật lý, HH, điều chế các chất, chú ý đến đặc điểm cấu tạo nguyên tử, phân tử chất và các hiện tượng HH xảy ra Ngoài ra, HS cần quan sát, nhớ các điều kiện xảy ra phản ứng HH
và các quy luật chi phối nó (điều kiện để phản ứng trao đổi, phản ứng oxi hóa khử xảy ra …)
- Để viết đúng PTHH của phản ứng: HS phải hiểu rõ và sâu phần hóa tính của các chất, xác định được hợp chất đó có thể tác dụng với các loại chất và hợp chất nào, tạo ra được chất gì và có kĩ năng cân bằng PTHH của phản ứng oxi hóa khử
-Khi viết PTHH của phản ứng theo sơ đồ biến đổi chất, HS cần biết và hiểu sâu sắc
cả hóa tính và điều chế, mối quan hệ giữa các chất, … kết hợp với điều kiện phản ứng để suy luận tìm công thức các chất còn ẩn trong sơ đồ, nhớ cân bằng và ghi rõ điều kiện phản ứng
Các bước thực hiện giải gồm:
- Đánh số thứ tự các biến đổi (nếu cần)
- Xác định chất tương tác, sản phẩm, điều kiện phản ứng
- Viết PTHH của các phản ứng
Bài tập điển hình dạng viết PTHH của phản ứng:
Bài 1 Điền các chất còn thiếu vào sơ đồ phản ứng và hoàn thành PTHH sau
KI + … + … I2 + … + O2
HƯỚNG DẪN GIẢI Bước 1:KI-1 + … + … 0
2
I + … + O2 Xác định số oxi hóa của các nguyên tố tường minh: I và O, nhận thấy có sự thay đổi số oxi Phản ứng xảy ra là phản ứng oxi hóa khử
Bước 2: Xác định KI là chất khử (I-1 0
2
I )
Do đó, chất tác dụng với KI có tính oxi hóa và có chứa nguyên tố oxi O3
K+ không thay đổi số oxi hóa KOH và chất tham gia phản ứng còn lại phải
là H2O