1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho học sinh trong dạy học kí hiện đại việt nam (ngữ văn 12)​

140 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực cảm thụ văn học – một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản là mục tiêu quan trọng của dạy

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

PHẠM THỊ KIỀU OANH

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC

CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Phạm Minh Diệu – cán bộ hướng dẫn – đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong Bộ môn Ngữ văn, trường Đại học Giáo dục – ĐHQGHN; Ban Giám hiệu, tổ Ngữ văn trường THPT Mỹ Tho, tỉnh Nam Định, cùng bạn bè, đồng nghiệp, người thân đã tạo mọi điều kiện giúp đỡtôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Hà Nội, tháng 11 năm 2017

Tác giả

Phạm Thị Kiều Oanh

Trang 4

CT Cảm thụ văn học Đối chứng

GV

HS PPDH

PPDH SGK Trung học cơ sở THPT

Thực nghiệm Văn bản

Trang 5

MỤC LỤC

Lời cảm ơn i

Danh mục các chữ viết tắt ii

Mục lục iii

Danh mục bảng, biểu v

MỞ ĐẦU 1

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 11

1.1.Cơ sở lí luận 11

1.1.1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực 11

1.1.2 Dạy học kí hiện đại Việt Nam theo hướng phát triển năng lực CTVH 15

1.2 Cơ sở thực tiễn 28

1.2.1.Văn bản kí hiện đại trong CT và SGK Ngữ văn THPT hiện nay 28

1.2.2 Thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay 29

Chương 2: CÁC BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CẢM THỤ VĂN HỌC CHO HS LỚP 12 TRONG DẠY HỌC KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM 41

2.1 Những nguyên tắc đề xuất biện pháp 41

2.1.1 Dạy học bám sát đặc trưng thể loại 41

2.1.2 Đảm bảo tính giáo dục 41

2.1.3 Đảm bảo tính thường xuyên, liên tục 41

2.1.4 Đảm bảo tính tương tác 41

2.2 Các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam 42

2.2.1 Xác định rõ mục tiêu dạy học kí hiện đại Việt Nam theo định hướng phát triển năng lực CTVH 42

2.2.2 Quan tâm hình thành những tri thức về kí hiện đại cho HS 44

2.2.3 Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí hiện đại để phát triển năng lực cảm thụ văn học cho HS 47

Trang 6

2.2.4 Thiết kế và sử dụng hệ thống bài tập phát triển năng lực CTVH cho HS

thông qua đọc hiểu văn bản kí hiện đại 74

Tiểu kết chương 2 83

Chương 3: Thực nghiệm 84

3.1 Mục đích thực nghiệm 84

3.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm 84

3.2.1 Đối tượng thực nghiệm và địa bàn thực nghiệm 84

3.2.2 Thời gian thực nghiệm 84

3.3 Nội dung thực nghiệm và cách thức tiến hành thực nghiệm 85

3.3.1 Nội dung thực nghiệm 85

3.3.2 Cách thức tiến hành 85

3.3.3 Cách đánh giá kết quả thực nghiệm 86

3.4 Giáo án thực nghiệm 87

3.4.1 Thiết kế giáo án 87

3.4.2 Thuyết minh về giáo án thực nghiệm 106

3.5 Kết quả thực nghiệm 109

3.5.1 Phân tích định lượng 109

3.5.2 Phân tích định tính 112

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 114

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 116

TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 117

PHỤ LỤC 121

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Hệ thống các VB kí hiện đại trong CT THCS và THPT 28

Bảng: 1.2 Hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài 31

Bảng: 1.3 Kết quả khảo sát GV ở câu hỏi từ 1- 7 33

Bảng: 1.4 Đối tượng khảo sát học sinh 36

Bảng: 1.5 Kết quả khảo sát HS 37

Bảng: 3.1 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 84

Bảng: 3.2 Bảng đánh giá kết quả bài kiểm tra 110 Bảng: 3.3 Bảng tổng hợp kết quả của lớp thực nghiệm so với lớp đối chứng 110

Trang 8

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 3.1: So sánh kết quả tổng hợp của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng 111

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Đổi mới PPDH Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực người học, trong đó có năng lực cảm thụ văn học – một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản là mục tiêu quan trọng của dạy học Ngữ văn hiện nay

Trong CT Ngữ văn hiện nay, số lượng văn bản văn học chiếm tỉ lệ lớn hơn so với các kiểu loại văn bản khác như văn bản thông tin, văn bản nhật dụng Nếu năng lực đọc hiểu là yêu cầu đặt ra cho mọi đối tượng đọc, với tất

cả các kiểu loại văn bản thì năng lực CTVH là yêu cầu đặt ra với người đọc khi đọc hiểu các văn bản nghệ thuật Điểm nổi bật của năng lực CTVH là đọc văn bản trong quá trình nhận thức và rung động thẩm mĩ Qua việc đọc, người đọc sẽ thiết lập một trường liên tưởng thẩm mĩ giữa cá nhân mình với văn bản Người có năng lực CTVH tốt là người có trường liên tưởng thẩm mĩ phong phú, có xúc cảm tinh tế Yếu tố quyết định để có trường liên tưởng thẩm mĩ phong phú với những rung cảm thực sự của quá trình đọc hiểu văn bản văn học chính là phải sống thật sâu sắc với những điều mình đã đọc, đã nghe Năng lực CTVH ở mỗi cá nhân hoàn toàn không giống nhau bởi vốn sống và vốn hiểu biết, trình độ kiến thức và sự nhạy cảm khi đọc hiểu các tác phẩm văn học Tuy nhiên mỗi người đều có thể rèn luyện cách đọc để từng bước nâng cao năng lực CTVH cho bản thân mình, từ đó khả năng thấu cảm cuộc sống sẽ ngày một tốt hơn “Khi đọc, tôi không chỉ thấy dòng chữ mà còn thấy cảnh tượng ở sau dòng chữ, trí tưởng tượng nhiều khi dẫn tôi đi rất xa,

vẽ thêu ra lắm điều thú vị” [21, tr.3]

1.2 Dạy học thể kí trong nhà trường phổ thông góp phần hình thành

và phát triển năng lực cảm thụ văn học của học sinh

Kí là một thuật ngữ văn học để gọi tên một thể loại có sự đan xen khá

đặc biệt của yếu tố tự sự và trữ tình, là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa vốn tri thức phong phú và nguồn cảm xúc dào dạt, là kết quả của tư duy nghệ thuật

Trang 10

và tư duy khoa học Kí không những không thua kém các thể loại khác về màu sắc thẩm mĩ mà còn có thể linh hoạt vận dụng, kết hợp các phương thức tiếp cận, lí giải, phản ánh, khái quát hiện thực của các thể loại khác, tạo nên giá trị phong phú và độc đáo của riêng mình Với sự phong phú về mặt thể loại, khả năng tác động trực tiếp tới người đọc, văn bản kí, đặc biệt là kí hiện đại có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS Ngoài việc cung cấp cho HS mã “sự thực”, kí giúp HS có những cảm nhận, những rung động tinh tế trước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, của con người, những đối tượng miêu tả thường thấy của văn bản kí

Hai văn bản kí hiện đại trong CT Ngữ văn 12 là tùy bút Người lái đò sông Đà và bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông? có đầy đủ phẩm chất của

một tác phẩm kí văn học – một thể loại không chỉ đòi hỏi người viết phải

có “ngòi bút sang trọng” mà người đọc cũng phải biết thưởng thức “một cách sang trọng”

1.3.Thực trạng dạy học kí hiện đại ở THPT chưa phát huy hết vai trò của thể kí, cũng như chưa phát triển được năng lực cảm thụ văn học cho HS

Các VB kí được đưa vào CT THPT có vai trò quan trọng trong việc phát triển năng lực CTVH cho người học Thế nhưng qua việc dự giờ các tiết dạy học đọc hiểu VB kí hiện đại của đồng nghiệp tại nơi công tác và dự giờ sinh hoạt chuyên môn ở các trường bạn chúng tôi nhận thấy: Dạy học tác phẩm kí hiện nay thường sa vào hai khuynh hướng, hoă ̣c là đo ̣c hiểu kí như mô ̣t tác phẩm truyện, hoă ̣c là có đề câ ̣p đến đă ̣c trưng của thể kí thì cũng qua loa, chiếu lệ Đa

số GV chỉ tập trung truyền đạt kiến thức mà ít chú ý đến các biện pháp nhằm phát triển năng lực cảm thụ cho HS Hơn nữa, do áp lực thi cử, hiện nay tình trạng GV “đọc hộ”, “hiểu hộ”, “cảm thụ hộ” HS diễn ra phổ biến trong các giờ đọc hiểu văn bản kí HS thường nghe và ghi chép lại bài giảng của GV hơn là tự mình tìm hiểu, khám phá, cảm thụ VB Điều đó chưa phát huy hết vai trò của thể

kí khi được lựa chọn vào giảng dạy trong CT Ngữ văn 12 Việc rèn luyện kỹ

Trang 11

năng đọc hiểu nhằm hình thành và phát triển năng lực cho người học đặc biệt là năng lực CTVH qua loại hình văn bản này chưa được quan tâm đúng mức nên giờ học chưa đạt được hiệu quả như mong muốn Thực trạng ấy dẫn đến hệ quả

là không rèn luyện được kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS; nhiều HS còn thụ động trong việc tiếp nhận văn bản; khả năng CTVH còn hạn chế và năng lực vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống chưa cao

Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề Phát triển năng lực cảm thụ văn học cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12) làm

đề tài nghiên cứu của luận văn với mong muốn khắc phục thực trạng dạy học

kí trong trường phổ thông hiện nay, góp phần dạy học kí theo đặc trưng thể loại để phát triển năng lực CTVH cho HS

2 Lịch sử vấn đề

Trong phần này, chúng tôi khảo sát những công trình nghiên cứu về dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, trong đó có năng lực CTVH; những nghiên cứu về dạy học kí trong nhà trường phổ thông, trong đó có dạy học kí hiện đại để làm cơ sở lí luận khi đề xuất những biện pháp nhằm phát triển năng lực CTVH cho HS khi học kí hiện đại Việt Nam trong CT Ngữ văn 12

2.1 Nghiên cứu về dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực, trong đó có năng lực cảm thụ văn học

Nhiều năm trở lại đây, giáo dục định hướng năng lực hay còn gọi là “định hướng đầu ra” đã trở thành xu hướng đổi mới của giáo dục của Việt Nam Muốn xác định đúng các năng lực cần phát triển qua một môn học cần xuất phát từ đặc trưng môn học ấy Môn Ngữ văn cũng không phải ngoại lệ Cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều bài viết chuyên sâu của các nhà khoa học, các nhà giáo dục về mục tiêu giáo dục quan trọng này Chúng tôi xin điểm lại các công trình nghiên cứu và bài viết tiêu biểu:

Trước hết phải kể đến công trình nghiên cứu Phương pháp dạy học văn

(2012) do tác giả Phan Trọng Luận chủ biên trong đó có bàn rất kĩ về năng lực, hệ thống cấu trúc năng lực cần hình thành và phát triển trong quá trình

Trang 12

dạy đọc hiểu văn bản cho HS Khi bàn về năng lực CTVH, tác giả nhấn mạnh: “ Cảm thụ chi tiết nghệ thuật có khi chỉ là một từ ngữ, một hình ảnh, một chi tiết, một sự kiện, một tâm trạng, một nhân vật và biết cắt nghĩa nó một cách khái quát trong hệ thống chỉnh thể của tác phẩm dưới ý đồ tư tưởng của nhà văn đó là một năng lực cơ bản quan trọng nhất của tiếp nhận văn học.” [27, tr.127]

Trong cuốn Đọc và tiếp nhận tác phẩm văn chương tác giả Nguyễn

Thanh Hùng cũng khẳng định: Năng lực đọc hiểu tác phẩm văn chương của

HS THPT là giải quyết các vấn đề tương quan của các cấu trúc tồn tại trong tác phẩm Trước hết là cấu trúc ngôn ngữ, tiếp theo là cấu trúc hình tượng thẩm mĩ và cuối cùng là cấu trúc ý nghĩa của tác phẩm [20]

Nhiều bài viết của các nhà khoa học, các chuyên gia đầu ngành về giáo

dục được đăng trên các tạp chí khoa học uy tín trong nước như Giảng dạy theo năng lực và đánh giá theo năng lực trong giáo dục: “Một số vấn đề lí luận cơ bản” của tác giả Nguyễn Quang Ninh [36, tr 56 – 64]; “Đánh giá kết

quả học tập làm văn của HS phổ thông theo hướng tiếp cận năng lực” [14, tr

46-54] của tác giả Nguyễn Thu Hà; Phát triển năng lực đọc hiểu cho HS THPT đáp ứng yêu cầu của CT giáo dục phổ thông mới của tác giả Nguyễn Thị

Thanh Lâm [23, tr 87 - 98] đều có điểm thống nhất: “Năng lực đọc hiểu của môn Ngữ văn khác với những môn học khác bởi nó gắn liền với điểm sáng thẩm mỹ nghệ thuật của văn bản Hơn nữa sự phát hiện và cảm thụ vẻ đẹp nghệ thuật của văn bản văn học ngoài tâm lý nghệ thuật phải được xây dựng trên nền duy lý khoa học, sở dĩ có điều này là do bản chất của bộ môn Ngữ văn, như đã nói trước, vừa là nghệ thuật cũng vừa là khoa học” [23, tr 92]

Trên thế giới, CTVH như một yêu cầu cần hướng tới trong dạy học Văn

đã có từ lâu, có thể kể tới công trình Cảm thụ văn học của O.L.Nhikiphôrôva (1959); Cảm thụ nghệ thuật của B.X.Mailax (1971) cũng

như một số công trình liên quan đến vấn đề cảm thụ của những nhà lí luận tên tuổi như Nhikônxki, Khravchenco, …

Trang 13

Ở nước ta, ý thức rõ vai trò của quá trình cảm thụ nghệ thuật đối với người học ở môn Văn, năm 1983, Phan Trọng Luận cho xuất bản chuyên luận

đầu tiên là Cảm thụ văn học và giảng dạy văn học Trong chuyên luận này, tác

giả đã cung cấp được một số hệ thống lý thuyết về tính đặc thù của cảm thụ văn chương, mối quan hệ thẩm mĩ của bạn đọc đối với tác phẩm, tính chủ quan, tính khách quan, tính sáng tạo của tiếp nhận và những khái quát về đặc điểm cũng như tiêu chí phát triển văn học ở người đọc Chuyên luận này đã trở thành một gợi ý, hướng sự quan tâm đến một vấn đề lí luận thú vị và bổ ích cho giới nghiên cứu và giảng dạy văn học ở nước ta

Từ đây, vấn đề về dạy học văn theo đúng đặc trưng môn học đã được nghiên cứu, vấn đề cảm thụ nghệ thuật trong quá trình dạy học văn được đặt vào trọng tâm chú ý Có thể kể tới những đóng góp của Nguyễn Duy Bình với

bài “Dạy văn là dạy cái hay cái đẹp”, Nguyễn Thanh Hùng với bài “Hiểu văn, dạy văn” và “Đọc và tiếp nhận văn chương” Trong các công trình nghiên cứu

này, hầu hết các tác giả đều thống nhất quan điểm: Đọc văn là một khoa học

và nghệ thuật tư duy ngôn ngữ luôn được sáng tạo trong quá trình giải mã văn

bản nghệ thuật “Hiểu văn là đồng cảm và nắm được những gì mà nhà văn

muốn nói, muốn gửi gắm tới người tiếp nhận bằng nhiệt tình và năng lực thuyết phục của phương thức trình bày nghệ thuật hấp dẫn, mới lạ, có giá trị nâng cao sự cảm thụ hình thức thẩm mĩ của ngôn ngữ tác phẩm” [20, tr 89]

Từ năm 2006, tên gọi môn học Ngữ văn ra đời Từ đây, vấn đề lí luận về CTVH như một năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn đã được đề cập, giúp cho người dạy văn, học văn có thể xác định được con đường đi đúng đắn Có thể kể

đến các tài liệu nghiên cứu như giáo trình Cảm thụ văn học của tác giả Dương Thị Hương, giáo trình Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn chương cho học sinh tiểu học

của tác giả Phạm Minh Diệu Tác giả của các công trình nghiên cứu này đều

thống nhất quan điểm năng lực cảm thụ là khả năng nắm bắt một cách nhanh

nhạy, chính xác các đặc điểm đặc trưng, bản chất của VB về nội dung và nghệ thuật, là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều thầm

Trang 14

kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng, là khả năng đánh giá chính xác và sâu sắc tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách tác giả CTVH còn là một vấn đề mang tính chủ quan, lệ thuộc vào thiên hướng riêng của bạn đọc

Năng lực CTVH, vấn đề tưởng như đã biết, trở thành vấn đề mới mẻ, phong phú nhờ có những cách nhìn đa dạng hơn

2.2 Nghiên cứu về dạy học kí trong nhà trường phổ thông, trong đó có dạy học kí hiện đại

Đặc trưng của kí với hai phương diện nổi bật là ghi chép sự thực và hư cấu nghệ thuật đã được xác định và nhận được sự đồng quan điểm của nhiều

nhà nghiên cứu Cuốn giáo trình Lí luận văn học do Trần Đình Sử chủ biên đã

nêu ra những đặc trưng của kí là một loại văn tự sự với đặc trưng là trần thuật người thật, việc thật, người trần thuật trong kí thường xưng tôi, hiện diện với

tư cách là nhân chứng, và chính là tác giả

Công trình nghiên cứu Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương trong nhà trường của tác giả Nguyễn Viết Chữ khẳng định:“Kí là sự nhức

nhối của trí tuệ Kí văn học có tính nghệ thuật vì nó được diễn đạt bằng văn bản đa nghĩa chứ không phải đơn nghĩa như kí báo chí” [9, tr 171] Từ đó, tác giả đã đề xuất PPDH kí: “Với những văn bản kí giàu chất trữ tình như tùy bút, bút kí GV nên tận dụng con đường theo dấu vết tác giả kết hợp với đọc diễn cảm, kết hợp biện pháp giảng với bình và câu hỏi hình dung, tưởng tượng, tái hiện.” [9, tr 171]

Tiếp cận VB kí theo đặc trưng thể loại là quan điểm được xác định sớm

trong lịch sử nghiên cứu văn học Trong cuốn Vấn đề giảng dạy văn chương theo loại thể do tác giả Trần Thanh Đạm chủ biên [11] cho rằng “cần xác định

chất của loại trong thể” để đề xuất những PPDH tích cực Trong phần viết về kí, các tác giả đã đề xuất khá cụ thể cách tiếp cận loại hình văn bản này theo đặc trưng loại thể, việc giảng dạy kí được bàn đến với tư cách là một thể loại ngang

hàng với các loại hình văn bản khác như tự sự, trữ tình, kịch Trong phần Kí và giảng dạy kí, tác giả Hoàng Như Mai đã trình bày tương đối chi tiết về đặc trưng

Trang 15

và cách phân loại các tiểu loại kí Hướng tiếp cận VB kí được đề xuất là quan điểm dạy học kí theo đặc trưng thể loại

Tiếp cận VB kí theo phong cách tác giả cũng được nhiều tác giả quan tâm

Có thể kể đến là công trình Đặc trưng tùy bút Nguyễn Tuân của tác giả Nguyễn Thị Hồng Hà (2010) [13], Giảng dạy tác phẩm kí trong trường THPT qua Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân và Ai đã đặt tên cho dòng sông? của Hoàng Phủ Ngọc Tường (2010) của Đinh Thị Phương Thảo [45], Ngôn ngữ kí Hoàng Phủ Ngọc Tường (2016) của Vi Thị Thảo [46],… đã đi sâu nghiên cứu

phong cách nghệ thuật của tác giả cũng như những đặc điểm, đặc trưng nổi bật của những cây bút hàng đầu trong nghệ thuật viết kí hiện đại Việt Nam

Luận văn Vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu đoạn trích “Ai đã đặt tên cho dòng sông?” của Hoàng Phủ Ngọc Tường của Lâm Thị Hảo; luận văn Dạy học đọc hiểu tác phẩm “Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân từ góc độ trường nghĩa của Nguyễn Thị Quỳnh Trang [51] đã

nghiên cứu việc vận dụng lý thuyết trường nghĩa vào dạy học đọc hiểu tác phẩm kí Đóng góp của các luận văn này là giúp HS hiểu được vẻ đẹp độc đáo của hai áng văn tài hoa bậc nhất văn đàn văn học Việt Nam hiện đại thông qua cách sử dụng từ ngữ cùng trường nghĩa Tuy nhiên, tác giả chủ yếu mới dừng lại ở việc chỉ ra một hướng tiếp cận mới đối với các văn bản kí trong CT

và SGK 12 mà chưa khái quát lên thành kĩ năng, thành biện pháp để phát triển năng lực CTVH cho HS

Luận án tiến sĩ Rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS phổ thông

(2016) của Lê Hồng Mai [29] là công trình nghiên cứu công phu khi đề xuất những biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản kí cho HS, một thể loại mà đa phần HS cho là hay nhưng khó Trong luận án, tác giả đã nêu những chiến thuật và kỹ năng đọc hiểu khoa học, hợp lý, phù hợp với đặc trưng thể loại và năng lực tiếp nhận ở người học Đây là tư liệu quý, là gợi ý

để GV vận dụng các chiến thuật đọc hiểu trong dạy học VB kí nhằm phát triển năng lực đọc hiểu cho HS

Trang 16

Tóm lại: Những công trình nghiên cứu, những bài viết nêu trên đã đề cập

đến năng lực người học, mối quan hệ của năng lực đọc hiểu văn bản và năng lực CTVH như đích đến quan trọng của dạy học Ngữ văn hiện nay Nhiều công trình nghiên cứu bàn về đặc trưng thể loại kí; đề xuất các PPDH kí theo phong cách nghệ thuật tác giả, theo đặc trưng loại thể hoặc vận dụng lý thuyết trường nghĩa Tuy nhiên, vấn đề dạy học kí hiện đại theo định hướng phát triển năng lực người học, nhất là năng lực CTVH lại chưa được quan tâm đúng mức Đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào bàn về vai trò của thể

kí trong việc phát triển năng lực CTVH cho HS phổ thông để từ đó đề xuất những biện pháp phù hợp Dẫu vậy, chính các bài viết, các công trình nghiên cứu nêu trên là những gợi dẫn, là cơ sở khoa học lí luận mở ra cánh cửa cho việc nghiên cứu các biện pháp nhằm phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam – đề tài mà chúng tôi mong muốn thực hiện trong luận văn này

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích của luận văn là:

- Nghiên cứu các cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các biện pháp phát triển năng lực CTVC trong dạy học kí hiện đại ở THPT

-Vận dụng các biện pháp đã đề xuất vào việc thiết kế các bài dạy thử nghiệm

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn là:

- Xác định cơ sở khoa học (lí luận và thực tiễn) của việc phát triển năng lực CTVH cho HS khi dạy học kí hiện đại Việt Nam ở trường THPT

- Đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học các văn bản kí ở CT Ngữ văn 12

- Thực nghiệm nhằm chứng minh hiệu quả của các biện pháp mà luận văn đặt ra

Trang 17

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

- Kí hiện đại Việt Nam; hai bài kí Người lái đò sông Đà và Ai đã đặt tên cho dòng sông?

- PPDH kí hiện đại Việt Nam trong CT Ngữ văn 12

4.2 Phạm vi nghiên cứu:

- Về mặt lý thuyết, đề tài chỉ khảo sát trên một số tư liệu về phát triển năng lực cảm thụ văn học cho HS trong dạy học kí hiện đại Việt Nam (Ngữ văn 12)

- Về khảo sát thực tế và thực nghiệm, đề tài chỉ mới tiến hành tại 2 trường THPT là trường THPT Mỹ Tho và THPT Lý Nhân Tông tỉnh Nam Định

5 Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành được nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được mục đích đề ra của luận văn, chúng tôi đã sử dụng một số nhóm phương pháp nghiên cứu chính như sau:

5.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận được dùng trong việc thu

thập tư liệu, nghiên cứu các vấn đề lí luận làm cơ sở khoa học cho đề tài nghiên cứu Đó là các phương pháp tổng hợp, phân tích, so sánh, hệ thống hóa các luận điểm khoa học của các chuyên ngành liên quan như tâm lí học, giáo dục học, xã hội học, văn hóa học, lí luận văn học, chiến lược dạy học, PPDH… để có hệ thống cơ sở lí luận khoa học cho các đề xuất có ý nghĩa thực tiễn

Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận được sử dụng để nghiên cứu các vấn đề lí luận về năng lực, về đọc hiểu văn bản, về kí và đặc trưng loại hình văn bản kí, để tổng hợp hệ thống lí luận phù hợp, làm cơ sở đề xuất các biện pháp nhằm phát triển năng lực cảm thụ cho HS

5.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn gồm các phương pháp

điều tra, tổng hợp ý kiến, thực nghiệm, thống kê Mục đích của nhóm phương pháp này là thu thập thông tin, tìm hiểu và đánh giá thực trạng vấn đề dạy học

Trang 18

đọc hiểu văn bản kí hiện đại có nhằm hướng tới phát triển năng lực CTVH như một năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn trong nhà trường phổ thông hay không? Từ kết quả nghiên cứu thực tiễn để đề xuất các biện pháp nhằm khắc phục thực trạng Phương pháp nghiên cứu thực tiễn còn được sử dụng trong quá trình thực nghiệm, ở giai đoạn đánh giá kết quả thực nghiệm để đo lường hiệu quả và giá trị thực tiễn của kết quả nghiên cứu

Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi còn kết hợp vận dụng một số phương pháp khác như phương pháp thống kê, phân loại… để thực hiện các nội dung nghiên cứu phù hợp

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại

Chương 2: Các biện pháp phát triển năng lực CTVH cho HS lớp 12 trong dạy học kí hiện đại Việt Nam

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 19

Chương 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1.Cơ sở lí luận

1.1.1 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

Năng lực là một khái niệm có nguồn gốc từ tiếng Latinh “competentia” Theo John Erpenbeck (1998),“năng lực được tri thức làm cơ sở, được sử dụng như khả năng, được quy định bởi giá trị, được tăng cường qua kinh nghiệm và được hiện thực hóa qua ý chí” [Theo 55, tr 73]

Weinert (2001) định nghĩa: “Năng lực là những khả năng và kĩ xảo học được hoặc sẵn có của cá thể nhằm giải quyết các tình huống xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và hiệu quả trong những tình huống linh hoạt” [3, tr 67]

Các tác giả của chương trình Quesbec trong Ministere de l’Education

(2004) thì cho rằng: năng lực là “khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và sự đam mê để hành động một cách phù hợp và có

hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” [14, tr 57]

Ở Việt Nam, các tác giả trong từ điển Tiếng Việt định nghĩa:“Năng lực

là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên có sẵn để thực hiện một hoạt động nào đó; Phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thành một loại hoạt động nào đó với chất lượng cao” [54, tr 660]

Trên phương diện tâm lý học, Trần Việt Dũng cho rằng:“Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất của tâm lý cá nhân, đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo thuận lợi cho việc thực hiện tốt một dạng hoạt động nhất định, đảm bảo cho hoạt động đó có kết quả tốt.” [10, tr 107]

Trong tài liệu Tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ Giáo Dục và Đào Tạo phát hành năm 2014 thì Năng lực được quan niệm “là sự kết hợp một cách linh

Trang 20

hoạt và có tổ chức kiến thức, kỹ năng với thái độ, tình cảm, giá trị, động cơ

cá nhân,… nhằm đáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhất định” [6, tr 46]

Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn: Năng lực là khả năng vận dụng

tất cả những yếu tố chủ quan mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua học tập để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống Đó là khả năng thực hiện, làm việc dựa trên hiểu biết chắc chắn, kỹ năng thuần thục

và thái độ phù hợp của mỗi cá nhân

Trong dự thảo CT giáo dục có phân biệt năng lực chung, cốt lõi và năng lực đặc thù đối với từng môn học

Năng lực chung là “năng lực cơ bản, thiết yếu mà bất kỳ một người nào

cũng cần có để sống, học tập và làm việc Các hoạt động giáo dục (bao gồm các môn học và hoạt động trải nghiệm sáng tạo), với khả năng khác nhau, nhưng đều hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển các năng lực chung của HS” Các năng lực chung được xác định bao gồm: tự học; giải quyết vấn đề và sáng tạo; thẩm mỹ; thể chất; giao tiếp; hợp tác; tính toán; công nghệ thông tin và truyền thông Vai trò của môn Ngữ văn đối với việc hình thành năng lực cho HS được nhấn mạnh đối với các năng lực: tự học, giải quyết vấn đề và sáng tạo, thẩm mỹ, giao tiếp; ngoài ra, năng lực hợp tác cũng cần được quan tâm

Năng lực đặc thù là “năng lực mà môn học có ưu thế hình thành và phát

triển cho HS” (do đặc điểm của môn học đó) Một năng lực có thể là năng lực đặc thù của nhiều môn học khác nhau Trên cơ sở đó, có thể hiểu năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn bao gồm: đọc hiểu và tạo lập văn bản, năng lực CTVH/ năng lực thẩm mỹ và năng lực sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt Tuy nhiên, cả ba năng lực chuyên biệt này đều được hiểu ở mức độ phổ thông và nhấn mạnh các yêu cầu như: tự học, thẩm mĩ, sáng tạo,…

1.1.1.2 Năng lực cảm thụ văn học

CTVH là một dạng đặc biệt của năng lực đọc hiểu văn bản Người đọc

không chỉ nắm bắt thông tin mà còn phải thẩm thấu được thông tin, phân tích,

Trang 21

đánh giá được khả năng sử dụng ngôn từ của tác giả, tạo được mối giao cảm đặc biệt giữa tác giả và bạn đọc và có thể truyền thụ cách hiểu đó cho người khác [21, tr.7]

Cấu trúc của cảm thụ là sự đan xen phức tạp của các yếu tố tri giác, lý giải, tưởng tượng, cảm xúc Mục đích của cảm thụ là “cảm nhận, phát hiện, khám phá, chiếm lĩnh bản chất thẩm mĩ của văn chương nhằm đào tạo, bồi dưỡng mĩ cảm phong phú, tinh tế cho độc giả.” [57] Cảm thụ trong dạy học tác phẩm văn học không chỉ giúp HS khám phá, chiếm lĩnh tác phẩm mà trên cơ sở cảm xúc, khả năng liên tưởng và huy động vốn biểu tượng của từng cá nhân người đọc sẽ

bổ sung những yếu tố, đường nét thành “tác phẩm” mang dấu ấn của riêng mình Hiểu một cách đơn giản thì CTVH chính là sự kết hợp hài hòa giữa việc hiểu và rung động trong quá trình cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của một văn bản nghệ thuật hay một bộ phận của văn bản Đó là một hình thức của nhận thức thẩm mĩ là một quá trình tích cực vận dụng vốn sống và những năng lực tư duy để lĩnh hội, thưởng thức những cái hay, cái đẹp của tác phẩm

Năng lực CTVH thể hiện khả năng của mỗi cá nhân trong việc nhận ra

được các giá trị thẩm mĩ của sự vật, hiện tượng, con người và cuộc sống thông qua những cảm nhận, rung động trước cái đẹp và cái thiện, từ đó biết hướng những suy nghĩ, hành vi của mình theo cái đẹp, cái thiện

Như vậy, năng lực cảm thụ, một biểu hiện quan trọng của năng lực trí tuệ xúc cảm thường dùng với hàm nghĩa nói về các chỉ số cảm xúc của mỗi cá nhân Đó là năng lực đặc thù của môn học Ngữ văn, gắn với tư duy hình tượng trong việc tiếp nhận văn bản văn học Quá trình tiếp xúc với tác phẩm văn chương là quá trình người đọc bước vào thế giới hình tượng của tác phẩm và thế giới tâm hồn của tác giả từ chính cánh cửa tâm hồn của mình Năng lực trí tuệ xúc cảm, như trên đã nói, được thể hiện ở nhiều khía cạnh; trong quá trình người học tiếp nhận tác phẩm văn học, năng lực CTVH được thể hiện ở những phương diện sau:

Trang 22

- Cảm nhận vẻ đẹp của ngôn ngữ văn học, biết rung động trước những hình ảnh, hình tượng được khơi gợi trong tác phẩm về thiên nhiên, con người, cuộc sống qua ngôn ngữ nghệ thuật

- Nhận ra được những giá trị thẩm mỹ được thể hiện trong tác phẩm văn học: cái đẹp, cái xấu, cái hài, cái bi, cái cao cả, cái thấp hèn… từ đó cảm nhận được những giá trị tư tưởng và cảm hứng nghệ thuật của nhà văn được thể hiện qua tác phẩm

- Cảm hiểu được những giá trị của bản thân qua việc cảm, hiểu tác phẩm văn học; hình thành và nâng cao nhận thức và xúc cảm thẩm mĩ của

cá nhân; biết cảm nhận và rung động trước vẻ đẹp của thiên nhiên, con người, cuộc sống; có những hành vi đẹp đối với bản thân và các mối quan

hệ xã hội; hình thành thế giới quan thẩm mĩ cho bản thân qua việc tiếp nhận tác phẩm văn chương; [6, tr 59]

Tóm lại: Năng lực CTVH được hiểu là khả năng nắm bắt một cách

nhanh nhạy, chính xác các đặc điểm đặc trưng, bản chất của VB về nội dung

và nghệ thuật, là khả năng hiểu, rung cảm một cách sâu sắc, tinh tế với những điều thầm kín nhất của tác giả gửi gắm qua hình tượng, là khả năng đánh giá chính xác và sâu sắc tài năng cũng như sự độc đáo trong phong cách tác giả

1.1.1.3 Dạy học Ngữ văn theo định hướng phát triển năng lực CTVH

Định hướng đổi mới PPDH Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới PPDH của CT Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bên trong” để phát huy hiệu quả đổi mới PPDH, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triển năng lực của HS với quan điểm dạy học “lấy HS làm trung tâm” chính là cơ sở để xác định các nội dung đổi mới PPDH Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS như giải quyết vấn đề, dạy học khám phá, dạy học theo dự án,… cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích của mỗi HS trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổ chức dạy học phân

Trang 23

hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tự học, qua đó hướng dẫn HS biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa cho bản thân từ những cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trong cuộc sống Tăng cường tính giao tiếp, khả năng hợp tác của HS trong giờ học Ngữ văn qua các hoạt động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận, Vận dụng các PPDH theo đặc thù của môn học và các PPDH chung một cách phù hợp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn

Dạy học đọc hiểu là một trong những nội dung cơ bản của đổi mới PPDH Ngữ văn trong việc tiếp nhận văn bản Nếu như trước đây chúng ta coi phân tích tác phẩm hay giảng văn là một phương pháp đặc thù của dạy văn thì hiện nay đã có những thay đổi trong cách tiếp cận vấn đề này của CT và SGK Ngữ văn mới Cách dạy đọc hiểu không nhằm truyền thụ một chiều cho HS những cảm nhận của GV về văn bản được học, mà hướng đến việc cung cấp cho HS cách đọc, cách tiếp cận, khám phá những vấn đề nội dung và nghệ thuật của văn bản, từ đó hình thành cho HS năng lực tự đọc một cách tích cực, chủ động,

có sắc thái cá nhân Hoạt động đọc hiểu của HS cần được thực hiện theo một trình tự từ dễ đến khó, từ thấp đến cao, trải qua các giai đoạn từ đọc đúng, đọc thông đến đọc hiểu, từ đọc tái hiện sang đọc sáng tạo Khi hình thành năng lực đọc – hiểu của HS cũng chính là hình thành năng lực cảm thụ thẩm mĩ, khơi gợi liên tưởng, tưởng tượng và tư duy cho HS

Có thể nói từ đọc – hiểu đến cảm thụ là một quá trình chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật Nếu coi đọc hiểu là bước khởi đầu, là nền móng thì CTVH là bước cuối cùng, là đích đến khi đọc hiểu một văn bản nghệ thuật Dựa vào năng lực đọc hiểu văn bản văn học, chúng ta có thể đánh giá được năng lực cảm thụ nghệ thuật của HS

1.1.2 Dạy học kí hiện đại Việt Nam theo hướng phát triển năng lực CTVH

1.1.2.1.Những quan niệm khác nhau về kí

Kí là một loại hình văn học không thuần nhất bao gồm nhiều thể loại, chủ yếu là văn xuôi ghi chép, miêu tả và biểu hiện những sự việc, con người,

Trang 24

cảnh sắc thiên nhiên, có thật trong cuộc sống

Theo những nhà biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học, kí là thể loại văn

học có đặc điểm “tôn trọng sự thật khách quan của cuộc sống, không hư cấu” và “Nhà văn viết kí luôn chú ý đảm bảo cho tính xác thực của hiện thực

đời sống được phản ánh trong tác phẩm” Còn các tác giả của Từ điển tiếng Việt thì cho rằng, kí là “thể văn tự sự có tính chất thời sự, trung thành với

hiện thực đến mức cao nhất”

Chính vì các tính chất nói trên mà thể loại kí có một phạm vi biểu hiện đời sống rất rộng lớn Kí có thể thiên về ghi chép sự việc, hiện tượng như phóng sự, kí sự; có thể thiên về biểu hiện những cảm xúc trữ tình như tùy bút, tản văn; bút kí… Chính vì cơ động, linh hoạt, nhạy bén trong nhìn nhận

và khai thác các sự kiện của đời sống cũng như năng động phát huy vai trò sáng tạo của người cầm bút mà loại kí rất đa dạng và tác phẩm kí cụ thể luôn độc đáo

Kí văn học là sự can dự trực tiếp của nghệ thuật vào hiện thực đời sống

Đó là những sáng tác văn học theo sát các vấn đề thời sự nóng hổi mang ý nghĩa xã hội rộng lớn Mặt khác, kí văn học còn là sự biểu hiện của những giá trị nhân sinh, là thông tin về sự thực của những quan niệm, tư tưởng Nội dung đặc thù của kí đã chứa đựng trong bản thân nó cơ sở để “thông tin sự thực” chuyển thành “thông tin thẩm mĩ” và những dòng chữ ghi việc có thể phát triển thành tác phẩm văn chương Nhưng cũng chính vì thế mà kí đúng là ghi chép sự việc, nhưng không phải ai cũng có thể viết kí Muốn viết kí, người sáng tác phải vừa là nhà hoạt động xã hội năng nổ, xông xáo, vừa là nhà nghệ sĩ tài hoa và là nhà văn hóa có tư tưởng rộng lớn với vốn tri thức uyên thâm

1.1.2.2 Phân loại kí

Theo lịch sử văn học và tiến trình phát triển của thể loại chia kí thành kí trung đại và kí hiện đại Căn cứ vào phương thức biểu hiện và chất liệu kết cấu chia kí thành ba loại: kí tự sự, kí trữ tình và kí chính luận Căn cứ vào đề tài, nội dung ghi chép, có kí văn hóa, kí thiên nhiên, kí lịch sử,… Còn có cách

Trang 25

phân chia kí báo chí – kí văn học; kí nghệ thuật – kí thông tin,… Căn cứ vào bút pháp và đối tượng phản ánh mà kí được chia thành các tiểu loại: phóng

sự, kí sự, bút kí, truyện kí, tuỳ bút, tản văn… Với mỗi tiêu chí và góc nhìn khác nhau, kí được chia thành các thể, các tiểu loại, thể loại khác nhau Từ tên gọi của thể loại có thể thấy rõ chức năng quan trọng nhất ban đầu của kí là ghi chép, ghi nhớ thông tin, sự kiện

Dựa vào mục đích, hoàn cảnh, chất liệu của ghi chép, mà người ta phân chia ra các thể loại kí Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, kí có xu hướng trở thành một thể loại nghệ thuật Nhưng dù phần hư cấu có tăng đến mức nào thì hạt nhân sự thật vẫn là trọng tâm để đảm bảo tính xác thực của nội dung phản ánh trong VB kí Cách chia phổ biến nhất là các tác phẩm thuộc loại hình văn học kí thành các thể loại kí Mỗi thể loại kí bên cạnh đặc điểm chung về mặt loại hình là hạt nhân cấu trúc tương đối ổn định của kí (ghi chép sự thực, người thật việc thật) còn mang những đặc trưng riêng về mặt thể loại:

+ Kí sự: ghi chép khá hoàn chỉnh diễn biến một sự kiện, một phong trào,

một giai đoạn

+ Truyện kí: thường tập trung trần thuật một nhân vật như: danh nhân, anh hùng + Phóng sự: chú trọng sự kiện khách quan, đòi hỏi tính thời sự trực tiếp,

thường hướng vào những vấn đề nóng hổi, bức xúc của cuộc sống

+ Bút kí: kết hợp việc ghi chép con người, sự kiện cùng với việc bày tỏ

cảm xúc, suy nghĩ của người viết

+ Tuỳ bút: so với các tiểu loại khác của kí giàu chất trữ tình hơn cả tuy

vẫn không ít yếu tố chính luận và chất suy tưởng, triết lí Tuỳ bút không bị ràng buộc, câu thúc bởi một cốt truyện cụ thể song nội dung vẫn được triển khai theo một cảm hứng chủ đạo, một tư tưởng chủ đề nhất định Liên tưởng bất ngờ, phóng khoáng, ngôn ngữ giàu hình ảnh và chất thơ

+ Nhật kí: ghi chép theo ngày, thể hiện đậm nét cá tính, suy nghĩ riêng,

tình cảm riêng của người viết

Trang 26

1.1.2.3.Đặc trưng của kí hiện đại Việt Nam

Khi bàn đến đặc trưng của loại hình kí, cho đến nay giới lí luận văn học vẫn chưa đưa ra một hệ thống lí thuyết thống nhất cho đặc trưng của thể loại này Có nhiều ý kiến khác nhau trong việc xác định đặc trưng của kí, nhất là

kí hiện đại Việt Nam, qua tổng hợp và nghiên cứu chúng tôi thấy có một số đặc trưng nổi bật sau:

a Điểm tựa nội dung của văn bản kí chính là mã “sự thực”

Mang tính chất của báo chí, kí là một loại văn xuôi trần thuật người thật,

việc thật, tôn trọng tính xác thực và tính thời sự của đối tượng được miêu tả, tiếp cận hiện thực nhanh nhạy, nắm bắt và thể hiện cuộc sống kịp thời, mạnh dạn hướng vào những vấn đề nóng bỏng đang được xã hội quan tâm, thông tin

đa dạng, xác thực được đảm bảo bằng thực chứng có giá trị tư liệu lịch sử quý

giá, đáp ứng những nhu cầu hiểu biết thế giới của độc giả

Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh hạt nhân sự thật và tính nghệ thuật là hai phương diện quan trọng nhất của loại hình này Ghi lại “sự thực” bằng điểm nhìn và phong cách trần thuật của người sáng tạo nghệ thuật nên tác giả viết

kí làm công việc của người “ghi chép sự thực cuộc sống bằng ngôn ngữ nghệ thuật”.Nhưng dù yếu tố hư cấu có nhiều đến đâu (như ở tuỳ bút, bút kí, tản văn hiện đại) thì hạt nhân “sự thực” vẫn là điểm tựa nội dung của VB kí “Sự thực” trong VB kí thường được biểu hiện cụ thể ở các phương diện sau:

Người trần thuật là nhân chứng của sự thực Đây là nhân vật luôn xuất

hiện trong VB kí, có khi trực tiếp xưng “tôi”, có khi không xuất hiện trực tiếp

mà lồng trong người kể chuyện

Nhân vật, sự kiện, thời gian, địa điểm cụ thể, đơn nhất Đây là các yếu

tố đảm bảo sự tin cậy cho tính xác thực của nội dung sự thực trong kí và cũng là những thông tin hữu ích mà người viết muốn truyền tải đến bạn đọc

Đó là các nhân vật lịch sử, các nhân vật người tài, người tốt có thật, những

sự kiện chi tiết, chính xác về ngày tháng, địa điểm xảy ra sự việc Các yếu tố này sẽ được trần thuật theo đúng logic sự thực với các thủ pháp nghệ thuật

Trang 27

miêu tả sự thực phù hợp chứ không lồng ghép, hư cấu, đảo lộn trật tự theo dụng ý nghệ thuật của người viết như trong truyện hay thơ

Do vậy, “dù xuất hiện với vị trí là đối tượng chính của nội dung trần thuật, chủ thể của “dòng sự kiện” hay là điểm tựa cho mạch cảm xúc, “dòng tâm tư” của người trần thuật thì “sự thực” chính là yếu tố làm đặc trưng riêng của loại hình kí Có thể khẳng định rằng, đặc trưng quan trọng nhất của kí văn học là lựa chọn những sự thật của đời sống để xây dựng hình tượng nghệ thuật thông qua vai trò của nhân vật trần thuật

“Sự thực” là điểm tựa còn cảm xúc, suy ngẫm dòng tâm tưởng của người viết là “sợi chỉ đỏ” xuyên suốt mạch VB Sông Đà là “nhân vật chính” của tuỳ

bút Người lái đò sông Đà nhưng các yếu tố kết nối mạch cảm hứng của bài kí

không phải là tri thức về lịch sử hay địa lí hay vẻ đẹp văn hóa của dòng sông

mà là cảm xúc, mạch suy tưởng với những liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, của hình tượng tác giả Mạch cảm hứng trữ tình về sông Đà đã tạo nên một hình tượng nghệ thuật về sông Đà từ chất liệu sự thực về lịch sử, văn hoá, cảnh sắc thiên phú của dòng sông qua quan sát và cảm nhận của người viết Sông Đà tạo cảm hứng cho người viết và cảm hứng nghệ thuật của người viết tạo nên vẻ đẹp cho dòng sông Bút pháp trữ tình là chất men làm cho kí lấp lánh, trong mỗi tác phẩm kí là một sự thực được tạo nên bởi ánh mắt say mê và nhịp đập tinh tế, nhạy cảm của trái tim người viết

b Cái nhìn nghệ thuật về “sự thực” tạo nên linh hồn của văn bản kí hiện đại Nếu “sự thực” là điểm tựa nội dung thì yếu tố tạo nên giá trị nghệ thuật, nội dung tư tưởng của VB kí là dòng cảm xúc, góc nhìn, cách cảm, cách nghĩ, quan điểm tư tưởng của người viết “Sự thực” ở đây là những người thật, việc thật, sự kiện, sự vật, các địa danh, vẻ đẹp văn hoá, sản phẩm văn hoá,… được nhà văn lựa chọn và đảm bảo sự xác thực khi đưa vào tác phẩm Nhưng “xác thực” không có nghĩa là y như thật như cách ta vẫn “sao y bản chính”, là nhà văn chụp lại hay bê nguyên sự thực ấy vào tác phẩm của mình Người thật, việc thật ấy được ghi lại qua cái nhìn, qua “lăng kính” nghệ thuật, có sự chi

Trang 28

phối của trình độ văn hoá, năng lực thẩm mĩ, năng lực tư duy, cảm quan nghệ thuật, quan điểm nhân sinh, của nhà văn Con sông Đà trên bản đồ địa lí khác với sông Đà chảy trong những trang kí tài hoa của Nguyễn Tuân dù vẫn

là những con thác ấy, mặt ghềnh ấy, hướng chảy ấy, Qua cách “ghi chép” của nhà văn, nó trở thành một sinh thể nghệ thuật có tâm hồn, có tính cách, có nỗi niềm riêng

Khi viết kí, mối quan hệ giữa yếu tố sự thật và phẩm chất nghệ thuật của đối tượng được nhà văn xử lí một cách khéo léo để nội dung VB kí vừa không lệch khỏi quỹ đạo của sự thực vừa đảm bảo tính nghệ thuật Dựa trên hạt nhân

sự thật, người viết vừa huy động tri thức về đối tượng phản ánh, vừa hư cấu

Hư cấu trong kí được sử dụng ở những thành phần không thật xác định như: miêu tả nội tâm, miêu tả thiên nhiên, bên cạnh đó hư cấu ở kí còn thể hiện trong việc sắp xếp, san định tư liệu, sự kiện trong quá trình tái tạo hiện thực ngoài đời thành hiện thực trong tác phẩm Một trong những cách thức vận

dụng hư cấu trong kí là nghệ thuật sử dụng cái Tôi Nhờ cái Tôi, nhà văn

thoát khỏi tình trạng quẩn quanh giữa người thực, việc thực để mở rộng hoàn cảnh văn học đến những chân trời xa xôi khác, bằng cảm xúc, tưởng tượng, liên tưởng, hồi ức Tuy vậy, hư cấu không làm ảnh hưởng tới tính xác thực của nội dung và phải làm tăng ý nghĩa xã hội và giá trị nghệ thuật của tác phẩm Tính nghệ thuật làm nên giá trị văn học của VB kí được thể hiện ở các phương diện:

Nhân vật người trần thuật trong VB kí: chính là người chứng kiến, người

ghi chép Khi viết kí, dù muốn hay không, dấu ấn chủ quan của người viết sẽ xuất hiện trong văn bản, đó là tình cảm, cảm xúc, là quan điểm, thái độ về sự thực được phản ánh Đối với VB kí văn học như tùy bút và bút kí, cảm xúc của người viết được thể hiện trực tiếp, rõ nét trong tác phẩm Xét từ thể loại, sức hấp dẫn của một bài kí không chỉ phụ thuộc vào những ghi chép của tác giả với lượng tri thức phong phú, tính thông tin có tính phát hiện mà còn tùy

thuộc vào duyên ngầm của nhân vật người trần thuật Để kí vươn tới giá trị

Trang 29

văn học chứ không dừng lại ở tính chất đưa tin như báo chí thì nhà văn phải sáng tạo tác phẩm theo quy luật của nghệ thuật và nhất thiết nhân vật trần

thuật phải hiện mình trong cảm xúc, trong những phân tích, lí giải, phát hiện

về đối tượng phản ánh

Cái tôi trữ tình trong kí được bộc lộ phong phú, trực tiếp khiến người

viết phải biểu hiện độc đáo cá tính sáng tạo trong mạch cảm xúc, suy nghĩ, trong cách bình luận và phân tích sự vật cũng như trong phương thức thể hiện Đến với kí Nguyễn Tuân ta bắt gặp một cái tôi tài hoa, uyên bác, Vũ Bằng – một cái tôi thao thiết nhớ thương hồn dân tộc hay Hoàng Phủ Ngọc Tường là cái tôi với tâm linh Huế sâu thẳm, đúng như ý kiến của GS Hà Minh Đức:

“các thể kí trữ tình đòi hỏi người viết phải biểu hiện độc đáo cá tính sáng tạo trong mạch cảm xúc, suy nghĩ trong cách bình luận và phân tích sự vật cũng như trong phương thức thể hiện Trong loại kí trữ tình, mỗi tác giả đều bộc lộ cái tôi trữ tình, hoặc sắc sảo linh hoạt, hoặc chân thực, mộc mạc, hoặc đôn hậu, đằm thắm”[12, tr 123]

Đối tượng trần thuật là sự vật, sự kiện, con người được người viết chọn lựa

làm trung tâm của VB kí không còn là “sự thực như chính nó” mà là sự thật được khúc xạ qua lăng kính chủ quan của người viết Dù là cây cầu Long Biên lịch sử, là con Sông Đà xa xôi nơi thượng nguồn Tây Bắc, là đặc sản cốm làng Vòng thơm nồng vương nếp áo, là sông Hương thơ mộng của thành phố Huế hay một nét kín đáo nhà vườn, đều trở thành một hình tượng nghệ thuật chứa đựng những suy tư, tình cảm và thái độ trân trọng của người viết

Điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật trong VB kí ít nhiều mang

dấu ấn cá nhân của người viết Đặc biệt là giọng điệu trần thuật, đây là yếu tố thể hiện rất rõ cá tính sáng tác, quan điểm lựa chọn các phương tiện nghệ thuật như từ ngữ, hình ảnh, chi tiết Điểm nhìn trần thuật, quan điểm, thái độ của người trần thuật thể hiện ý nghĩa tư tưởng nghệ thuật của tác phẩm.Ý nghĩa của VB kí, nhất là kí nghệ thuật, không bao giờ dừng lại ở ghi chép sự thực khách quan, những đoạn văn trữ tình chính là những đoạn trực tiếp thể

Trang 30

hiện tình cảm, cảm xúc của người viết về đối tượng trần thuật hay hình tượng nghệ thuật của VB

Về phương diện kết cấu, kí hiện đại, đặc biệt là tùy bút, bút kí …gần với

thơ ở chỗ nó có cấu tứ, cấu tứ gắn kết các chi tiết tưởng như không liên quan trong thực tế thành những tín hiệu thẩm mĩ có cùng chung một nhiệm vụ nghệ thuật là bộc lộ nội dung tư tưởng trong chỉnh thể tác phẩm Người viết phải xâu chuỗi, tập hợp các sự vật, hiện tượng, gắn kết những cái rời rạc thành một

chỉnh thể bằng lôgic suy nghiệm riêng độc đáo, bất ngờ Cấu tứ qui tụ tất cả các chi tiết trong quỹ đạo của nó Đọc Tờ hoa của Nguyễn Tuân có thể thấy

mạch văn triển khai từ không khí làm việc tại một công trường làm đường Tây Bắc, tổ ong do các anh chị công nhân kiếm được, đời sống con ong, quá trình tạo ngọc trai, nghề viết văn, bước sinh trưởng của đóa hoa thơm, hoa tưởng niệm những nạn nhân của phát xít Đức, tấm tranh hoa của em bé Nga, chiếc đồng hồ của chị phiên dịch, các loại đồng hồ đông tây kim cổ…và kết thúc ở sự bàn luận về bánh xe thời gian, bánh xe lịch sử, xu thế chiến thắng

của quân ta trước quân đội Mĩ

Mạch kết nối các vấn đề trên là sự liên tưởng trên những nét đồng nhất của các yếu tố tưởng như không có quan hệ gì trong đời sống thực tế: mật của con ong, ngọc của con trai, đóa hoa thơm và nghề viết; hoa và sự sống, hòa bình; đồng hồ đo thời gian và vòng quay lịch sử Các vấn đề trên lại được thống nhất trong ý tưởng lớn bao trùm toàn bộ tác phẩm: đó là ý thức dấn thân, là trọng trách của người cầm bút trước những vấn đề lớn lao của lịch

sử, của thời đại, của nhân loại Như vậy, Nguyễn Tuân đã cấu tứ tác phẩm trên những sự kiện khác xa nhau về không gian, thời gian, về đặc điểm loại hình…Chính cái Tôi của nhà văn với màu sắc tư duy và cá tính riêng đã quyết định đến việc tạo thành ý tưởng và liên kết các chi tiết trong những cấu tứ độc đáo

Tóm lại, dù có một số tiểu loại có sự giao thoa với báo chí nhưng kí là một thể loại văn học, VB kí là kết quả của cái nhìn nghệ thuật về sự thực của

Trang 31

người viết Do đó, khi tiếp cận với VB kí cần tiếp cận từ hai hướng: tác giả - người trần thuật và hiện thực – sự thực trong kí Điểm nhìn nghệ thuật, cách lựa chọn đối tượng nghệ thuật của nhân vật trữ tình tác giả trong VB kí sẽ quy định mức độ sử dụng hai yếu tố “sự thực” và “hư cấu”, cách xử lí mối quan

hệ giữa hai yếu tố ấy của người viết

c Hiện thực đa chiều văn hóa, một kiểu “sự thực” đặc trưng của văn bản

kí hiện đại

Với sự phong phú, đa dạng về mặt thể loại, lại có phẩm chất năng động trong việc ghi chép hiện thực nên các mảng đề tài trong VB kí hiện đại vô cùng phong phú: đó là các sự kiện, các nhân vật lịch sử, các nét đẹp trong truyền thống văn hóa dân tộc đến các vấn đề của cuộc sống đời thường, Điểm nổi bật, hầu như xuất hiện hoặc ẩn sâu trong các trang viết thuộc thể loại kí hiện đại chính là hiện thực mang đậm sắc màu văn hóa dân tộc, văn hoá nhân loại Nói cách khác, những vấn đề có giá trị văn hóa, có thể là văn hóa vật chất hoặc văn hóa tinh thần là vấn đề được các tác giả viết kí đặc biệt quan tâm Hơn nữa, dù là ghi chép sự thực nào, người viết kí cũng dẫn dắt đến giá trị văn hóa của vấn đề đó hoặc trong cách viết, cách ghi của họ

đã ẩn chứa những định hướng khiến người đọc tìm đến hoặc nhận ra

Đặc điểm nổi bật, làm nên phẩm chất văn học của VB kí chính là “bên

cạnh nghĩa chỉ vật, nghĩa nghệ thuật, trong kí còn một lớp “nghĩa mở rộng, nghĩa liên văn bản, nghĩa văn hóa” [32, tr 79] Lớp nghĩa bề sâu, mở rộng này

là một trong những mục tiêu của hoạt động đọc hiểu VB kí Nghĩa văn hoá không phải là điểm riêng nhưng là điểm nổi bật, có giá trị đặc sắc của văn bản

thuộc loại hình kí Trong Hà Nội băm sáu phố phường Thạch Lam “ghi lại”

các món ăn dân dã của Việt Nam với ý thức nâng chúng đến độ thể hiện quốc hồn, quốc túy, chứa đựng truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc

Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng quặn lên tình cảm da diết nhớ về một

vùng quê hương phương Bắc trong hàng chục năm trời đất nước cách chia,

Miền cỏ thơm của Hoàng Phủ Ngọc Tường phát hiện và khẳng định Huế là

Trang 32

thành phố được dành cho cỏ Những mùi hương hoa cỏ ấy cứ dậy lên thành mùi hương văn hóa rất riêng của Huế, của mùi Thiền hư không, của nắng

vàng trên sông Hương, của mùi mơ hồ và cả mùi biển dâu cuộc thế…Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành xoáy vào chủ đề bản lĩnh của dân tộc,

vang vọng một âm hưởng trữ tình – sử thi hiện đại: “Lạ lùng thay, từ trong máu lửa cháy đỏ cả lịch sử, chúng ta lên tiếng nói, và tiếng nói ấy lại là tiếng hát trữ tình, điềm đạm, trong sáng, duyên dáng và say sưa như một cuộc hò hẹn, xao xuyến như buổi gặp gỡ ban đầu Một dân tộc đánh giặc bốn nghìn năm mà tiếng hát vẫn êm dịu, uyển chuyển như vậy, dân tộc ấy mãnh liệt và bình tĩnh biết chừng nào”

d Ngôn từ nghệ thuật của kí hiện đại mang đậm tính chủ thể, biến đổi linh hoạt, gắn liền với cá tính sáng tạo của người viết

Các nhà nghiên cứu cho rằng đặc điểm văn học của kí lộ rõ nhất ở văn phong, ngôn từ nghệ thuật Chính bản thân Nguyễn Tuân cũng khẳng định

“Cách diễn đạt của thể kí rất đa dạng và phức tạp” Do vai trò đặc biệt nổi bật

và quan trọng của tác giả trong tác phẩm kí, ngoài những đặc điểm chung của ngôn từ văn học, ngôn từ nghệ thuật trong kí cũng mang đậm tính chủ thể, gắn liền với đặc điểm cá tính sáng tạo của tác giả

“Ngôn từ trong tác phẩm kí văn học chủ yếu là ngôn ngữ trực tiếp của tác giả - người chứng kiến và tái hiện các hiện tượng đời sống Đồng thời, tác giả luôn là người đối thoại, chứng kiến, ghi nhớ và ghi chép lại ngôn từ của các nhân vật khác.” [43, tr 202] So với ngôn từ nghệ thuật của các loại tác phẩm khác, ngôn từ nghệ thuật của kí luôn có xu hướng mở rộng, thừa nhận, dung nạp nhiều hình thức và phong cách sáng tạo Nói như Nguyễn Tuân: “kí

có quyền dùng tất cả các cách của truyện, kịch, thơ ca và cả các cách thức của điện ảnh, sân khấu, ca vũ, hội họa, điêu khắc…”

Ngôn từ nghệ thuật trong tác phẩm kí thường rất linh hoạt về giọng điệu

“Kí thường không chỉ trần thuật, mà cùng với trần thuật là phân tích, khái quát ý nghĩa của các hiện tượng đời sống được đề cập, phản ánh trong tác

Trang 33

phẩm.” [43, tr 202] Ta có thể thấy rõ điều này ở đoạn đầu của tùy bút Đường chúng ta đi của Nguyễn Trung Thành Sau lời trần thuật: “Thường vẫn vậy

đấy, bắt đầu hầu như chẳng có gì cả Chỉ là một giọng hát Đội trưởng chúng tôi vừa tắt đài Trên đài, một người con gái nào đó vừa hát một bản dân ca của đất nước ta trong đêm khuya… ” là sự phân tích: “một giọng hát dân ca, ngân nga bát ngát như cánh cò trên đồng lúa miền Nam chạy tới chân trời, có lúc rụt rè, e thẹn như khóe mắt người yêu mới gặp, có lúc tinh nghịch, duyên dáng như những con đường làng trộn lẫn bóng tre và bóng nắng…”; là sự khái quát: “Đó chính là quê hương ta đang lên tiếng hát Tiếng ngân nga dội lên từ lòng đất (…) Đó là tiếng ngân của mặt đất, của dòng sông, của những xóm làng và những cánh đồng, sau một ngày lao động và chiến đấu”

Cùng với trần thuật hoặc trên nền trần thuật, kí cũng khêu gợi xúc cảm ở bạn đọc, truyền cảm xúc, cách nhìn nhận, đánh giá của tác giả tới bạn đọc Ngôn từ nghệ thuật trong kí không chủ yếu hướng về đối tượng được phản ánh,

mà là thứ ngôn từ thuyết phục trực tiếp và tích cực hướng về gây hiệu quả nhận thức, làm rung động tình cảm của người đọc Ví như từ giọng hát của người con gái trên đài, nhân vật “tôi”- người lính cũ đã khêu gợi những liên tưởng của người đọc về đất nước và con người Việt Nam ta, trong lịch sử và trong hiện tại Từ đó giúp mỗi cá nhân nhận thức sâu sắc trách nhiệm của chính mình đối với đất nước

Do vậy, đến với các VB kí, dù thuộc tiểu loại nào, bạn đọc cũng dễ dàng tìm được tiếng nói chung với tác giả nhờ những đề tài rất gần gũi được “ghi chép” một cách trung thành với hiện thực bằng nghệ thuật trần thuật dễ gây hiệu ứng xúc cảm bởi sự “lây lan” cảm xúc từ giọng điệu trần thuật giàu chất trữ tình và thấm đẫm chất suy tư của nhà văn

1.1.2.4 Dạy học kí hiện đại theo đặc trưng thể loại

Một trong những định hướng đúng đắn trong lịch sử khoa học nghiên cứu về lí luận và phương pháp dạy học Ngữ văn là dạy học theo đặc trưng thể loại Mỗi thể loại có những đặc điểm riêng về cách thức tổ chức tác phẩm, về

Trang 34

hiện tượng đời sống được miêu tả và mối quan hệ của nhà văn đối với đối tượng phản ánh Những đặc điểm ấy chi phối cách tiếp nhận VB của người học Tiếp cận đúng hướng, hiểu đúng đặc trưng thể loại là tìm ra đúng chìa khoá để “mở cửa” bước vào thế giới nghệ thuật và các tầng lớp ý nghĩa của

VB Dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay cũng không phải là một ngoại lệ Để hướng tới phát triển hệ thống năng lực tổng hợp cho người học chứ không phải là một tập hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ rời rạc,

GV cần phải xác định rõ và nắm vững các yêu cầu sau:

- Về mục tiêu dạy học: Bên cạnh những năng lực chung cần hướng đến, dạy học kí hiện đại Việt Nam cần chú trọng đến mục tiêu phát triển những năng lực chuyên biệt của môn Ngữ văn:

+ Phát triển năng lực đọc hiểu VB cho HS

+ Phát triển năng lực CTVH cho HS

+ Phát triển năng lực tạo lập VB cho HS

- Về nguyên tắc dạy học, GV cần đảm bảo những nguyên tắc cơ bản sau: + Phát huy tính chủ động sáng tạo của người học

+ Bám sát đặc trưng thể loại

+ Theo hướng tích hợp

- Về phương pháp dạy học: Với các đặc trưng cơ bản của kí hiện đại Việt Nam, nhất là ở các thể loại đậm chất trữ tình như tùy bút, bút kí cần chú trọng hơn vào các PPDH như: phương pháp đọc sáng tạo (đặc biệt là đọc diễn cảm); phương pháp thảo luận nhóm; phương pháp giảng bình; phương pháp gợi mở; phương pháp so sánh; phương pháp nêu và giải quyết vấn đề Với mỗi phương pháp cần nắm rõ đặc điểm của phương pháp; cách thức thực hiện phương pháp khi sử dụng các chiến thuật đọc và hệ thống câu hỏi, bài tập, sao cho phù hợp với từng phương pháp

1.1.2.5 Phát triển năng lực CTVH cho HS trong dạy học kí hiện đại

Phát triển năng lực CTVH cho học sinh trong dạy học kí hiện đại Việt Nam là một yêu cầu quan trọng của mục tiêu dạy học Ngữ văn hiện nay

Trang 35

“Năng lực cảm thụ văn học thể hiê ̣n khả năng của mỗi c á nhân trong việc nhâ ̣n ra được các giá tri ̣ thẩm mĩ của sự vâ ̣t , hiê ̣n tượng, con người và cuô ̣c sống; thông qua những cảm nhâ ̣n , rung đô ̣ng trước cái đe ̣p và cái thiê ̣n , từ đó biết hướng những suy nghĩ , hành vi của mình theo c ái đẹp, cái thiện.” [6, tr 52] Văn bản kí hiện đại với sự năng động, phong phú về mặt thể loại, khả năng tác động trực tiếp tới tư tưởng, tình cảm của người đọc có vị trí quan trọng trong sự phát triển năng lực, phẩm chất của HS bởi đó là sự kết hợp của một nguồn tri thức phong phú và một cảm hứng trữ tình sâu lắng, dạt dào về cuộc đời, về quê hương đất nước, văn hoá của nhà văn Nó vừa giúp người đọc được tiếp xúc với nguồn tri thức phong phú về hiện thực tự nhiên xã hội, những không gian văn hóa của đất nước, vừa được đắm mình trong những dòng cảm xúc ngọt ngào về những gì tưởng rất bình thường của cuộc sống xung quanh

Sự xuất hiện phong phú hơn của những VB kí hiện đại trong CT Ngữ văn

sẽ phát huy được khả năng tác động của thể loại này đối với sự phát triển các năng lực trong đó có năng lực cảm thụ văn học của HS Ngoài việc cung cấp cho HS một hệ thống tri thức phong phú về khoa học và hiện thực, kí hiện đại còn giúp HS biết cảm nhận, biết rung động trước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống, của con người, những nét đẹp vốn vẫn khiêm tốn ẩn sau những điều bình dị nhất

Điểm thú vị của kí hiện đại Việt Nam là những cái nhìn riêng, khám phá riêng của tác giả được đan cài với việc tái hiện hình tượng từ hiện thực đời sống Vì vậy sức hấp dẫn của những VB kí hiện đại được lựa chọn giảng dạy trong CT THPT chính là khả năng tái hiện hiện thực một cách sinh động qua ngòi bút tài hoa của tác giả Kí hiện đại Việt Nam không chỉ là văn bản nghệ thuật mà còn mang trong nó đặc điểm của những kiểu loại văn bản quen thuộc trong đời sống hàng ngày – văn bản thông tin Tác giả khéo sử dụng tư liệu đời sống kết hợp với tư tưởng, cảm thụ, nhận xét đánh giá, của mình để đem đến sức hấp dẫn cho hình tượng Vì vậy, rèn kĩ năng đọc hiểu kí Việt Nam hiện đại nhằm phát triển năng lực CTVH không chỉ giúp HS hứng thú

Trang 36

hơn với các tác phẩm thuộc thể kí - thể loại đang rất phổ biến trong xã hội hiện đại - mà còn có tác dụng nâng cao hơn nữa tính thực hành, vai trò thực

tế của môn Ngữ văn

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1.Văn bản kí hiện đại trong CT và SGK Ngữ văn THPT hiện nay

CT và SGK từ bậc tiểu học đến THPT đều có các văn bản kí hiện đại Ở bậc tiểu học, một số trích đoạn của kí hiện đại, cụ thể là tùy bút đã được lựa chọn thành các bài tập đọc nhằm giúp các em tiếp cận gần hơn với thể loại văn biểu cảm, thuyết minh

Đến CT và SGK bậc THCS, THPT hầu như đều có sự xuất hiện của các văn bản kí hiện đại Cụ thể là:

Bảng 1.1 Hệ thống các VB kí hiện đại trong CT THCS và THPT

Lớp 6 Cô Tô – Nguyễn Tuân

Lao xao (Trích Tuổi thơ im lặng) – Duy Khán

Cây tre Việt Nam – Thép Mới

Lòng yêu nước – Êrenbua

2 tiết

2 tiết

2 tiết

1 tiết

Lớp 7 Mùa xuân của tôi (Trích Thương nhớ mười hai) – Vũ Bằng

Sài Gòn tôi yêu (Trích Nhớ Sài Gòn) – Minh Hương

Một thứ quà của lúa non: Cốm (Trích Hà Nội băm sáu

Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (trích) của

Võ Nguyên Giáp, (đọc thêm)

2 tiết

2 tiết

1 tiết

Trang 37

Với những đặc trưng về nội dung và nghệ thuật; khả năng tác động trực tiếp tới người tiếp nhận, kí hiện đại đã và sẽ có vị trí quan trọng trong việc vừa cung cấp cho HS tri thức phong phú về mọi lĩnh vực của đời sống, vừa bồi dưỡng năng lực cảm thụ thẩm mĩ, đồng thời rèn luyện những kĩ năng viết cần thiết, nhất là văn biểu cảm cho các em

Sự xuất hiện của những VB kí hiện đại trong CT Ngữ văn 12 sẽ phát huy

được khả năng tác động của VB kí đối với sự phát triển năng lực của người học Ngoài việc cung cấp cho HS một hệ thống tri thức phong phú về khoa học và đời sống, kí hiện đại còn giúp HS biết cảm nhận, biết rung động trước

vẻ đẹp của cuộc sống, của con người: một khúc hát quê hương, một cánh diều

no gió, hay một bến sông quê, nhiều khi rất dễ rơi khỏi suy nghĩ của các em

“Kí sẽ kết tụ những giọt trầm trong tâm hồn thế hệ trẻ để các em bớt vô tâm

với những điều tưởng rất bình dị của sự sống mà vô cùng quan trọng với mỗi người.” [29, tr 48] Chắc chắn khi đọc những trang tuỳ bút, bút kí nồng nàn cảm xúc và rất mực tài hoa về những dòng sông quê hương của Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, những trang viết đậm sắc màu văn hóa về Hà Nội của Thạch Lam, Vũ Bằng,… các em sẽ hiểu hơn và tự hào hơn với truyền thống dân tộc, sẽ trân trọng hơn những giá trị của quá khứ Và đương nhiên, các em sẽ mặn mà với văn chương hơn

Kí, nhất là kí hiện đại với những mối quan tâm rất đỗi bình thường của đời sống sẽ góp phần vào việc thức dậy trong HS những rung cảm đáng quý trước vẻ đẹp muôn màu của cuộc sống và con người qua lăng kính nghệ thuật của nhà văn Việc đổi mới PPDH trong dạy đọc hiểu văn bản kí hiện đại nhằm phát triển năng lực và phẩm chất cho người học là việc làm cần được quan tâm hơn nữa trong giai đoạn hiện nay

1.2.2 Thực trạng dạy học kí hiện đại Việt Nam trong trường THPT hiện nay

1.2.2.1 Yêu cầu của CT và SGK Ngữ văn

Qua việc khảo sát yêu cầu CT Ngữ văn bậc THPT, tác giả luận văn nhận

Trang 38

thấy CT giáo dục phổ thông xác định mục tiêu chung của các VB kí trong CT

Ngữ văn 12 như sau:

- Hiểu những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật của một số trích đoạn

tác phẩm kí Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho dòng sông?(Hoàng Phủ Ngọc Tường): vẻ đẹp và sức hấp dẫn của cuộc sống, con

người và quê hương qua những trang viết chân thực, đa dạng, hấp dẫn

- Hiểu một số đặc điểm và sự đóng góp của thể loại kí Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến hết thế kỉ XX

- Biết cách đọc hiểu một tác phẩm kí hiện đại Việt Nam theo đặc trưng thể loại

- Biết vận dụng những hiểu biết trên vào việc làm bài văn nghị luận văn học GSK Ngữ văn12 xác định mục tiêu cụ thể của các VB kí như sau:

a Mục tiêu dạy học văn bản Người lái đò Sông Đà

- Phân tích được vẻ đẹp đa dạng của con Sông Đà vừa “hung bạo” vừa

“trữ tình” cùng hình ảnh giản dị mà kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy

Từ đó thấy được tình yêu, sự đắm say của Nguyễn Tuân trước thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc

- Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn trong việc khắc họa những kì công của tạo hóa, những kì tích lao động của con người

b Mục tiêu dạy học văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?

- Phân tích được vẻ đẹp độc đáo, đa dạng của sông Hương qua ngòi bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường và tình yêu, niềm tự hào của tác giả với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương và cũng là cho đất nước

- Nhận biết được đặc trưng của thể loại bút kí và nghệ thuật viết bút kí của Hoàng Phủ Ngọc Tường

Trang 39

Bảng: 1.2 Hệ thống câu hỏi trong mục hướng dẫn học bài

Người lái đò sông Đà

(Nguyễn Tuân)

Ai đã đặt tên cho dòng sông

(Hoàng Phủ Ngọc Tường)

Câu hỏi hướng dẫn học bài:

Câu 1 Chứng minh rằng Nguyễn Tuân

đã quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng

khi viết về sông Đà và người lái đò sông

Đà

Câu 2 Trong thiên tùy bút, tác giả đã

dùng những biện pháp nghệ thuật nào để

khắc họa được một cách ấn tượng hình

ảnh của một con sông Đà hung bạo?

Câu 3 Cách viết của nhà văn đã thay đổi

như thế nào khi chuyển sang biểu hiện

sông Đà như một dòng chảy trữ tình?

Câu 4 Phân tích hình tượng người lái đò

trong cuộc chiến đấu với con sông hung

dữ Từ đó hãy cắt nghĩa vì sao trong con

mắt Nguyễn Tuân, thiên nhiên Tây Bắc

quý như vàng nhưng con người Tây Bắc

mới thật xứng đáng là vàng mười của đất

nước ta?

Câu hỏi hướng dẫn học bài:

Câu 1 Sông Hương vùng thượng lưu

được tác giả miêu tả như thế nào? Những hình ảnh, chi tiết, những liên tưởng và thủ pháp nghệ thuật nào cho thấy nét riêng trong lối viết kí của tác giả?

Câu 2 Đoạn tả sông Hương chảy

xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bộc lộ những phẩm chất nào trong ngòi bút tác giả? Hiệu quả thẩm mĩ của lối viết đó?

Câu 3 Sông Hương khi chảy vào

thành phố Huế có nét đặc trưng gì? Phát hiện của tác giả về nét riêng biệt của dòng sông cho thấy những điều gì trong tình cảm của tác giả với xứ Huế và dòng sông?

Câu 4 Tác giả đã tô đậm những

phẩm chất gì của sông Hương trong lịch sử và thơ ca? Phân tích cách nhìn độc đáo mang tính phát hiện của tác giả?

Trang 40

Câu 5 Chọn phân tích một số câu văn thể

hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp trong

cách sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân

Câu 5 Qua đoạn trích, anh chị có

nhận xét gì về nét riêng trong văn chương của tác giả?

Luyện tập:

1 Tìm đọc trọn vẹn tùy bút Người lái đò

sông Đà

2 Phân tích và phát biểu cảm nghĩ về

một đoạn văn khiến anh (chị) thấy yêu

thích, say mê nhất trong thiên tùy bút

Luyện tập:

1 Anh (chị) tâm đắc nhất với đoạn văn nào trong bài bút kí? Qua đoạn văn đó, hãy phân tích những nét đặc sắc về ý tưởng, hình ảnh và ngôn ngữ của tác giả

Như vậy, từ kết quả khảo sát có thể nhận thấy:

- CT đã có sự quan tâm đến loại hình VB kí so với các loại hình VB

khác như tự sự, trữ tình, nhưng kí chưa thực sự được quan tâm đúng mức Riêng kí hiện đại Việt Nam thì đến lớp 12 HS mới được học, còn lớp 10 và 11 các em không được học một VB nào

- Câu hỏi hướng dẫn học bài trong SGK đặt ra ở mỗi bài cũng khác nhau,

không có mô hình câu hỏi cụ thể cho từng thể loại nhất định trong khi GV phải dạy đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại Các câu hỏi mà người soạn SGK đưa ra đều mang tính “cá nhân” khi thể hiện những điều mà người viết sách tâm đắc, hệ thống câu hỏi rời rạc, vụn vặt, chưa đạt đến sự khái quát theo đặc trưng thể loại trong dạy học Ngữ văn Không có loại hình câu hỏi nên mỗi bài (dù giống nhau về thể loại) lại dạy theo một kiểu khác nhau, từ đó không hình thành được PPDH cho GV và HS

- Câu hỏi trong phần hướng dẫn học bài quan tâm nhiều tới nội dung

kiến thức mà chưa chú ý đến việc rèn luyện kĩ năng đọc hiểu văn bản theo đặc trưng thể loại nhằm hướng tới mục tiêu phát triển năng lực và phẩm chất người học theo định hướng đổi mới giáo dục

Ngày đăng: 27/08/2020, 21:38

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w