Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang .... Các quy t
Trang 1Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ THANH
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG DẠY HỌC
MÔN GDCD LỚP 12 Ở CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ THANH
SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG DẠY HỌC
MÔN GDCD LỚP 12 Ở CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
Ngành: LL&PPDH Bộ môn Lý luận chính trị
Mã số: 8140111
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THỊ KHƯƠNG
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 3Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn này do bản thân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Nguyễn Thị Khương - Giảng viên chính khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên
Số liệu và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc, xuất xứ
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả
Hoàng Thị Thanh
Trang 4Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
LỜI CẢM ƠN
Để luận văn hoàn thành và được phép bảo vệ em đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhiều cá nhân và đơn vị
Em xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc đến:
- Cô giáo TS Nguyễn Thị Khương - người đã dành nhiều thời gian quý báu để hướng dẫn, góp ý, chia sẻ… giúp em có định hướng đúng trong suốt thời gian thực hiện luận văn
- Các nhà khoa học trong Hội đồng đánh giá luận văn đã có nhiều góp ý về mặt khoa học để em hoàn thiện luận văn được tốt hơn
- Các thầy, cô giáo giảng dạy lớp cao học Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Lý luận chính trị - đã giúp em có nền tảng kiến thức để thực hiện luận văn
- Trường Phổ thông Dân tộc nội trú THCS và THPT huyện Bắc Quang tỉnh Hà Giang đã giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm làm luận văn
Sau cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến những người thân, gia đình, đồng nghiệp, bạn bè đã luôn động viên, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi, giúp tôi hoàn thành luận văn
Thái Nguyên, tháng 4 năm 2019
Tác giả
Hoàng Thị Thanh
Trang 5Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ vi
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài 4
5 Giả thuyết khoa học 5
6 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài 6
7 Kết cấu của đề tài 6
Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 7
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 7
1.1.1 Các công trình liên quan đến phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 7
1.1.2 Các công trình liên quan đến phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân 10
1.2 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 12
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình 12
Trang 6Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2 Nội dung, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 12 và vai trò của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 19 1.2.3 Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 26 Kết luận chương 1 29
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG 30
2.1 Khái quát chung về các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 30 2.1.1 Đặc điểm chung về các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 30 2.1.2 Đặc điểm học sinh các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 35 2.1.3 Đặc điểm giáo viên dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 37 2.2 Thực trạng dạy học và sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình vào dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 39 2.1.1 Thực trạng dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 39 2.1.2 Thực trạng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình vào dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 42 2.3 Đề xuất quy trình sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 46 2.3.1 Các nguyên tắc xây dựng quy trình 46 2.3.2 Các quy trình sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 48 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
Trang 7Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM VÀ MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở CÁC TRƯỜNG THPT
HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG 61
3.1 Thực nghiệm sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình vào dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 61
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 61
3.1.2 Giả thuyết thực nghiệm 61
3.1.3 Phương pháp, thời gian, đối tượng thực nghiệm 62
3.1.4 Nội dung thực nghiệm 63
3.1.5 Kiểm tra đánh giá kết quả nhận thức của học sinh 65
3.1.6 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 67
3.2 Ưu điểm, hạn chế và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 74
3.2.1 Ưu điểm và nhược điểm khi vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 74
3.2.2 Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang 76
Kết luận chương 3 82
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 83
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 85 PHỤ LỤC
Trang 8Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trang 9Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Cơ sở vật chất của một số trường THPT huyện Bắc Quang
tỉnh Hà Giang năm học 2018-2019 35 Bảng 2.2 Số lượng HS và GV ở một số trường THPT huyện Bắc
Quang, tỉnh Hà Giang năm học 2018 -2019 33 Bảng.2.3 Trình độ chuyên môn của GV ở một số trường THPT huyện
Bắc Quang, tỉnh Hà Giang năm học 2018 -2019 34 Bảng 2.4 Số lượng GV dạy môn GDCD ở các trường THPT huyện Bắc
Quang - Hà Giang năm học 2018-2019 37 Bảng 2.5 Kết quả học tập môn GDCD của học sinh THPT huyện Bắc
Quang - Tỉnh Hà Giang 41 Bảng 2.6 Kết quả điều tra mức độ sử dụng các PPDH và phương
pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở huyện Bắc Quang 43 Bảng 2.7 Những khó khăn khi vận dụng phương pháp NCTHĐH trong
dạy học GDCD lớp 12 ở huyện Bắc Quang 44 Bảng 3.1 Các lớp tham gia thực nghiệm 63 Bảng 3.2 Mức độ hiểu bài và thái độ học tập của HS đối với giờ học 68 Bảng 3.3 Điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và ĐC ở trường Nội trú
THCS& THPT 70 Bảng 3.6 Điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và ĐC ở trường THPT
Kim Ngọc 71 Bảng 3.7 Điểm kiểm tra 1 tiết của lớp TN và ĐC ở trường THPT
Việt Vinh 72
Trang 10Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Kết quả kiểm tra 1 tiết của lớp TN và lớp ĐC trường Nội
trú THCS& THPT 70 Biểu đồ 3.2 Kết quả kiểm tra 1 tiết của lớp TN và lớp ĐC trường
THPT Kim Ngọc 71 Biểu đồ 3.3 Kết quả kiểm tra 1 tiết của lớp TN và lớp ĐC trường
THPT Việt Vinh 72
Trang 11Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày 4 tháng 11 năm 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị quyết số 29-NQ/TW “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, trong đó nhấn mạnh tới quá trình đổi mới giáo dục như là nấc thang đột phá để nước ta phát triển đi lên Giáo dục và đào tạo được coi là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển, được
ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội [14] Nghị quyết 29 đã nhấn mạnh tới việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông
ở tất cả các thành tố từ nội dung, chương trình, phương pháp dạy học Tiếp tục tinh thần của Nghị quyết 29, tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, Đảng ta khẳng định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học Đổi mới chương trình và nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi, trình độ và ngành nghề Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu cảu các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, đảm bảo trung thực, khách quan” [15, tr.115-116]
Bước đột phá quan trọng của ngành giáo dục nhằm thực hiện tốt Nghị quyết 29 và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng là việc ban hành Chương trình phổ thông tổng thể và Chương trình môn học mới ở phổ thông vào ngày 28 tháng 12 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong đó, khẳng định tính cấp thiết và nội dung của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo ở các cấp bậc học trong chương trình giáo dục phổ thông Các môn học đã được nhìn nhận, thay đổi theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực người học và điều đặc
Trang 12Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
biệt là tầm quan trọng và vai trò của các môn học đã được nhìn nhận, đánh giá một cách thấu đáo, toàn vẹn
Theo đó, môn Giáo dục công dân trong chương trình giáo dục phổ thông tiếp tục được khẳng định là giữ vai trò quan trọng trong việc trang bị cho học sinh kỹ năng sống, rèn luyện ý thức và hành vi đạo đức, ý thức sống và làm việc theo pháp luật; qua đó hình thành và phát triển ở học sinh những phẩm chất và năng lực cần thiết của công dân sống trong một xã hội dân chủ, công bằng, văn minh Với tầm quan trọng đó, việc dạy và học tốt môn GDCD là việc làm vừa mang tính cấp bách, vừa có tính lâu dài và cũng không hề đơn giản trước những làn sóng văn hóa của thời kỳ hội nhập và phát triển kinh tế thị trường Tuy nhiên, để phát huy được vai trò, nhiệm vụ của môn GDCD trong điều kiện mới và đặc biệt là để thực hiện thành công chương trình môn học môn GDCD mới, cần thiết phải thay đổi phương pháp dạy học theo đúng
khuyến nghị được thể hiện trong chương trình môn học mới: kết hợp sử dụng
các phương pháp dạy học truyền thống và dạy học hiện đại theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, tăng cường phương pháp dạy học đặc thù như dạy học giải quyết vấn đề, phân tích trường hợp điển hình kết hợp nêu những tấm gương công dân; xử lý tình huống có tính thời sự về đạo đức, pháp luật và kinh tế trong cuộc sống hàng ngày; thảo luận nhóm, đóng vai, dự án…
Huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang là một huyện miền núi phía Bắc của
Tổ quốc Nhiều năm qua, ngành giáo dục Hà Giang chỉ đạo giáo viên GDCD cấp trung học phổ thông trong toàn tỉnh cũng như ở huyện Bắc Quang nỗ lực
tổ chức thực hiện chương trình, đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD Một số thành tích của giáo viên và học sinh THPT huyện Bắc Quang trong dạy học môn GDCD đã có sự thay đổi theo hướng phát triển Trong những năm gần đây, số học sinh chọn môn GDCD để thi tốt nghiệp THPT có xu hướng nhiều hơn các môn khác Chất lượng dạy và học môn học được tăng cường Công tác giáo dục đạo đức, pháp luật, kỹ năng sống cho học sinh,
Trang 13Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
nhờ đó, được nâng lên Tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn có những khó khăn, hạn chế trong dạy học môn GDCD ở huyện Bắc Quang Mặc dù tỉ lệ học sinh chọn môn học này để thi tốt nghiệp đông, song kết quả thi về mặt điểm số chưa cao; khả năng hiểu sâu bài học, các năng lực, phẩm chất của học sinh được hình thành trong môn GDCD còn yếu Tìm hiểu nguyên nhân của thực trạng đó, chúng tôi được biết bên cạnh các nhân tố chủ quan thuộc về học sinh thì các yếu tố như cơ sở vật chất, tài liệu tham khảo và đặc biệt phương pháp dạy học của giáo viên còn nghèo nàn Giáo viên chưa nỗ lực, đổi mới phương pháp dạy học, chủ yếu vận dụng các phương pháp dạy học truyền thống như thuyết trình, phát vấn…không đem lại hiệu quả về chất lượng dạy học Qua nhiều năm giảng dạy ở nhà trường phổ thông, tôi thấy học sinh học môn GDCD
sẽ hứng thú với bài học hơn, các năng lực tư duy lôgic, phản biện, hợp tác…của học sinh dần được hình thành khi các em được giao những tình huống thực tiễn, nhất là các nhân vật người thật, việc thật để liên hệ, giải quyết trong bài học Từ đó, có thể khẳng định, việc dạy học môn GDCD bằng phương pháp NCTHĐH, vừa sát với yêu cầu chỉ đạo của Bộ Giáo dục và đào tạo trong Chương trình môn học mới, vừa phát huy năng lực người học
Xuất phát từ thực tế trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang” để làm
đề tài luận văn thạc sĩ của mình với mong muốn sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD cấp THPT ở huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang trong giai đoạn hiện nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Trang 14Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
và một số biện pháp nhằm sử dụng có hiệu quả phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang hiện nay
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài hướng vào giải quyết các nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là: Phân tích làm rõ cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12
Hai là: Phân tích thực trạng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở các trường THPT trong huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
Ba là: Đề xuất quy trình, thực nghiệm sư phạm và một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển
hình trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở huyện huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học phần “Công dân với pháp luật” chương trình GDCD lớp 12 ở các trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh
Hà Giang hiện nay
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của đề tài
4.1 Cơ sở lý luận của đề tài
Đề tài dựa trên:
- Cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử
- Lý luận về phương pháp dạy học hiện đại trên thế giới và trong nước
Trang 15Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
- Kế thừa các công trình nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học nói chung và dạy học môn Giáo dục công dân nói riêng
4.2 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Trên cơ sở xác định mục đích, đối tượng nghiên cứu của đề tài có sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết:
+ Phương pháp lịch sử và lôgic
+ Phân tích và tổng hợp tài liệu
+ Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lý thuyết
+ Phương pháp phân tích, đối chiếu
+ Phương pháp so sánh
Các phương pháp trên được sử dụng để nghiên cứu, làm rõ những nội dung có tính lý luận và những nội dung thực tiễn cần phân tích
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
+ Phương pháp phỏng vấn
+ Phương pháp điều tra xã hội học
+ Phương pháp thực nghiệm sư phạm
+ Phương pháp quan sát
+ Sử dụng toán thống kê
Các phương pháp nghiên cứu thực tiễn được sử dụng để nghiên cứu những nội dung thực tiễn trong luận văn
5 Giả thuyết khoa học
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình được vận dụng trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang theo đúng nguyên tắc, quy trình, biện pháp đề xuất trong luận văn sẽ đem lại hiệu quả cao: phát huy được tính tích cực, tự giác, năng động của học sinh trong học tập; góp phần hình thành ở học sinh năng lực độc lập, tư duy sáng tạo; góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD nói chung
Trang 16Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
6 Ý nghĩa thực tiễn và đóng góp của đề tài
- Đề tài hoàn thành góp phần làm sáng tỏ hơn về thực trạng sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Cung cấp những luận cứ làm cơ sở lý luận cho việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình vào quá trình dạy học môn Giáo dục công dân nói chung và môn Giáo dục công dân lớp 12 nói riêng ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả của việc dạy và học cũng như của quá trình đổi mới PPDH môn Giáo dục công dân
- Đề tài hoàn thiện còn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Giáo dục chính trị và những người quan tâm đến môn Giáo dục công dân và phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân
7 Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương, 7 tiết
Trang 17Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH TRONG
DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình liên quan đến phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Nhằm giúp người học vừa có thể lĩnh hội được kiến thức một cách tối đa, vừa có thể phát huy được những kỹ năng, thái độ, các nhà giáo dục, các thầy cô giáo đã không ngừng sáng tạo ra các phương pháp, cách thức tổ chức dạy học tiên tiến, hiện đại Một trong những phương pháp đó là nghiên cứu trường hợp điển hình Phương pháp này được các học giả trên thế giới và trong nước đã để tâm nghiên cứu và áp dụng trong nhiều năm qua
* Trên thế giới:
Nghiên cứu trường hợp điển hình được áp dụng trong dạy học từ khá lâu Ngay từ những năm đầu của thế kỉ 20, một số trường học ở Hoa Kỳ như trường Thương mại Harvard ở Boston đã áp dụng phương pháp này vào dạy học với mục đích giúp cho sinh viên chuẩn bị tốt hơn khi bước vào thực tiễn nghề nghiệp Trên thế giới các công trình liên quan đến phương pháp NCTHĐH có thể kể đến như sau:
- “Nghiên cứu trường hợp điển hình trong Chính phủ Mỹ: Chương trình trường hợp liên đại học” của các tác giả Bock Edwin A và Alan K Campbell [7]
- “Các bậc tự do” và nghiên cứu điển hình” của tác giả Campbell Donald T [8, tr.178-193]
- “Nghiên cứu điển hình và tổng quát hóa” của các tác giả Roger Gomm, Martyn Hammerlsay, Peter Foster [30, tr.98-115]
- “Nghiên cứu điển hình trong tư tưởng phương pháp học của Mỹ” của tác giả Platt Jennifer [28, tr.17-48]
Trang 18Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Các công trình trên ở những khía cạnh nhất định đã đề cập đến phương pháp NCTHĐH Các vấn đề lý luận chung như bản chất, đặc điểm, tính hiệu quả của việc vận dụng phương pháp này trong các lĩnh vực giáo dục học, chính trị học đã được các tác giả đưa ra mổ xẻ, phân tích một cách kỹ lưỡng Dưới góc độ giáo dục các tác giả Bock Edwin A và Alan K Campbell đã khẳng định việc áp dụng phương pháp NCTHĐH sẽ đem đến những ích lợi to lớn cho cả người dạy
và người học Phương pháp này không chỉ kích thích tính năng động, sáng tạo, tư duy phân tích, phản biện cho người học mà còn làm tăng hàm lượng kiến thức thực tiễn, kỹ năng giải quyết vấn đề cho người dạy Những vấn đề này là những luận cứ quan trọng giúp tác giả luận văn hiểu rõ hơn về phương pháp NCTHĐH
và vận dụng nó vào việc nghiên cứu luận văn của mình
Ở Việt Nam:
Phương pháp NCTHĐH được các nhà giáo dục áp dụng phổ biến trong dạy học ở nhiều môn học khác nhau Nghiên cứu về phương pháp này ở nước ta có một số công trình tiêu biểu sau:
Bài viết “Một số phương pháp dạy học tích cực nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức kinh doanh cho học sinh trung học phổ thông”, tác giả Nguyễn Thị Linh Huyền đã trình bày một số phương pháp dạy học tích cực, trong đó có bàn luận đến phương pháp nghiên cứu trường hợp Theo tác giả Nguyễn Thị Linh Huyền, phương pháp này có các đặc điểm là: Trường hợp được rút ra từ thực tiễn dạy học hoặc phản ánh một tình huống thực tiễn dạy học Do đó trường hợp thường mang tính phức hợp; Mục đích hàng đầu của phương pháp trường hợp không phải là việc truyền thụ tri thức lí thuyết mà là việc vận dụng tri thức vào việc giải quyết vấn đề trong những tình huống cụ thể; HS đặt trước những tình huống cần quyết định, họ cần xây dựng các phương án giải quyết vấn đề cũng như đánh giá các phương án đó, để quyết định phương án giải quyết vấn đề; HS cần xác định những phương hướng hành động có ý nghĩa quyết định [23]
Trang 19Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong khuôn khổ của “Dự án phát triển giáo dục trung học phổ thông” của Bộ Giáo dục và đào tạo, các tác giả Nguyễn Văn Cường và Bernd Meier đã trình bày trong chuyên đề “Một số vấn đề chung về phương pháp dạy học ở trường trung học” Khi đề cập đến phương pháp nghiên cứu trường hợp, các tác giả đã phân tích các vấn đề sau: khái niệm phương pháp nghiên cứu trường hợp; đặc điểm đặc trưng; các dạng khác nhau của phương pháp nghiên cứu trường hợp; ưu điểm, nhược điểm; cách xây dựng trường hợp và ví dụ về phương pháp nghiên cứu trường hợp [10]
Tác giả Nguyễn Bá Đạt trong Tạp chí Tâm lý học số 10, với bài viết
“Phương pháp NCTHĐH trong khoa học xã hội và tâm lý học”, trong đó tác giả đã phân tích việc áp dụng phương pháp NCTHĐH trong khoa học tâm lý học và đề xuất những giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng NCTHĐH trong khoa học xã hội nói chung và tâm lý học nói riêng [16, tr.56]
Cuốn “Dạy học dựa vào nghiên cứu trường hợp ở đại học” của tác giả
Vũ Thị Lan xuất bản năm 2014 được coi là cuốn sách trình bày khá chi tiết, tường tận về phương pháp nghiên cứu trường hợp trong dạy học bậc đại học Với dung lượng 171 trang, tác giả Vũ Thị Lan đã bắt đầu từ việc phân tích quan niệm về dạy học hiện đại ở bậc đại học, từ đó đi sâu nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu trường hợp trong khoa học, lịch sử phát triển của phương pháp nghiên cứu trường hợp trong dạy học đại học, bản chất và nguyên tắc của dạy học dựa vào nghiên cứu trường hợp Đặc biệt, trong cuốn sách này, tác giả
Vũ Thị Lan còn chỉ rõ những biện pháp và kỹ thuật dạy học nghiên cứu trường hợp, đưa ra các ví dụ minh họa đặc sắc Có thể nói, cuốn sách là nguồn tài liệu quý giá cho việc nghiên cứu phương pháp CNTHĐH trong dạy học
Có thể thấy, việc áp dụng phương pháp NCTHĐH vào dạy học ở nước ta
là khá phổ biến Nhưng để có những nghiên cứu chuyên sâu về phương pháp này thì lại rất ít Nhìn chung các công trình nghiên cứu đã có mới chỉ đề cập
Trang 20Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đến phương pháp NCTHĐH ở một phương diện nhất định nào đó Do vậy, rất cần có cái nhìn chuyên sâu, toàn diện và bao quát hơn về phương pháp NCTHĐH và vận dụng nó vào dạy học ở nước ta hiện nay
1.1.2 Các công trình liên quan đến phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân
Có thể khẳng định rằng cho đến nay, việc nghiên cứu về phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD là không nhiều, mới chỉ xuất hiện một vài công trình tiêu biểu như:
“Phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT” của tác giả Vũ Đình Bảy là một cuốn sách chú trọng tới các phương pháp dạy học khác nhau trong dạy học môn GDCD Tuy nhiên, khi đưa ra những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học tích cực áp dụng trong dạy học môn GDCD ở trường phổ thông, tác giả đã đề cập đến phương pháp NCTHĐH Với quan niệm đó là một phương pháp dạy học tích cực, tác giả đã chỉ dẫn những ưu điểm, nhược điểm
và khẳng định việc vận dụng phương pháp NCTHĐH vào dạy học môn GDCD
sẽ đem lại hiệu quả tích cực, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở nước ta [1]
Sáng kiến kinh nghiệm “Vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp
điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12” của tác giả Phạm Thị
Dinh trường Trung học phổ thông Sông Ray, tỉnh Đồng Nai Trong sáng kiến này, tác giả Phạm Thị Dinh đã trình bày khái niệm về phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, chỉ rõ những đặc điểm của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình và các dạng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình Trong sáng kiến này, tác giả còn phân tích những ưu điểm và nhược điểm của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, để từ đó đưa ra những yêu cầu cơ bản của việc vận dụng nghiên cứu trường hợp điển hình vào môn Giáo dục công dân lớp 12 [12]
Trang 21Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Luận văn Thạc sỹ của tác giả Nguyễn Thị Mai “Vận dụng phương pháp
nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục Công dân ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh” Có thể coi, đây là công trình nghiên
cứu chuyên sâu về vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD Trong khuôn khổ 80 trang A4, luận văn đã đề cập đến những vấn đề sau: [25]
Thứ nhất, phân tích cơ sở lý luận của việc vận dụng phương pháp NCTHĐH trong môn GDCD ở THPT Ở đây, tác giả đã trình bày khái niệm, đặc trưng và các hình thức của phương pháp NCTHĐH; phân tích ưu điểm và nhược điểm của phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD ở trường THPT; luận giải rõ sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD ở trường THPT
Thứ hai, đề xuất quy trình vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Theo đó, quy trình mà tác giả đề xuất gồm 5 bước: 1 Nghiên cứu, rà soát cấu trúc, nội dung chương trình, sách giáo khoa môn GDCD; 2 Lựa chọn bài học và xác định mục tiêu; 3 Thiết kế các hoạt động dạy học vận dụng phương pháp NCTHĐH; 4 Xây dựng công cụ đánh giá và 5 Thực nghiệm tổ chức dạy học
Từ đó, tác giả đã tiến hành thực nghiệm sư phạm vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh ở các phương diện kế hoạch, nội dung, kết quả thực nghiệm Cũng trong nội dung này tác giả Nguyễn Thị Mai còn phân tích và chỉ ra được những vấn đề đặt ra trong vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh
Thứ ba, tác giả phân tích nguyên tắc và đề xuất năm biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh Qua đó đi đến khẳng định việc vận dụng phương pháp NCTHĐH là một trong những hướng
đi đổi mới góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở các trường THPT huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh hiện nay
Trang 22Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Như vậy, có thể thấy, tuy không có nhiều công trình nghiên cứu về vận dụng phương pháp CNTHĐH trong dạy học môn GDCD nhưng những công trình đã có đều có những đóng góp quan trọng trong việc lý giải tính tích cực của việc áp dụng phương pháp NCTHĐH để nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD ở nước ta
Trong quá trình nghiên cứu tài liệu để viết luận văn, tác giả nhận thấy cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu về phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 ở trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang Do vậy, việc tác giả lựa chọn
và nghiên cứu tài liệu này là không có sự trùng lặp về nội dung, hình thức, đối tượng cũng như địa điểm nghiên cứu
Dựa trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã có liên quan đến đề tài, đề tài tiếp tục nghiên cứu để làm rõ những nội dung sau:
- Đưa ra khái niệm mới về phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường phổ thông
- Đề xuất quy trình dạy học bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình môn GDCD lớp 12 áp dụng trước hết cho các trường THPT trên địa bàn huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học bằng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
1.2 Cơ sở lý luận của việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
1.2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
* Khái niệm về phương pháp
Thuật ngữ, “phương pháp” bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp là “methodos”
Nghĩa là con đường, công cụ để nhận thức thế giới
Trang 23Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Trong Triết học, phương pháp được hiểu là “cách thức đề cập đến hiện thực, nghiên cứu các hiện tượng của tự nhiên và của xã hội” [31, tr.607]
Trong từ điển Tiếng Việt dành cho học sinh, phương pháp được diễn giải theo hai nghĩa: Nghĩa thứ nhất là “Trình tự cần theo trong những bước có quan
hệ với nhau khi tiến hành một việc có mục đích nhất định”; và nghĩa thứ hai là
“Toàn thể những bước đi mà tư duy tiến hành theo một trình tự hợp lý luận, nhằm tìm ra chân lý trong khoa học” [13, tr.394]
Theo tác giả Hoàng Phê, phương pháp “là cách thức để làm một việc gì
sau khi nghiên cứu kỹ: làm việc có phương pháp” [26, tr.24]
Như vậy, nói đến phương pháp là nói đến cách thức/phương thức mà con người đặt ra để thực hiện một mục đích/mục tiêu nào đó nhằm đem lại hiệu quả cao trong công việc của mình
Trong thực tiễn, ở bất cứ một ngành nghề hay lĩnh vực nào đó, để đạt được mục đích đặt ra, người ta đều phải xây dựng cho mình một hệ thống các phương pháp Trong dạy học, mục tiêu dạy học luôn được xác định rõ ràng và để đạt được mục tiêu đó, người giáo viên luôn xác định được cho mình phương pháp dạy phù hợp với từng bài, từng đơn vị kiến thức Phương pháp dạy học là một trong những yếu tố quan trọng của quá trình dạy học Sự hứng thú/không hứng thú của học sinh trong giờ học phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp dạy học mà người giáo viên thực hiện trên lớp
* Khái niệm về phương pháp dạy học
Cho đến nay, vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm phương pháp dạy học tùy theo các cấp độ nghiên cứu rộng, hẹp khác nhau Dưới đây là một số quan niệm đó:
“Phương pháp dạy học là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học” [18, tr.46]
“Phương pháp dạy học là cách thức làm việc giữa giáo viên và học sinh để cho học sinh lĩnh hội tri thức, kỹ năng và kỹ xảo” [24, tr.22]
Trang 24Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
“Phương pháp dạy học là cách thức làm việc của thầy và trò trong sự phối hợp thống nhất dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm làm cho trò tự giác, tích cực tự lực đạt tới mục đích dạy học” [21, tr.45]
Phương pháp dạy học “là cách thức hoạt động phối hợp thống nhất của giáo viên và học sinh trong quá trình dạy học được tiến hành dưới vai trò chủ đạo của giáo viên nhằm thực hiện tối ưu mục tiêu và các nhiệm vụ dạy học” [32, tr.204]
“Phương pháp dạy học là tổ hợp cách thức hoạt động của cả thầy giáo và học sinh trong quá trình dạy học dưới sự chỉ đạo của thầy nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học đề ra” [22]
“Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của GV
và HS trong những môi trường dạy học được tổ chức, nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ
năng, thái độ, phát triển năng lực và phẩm chất” [2, tr.98]
“Phương pháp dạy học là những quan điểm, tư tưởng về tổ chức dạy học, là cách thức triển khai của một hệ thống dạy học đa tầng, đa diện cho một bậc học,
cấp học, ngành học, phương thức học” [19, tr.12]
Như vậy, mặc dù không có sự đồng nhất tuyệt đối, nhưng gần như hầu hết các quan niệm trên đều hiểu phương pháp dạy học là cách thức tương tác hay giao tiếp giữa thầy và trò để giải quyết các nhiệm vụ dạy học, giúp học sinh lĩnh hội tri
thức Kế thừa các quan niệm trên, chúng tôi cho rằng phương pháp là cách thức
mà giáo viên đặt ra trong quá trình lên lớp giúp học sinh hiểu được kiến thức bài học và qua đó hình thành kĩ năng, năng lực và thái độ cho học sinh
Phương pháp dạy học bao gồm hai hoạt động song hành là hoạt động dạy và hoạt động học Song song với hai hoạt động đó là phương pháp dạy
và phương pháp học Hai phương pháp này có mối quan hệ tương hỗ với nhau, trong đó phương pháp dạy giữ vai trò chủ đạo, còn phương pháp học giữ vai trò chủ động Sự tác động qua lại và chi phối lẫn nhau giữa hai phương pháp này tạo nên sự sống động trong quá trình dạy học và quyết định chất lượng của quá trình dạy học
Trang 25Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Khái niệm về phương pháp NCTHĐH
Dưới góc độ phương pháp dạy học được sử dụng trong giáo dục, mặc dù chưa hoàn toàn đồng nhất, nhưng các nhà sư phạm, các nhà nghiên cứu đều có chung một quan niệm như nhau về phương pháp NCTHĐH Theo đó, phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình là một phương pháp dạy học, trong đó học sinh tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các vấn đề của tình huống đặt ra, hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm Đây là phương pháp điển hình của dạy học theo tình huống và dạy học giải quyết vấn đề [17]
Từ luận điểm trên có thể thấy, phương pháp NCTHĐH là một phương là một phương pháp nghiên cứu có tính khoa học, giáo dục có chức năng phân tích, giải thích, đánh giá bản chất các sự vật, hiện tượng trong một trường hợp nhất định Đặc trưng của phương pháp này đòi hỏi sự nghiên cứu chuyên sâu, mang tính bản chất những hiện tượng trong tình huống thực tế Cũng vì lẽ này mà phương pháp NCTHĐH thường được gọi là phương pháp nghiên cứu thực tế Với nghĩa này, phương pháp NCTHĐH không chỉ được sử dụng trong dạy học, mà nó còn được sử dụng nhiều trong các ngành nghề đòi hỏi sự chuẩn xác cao như y học, luật học, xã hội học, sinh học
Dựa trên sự kế thừa các công trình đã có, trong mối liên quan và tách biệt của quá trình dạy học, đồng thời nhìn nhận dưới góc độ giáo dục, chúng tôi cho
rằng phương pháp NCTHĐH được áp dụng trong quá trình dạy học bộ môn là
phương pháp mà ở đó người giáo viên sử dụng những tình huống có tính tiêu biểu về bản chất của một sự vật, hiện tượng hoặc một nhóm sự vật, hiện tượng
có thực trong thực tiễn để đưa vào bài học, qua đó hướng học sinh vào quá trình
tự học, phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh Những tình huống thực tế
không bắt buộc được đặt ra từ phía giáo viên mà trong một số trường hợp, có thể
do người học tự phát hiện ra và trình bày trước lớp dưới sự dẫn dắt hoặc yêu cầu
từ phía giáo viên
Trang 26Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Khái niệm về phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn Giáo dục công dân
Trong Chương trình môn GDCD mới ban hành, Bộ Giáo dục và Đào tạo
đã nhấn mạnh tới việc sử dụng các phương pháp hiện đại, trong đó có phương pháp NCTHĐH như là “phép màu nhiệm” để thực hiện thành công chương trình môn học Thực tế là từ lâu nay, phương pháp này vẫn được dạy học trong môn GDCD ở bậc THPT Song, để hiểu một cách tường minh về khái niệm thì
có lẽ không phải ai cũng hiểu rõ và đầy đủ
Theo chủ ý của cá nhân trên phương diện bước đầu nghiên cứu chuyên sâu
về phương pháp NCTHĐH, tác giả luận văn cho rằng phương pháp NCTHĐH
trong dạy học môn Giáo dục công dân là phương pháp mà giáo viên sử dụng các tình huống điển hình xảy ra trong thực tiễn để giúp học sinh nghiên cứu, làm rõ một đơn vị kiến thức hoặc một bài học nào đó có trong chương trình môn GDCD
Phương pháp này có những đặc trưng sau:
- Đó là phương pháp nghiên cứu các tình huống trong bối cảnh hiện thực đang tồn tại, đã và đang diễn ra
- Đó là phương pháp mà người sử dụng buộc phải nghiên cứu đời sống hiện tồn của xã hội một cách sâu sát
- Việc nghiên cứu trường hợp điển hình có thể tiến hành trên một hoặc nhiều đối tượng khác nhau
- Kết quả của việc vận dụng thành công phương pháp này phụ thuộc vào nhiều nhân tố khác nhau, nhưng lớn nhất là việc sử dụng trường hợp điển hình phù hợp với bài học và quá trình làm việc của học sinh
Phương pháp NCTHĐH khi vận dụng vào dạy học bộ môn GDCD có tác dụng nhất định trong việc làm rõ kiến thức của bài học Chẳng hạn khi dạy học bài
“Công dân với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” trong chương trình GDCD lớp 10, giáo viên sẽ cho học sinh nghiên cứu trường hợp điển hình là Liệt sỹ - Bác
sỹ Đặng Thùy Trâm để làm rõ các đơn vị kiến thức của bài học Hay trong khi dạy
Trang 27Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
học bài 6 “Công dân với các quyền tự do cơ bản” môn GDCD lớp 12, giáo viên sẽ cho học sinh nghiên cứu trường hợp vụ án Nguyễn Hải Dương và đồng bọn thảm sát gia đình 6 người ở Bình Phước năm 2015…
Việc áp dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD lớp 12
ở trường THPT nói riêng và môn GDCD ở nhà trường phổ thông nói chung không chỉ giúp học sinh hiểu bài học mà còn là cơ sở để phát huy tối đa các năng lực của học sinh như năng lực giải quyết vấn đề, năng lực thuyết trình, năng lực hợp tác…
1.2.1.2 Đặc điểm của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Mỗi phương pháp dạy học đều có những điểm khác biệt với các phương pháp còn lại Phương pháp NCTHĐH khác với các phương pháp khác ở những đặc điểm sau đây:
Một là: Phương pháp NCTHĐH thực chất là quá trình dạy học vận dụng tri thức và giải quyết vấn đề vào những tình huống cụ thể có thực trong thực tiễn Tuy nhiên giữa dạy học giải quyết vấn đề và NCTHĐH là khác nhau Dạy học giải quyết vấn đề là phương pháp mà người dạy đặt người học vào một tình huống có vấn đề, đó là những tình huống thường chứa đựng một hoặc một vài mâu thuẫn trong nhận thức; thông qua việc giải quyết vấn đề mà người học lĩnh hội được tri thức, kỹ năng của bài học Phương pháp NCTHĐH khác với dạy học giải quyết vấn đề ở chỗ những tình huống có vấn đề trong dạy học giải quyết vấn đề có thể là tình huống có thực hoặc có thể là tình huống giả định Còn những tình huống trong dạy học NCTHĐH phải là những tình huống có thực trong thực tiễn
Hai là: Phương pháp NCTHĐH đặt học sinh trước những tình huống thực tế cần giải quyết mà ở đó học sinh phải thiết lập các phương án giải quyết vấn đề và từ đó chọn ra một phương án tối ưu nhất Thực chất dạy học NCTHĐH là một hình thức điển hình của dạy học tìm tòi khám phá trong mối quan hệ biện chứng giữa giáo viên và học sinh Việc dạy học bằng phương
Trang 28Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
pháp NCTHĐH còn thể hiện sự thống nhất giữa việc kiến tạo tri thức với phát triển tư duy kỹ thuật và tư duy phản biện Giá trị trong phương pháp dạy học này là một mặt người học được học cách khám phá, rèn luyện cách thức phát hiện, tiếp cận và giải quyết vấn đề một cách khoa học; mặt khác người học vừa phát triển được các kỹ năng so sánh, đánh giá, nhận ra vấn đề vừa giúp người học bồi dưỡng phẩm chất tích cực, chủ động, sáng tạo Như vậy, dạy học NCTHĐH sẽ thúc đẩy việc bộc lộ và phát triển các năng lực của học sinh
Ba là: Phương pháp NCTHĐH phải phản ánh những tình huống thực tiễn điển hình nhất, có khi phức tạp nảy sinh trong cuộc sống chứ không phải là một câu chuyện giản đơn thông thường Do đó, nó đòi hỏi tính tự giác, sự cộng tác làm việc để giải quyết những nhiệm vụ học tập mang tính tích hợp
Bốn là: Những trường hợp điển hình lựa chọn có thể dài, ngắn khác nhau, phụ thuộc vào nội dung bài học, đồng thời phải phù hợp với trình độ học sinh Với đặc trưng này, phương pháp NCTHĐH rất phù hợp với chương trình môn GDCD lớp 10 vì nó định hướng hứng thú đến cho học sinh
Năm là: Tùy từng trường hợp cụ thể mà giáo viên có thể tổ chức cho cả lớp cùng nghiên cứu một trường hợp điển hình hoặc phân công mỗi nhóm học sinh nghiên cứu một trường hợp điển hình khác nhau Như vậy, việc áp dụng phương pháp NCTHĐH không chỉ phù hợp với hình thức tổ chức dạy học lớp - bài mà còn phù hợp với hình thức thảo luận theo nhóm nhỏ Việc cộng tác làm
việc nhóm hoặc làm việc cá nhân sẽ được phát huy một cách tốt đa
Như vậy, với đặc điểm trên việc áp dụng phương pháp NCTHĐH vào dạy học môn GDCD nói chung và môn GDCD lớp 12 nói riêng trong nhà trường THPT có một ý nghĩa và tầm quan trọng đặc biệt, giúp nâng cao chất lượng dạy và học môn GDCD ở nước ta trong bối cảnh mới như hiện nay Tuy nhiên, phương pháp này có thực sự mang lại hiệu quả hay không còn tùy thuộc vào năng lực và sự áp dụng linh hoạt, sáng tạo, phù hợp với những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của môi trường giáo dục và của bản thân mỗi giáo viên
giảng dạy môn GDCD
Trang 29Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
1.2.2 Nội dung, chương trình môn Giáo dục công dân lớp 12 và vai trò của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12
1.2.2.1 Nội dung, chương trình hiện hành của môn Giáo dục công dân lớp 12
ở trường THPT
Chương trình GDCD ở THPT hiện nay ở nước ta đang được thiết kế gồm
5 phần: Phần 1 Công dân với thế giới quan và phương pháp luận triết học; Phần 2 Công dân với đạo đức; Phần 3 Công dân với các vấn đề kinh tế; Phần
4 Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội; Phần 5 Công dân với pháp luật Trong đó, môn GDCD lớp 12 nằm trọn vẹn trong phần thứ năm
Nội dung của chương trình môn GDCD lớp 12 hiện hành cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò, nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội Các tri thức của phần này sẽ giúp HS chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của mình và đánh giá được hành vi của người khác theo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Cấu trúc chương trình gồm 10 bài, được phân phối như sau:
Bài 1: Pháp luật và đời sống (3 tiết)
Bài 2: Thực hiện pháp luật (3 tiết)
Bài 3: Công dân bình đẳng trước pháp luật (1 tiết)
Bài 4: Quyền bình đẳng của công dân trong một số lĩnh vực của đời sống
xã hội (3 tiết)
Bài 5: Quyền bình đẳng giữa các dân tộc, tôn giáo (2 tiết)
Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản (4 tiết)
Bài 7: Công dân với các quyền dân chủ (3 tiết)
Bài 8: Pháp luật với sự phát triển của công dân (2 tiết)
Bài 9: Pháp luật với sự phát triển bền vững của đất nước (4 tiết)
Bài 10: Pháp luật với hoà bình và sự phát triển tiến bộ của nhân loại (thuộc phần giảm tải, học sinh tự đọc thêm ở nhà)
Trang 30Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Ngoài những bài học chính trong sách giáo khoa, chương trình còn dành một số thời gian cho hoạt động sinh hoạt chuyên đề, thực hành ngoại khóa về các vấn đề ở địa phương và tích hợp phòng chống tham nhũng Phân tích theo chủ đề, phần “Công dân với Pháp luật” gồm hai chủ đề lớn sau:
Chủ đề thứ nhất: Bản chất và vai trò của pháp luật đối với sự phát triển của
công dân, đất nước và nhân loại: được cụ thể hóa trong các bài 1, 2, 8, 9, 10
Chủ đề thứ hai: Quyền và nghĩa vụ công dân trong một số lĩnh vực của
đời sống xã hội - được cụ thể hóa trong các bài 3, 4, 5, 6, 7
Chương trình môn GDCD lớp 12 được xác định với những mục tiêu cụ thể về kiến thức, kỹ năng, thái độ Người học sau khi học xong sẽ đạt được các yêu cầu sau:
* Mục tiêu về kiến thức:
MT1: Hiểu và trình bày được bản chất giai cấp và bản chất xã hội của pháp luật Hiểu rõ được mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật với kinh tế, pháp luật với chính trị và pháp luật với đạo đức
MT2: Hiểu và trình bày được vai trò, ý nghĩa của pháp luật đối với sự tồn tại và phát triển của mỗi công dân cũng như của nhà nước và xã hội
MT3: Hiểu, nhận biết và phân tích được một số nội dung cơ bản của pháp luật liên quan đến việc thực hiện và bảo vệ quyền bình đẳng, tự do, dân chủ và phát triển của công dân
MT4: Biết vận dụng những kiến thức đã học vào phân tích, giải quyết một
số hiện tượng pháp luật nảy sinh trong đời sống xã hội
* Mục tiêu về kỹ năng:
MT5: Sau khi học xong môn học, học sinh hình thành được các năng lực phân tích, đánh giá các biểu hiện, tình huống pháp luật thông thường trong đời sống thường ngày của bản thân, gia đình và xã hội
MT6: Học sinh biết cách tìm hiểu, tiếp cận các văn bản pháp luật đã được trang bị trong nhà trường vào việc tự điều chỉnh hành vi của bản thân trong các mối quan hệ xã hội mà HS tham gia hàng ngày
Trang 31Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Mục tiêu về thái độ:
MT7: Học sinh biết trân trọng, tin tưởng ở lẽ phải và sự công bằng của pháp luật Từ đó, sống có ý thức trách nhiệm và tính tích cực công dân trong việc xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân
MT8: Học sinh có ý thức tôn trọng và tự giác sống, học tập theo pháp luật Tuân thủ các quy định của pháp luật về quyền, nghĩa vụ của HS trong nhà trường, trong các hoạt động xã hội cũng như chủ động góp phần phòng, chống các biểu hiện vi phạm pháp luật và đạo đức xã hội
Chương trình môn GDCD lớp 12 hiện hành ở nước ta đang được thiết kế theo hướng đồng tâm và phát triển Có sự kết nối với tri thức, kỹ năng, thái độ từ cấp Trung học cơ sở đến lớp 10 và lớp 11 Với cấu trúc, đặc điểm và mục tiêu về kiến thức, kỹ năng, thái độ của chương trình, chúng tôi thiết nghĩ, việc vận dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình vào dạy môn GDCD lớp 12 là phù hợp và chắc chắn sẽ mang lại hiệu quả cao như mong đợi
1.2.2.2 Vai trò và tầm quan trọng của phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12
Trước đòi hỏi của thực tiễn trong xu thế hội nhập quốc tế sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực thì đổi mới giáo dục nói chung, trong đó đổi mới phương pháp dạy học môn GDCD ở trường THPT là hết sức cần thiết Luật Giáo dục năm 2005 nhận định “Phương pháp dạy học phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [29] Đổi mới phương pháp dạy học trong môn GDCD đặt ra yêu cầu cho người giáo viên không chỉ trang bị cho học sinh những kiến thức đã có trong sách giáo khoa mà còn phải bồi dưỡng, hình thành ở học sinh tính năng động, tư duy sáng tạo; không chỉ hình thành cho học sinh kỹ năng làm việc độc lập mà còn cung cấp cho các
em kỹ năng làm việc nhóm, khả năng hợp tác với nhau trong môi trường xã hội luôn biến đổi
Trang 32Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Qua thực tế dạy học ở trường phổ thông dân tộc nội trú Bắc Quang và qua kiểm nghiệm từ đồng nghiệp dạy bộ môn GDCD ở huyện Bắc Quang rất nhiều năm qua, tôi nhận thấy có rất nhiều học sinh không nhận thức được hết tầm quan trọng của môn Giáo dục công dân và cho rằng đây là môn học phụ nên ít quan tâm, đầu tư thích đáng cho việc học Cá biệt, có một số học sinh tỏ ra thực sự hờ hững, thiếu nghiêm túc đối với môn học này Với suy nghĩ phiến diện, lệch lạc, phần lớn học sinh chỉ học tủ, học vẹt nhằm đối phó với giáo viên Đến khi kiểm tra thì quay cop, sử dụng tài liệu… Hiện tượng học sinh không mặn mà trong việc học môn giáo dục công dân đã tồn tại từ lâu, trở thành “nếp”, tạo nên sức ì về mặt tâm lí mà muốn khắc phục không phải dễ dàng
Bên cạnh đó, trong dạy học môn GDCD, phần lớn giáo viên vẫn sử dụng phương pháp dạy học truyền thống thầy đọc, trò ghi chép, đem đến sự mệt mỏi, thụ động ở học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức Một số giáo viên còn lên lớp với tâm lý cho rằng môn của mình là môn phụ nên ít có sự quan tâm, đầu tư trong việc soạn giáo án, chuẩn bị bài lên lớp Bên cạnh đó, việc thiếu những dẫn chứng sinh động trong thực tế cũng như thiếu những dụng cụ trực quan làm cho các tiết học trở nên khô khan, nhàm chán, không gây được sự hứng thú đối với học sinh
Hệ quả tất yếu là chất lượng tiết học có nhiều hạn chế có tính
Nhằm cải thiện, nâng cao chất lượng dạy và học môn Giáo dục công dân trong nhà trường hiện nay, không chỉ cần nghiêm túc nhìn nhận lại vai trò, vị trí của môn học này trong hệ thống các môn học trong trường phổ thông, mà cần thiết phải áp dụng các phương pháp dạy học hiện đại vào dạy học, như Bộ Giáo dục và đào tạo đã khẳng định trong chương trình môn học GDCD mới ban hành tháng 12 năm 2018: để nâng cao chất lượng môn học, cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống và dạy học hiện đại theo hướng tích cực hóa hoạt động của người học, tăng cường phương pháp dạy học đặc thù như dạy học giải quyết vấn đề, phân tích trường hợp điển hình kết hợp nêu những tấm gương công dân; xử lý tình huống có tính thời sự về đạo đức, pháp luật và
kinh tế trong cuộc sống hàng ngày; thảo luận nhóm, đóng vai, dự án…
Trang 33Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Với ý nghĩa trên, việc áp dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD lớp 12 ở trường THPT giữ một vị trí, vai trò và có tầm quan trọng đặc biệt Thông qua việc nghiên cứu các trường hợp điển hình liên quan đến bài học, học sinh sẽ tự mình khám phá những điều mình chưa biết, chưa hiểu mà không cần thụ động ngồi chờ thầy cô giảng giải Tất nhiên, để đạt được điều ấy, trong quá trình dạy học, giáo viên phải đưa ra được các tình huống hay, có ý nghĩa mới có thể phải thức tỉnh trong tâm hồn các em học sinh tính ham hiểu biết, dạy các em biết suy nghĩ và hành động tích cực Khi dạy học môn GDCD lớp 12 bằng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD, chúng tôi thấy
có một số lợi ích, vai trò và tầm quan trọng đối với cả người dạy và người học
* Thứ nhất:
Sử dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD lớp 12 giúp
GV nâng cao hiệu quả giờ dạy đáp ứng mục tiêu môn học: mục tiêu của môn GDCD nói chung và môn GDCD lớp 12 nói riêng hiện nay được xác định rất rõ ràng Bên cạnh việc giúp học sinh có được sự hiểu biết pháp luật về quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; tích cực, tự giác học tập và tham gia lao động, sản xuất phù hợp với khả năng của bản thân; có trách nhiệm công dân trong thực hiện đường lối của Đảng và pháp luật của Nhà nước để góp phần bảo vệ, xây dựng Tổ quốc; tôn trọng quyền, nghĩa vụ của tổ chức và cá nhân theo quy định của pháp luật; nhận thức, hành động theo lẽ phải và sẵn sàng đấu tranh bảo vệ lẽ phải, chống các hành vi, hiện tượng tiêu cực trong xã hội; môn GDCD lớp 12 còn giúp học sinh củng cố, nâng cao các năng phân tích, đánh giá thái độ, hành vi của bản thân và người khác; tự điều chỉnh và nhắc nhở, giúp đỡ người khác điều chỉnh thái độ, hành vi theo chuẩn mực lập được mục tiêu, kế hoạch hoàn thiện, phát triển bản thân và thực hiện được; vận dụng được các kiến thức đã học để phân tích, đánh giá, xử lí các hiện tượng, vấn đề, tình huống trong thực tiễn cuộc sống; có khả năng tham gia các hoạt động phù hợp với lứa tuổi để thực hiện quyền, nghĩa vụ công dân trong các lĩnh vực của đời sống xã hội; có kĩ năng sống, bản lĩnh để tiếp tục học tập, làm việc và thực hiện
Trang 34Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
các quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm công dân trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ
Tổ quốc và hội nhập quốc tế Để thực hiện được mục tiêu trên, việc sử dụng phương pháp NCTHĐH là phù hợp Bởi lẽ, nó không chỉ khắc phục những hạn chế thuộc về tâm lý, thái độ thiếu chủ động, không tích cực trong học tập của học sinh; mà còn giúp học sinh liên hệ, vận dụng kiến thức và thực tiễn, phát triển năng lực và phẩm chất cho học sinh
Vận dụng phương pháp NCHTĐH trong dạy học GDCD lớp 12 còn giúp cho GV hiểu được trình độ nhận thức cũng như thái độ của HS đối với môn học
Từ đó, giúp GV dễ phân loại HS để giúp đỡ các em trong quá trình học tập
Khi áp dụng các phương pháp giảng NCTHĐH, giờ giảng của mỗi giáo viên trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa Khả năng chuyên môn, vốn hiểu biết xã hội của giáo viên sẽ tăng lên do giáo viên phải liên tục cập nhật thông tin qua sách báo, tạp chí, các phương tiện thông tin khác để lấy trường hợp điển hình đưa vào bài học
Trong dạy học bằng phương pháp NCTHĐH giáo viên là người chủ động đưa ra tình huống Nhưng, đôi khi, chính học sinh lại là người phát hiện ra những tình huống hay, có vấn đề, nhất là những tình huống liên quan đến người học Dạy học là quá trình trao đổi kiến thức giữa thầy và trò Và như vậy, một mặt, giáo viên sẽ “học” được từ học trò của mình những thông tin bổ ích mà bản thân giáo viên chưa kịp thời cập nhật Mặt khác, nếu tình huống học sinh cung cấp xuất phát chính từ trải nghiệm thực tế hay xuất phát từ cuộc sống của các em/gia đình các em, sẽ là cầu nối, là tiền đề để giáo viên hiểu học sinh của mình, đồng thời, tạo ra mối quan hệ, tình cảm khăng khít giữa thầy và trò Mối quan hệ thầy - trò sẽ chắc chắn sẽ gần gũi, tốt đẹp, bền chặt qua việc giải quyết các tình huống liên quan đến nội dung bài học và cuộc sống của người học
* Thứ hai:
Khi giáo viên dạy học bằng phương pháp dạy học NCTHĐH, người học
sẽ thấy được vai trò quan trọng của mình trong giờ học Các em thấy rằng mình “được học” chứ không “bị học”, thậm chí họ còn tưởng tượng ra mình
Trang 35Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
đang là chuyên gia, là nhà khoa học, là bậc thầy trong giải quyết tình huống Người học không những được chia sẻ kiến thức và kinh nghiệm của mình mà
họ còn học hỏi được những kiến thức, kinh nghiệm của các bạn trong lớp Được học, được sáng tạo, được thể hiện, được khai phá tiềm năng của mình và hạnh phúc tràn đầy khi thầy cô khen thưởng/cho điểm cao Đó chính là động lực thôi thúc người học tích cực, năng động, sáng tạo trong giờ học
Việc dạy học bằng phương pháp NCTHĐH còn giúp học sinh ghi nhớ kiến thức một cách sâu và lâu hơn; khả năng áp dụng vào thực tế cũng cao hơn
so với các phương pháp dạy học thụ động một chiều Hơn nữa, khi áp dụng hình thức tổ chức dạy học nhóm, giáo viên còn giúp cho người học tự tin hơn,
có trách nhiệm với bản thân hơn, biết chia sẻ công việc cũng như hợp tác với bạn bè để hoàn thành nhiệm vụ được giao
* Thứ ba:
Trong quá trình dạy học bằng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình, vai trò của giáo viên và học sinh được thể hiện rõ:
Vai trò của giáo viên:
Trong suốt quá trình dạy học, giáo viên có vai trò định hướng, tổ chức, giám sát, giúp đỡ học sinh nghiên cứu trường hợp điển hình và phát triển năng lực cho học sinh Giáo viên tạo điều kiện cho học sinh chủ động đề xuất trường hợp điển hình, giải quyết vấn đề và rút ra kết luận
Vai trò của học sinh:
Học sinh là trung tâm của hoạt động dạy học Học sinh sẽ được giao những nhiệm vụ cụ thể và hoàn thành nhiệm vụ của mình Qua quá trình thực hiện nghiên cứu và giải quyết các trường hợp điển hình, học sinh sẽ được rèn luyện các kỹ năng như giải quyết vấn đề, làm việc nhóm, quản lý thời gian, kỹ năng tổ chức hoạt động nhóm, năng thuyết trình…
Như vậy, với việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12, không những
Trang 36Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
giúp nâng cao chất lượng dạy học của giáo viên mà qua đó các năng lực tư duy
lô gic, tư duy phản biện, sự cộng tác, tinh thần cộng đồng làm việc của học sinh
ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang dần được phát triển Đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và phù hợp với định hướng phát triển năng lực
học sinh trong xu thế giáo dục mới
1.2.3 Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12
Việc vận dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn Giáo dục công dân lớp 12 nói chung cũng như ở các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang nói riêng có thành công hay không phụ thuộc vào nhiều yêu cầu khác nhau Trong khuôn khổ có hạn về số trang được phép trình bày trong luận văn và giới hạn nghiên cứu, chúng tôi quy về các yêu cầu sau:
* Yêu cầu giáo viên
- GV phải có trình độ đạt chuẩn về chuyên môn, nghiệp vụ Theo thông tư 20/2018/TT-BGDĐT ban hành Quy định chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông ngày 22/8/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, giáo viên THPT khác phải “Nắm vững chuyên môn và thành thạo nghiệp vụ; thường xuyên cập nhật, nâng cao năng lực chuyên môn và nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” [Điều 5] Đối chiếu với tiêu chuẩn này, giáo viên GDCD đang dạy ở các trường THPT Bắc Quang cũng cần đạt chuẩn theo quy định Ngoài ra, để có thể áp dụng được phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD, giáo viên cũng cần có hiểu biết cơ bản về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước và thế giới Muốn vậy, giáo viên phải “chủ động nghiên cứu, cập nhật kịp thời yêu cầu đổi mới về kiến thức chuyên môn; vận dụng sáng tạo, phù hợp các hình thức, phương pháp và lựa chọn nội dung học tập, bồi dưỡng, nâng cao năng lực chuyên môn của bản thân” [5]; thường xuyên nghiên cứu, tiếp cận, làm giầu kiến thức, sự hiểu biết của mình từ các nguồn thông tin từ sách, báo, vô tuyến, Internet Bên cạnh đó, giáo viên còn có nghiệp vụ vững vàng, biết “Áp dụng
Trang 37Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
được các phương pháp dạy học và giáo dục phát triển phẩm chất, năng lực cho học sinh” [5] Nghĩa là giáo viên phải biết áp dụng phương pháp NCTHĐH trong dạy học môn GDCD, làm chủ được kiến thức và có khả năng chuyển hóa được tri thức trong sách giáo khoa, tài liệu đến cho học sinh
- Giáo viên phải biết lựa chọn tình huống điển hình Điểm khác biệt trong dạy học bằng tình huống với dạy học bằng là giáo viên phải tìm được những tình huống có thật, mang tính điển hình Nếu không, phương pháp mà giáo viên sử dụng chỉ được coi là dạy học bằng tình huống mà thôi Để làm được điều đó, giáo viên phải thường xuyên tìm hiểu, thu thập các tình huống, lựa chọn, đánh giá tình huống và áp dụng nó vào bài định dạy
- Giáo viên phải nắm vững và biết sử dụng thành thục quy trình của phương pháp NCTHĐH Đây là yếu tố quyết định sự thành công của việc vận dụng phương pháp này vào dạy học bộ môn GDCD Do vậy, giáo viên phải khắc phục khó khăn, đưa phương pháp này vào giáo án, tiến hành thực hiện thường xuyên mới có được sự thành thạo của quy trình
- Giáo viên biết sử dụng thành thạo các kỹ thuật dạy học và sử dụng được công nghệ trong dạy học Việc học sinh có tích cực hay không còn phụ thuộc vào việc giáo viên có biết áp dụng các kỹ thuật tích cực trong dạy học như thế nào Các kỹ thuật dạy học hiện đại, tích cực, phù hợp với phương pháp CNTHĐH mà chúng tôi mong muốn giáo viên sử dụng đối với môn GDCD như: thảo luận nhóm với kỹ thuật khăn phủ bàn, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật lược
đồ tư duy… Nếu áp dụng các kỹ thuật này, giáo viên sẽ tránh được thái độ ỉ lại, lười làm việc nhóm, không tham gia học tập của học sinh Việc áp dụng phương pháp NCTHĐH đôi khi phải sử dụng tranh, ảnh, video, phần mềm dạy học… Do đó, nếu giáo viên không biết sử dụng các phương tiện này, hiệu quả dạy học sẽ không cao Để đạt được sản phẩm như mong đợi, yêu cầu tất yếu đặt
ra là giáo viên phải biết sử dụng phương tiện dạy học hiện đại
Trang 38Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
* Yêu cầu học sinh:
- Học sinh phải chịu khó, cần cù trong học tập Thay đổi thói quen học tập thụ động, dựa dẫm vào thầy cô bằng ý thức chủ động, tích cực, tự giác, sáng tạo khi thực hiện nhiệm vụ cá nhân được giao
- Học sinh phải biết gắn kết, hợp tác với nhau khi thực hiện nhiệm vụ theo nhóm Tuân thủ đúng ý đồ sư phạm của giáo viên Khi đi học phải có đầy
đủ đồ dùng học tập Đến lớp phải chăm chú nghe giảng Chịu sự điều hành của giáo viên
- Hoàn thành đầy đủ các bài tập được được giao Có ý thức tìm tòi tình huống điển hình phù hợp với bài học thông qua các phương tiện thông tin, truyền thông
- Có tinh thần thái độ tự tin, khắc phục tâm lí tự ti, nhút nhát khi tham gia học theo nhóm Trao đổi, phản biện tích cực với thầy cô và bạn bè về các tình huống điển hình được giao thảo luận
* Yêu cầu về cơ sở vật chất:
Nếu chỉ sử dụng phương pháp NCTHĐH như một phương pháp dạy học thay thế cho phương pháp thuyết trình thụ động thì không cần tới các phương tiện hỗ trợ vì giáo viên có thể dùng lời để mô tả tình huống điển hình Tuy nhiên, để nâng cao hiệu quả của phương pháp NCTHĐH bắt buộc phải sử dụng nhiều phương tiện, trang thiết bị dạy học hiện đại Do đó, yêu cầu đối với cơ sở vật chất là:
- Cần phải có máy tính có kết nối Internet, máy chiếu, loa míc trợ giảng, giấy khổ rộng, bút dạ, sách báo tham khảo đáp ứng được nhu cầu giảng dạy và học tập, nghiên cứu của cả GV và HS
- Phòng học phải rộng rãi, thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông, bàn ghế phù hợp, dễ thay đổi vị trí để học sinh có thể áp dụng thảo luận nhóm khi nghiên cứu trường hợp điển hình
Trang 39Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Kết luận chương 1
Chương trình GDCD lớp 12 ở trường THPT có vị trí đặc biệt quan trọng trong việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học cũng như nền tảng khoa học pháp lý cho học sinh, giúp các em hình thành nhân cách sống tốt đẹp theo chuẩn mực pháp lý Song, để hình thành được tất cả những năng lực đó cho học sinh, môn GDCD lớp 12 cần được dạy bằng những phương pháp dạy học chưa hợp lí, khoa học Thực tiễn này yêu cầu giáo viên phải sử dụng đa dạng các phương pháp dạy học tích cực, trong đó có phương pháp NCHTĐH để nâng cao chất lượng Phương pháp NCTHĐH khi được vận dụng kết hợp cùng với các phương pháp dạy học khác sẽ góp phần tích cực hoá hoạt động của HS nhằm phát triển tri thức, kỹ năng, năng lực tự chủ, tự chịu trách nhiệm đáp ứng được yêu cầu này, phương pháp NCTHĐH cần được xây dựng thành quy trình mang tính chặt chẽ và đảm bảo tính khoa học
Trang 40Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.tnu.edu.vn
Chương 2 THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT QUY TRÌNH SỬ DỤNG
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP ĐIỂN HÌNH
TRONG DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN LỚP 12 Ở CÁC TRƯỜNG THPT HUYỆN BẮC QUANG, TỈNH HÀ GIANG
2.1 Khái quát chung về các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
2.1.1 Đặc điểm chung về các trường THPT huyện Bắc Quang, tỉnh Hà Giang
Bắc Quang là huyện cửa ngõ đi vào Thành phố Hà Giang, nằm trên quốc
lộ 2, cách thị xã Hà Giang 60 km về phía Bắc Bắc Quang nằm trong tọa độ địa lý từ 22010' đến 22036' vĩ độ Bắc; từ 104043' đến 105007' kinh độ Đông Phía
Đông giáp huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; phía Nam giáp huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp với huyện Quanh Bình và phía Bắc giáp với huyện
Vị Xuyên của Hà Giang Địa hình huyện Bắc Quang phần lớn là đồi núi thấp xen kẽ những dải đồng bằng khá rộng, cùng với hệ thống sông suối, ao hồ dày đặc Độ cao trung bình của Bắc Quang vào khoảng 4.00 - 500m so với mặt nước biển Tổng diện tích tự nhiên là 110.564 ha
Huyện Bắc Quang có 23 đơn vị hành chính với 21 xã và 2 thị trấn, bao gồm: Tân Thành, Tân Quang, Tân Lập, Đồng Tâm, Việt Vinh, Việt Hồng, Tiên Kiều, Vĩnh Hảo, Vĩnh Phúc, Đồng Yên, Đông Thành, Hùng An, Quang Minh,
Vô Điếm, Kim Ngọc, Bằng Hành, Liên Hiệp, Hữu Sản, Đức Xuân, Đồng Tiến, Thượng Bình, thị trấn Việt Quang, thị trấn Vĩnh Tuy
Trong Huyện có 19 dân tộc anh em cùng chung sống như: Mông, Tày, Dao, Kinh, Nùng, Giấy, La Chí, Hoa, Pà Thẻn, Cờ Lao, Lô Lô, Bố Y, Phù Lá,
Pu Péo, Mường, Sán Chay, Thái, Sán Dìu Người Kinh là dân tộc có số lượng
đông nhất nước nhưng ở Bắc Quang, họ lại được coi như dân tộc “thiểu số”
Bắc Quang là vùng đất có truyền thống văn hoá, truyền thống yêu nước
và cách mạng Nhân dân các dân tộc trong Huyện có tinh thần đoàn kết, yêu quê hương, có đức tính cần cù, chăm chỉ, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn để vững bước đi lên Đó là những nhân tố cơ bản và là sức mạnh tinh thần để Bắc Quang phát triển đi lên hội nhập với đất nước, khu vực và quốc tế